Sống Đạo

Con Thạch sùng

Xin mượn câu chuyện về con thạch sùng từ email ban@y…của người bạn để chia sẻ về chủ đề chung thuỷ như sau.

Một anh người Nhật vì muốn sửa lại căn nhà của mình, anh đã dỡ tường nhà ra. Tường nhà kiểu kiến trúc Nhật thường để một tấm gỗ ở giữa, hai bên trát xi măng, nhưng thực chất bên trong để rỗng.

Khi anh ta tháo tường ra, phát hiện có một chú thạch sùng lớn đang ngủ ở trong đó, chân nó bị kẹt vào giữa hai miếng ván vì thế nó không thể di chuyển được. Anh này thấy tình cảnh đó vừa thương thạch sùng lại vừa tò mò; anh ta chăm chú quan sát và thấy chiếc đinh đóng chặt hai miếng ván với nhau làm cho chân chú thạch sùng bị kẹt. Sau một hồi, anh nhớ lại đây là chiếc đinh được đóng vài năm trước.

Rút cục chuyện gì xảy ra ở đây? Chú thạch sùng này đã mắc kẹt trên tường mà vẫn sống được trong vài năm qua. Nhưng sống bằng cách nào? Anh ta tiếp tục nghĩ ngợi, chân nó bị kẹt chặt, không thể xê dịch được, thế nó đã sống được nhờ vào điều gì? Anh ta quyết định chưa sửa công trình của mình vội. Từ từ rút lui và để yên tình trạng bức tường và chú thạch sùng. Anh muốn quan sát xem chú thạch sùng đã sống bằng cách nào?

Một lát sau, anh thấy một chú thạch sùng khác, miệng nó ngoặm miếng thức ăn tiến đến chú thạch sùng bị kẹt và đưa thức ăn cho nó. Ồ! Anh lặng người đi. Vì một bạn thạch sùng bị kẹt vào bức tường không thể di chuyển được, thì một bạn thạch sùng khác đã kiếm tìm thức ăn để nuôi sống bạn mình. Anh chủ nhà quan sát và rơi lệ cảm động trước bài học mà anh vừa học.

* * *

Thiên nhiên vạn vật vẫn tiếp tục khơi gợi cho ta những bài học làm người giá trị. Một con thạch sùng không có lý trí và suy nghĩ như con người nhưng nó biết hành động theo bản năng yêu thương đồng loại mình – Không bỏ rơi đồng loại mình lúc gặp hoạn nạn. Bài học thật ý nghĩa cho con người về sự chung thuỷ bảo bộc nhau khi gặp hoạn nạn. Nếu bạn tôi bị cuộc đời giáng cho những cú đòn chí mạng, thì vì tình bạn tôi cần chăm sóc cho bạn ấy bao lâu tôi còn có khả năng.

Email của người bạn tiếp, “Các bạn ạ, cùng với sự phổ cập của máy tính trong xã hội con người, tốc độ những thông tin mà chúng ta có được từ người thân, bạn hữu, đồng nghiệp, …ngày một nhanh hơn, nhưng khoảng cách giữa con người với con người chúng ta với nhau phải chăng gần nhau hơn ? …”

Thưa bạn, một trong những thách đố lớn lao cho đời sống con người trong thời đại thông tin chính là sự chung thuỷ. Thách đố này không chỉ dành riêng cho một bậc sống nào, nhưng là cho tất cả mọi người – đời sống gia đình cũng như người tu hành. Con người là con người sống trong thế giới, vì lẽ đó, cốt lõi của sự thách đố cho sự chung thuỷ cũng bị ảnh hưởng do xã hội. Có thể nói rằng, hơn bao giờ hết xã hội hiện đại đang trắc nghiệm khả năng chung thuỷ của con người với nhau trong hôn nhân một cách quyết liệt.

Hôm nay, nếu so sánh tỉ lệ ly dị giữa các quốc gia trên thế giới với nhau thì người Mỹ đứng hàng đầu; cứ trong số 1.000 người, thì số người ly dị là 4.95 (4.95/1.000), thứ hai là Puerto Rico, 4.47/1.000, thứ ba là Nga, 3.36/1.000.[1] Theo thống kê của Barna Research Group[2], những cặp vợ chồng sống niềm tin tôn giáo có tỉ lệ ly dị cũng thấp hơn so với những người không theo tôn giáo nào hoặc vô thần. Tỉ lệ ly dị của người không theo tôn giáo chiếm 34%, Tinh Lành Baptist 29%, Tinh Lành Chính phái 25%, Mormon 24%, Lutherans, 21%, và Công giáo 21%. Các nhà chuyên môn cho biết, một trong những nguyên nhân chính dẫn đến ly dị là vì kết hôn quá vội vàng sau khi họ gặp nhau.

Vội vàng kết hôn đúng là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến ly dị. Tưởng rằng hôn nhân cũng giống như việc click chuột mua sắm khi thấy vừa mắt là một sai lầm của những ai đang tính chuyện kết hôn mà thiếu thời gian chuẩn bị. Sự vội vàng làm cho con người sống trong sự thúc đẩy của cảm tính mà không chú trọng để ý đến hoàn cảnh thực tế của đời sống xã hội và chính mình. Vì vội vàng, nên chưa đươc chuẩn bị kỹ lưỡng. Khi đang yêu, khái niệm “chuẩn bị” thường không được các đôi hôn nhân quan tâm, vì họ cho rằng họ đâu cần gì đề mà chuẩn bị, miễn là họ yêu nhau là được. Tuy nhiên, hôn nhân không phải như mua một món hàng mà có thể thay đổi, nên họ cần thời gian để chuẩn “đón nhận” những “đòi hỏi” của tình yêu. Không giống như cảm tính vốn nó đến chỉ qua một ánh mắt, nụ cười, lời tỏ tình âu yếm, tình yêu thì không tự dưng mà có. Tình yêu đòi buộc sự đón nhận nhau và cam kết sống cho nhau cho đến cùng. Tình yêu là sự dấn thân chung thuỷ cho đến chết. Đây chính là điểm cần được chuẩn bị kỹ lưỡng cho đời sống hôn nhân. Nếu việc đào tạo cho một linh mục để ông ấy học sống một mình phải mất ít nhất chín năm hay lâu hơn, thì việc hai người học sống với nhau mà chỉ diễn ra trong vòng vài tháng liệu có ổn không?

Bạn thân mến, nếu hai con thạch sùng còn biết chung thuỷ lo cho nhau khi nó gặp hoạn nạn, thì có lẽ nào vợ chồng đã yêu nhau và sống với nhau lại không thể bỏ qua những lầm lỗi của nhau để đề cao giá trị của sự chung thuỷ mà mình đã cam kết với nhau trong ngày tân hôn?! Chung thuỷ không tự dưng mà có, nhưng là một sự vươn tới cho mình và cho nhau đến hết đời.

Fr. Huynhquảng

[1] Xem tại http://www.nationmaster.com/graph/peo_div_rat-people-divorce-rate (truy cập 27/12/2012)
[2] “Christians are more likely to experience divorce than are non-Christians,” Barna Research Group, 1999-DEC-21, at: http://www.barna.org/cgi-bin

Cụ già bán rau

Qua loạt bài Sống Sao Cho Đẹp, chúng ta như được thưởng thức những món ăn ngon trong bàn tiệc cuộc đời, học được những bài học thấm đậm trong cách cư xử hằng ngày, và thấy được những gương sáng của những con người dù bình thường nhưng rạng chiếu vẻ đẹp trong thế giới chúng ta. Mục Sống Sao Cho Đẹp xin được tiếp tục chia sẻ với quí bạn chủ đề mới: Trung tín và Chung thuỷ. Hy vọng với chủ đề này, chúng ta tìm thêm niềm vui và vẻ đẹp vốn được phú bẩm trong con người chúng ta; để con người chúng ta ngày mỗi thêm hoàn thiện, và đời chúng ta thêm tươi đẹp hơn.

* * *

Gần đây qua internet chúng ta biết được, chuyện một bà cụ bán rau tại Việt Nam đã giữ chữ tín với khách hàng đến nỗi bà đã ngã bệnh và qua đời ít ngày sau đó. Gương của bà cụ đã làm cho nhiều người xúc động và cảm phục lòng chân thành và tín trung của người nông dân chất phát.

Do bị đánh động bởi lòng trắc ẩn khi thấy một bà cụ già phải bán rau vất vả kiếm sống hằng ngày, một chàng thanh niên trên đường đi làm đã dừng xe máy lại mua ít bó rau với mục đích là để giúp bà. Vì lý do đó, chàng luôn tiện nhờ bà giữ giúp rau cho đến lúc chiều đi làm về rồi chàng ghé lấy rau. Nhưng thực ra, ý của chàng là giúp bà chứ đâu phải mua rau, vì thế chàng đã quên hẳn việc “gởi” rau nhờ bà cụ giữ giúp. Hoá ra, bà cụ đã vì trách nhiệm và chữ tính đã ngồi chờ chàng thanh niên dưới cơn mưa tầm tả cho đến chiều tối – kết quả bà ngã bệnh và qua đời sau ít ngày. Những người bán nước xung quanh bà hối thúc bà cất rau, trốn mưa, đi về nhà sớm… bà cương quyết không nghe theo họ, vì bà chờ chàng thanh niên lấy rau, người mà bà đã nhận tiền của chàng từ sáng. Ôi! Chữ tín đẹp làm sao trong cuộc đời!

Trung tín, chung thuỷ có nghĩa trong tiếng Latin là “fidelis.” Fidelis được bắt nguồn từ danh từ fides, nghĩa là đức tin, tính thác. Khi bàn về nghĩa từ “đức tin, tính thác” tức là nói đến mối quan hệ không chỉ giữa con người với nhau, nhưng nói lên mối quan hệ giữa một vị thần linh và con người. Hay nói cách khác, từ mối quan hệ chung thuỷ giữa một vị thần với con người đã giúp con người học được ý nghĩa trọn vẹn thế nào là trung tín và chung thuỷ. Vị thần linh luôn luôn chung thuỷ với con người, còn con người thì thường thiếu sự chung thuỷ với ngài.

Khi bàn đến chung thuỷ và trung tín, chúng ta không thể không bàn tới “lời hứa.” Chính lời hứa là sợi mắc xích, là gạch nối, và cũng là nguyên nhân dẫn chúng ta suy tư và tập sống chung thuỷ và trung tín.

Lời hứa đi theo cuộc sống con người từ lúc có trí khôn cho đến lúc trưởng thành. Thởu thiếu thời, con trẻ được giáo dục và dạy bảo về giá trị của lời hứa qua những việc bình thường trong ngày: “Con nhớ nhé, con làm điều này nhé… Dạ, con nhớ. Dạ, con hứa…” Mối liên hệ, niềm tin giữa người lớn và trẻ nhỏ cũng được chớm nở và phát triển từ đó. Niềm tin dành cho nhau giữa hai người được hun đúc có lẽ phần lớn dựa vào khả năng giữ lời hứa của mỗi người. Cứ thêm một lần lời hứa được giữ, thì niềm tin dành cho nhau càng thêm được cũng cố và phát triển. Ngược lại, nếu cứ một lần lỗi hẹn, thì niềm tin dành cho nhau cũng bị xói mòn. Trẻ em là người có khả năng nhạy bén nhất để nhận ra điều này. Niềm tin giữa cha mẹ và con cái phát triển tới mức nào cũng phụ thuộc rất nhiều vào khả năng giữ lời hứa của cha mẹ dành cho con cái, nhất là lúc các em con thiếu thời.

Khi một lời hứa với ai đó được giữ cẩn thận, thì điều đó có nghĩa là sự tôn trọng của chúng ta dành cho người kia được thẫm định. Dầu vậy, xa hơn thế nữa, khi một lời hứa được giữ, điều trước hết chính là chúng ta tôn trọng chính con người chúng ta, chúng ta giữ lời hứa, chữ tín với chính con người chúng ta – đó chính là điểm then chốt trong việc giữ lời hứa với người khác. Thực đúng như thế, khi tôi hứa một điều gì với ai, tức là tôi thừa nhận với chính tôi và đương sự ấy rằng tôi có khả năng để thực hiện điều đó – Chính giai đoạn thừa nhận với chính tôi đã tạo cho tôi một niềm tin trong tôi; nhờ niềm tin này mà tôi giám hứa với người khác.

Hôm nay, Sống Sao Cho Đẹp mời gọi bạn nhìn ngắm vẻ đẹp của đức tín trung tín và chung thuỷ. Hãy dành đôi phút để hãnh diện về chính con người của mình vốn được ban tặng đức tín cao đẹp này một cách nhưng không. Nhờ niềm tin và lời hứa mà mình đã tạo được biết bao nhiêu mối quan hệ đẹp trong đời: Tình cha mẹ, anh em, bạn hữu, và vợ chồng, con cái. Hãy dành đôi phút để tạ ơn cuộc đời, tạ ơn con người, tạ ơn người thân, vì cũng chính nhờ niềm tin và lời hứa của họ mà ta thêm vững tin xây dựng cuộc đời, xây dựng đời mình.

Bạn thân mến, việc hoàn thiện đời người không chỉ là việc nhổ cỏ dại, nhưng quan trọng hơn chính là trồng thêm lúa, hoa, và rau. Càng trồng thêm lúa, hoa, rau… thì cỏ dại không có cơ hội chiếm đất trống để mọc. Sống trong tâm tình tạ ơn, cảm kích sẽ giúp ta trồng thêm đức tính tốt và thực hiện được ước mơ làm người sống đẹp, sống tốt. Chúng ta cùng hứa với lòng mình và với nhau là trồng thêm lúa, hoa bằng cách giữ lời hứa với mình và với người trong niềm vui cảm tạ.

Fr. Huynhquảng

MỘT GƯƠNG MẶT GẦN GŨI, KHÔNG PHẢI MỘT NHÂN VẬT HÌNH TƯỢNG

Cuộc tập họp lớn ở Paris là một dấu hiệu của khả năng tâm linh.

Đức Giáo Hoàng Lêô XIV vẫy tay chào đám đông khi bắt đầu chuyến đi qua các đường phố Paris trên chiếc Papamobile (xe của Đức Giáo Hoàng), bên ngoài trụ sở UNESCO với tháp Eiffel ở phía sau, vào ngày 25 tháng 9, trong khuôn khổ chuyến thăm Pháp kéo dài bốn ngày của ngài. (Ảnh: AFP) 

Hơn 800.000 người đã tập trung dọc theo đại lộ Champs-Élysées và chung quanh quảng trường Place de la Concorde ở Paris để tham dự Thánh lễ ngoài trời của Đức Giáo Hoàng Lêô XIV. Quy mô của cuộc tụ họp này thật đáng chú ý, đặc biệt là ở một quốc gia nơi việc thực hành Công giáo đã suy giảm và đời sống công cộng chính thức mang tính thế tục.

Tuy nhiên, thông điệp quan trọng nhất của ngày hôm đó không phải là quy mô của đám đông. Mà là lời nhắc nhở rằng Giáo hội không thể chỉ được hiểu như một đám đông.

Đức Giáo Hoàng đã mô tả Giáo hội là “một khuôn mặt”, “thân thể sống động của Chúa Kitô”, và “Chính Giáo hội”. Những lời này đáng được chú ý kỹ lưỡng. Chúng không miêu tả Giáo hội như một thương hiệu, một nhóm cử tri chính trị, hay một tổ chức được duy trì bởi bộ máy hành chính. Chúng miêu tả Giáo hội như một thực thể cá nhân, hiện hữu và sống động.

Giáo hội có một diện mạo cụ thể bởi vì Kitô giáo rốt cuộc không phải là một ý niệm được ngưỡng mộ từ xa. Đó là một cuộc gặp gỡ. Trong Chúa Giêsu Kitô, Thiên Chúa không còn là một khái niệm trừu tượng hay một quyền năng xa vời. Ngài bước vào lịch sử nhân loại, chấp nhận sự yếu đuối của xác thịt, và cho phép con người nhìn thấy, nghe thấy, chạm vào, từ chối và yêu thương Ngài.

Giáo hội tồn tại để tiếp tục duy trì sự hiện diện đó.

Vượt ra ngoài đám đông

Đám đông có thể gây ấn tượng, nhưng chỉ riêng đám đông không thể hiện được lòng trung thành của Giáo hội. Số lượng có thể cho thấy sự quan tâm của công chúng, năng lực tổ chức, hoặc một khoảnh khắc tò mò về tâm linh. Chúng không thể cho thấy liệu Giáo hội có đang trở nên chân thật hơn, nhân ái hơn và quan tâm hơn đến người nghèo hay không.

Sự khác biệt này rất quan trọng trong thời đại mà người ta đo lường hầu hết mọi thứ. Các cộng đoàn tôn giáo thường được đánh giá dựa trên số lượng người tham dự, quyên góp, phạm vi truyền thông, mức độ tương tác trên mạng xã hội, tài sản và ảnh hưởng của tổ chức. Những thước đo này có thể có giá trị thực tiễn, nhưng chúng không thể trả lời câu hỏi sâu sắc nhất: Giáo hội đang đào tạo những người như thế nào?

Hình ảnh khuôn mặt thách thức nền văn hóa đo lường này. Khuôn mặt thuộc về một người nào đó. Nó mang một câu chuyện, một vết thương, một niềm hy vọng và một lời kêu gọi sự chú ý của chúng ta. Nó không thể chỉ được coi như một con số trong sổ đăng ký hay một mục nhập trong cơ sở dữ liệu. Tương tự như vậy, Giáo hội không phải là một số lượng tín hữu để quản lý. Giáo hội là một cộng đoàn những người được kêu gọi nhận ra nhau trước mặt Chúa.

Điều này không có nghĩa là các cấu trúc trở nên không cần thiết. Mỗi cộng đoàn sống động đều cần sự lãnh đạo, giảng dạy, nguồn lực và quản lý có trách nhiệm. Nhưng các cấu trúc là phương tiện, chứ không phải là căn tính cuối cùng của Giáo hội. Chúng phải phục vụ sự hiệp thông chứ không phải thay thế sự hiệp thông đó.

Ý nghĩa của từ “Mẹ - Giáo hội”

Từ ngữ “Mẹ-Giáo hội”” mang ý nghĩa đặc biệt. Từ ngữ đó cho Giáo hội một đặc tính cá vị và mẫu tử. Nó có thể hướng đến Mẹ Maria, là Đấng mà thân xác đã đón nhận Chúa Kitô và cuộc đời của Mẹ đã trở thành một hành động cộng tác triệt để với Thiên Chúa. Mẹ Maria nhắc nhở Giáo hội rằng đức tin không chỉ đơn thuần là sự đồng thuận về mặt trí tuệ. Đức tin đó bao gồm việc đón nhận, đem theo mình và đưa Chúa Kitô đến thế giới.

Từ ngữ này cũng có thể chỉ chính Giáo Hội như một chủ thể sống động. Giáo Hội không chỉ đơn thuần là những gì được các giám mục, các nhà thần học, các nhà báo hay các nhà phê bình nhắc đến. Giáo Hội là một người có ký ức, trách nhiệm, vết thương và sứ mệnh. Giáo Hội hiện diện trong mỗi tín hữu cho phép sự sống của Chúa Kitô được thể hiện qua lòng thương xót và phục vụ.

Ngôn ngữ thể hiện này cũng bác bỏ quan niệm coi Giáo hội như một cỗ máy. Máy móc có thể được điều khiển, điều chỉnh, mở rộng hoặc thay thế. Một thân thể sống động cần được nuôi dưỡng, chữa lành, bảo vệ và trưởng thành. Thân thể sống động đó phát triển thông qua các mối liên hệ. Nó sẽ đau khổ khi một bộ phận bị bỏ bê. Nó trở nên đáng tin cậy khi đời sống nội tâm và hành vi bên ngoài của nó hòa hợp với nhau.

Thân thể sống động và những vết thương của con người

Tuy nhiên, hình ảnh này cần được xử lý một cách trung thực. Câu nói “Giáo hội là thân thể sống động” không thể trở thành một công thức hoa mỹ để bảo vệ các thể chế khỏi sự soi xét. Thân thể có thể bị tổn thương. Khuôn mặt có thể ngoảnh đi. Thân thể có thể bị bệnh khi nó từ chối công nhận cơn đau của mình.

Lịch sử và đời sống hiện tại của Giáo hội bao gồm những thất bại không thể biện minh bằng cách viện dẫn đến sự huyền nhiệm. Lạm dụng, chủ nghĩa giáo sĩ, phân biệt đối xử, tham nhũng, loại trừ và việc bịt miệng các nạn nhân không chỉ đơn thuần là vấn đề quan hệ công chúng. Chúng là những vết thương trong thân thể tự nhận mình đang mang sự hiện diện của Chúa Kitô.

Thật vậy, ngôn ngữ của thân thể sống động làm cho trách nhiệm giải trình trở nên cấp thiết hơn. Nếu Giáo hội là thân thể của Chúa Kitô, thì sự đau khổ của những người dễ bị tổn thương không phải là điều nằm ngoài đời sống của Giáo hội. Nó phải được cảm nhận, được lắng nghe và được giải quyết trong chính Giáo hội. Một Giáo hội nói hay về lòng thương xót nhưng lại không bảo vệ những người yếu thế thì sẽ tạo ra sự mâu thuẫn hơn là một lời chứng.

Vì lý do này, cải cách không đối lập với căn tính tâm linh. Hiểu đúng đắn, cải cách bảo vệ sứ mệnh của Giáo hội. Tính minh bạch, sự bảo vệ, sự lãnh đạo có trách nhiệm và sự tham gia có ý nghĩa không phải là dấu hiệu của sự vô tín. Chúng là những cách thức để coi trọng ơn gọi cụ thể của Giáo hội.

Thần học trở nên đáng tin cậy khi nó có thể đối mặt với đau khổ mà không tỏ ra phòng thủ. Một Giáo hội thừa nhận thất bại, tìm kiếm sự tha thứ, sửa chữa tổn hại và thay đổi các thực hành của mình thì có thể bày tỏ Chúa Kitô nhiều hơn so với một Giáo hội bảo vệ danh tiếng của mình bằng mọi giá.

Sự hiện diện trong một thời đại phân mảnh

Những lời của Đức Giáo Hoàng cũng phản ánh một xã hội ngày càng bị chi phối bởi màn hình và sự trừu tượng. Giao tiếp kỹ thuật số đã kết nối mọi người theo những cách đáng kinh ngạc, nhưng nó có thể tạo ra ảo tưởng về một mối tương quan mà không cần đến trách nhiệm hiện diện trực tiếp. Chúng ta có thể phản hồi ngay lập tức với các sự kiện ở xa trong khi vẫn thờ ơ với người đang ngồi bên cạnh.

Trong bối cảnh đó, đặc điểm vật chất và mối tương quan của Giáo hội càng trở nên quan trọng. Đời sống Kitô giáo bao gồm việc quy tụ thờ phượng, cùng nhau dùng bữa, lắng nghe, tiếp xúc, phục vụ, thương tiếc, vui mừng và sự đồng hành kiên nhẫn. Đời sống Kitô giáo không thể bị thu hẹp lại thành nội dung được truyền tải qua thiết bị.

Điều này không có nghĩa là bác bỏ không gian kỹ thuật số. Giao tiếp trực tuyến có thể hỗ trợ cầu nguyện, học tập, tình đoàn kết và chăm sóc mục vụ. Nhưng nó nên hướng tới sự hiện diện có tính người sâu sắc hơn chứ không phải trở thành sự thay thế cho sự hiện diện có tính người đó. Giáo hội phải sử dụng công nghệ nhưng không để cho công nghệ xác định chuẩn mực cho sự hiệp thông.

Một khuôn mặt không chỉ cần được nhận diện; nó cần được đáp ứng. Người lạ, người di cư, tù nhân, người già, trẻ em, người khuyết tật và người đã mất niềm tin không phải là những đối tượng để Giáo hội bàn luận từ xa. Họ là những người mà Giáo hội phải hiện diện trước mặt họ.

Điều mà khuôn mặt đó đòi hỏi ở những người tin tưởng

Tầm nhìn này đặt trách nhiệm lên vai những người Kitô hữu bình thường. Thật dễ dàng khi nói về “Giáo Hội” như thể đó là một thực thể khác, một hệ thống phẩm trật, một văn phòng giáo xứ, hay một tổ chức xa xôi. Nhưng bộ mặt của Giáo Hội cũng được hình thành bởi hành vi hằng ngày của các thành viên trong Giáo Hội.

Mỗi tín hữu Kitô giáo đều trở thành một biểu hiện nhỏ bé nhưng chân thực của Giáo hội. Điều này không có nghĩa là các cá nhân đại diện cho toàn thể Giáo hội một cách hoàn hảo. Điều đó có nghĩa là mọi người thường tiếp xúc với Kitô giáo thông qua các tín hữu trước khi họ tiếp xúc với Kitô giáo thông qua một tài liệu hay bài giảng.

Một giáo xứ chào đón những người cô đơn, bảo vệ trẻ em, hỗ trợ các gia đình gặp khó khăn, đồng hành cùng người di cư và tạo không gian cho những câu hỏi chân thành sẽ trở thành một tuyên ngôn thần học sống động. Một Kitô hữu lắng nghe mà không khinh miệt, phục vụ mà không tìm kiếm lời khen ngợi và từ bỏ định kiến ​​sẽ cho phép dung mạo của Chúa Kitô được nhận ra.

Điều này đòi hỏi nhiều hơn so với việc thuộc về một tổ chức thành công. Việc quyên góp cho “Giáo hội” dễ hơn là kiên nhẫn với một người khó tính. Việc bảo vệ hình ảnh công chúng của Giáo hội dễ hơn là thừa nhận khi ai đó bị tổn hại. Việc ngưỡng mộ một đám đông rộng lớn dễ hơn là chú ý đến một cá nhân đứng ở rìa đám đông đó.

Tuy nhiên, Tin Mừng liên tục đề cập đến những người có thể bị lẫn vào đám đông mà không được nhắc đến.

Một thân mình được kêu gọi để sống chan chứa yêu thương

Cuộc tụ họp lớn ở Paris không nên được hiểu là bằng chứng về sự thắng lợi của thể chế, cũng không phải là một sự kiện không quan trọng. Đó là một dấu hiệu của khả năng tâm linh. Hàng trăm nghìn người đã tụ họp, nhưng mục đích của sự tụ họp Kitô giáo không phải là chỉ quanh quẩn bên một nhân vật công chúng. Đức tin phải lan tỏa vào các mối tương quan, phục vụ, công lý và hy vọng.

Giáo Hội là thân thể sống động khi lòng thương xót của Chúa Kitô được thể hiện rõ ràng qua các thành viên của Giáo Hội. Giáo Hội là thân thể sống động khi sự thờ phượng dẫn đến tình hiệp nhất, giáo lý dẫn đến sự chân thật, và cầu nguyện dẫn đến trách nhiệm. Giáo Hội là thân thể sống động khi những người bị tổn thương không bị che giấu để Giáo Hội giữ thể diện nhưng họ được đón nhận để được chữa lành.

Do đó, Giáo Hội không phải là một cỗ máy hay một màn trình diễn. Giáo hội là một thân thể bị tổn thương nhưng vẫn sống động, được kêu gọi để làm cho lòng thương xót của Chúa Kitô được nhận biết trong thế giới. Uy tín của Giáo hội cuối cùng sẽ không phụ thuộc vào việc Giáo Hội trông ấn tượng đến mức nào nhưng phụ thuộc vào việc liệu mọi người có thể nhờ Giáo hội mà tìm thấy một tình yêu nhìn ra họ, nói lên sự thật và không bao giờ bỏ rơi họ hay không.

Tác giả: John Singarayar, https://www.ucanews.com

Chuyển ngữ: Phêrô Phạm Văn Trung 

  

ĐẠO CÔNG GIÁO VÀ VẤN ĐỀ TÁI SANH

  Về nguyên nhân dẫn đến thảm họa kinh hoàng tại Nepal ngày 26 tháng 8 vừa qua, có nhiều luồng dư luận khác nhau, có quan điểm cho là do hiệu ứng El Nino, nóng lên toàn cầu  khiến  dòng sông băng vĩnh cửu trên dãy Himalaya tan chảy dẫn đến việc sụp đổ ? Vừa mới đây lại có  video khác  ghi lại những  hủ tục mê tín  đáng sợ  của người dân xứ sở nhỏ bé, khốn khổ ấy và cho rằng đó là do quả báo,  họ bị  thiên nhiên trừng phạt?

Dư luận nói chung là như vậy, điều này có thể đúng hoặc không đúng.Tuy nhiên, trong tư cách của Ki Tô Hữu, dù là giáo sĩ hay giáo dân, chúng ta không thể không nhớ đến lời Chúa Giê Su  nói về vụ tháp Siloe đổ sụp giết chết nhiều người:“ Cùng lúc ấy, có mấy người kể lại cho Đức Giê Su  nghe chuyện những người Galile’ bị tổng trấn Philato giết, khiến máu đổ  hòa lẫn với máu tế vật họ đang dâng. Đức Giê Su nói: Các ngươi tưởng mấy người Galile’ phải chịu  số phận ấy  vì họ tội lỗi hơn  mọi người Galile’ khác sao ? Ta nói cho các ngươi biết, không phải thế đâu, nhưng nếu các ngươi không ăn năn, sám hối tội mình  thì các ngươi cũng sẽ chết hết như vậy. Cũng như 18 người kia bị tháp Siloe đổ xuống đè chết, các ngươi tưởng họ là những kẻ mắc tội nặng  hơn tất cả những người ở thành Gierusalem này sao ? Ta nói cho các ngươi biết: Không phải thế đâu, nhưng nếu  các ngươi không chịu sám hối thì các ngươi cũng phải chết hết giống y như vậy” ( Lc 13, 1 -5 ).

Chúa Giê Su nói với những người Do Thái xưa kia nhưng đồng thời cũng là cho  tất cả chúng ta ngày nay: Nếu các ngươi không ăn năn, sám hối tội mình thì cũng sẽ  chết hết như vậy ! Chúa Giê Su cũng như Đức Mẹ  trong những lần hiện ra suốt 02 thế kỷ nay, tại Lộ Đức, Phatima, Mễ Du, Akita ( Nhật Bản ) Ngài đều tha thiết kêu gọi con cái  hãy trở về với  lòng ăn năn, sám hối…Thế nhưng hầu như rất ít người chịu nghe và đem ra thực hành trong đời sống !

Tại sao những lời khuyên răn, nhắc nhở của Chúa Giê Su, của Đức Mẹ về  việc  sám hối, ăn năn lại không được con cái nghe theo và thực hành như thế ? Có nhiều  lý do nhưng  quan trọng nhất đó là người ta không nhận biết về lẽ sống chết ( Sinh, Tử ) ở đời. Không biết về Lẽ Sinh Tử tức là không biết mình sinh ra bởi đâu và chết rồi sẽ đi đâu, về đâu ? Tuy vậy, cái lẽ Sinh, Tử ấy  lại rất khó để nhận biết, ngay  một trí thức lớn người Do Thái  là Nicodemo cũng chẳng  biết chi cả !

“ Trong nhóm Pharisi, có người tên là Nicodemo, một thủ lãnh của người Do Thái. Ông đến gặp Chúa Giê Su vào  ban đêm và nói: Thưa Thầy, chúng tôi biết Thầy là một tôn sư đến từ Thiên Chúa. Quả vậy, chẳng ai có thể làm được điều Thầy làm  nếu Thiên Chúa không ở cùng người ấy. Đức Giê Su nói: Thật, tôi bảo thật ông, không ai có thể thấy Nước Thiên Chúa  nếu không được sinh ra bởi ơn trên. Ông Nicodemo thưa: Một người đã già rồi làm sao có thể sinh ra được, chẳng lẽ người đó có thể chui vào bụng mẹ một lần nữa để sinh ra sao ? Đức Giê Su nhắc lại: Tôi nói thật với ông, không ai  có thể vào Nước Thiên Chúa  nếu không sinh ra bởi nước và Thần Khí. Cái bởi xác thịt sinh ra là xác thịt. Cái bởi Thần Khí sinh ra là Thần Khí. Ông đừng ngạc nhiên vì tôi  đã nói: Các ông cần phải được  sinh ra một lần nữa  bởi ơn trên. Gió muốn thổi đâu thì thổi, ông nghe tiếng gió nhưng không biết gió từ đâu đến và thổi đi đâu ? Ai bởi  Thần Khí mà sinh ra thì cũng vậy…

…Ông Nicodemo vẫn còn thắc mắc: Làm sao việc ấy có thể xảy ra được ? Đức Giê Su đáp: Ông là bậc thầy trong  dân Itsraen mà lại không biết những chuyện ấy. Thật, tôi bảo thật ông: Tôi nói điều chúng tôi biết, chúng tôi làm chứng về những điều chúng tôi đã  thấy. nhưng các ông không nhận lời chứng của chúng tôi. Nếu tôi nói với các ông  về những chuyện dưới đất mà các ông còn không tin thì giả như tôi nói với các ông  về những chuyện trên trời làm sao các ông có thể tin được. Không ai đã lên trời, ngoại trừ Con Người, Đấng từ trời xuống” ( Ga 3, 1 -13 ).

Nicodemo là một trí thức thuộc phái Pharisieu, từ lâu đã ngưỡng mộ Chúa Giê Su nhưng vì e ngại người Do Thái nên  phải chờ  ban đêm mới  đến gặp. Thế nhưng qua cuộc đàm đạo ấy lại cho thấy ông ta chẳng hiểu  chi về Ngài, bằng chứng là khi nghe Chúa nói ông cần được tái sinh bởi ơn trên, bèn  nêu thắc mắc: Làm sao điều ấy có thể được, chẳng lẽ đã già rồi lại phải chui vào bụng mẹ để sinh ra một lần nữa sao ?  Để  hiểu được con người nào thì  không thể không biết đến quan điểm, lập trường của người đó. Sở dĩ nói Nicodemo không hiểu Chúa Giê Su, bởi vì ông ta  đã không hiểu gì về Giáo Thuyết Tái Sanh của Ngài.

Nếu một Nicodemo xưa kia đã không hiểu được Chúa Giê Su thì trong thời đại ngày nay cũng vậy, người ta cũng chẳng hiều chi  về Ngài khi đưa  đề ra chủ trương  một “ Đức Giê Su Trước Khi Có Ki Tô Giáo”. Theo chủ trương này thì trước đây Giáo Hội vẫn  đặt lòng tin nơi Chúa Giê Su như là Đấng Cứu Độ Trần Gian, còn Thần Học ngày nay  không còn  tin như vậy  nữa: Đức Giê Su   không hơn không kém chỉ còn như một nhà hoạt động chính trị…thất bại:

“ Ngay cả khi điều quan tâm của họ có tính chất thần học hơn lịch sử thì mỗi  nước theo một cách riêng, cũng cố làm cho chúng ta  hiểu rằng việc giới lãnh tụ Do Thái chống đối Đức Giê Su đã đến tột cùng, khi phần đông dân chúng tập trung  vào Ngài niềm hy vọng cứu thế. Đó cũng chính là lúc Đức Giê Su lui vào nơi vắng vẻ với các môn đệ để chú tâm hơn vào việc huấn luyện và chuẩn bị lên Gierusalem để hy sinh…

…Theo quan điểm nhà viết sử thì người ta đang thiếu một dữ kiện then chốt để giải thích rõ tại sao Đức Giê Su đã bỗng nhiên trở nên một nhân vật được nhiều người biết đến, một nhân vật quan trọng đến thế ? Riêng hoạt động và lời  giảng huấn của Ngài hắc cũng đã có một sức mạnh vang dội. Nhưng Ngài đã làm thế nào  để được nhiều người biết đến. Tư tưởng của Ngài đã lan rộng  thế nào đã khiến các nhà chức trách lo ngại đến nỗi muốn bắt Ngài, những tư tưởng ấy đã lan rộng  thế  nào để đến nỗi dân chúng muốn đưa Ngài lên làm Vua Cứu Thế ?...

…Tại sao người đã phải lui vào nơi vắng vẻ và như một kẻ đi trốn ? Điều gì đã khiến Ngài  chắc chắn mình sẽ chết  cùng với các môn đệ, một cái chết bạo tàn” ( LM Vương Đình Bích – Đức Giê Su Trước Khi Có Ki Tô Giáo ).

Tại sao  Giáo Hội trước đây vẫn đặt niềm tin vào Chúa Giê Su như Đấng Cứu Độ còn ngày nay thần học lại coi Ngài chỉ là nhà hoạt động chính trị ? Đó là vì Nước Thiên Chúa như  Chúa Giê Su nói với Nicodemo: Cần được tái sanh bởi Phép Rửa và ơn trên thì nay với thần học, đó chỉ là một…nghĩa bóng tức  không hề  có thực:

“ Cũng như mọi nước khác, Nước Thiên Chúa không thể ở bên trong con người. Trái lại, đó là một thực tiễn trong đó con người được kêu gọi đến sinh hoạt. Nghĩ cho thấu triệt câu nói “Nước Chúa” câu nói và Đức Giê Su  thường dùng, người ta  nhận thấy đó là một câu nói hoàn toàn có nghĩa bóng…

…Như thế, cái biểu tượng nghĩa bóng có giá trị hơn hết, hẳn là biểu tượng  về một ngôi nhà hoặc một đô thị có tường thành quách bao quanh. Về ý niệm “ basilica” được coi như  là có nghĩa triều đại và quyền hành thống trị.” ( LM Vương Đình Bích – SĐD ).

Theo quan điểm  Thần Học thì Nước Thiên Chúa không thể ở  bên trong con người, đó chỉ là… cách dịch không đúng: “ Có người dịch “ Ở trong các ông”  nhưng dịch như thế  có thể làm người ta hiểu lầm rằng  Triều Đại Thiên Chúa  chỉ là một việc nội tâm và riêng tư. Đối với Đức Giê Su, Triều Đại Thiên Chúa dành cho toàn Dân Chúa và đã là một thực tại đang hoạt động để cứu độ loài người. Các ông có thể đạt tới được” ( Xem Bản Dịch KT Tân Ước  chú thích “ b” Tin Mừng Luca đoạn 17 từ câu 20 -21 của Nhóm PDCGKPV ).

Với cái gọi là “ Triều Đại Thiên Chúa dành cho toàn Dân Chúa, các ông có thể đạt tới được”. Thần Học đã ngang nhiên phủ nhận lời Chúa Giê Su nói với Nicodemo khi ông này đến thăm: “ Không ai có thể  vào Nước Thiên Chúa, nếu không sinh ra bởi nước và thần khí”. Việc…sinh ra tức Tái Sinh ấy chỉ có thể là của mỗi cá nhân chứ không thể là của toàn Dân Chúa. Cũng vì không hiểu được lẽ ấy, thế nên Thần Học mới cho rằng không nên…hiểu lầm rằng đó ( Tái Sanh ) chỉ là việc nội tâm và riêng tư !!!

Thực sự thì việc Tái Sanh tức Sống  Lại ấy chỉ có thể  thực hiện bởi mỗi cá nhân. Điều này, ví như việc ăn, việc uống. Ai ăn thì người ấy no, ai uống thì người ấy khỏi khát. Nếu không ai có thể ăn, uống thay cho ai được thì  việc được Sống Lại  cũng vậy, chẳng  có gì khác ! Tuy vậy, tin vào việc Sống Lại là điều không hề dễ chút nào: “ Nhưng có kẻ sẽ hỏi rằng: Người chết được sống lại thể nào, lấy thân thể nào mà đến được ư ? Ớ kẻ ngu dại kia, vật  gì ngươi gieo, nếu không chết đã thì không sống lại được. Lại như vật ngươi gieo, ấy không phải là hình thể sẽ có, chẳng qua là cái hột như hột lúa mì  hay là giống gì khác. Nhưng Thiên Chúa cho nó hình thể  tùy ý Ngài, mỗi giống cho hình thể riêng. Mọi xác thịt  chẳng phải đồng một xác thịt, nhưng xác thịt của loài người khác, của loài thú khác  của loài chim khác, của loài cá lại khác nữa…” ( 1C 15, 35 -39 ).

Để hiểu cách tường tận việc Sống Lại là điều  rất khó. Tuy nhiên, vấn đề quan hệ không phải là…hiểu nhưng là Sống, mà Sống đối với Ki Tô Hữu chúng ta có nghĩa là tin vào sự Phục Sinh của Đức Giê Su Ki Tô:“ Vì nếu kẻ chết không sống lại thì Đức Ki Tô cũng đã không sống lại. Mà nếu Đức Ki Tô đã không sống lại thì đức tin của anh em thật hão huyền và anh em vẫn còn sống trong tội lỗi mình” ( 1C, 15, 16 -17 ).

Tin rằng Chúa Giê Su đã phục sinh về trời, điều đó tưởng  như không có chi  ngờ vực, chẳng phải người Công Giáo chúng ta, ai cũng có chung một  niềm tin ấy hay sao khi cử hành Lễ Phục Sinh và sống Mùa Phục Sinh như truyền thống Giáo Hội ? Thế nhưng tại sao Thần Học lại phủ nhận không có  Nước Trời. mà chỉ có Triều Đại Thiên Chúa, hiểu như là thực tại đang hoạt động để cứu độ loài người ? Thần Học có mặt là để hướng dẫn, chỉ đường cho Dân Chúa mà lại trình bày Nước Trời như thế thì chúng ta biết tin ai bây giờ, tin theo thánh Phao Lô hay tin thần học ?

Có lẽ câu trả lời ở đây là chúng ta tin vào Lời Chúa, lời các thánh và giáo hội, trái lại Thần Học hiện nay chỉ là biểu hiện của cơn khủng hoảng nhất thời, rồi sẽ qua đi mà thôi ? Tuy nhiên còn một vấn nạn khác và đây là điểm mấu chốt khiến cho niềm tin vào  Sự Sống Lại dường như là điều bất khả ? Trong niềm tin của các tôn giáo, tất cả đều cho rằng con người ta ngoài phần xác thân hữu hình, còn có phần tinh anh, vô hình  gọi là Linh Hồn.  Thế nhưng Linh Hồn ấy sau khi xác thân chết thì sẽ đi đâu ? Về đâu ?

Linh Hồn con người sau khi chết sẽ đi đâu, về đâu ? Cái việc gọi là…đi, là về ấy chắc chắn không phải là cái xác thân hữu hình, hữu hoại này ! Thánh Phao Lô  quyết chắc như  thế: “ Sự sống lại của kẻ chết  cũng như vậy, đã gieo ra là hay hư nát, mà được sống lại là không hay hư nát. Đã gieo ra là nhục mà được sống lại là vinh. Đã gieo ra là yếu nhược  mà được sống lại là mạnh mẽ. Đã gieo ra là thể thuộc huyết khí, mà được sống lại là thể thuộc linh” ( 1C, 15, 42 -44 ).

Cái sự “ Gieo” mà thánh Phao Lô nói ở đây có nghĩa là…chết, chết rồi thì thân xác chỉ sau một thời gian ngắn sẽ  thối rữa, làm mồi cho dòi bọ ăn, không thể vào được Nước Trời mầu nhiệm. Chết rồi thì xác thân thối rữa, chỉ còn lại Linh Hồn, nhưng Linh Hồn là gì ? Đây là chỗ khó hiểu không những chỉ  trong giới Công Giáo mà còn trong các truyền thống tâm linh khác. Với Phật giáo thì Linh Hồn được hiểu như là Thần Thức nhưng nếu đã là Thần Thức tức cái biết  vô cùng sáng suốt thì tại sao sau khi rời bỏ thân xác ( Chết ) nó  không tự do chọn lựa  Cảnh Giới nào tốt đẹp  mà nó muốn đến ?

Để  lý giải  vấn đề sâu sắc  này, xin  đan cử  một Công Án ( Kung An ) Thiền Tông  như sau:“ Lần kia có người hỏi thiền sư Triệu Châu: Con chó có Phật Tánh hay không, ngài đáp gọn lỏn: Không. Lần khác lại có người hỏi một câu y như vậy, ngài đáp: Có và người ấy nêu thắc mắc: Tại sao đã có Phật Tánh là tính sáng suốt lại đi chui vào trong một thân thể lông lá lù xù, gớm ghiếc như vậy ? Thiền sư trả lời: Vì Nghiệp Thức che đậy !

Nghiệp Thức  là tất cả những gì con người tạo tác qua 03 phương diện  Thân, Khẩu, Ý trong đó Ý là quan trọng nhất. Theo Duy Thức Học, trong việc làm lành, lánh dữ  thì  Ý Thức, công của nó  đứng đầu mà tội của nó cũng lớn nhất ( Công vi thủ, tội vi khôi ). Nghiệp Thức là cái mà con người tự tạo lấy cho mình bằng cách chất chứa  trong Tâm những tư tưởng thiện, ác. Có  chứa tư tưởng thiện thì mới  làm được điều thiện. Trái lại, chất chứa những tư tưởng ác sẽ làm điều ác. Cái lẽ Nhân Quả Báo Ứng này, chính Chúa Giê Su cũng  nói không khác. Ngài  quở trách những kẻ đạo đức giả: “ Ớ dòng dõi rắn độc kia, các ngươi vốn là ác, thể nào có thể nói điều thiện được ? Vì do sự đầy dẫy trong lòng mà miệng mới nói ra. Người thiện do chứa thiện  mà phát ra điều thiện. Kẻ ác do chứa ác mà phát ra điều ác. Ta nói cùng các ngươi, mọi lời nói  tầm phào  mà người ta nói ra đều phải khai trình trong ngày phán xét” ( Mt 12, 35 -37 ).

Tất cả những gì con người cố ý ( Tác Ý ) nói, hành động  hoặc  nghĩ suy đều tạo thành Cái Nghiệp cho mỗi người và chính  Cái Nghiệp ấy sẽ bị phán xét  sau khi Linh Hồn lìa khỏi xác.Con người sẽ bị phán xét bởi các Nghiệp của mình, tựu chung có 02 loại, một là Cực Trọng Nghiệp và hai là Thường Nghiệp. Với Cực Trọng Nghiệp thì linh hồn sẽ “ đi, về” ngay các cảnh giới tương ứng: Các đấng thánh, có nhiều công nghiệp lớn lao trước Mặt Chúa sẽ…về thẳng Thiên Đàng. Trái lại những kẻ cùng hung, cực ác sẽ  cắm  đầu xuông Hỏa  Ngục !!!

Về Cực Trọng Nghiệp Ác, xin kể sau đây trường hợp của văn hào Voltaire ( 1694 – 1778 ), người được cải táng chôn trong điện Panthe’on danh giá, có  hàng triệu người  kéo dài khắp  thủ đô Paris tiễn đưa:

Theo lời kể của người giúp việc trong nhà Voltaire thì trong cơn hấp hối ( Chưa chết ) ông ta đã nhìn thấy những hình ảnh hết sức ghê rợn, rồi miệng ông tru tréo: Một bàn tay đang kéo tôi đến  với Chúa Trời…quỷ đến bắt lấy tôi rồi …tôi trông thấy Hỏa Ngục…hãy cút đi, chính mi đã đưa ta đến tình trạng này, hãy buông tha cho ta” ( Wikipedia ).

Voltaire là triết gia, đại văn hào của nước Pháp, ông ta  đã dùng tài năng của mình để chống đối Giáo Hội Công Giáo cách thâm độc, quỷ quyệt nhất và cũng là một trong những nhân vật xây dựng nền móng đưa dến thành công cho Cách Mạng 1789…

Chết lành hay chết dữ, tất cả đều do Cái Nghiệp của mình dẫn dắt, bởi đó cho nên với những  con người thực sự khôn ngoan thì cần phải biết chuẩn bị cho giờ Phán Xét không một  ai tránh khỏi. Chúa nói: “ Vậy, các ngươi hãy tỉnh thức, vì các ngươi không biết ngày nào Chúa  các ngươi đến ! Các ngươi hãy biết điều này: Nếu chủ nhà biết canh nào kẻ trộm đến, hẳn ông đã tỉnh thức không để nó khoét ngạch nhà mình. Cho nên, các ngươi cũng vậy, các ngươi hãy sẵn sàng  vì chính giờ các ngươi không ngờ, thì Con  Người sẽ đến” ( Mt 24, 43 -45 ).

Hơn bất cứ thời nào khác, thời nay con người luôn phải đối diện với những cái chết bất ngờ qua các ngả đường bộ, đường thủy và đường hàng không. Mặt khác, những cái chết bất ngờ ấy lại xảy ra có khi tới cả hàng ngàn người chỉ trong  khoảnh khắc, chẳng hạn, thảm họa kinh hoàng tại Nepal vừa rồi ! Những cái chết ấy thật  tội nghiệp, đáng thương cần  được cứu trợ, mau chóng, kịp thời. Thế nhưng, sự  thương tiếc ấy, kể cả với những thân nhân cha mẹ, vợ chồng, con cái dành cho nạn nhân rồi  sẽ quên  đi mau chóng, nhường chỗ cho những lo toan bộn bề của cuộc sống  v.v…

Tát cả rồi sẽ qua đi và thời gian sẽ phủ một lớp bụi mù trên cuộc sống khiến  con người ta  không những quên đi cái chết của người thân mà còn chẳng hề nhớ  đến cái thân phận hay chết của  mình !. Quên, không nhớ đến cái chết của chính mình, điều ấy cũng có nghĩa quên  đi  ý nghĩa của cuộc sống này là gì ? Không biết ý nghĩa của cuộc sống mà…vẫn  cứ phải  sống cùng với biết bao nỗi khốn khổ, đây quả thật  giống như  anh chàng Sisyphus bị các thần trừng phạt, suốt đời cứ phải đẩy một khối đá tròn lớn lên đỉnh núi, rồi khối đá đó lại  lăn xuống chân núi, anh ta phải cố mà đẩy  lên  nhưng nó lại lăn xuống, cứ thế  tiếp tục !

Tìm cho biết ý nghĩa của  cuộc sống  và quyết chí thực hiện  trong  chính cuộc đời mình, điều ấy chẳng phải  đã làm nên các bậc hiền thánh  cho  nhân loại đó  sao ? Ngược lại, đây  là nỗi trăn trở của nhiều người:

“ Ta còn  để lại gì không ?

Kìa non đá lở, này sông cát bồi

Lang thang từ độ luân hồi

U minh nẻo trước, xa xôi dặm về

Trông ra bến hoặc bờ mê

Nghìn thu nửa chớp, bốn bề một phương”

( Nguyện Cầu – Vũ Hoàng Chương )

Có  tìm mới gặp, còn không tìm thì không thể gặp. Thánh Phao Lô, một người phái Pharisi của Do Thái Giáo, trước đây đã từng tìm để bắt bớ, giết hại các Ki Tô Hữu, thế nhưng  qua sự kiện Damat ( Cv 9, 3 -8 ).nhờ Ơn Chúa, ông đã tìm được Con Đường và hết sức hãnh diện với Con Đường Thập Giá ấy: “ Ước chi tôi chẳng hãnh diện về điều gì, ngoài thập gia Đức Giê Su Ki Tô Chúa chúng ta. Nhờ thập giá Người, thế gian đã bị đóng đinh vào thập giá đối với tôi và tôi đối với thế gian ( Gl 6,14 -18 ).

Thánh Phao Lô vị tông đồ  của dân ngoại như chính ngài xác nhận, đã tìm được Con Đường Thập Giá và xứng đáng  đoạt triều thiên vinh quang Nước Trời. Tuy nhiên, Con Đường Theo Chúa Giê Su ấy lại đòi hỏi phải vượt qua rất nhiều gian truân khổ nhọc, có thể ví  giống như điêu khắc một pho tượng, chỉ trật một  nhát đục đẽo là hỏng. Trái lại còn có một Con Đường khác…dễ đi mà lại an toàn hơn nhiều đó là Tận Hiến cuộc đời mình cho Đức Maria, Ngài ví như cái khuôn đúc nên Con Thiên Chúa cũng chẳng khác gì Người Con Chí Thánh của Mẹ là Đức Giê Su. Con Đường Tận Hiến ấy, tuy vậy cũng không khác gì Đường Thập Giá, chỉ có điều không phải “ Ta” nhưng chính Đức Mẹ là thợ điêu khắc ấy:

“ Bạn đừng lầm tưởng rằng khi gặp được lối tu đức ( Tận Hiến ) của Mẹ là bạn sẽ không còn  gặp thánh giá và đau khổ. Trái lại, vì là con cái của Maria, Mẹ của người lành, Mẹ chỉ biết hái trái ở Cây Trường Sinh là Cây Thánh Giá để nuôi con. Khi trao thánh giá cho con vác, Mẹ gửi theo những ơn  giúp con vui vẻ nhẫn nại vác lấy, thế là cây khổ giá Mẹ cho con vác, không còn là cây khổ đắng nhưng ngọt như đường phèn. Nếu chén con cần phải đắng  để thành bạn thân của Chúa. Mẹ sẽ mau mau đem lại sự an ủi, vui mừng  sau những ngày buồn thảm, để khích lệ con Mẹ can đảm vác thêm nhiều cây khổ gia nặng nề và cay đắng hơn” ( Sống Tận Hiến Thánh Monfort – Sách Vàng )./.

Phùng  Văn  Hóa.

( Viết xong tại Trà Cổ - Đồng Nai, ngày Lễ Sinh Nhật Đức Mẹ 08/9/2026 )

SỰ SỐNG ĐỜI SAU

Để kết thúc Kinh Tin Kính. Người Công Giáo  tuyên xưng:“ Tôi trông đợi kẻ chết sống lại và sự sống đời sau. Amen. Tin có Sự Sống Đời Sau có nghĩa  chúng ta tin rằng sau khi chết, Sự Sống vẫn còn  chứ không phải  hết. Tuy nhiên Sự Sống ấy có phải là sự sống  thể lý hay không, nếu là sự sống thể lý thì đâu có…trông đợi kẻ chết sống lại làm gì ?. Tin kẻ chết  sẽ  sống lại, đó là đức tin của Đạo Công Giáo. Thế nhưng đức tin ấy trong thời Tục Hóa ( Se’cularisation ) hiện nay,  đã bị thử thách nặng nề. Với Tục Hóa hay còn gọi là Giải Thiêng ấy thì  dù  không nói trắng ra…chết là hết nhưng trong  thực tế, đời sống của Người Công Giáo cũng chẳng khác chi kẻ vô thần !

Con người, dù có tôn giáo hay không có tôn giáo, dù là người Phương Đông hay Phương Tây, dù bất luận là vua chúa, quan quyền, uy danh lừng lẫy  hay thứ dân mạt hạng, tất cả đều giống nhau, chẳng  có gì khác, sẽ  phải đối diện với cái chết trong một ngày nào đó. Tuy con người có  điểm chung là cái chết, nhưng lại rất khác nhau ở  Cảnh Giới tức nơi chốn  sau khi chết sẽ…Tái Sanh về đó.

Chết có nghĩa là Hồn lìa khỏi Xác, đó là  bước ngoặt hết sức quan trọng  vì nó  là  khởi đầu  cho cuộc hành trình  vào  thế giới bên kia  đầy  bí ẩn. Thế giới ấy lại được định đoạt bởi những năm tháng sống trên cõi dương gian này theo  Định Luật Nhân Quả:“ Kẻ bất nghĩa cứ để nó làm điều bất nghĩa nữa. Kẻ ô uế cứ để nó làm điều ô uế nữa. Kẻ công chính cứ để  người  làm điều công chính nữa. Kẻ thánh cứ để người  nên thánh nữa. Kìa, Ta đến mau chóng, đem tiền công theo  để trả cho  mỗi người  tùy công việc  của họ. Ta là An Pha và Omega, là  đầu và cuối” ( Kh 22, 11 -13 ).

Ngay sau khi chết, con người ta sẽ bị xét xử về những việc  lành, dữ mình đã làm khi còn sống trên cõi đời. Bởi đó, niềm tin vào Sự Sống Đời Sau là hết sức cần thiết, vì  chưng, có tin như thế, mình mới cố gắng làm lành lánh dữ hầu  mong  bước vào Cõi  Sống  Đời Đời. Chính vì sự cần thiết ấy, thế nên Chúa  đã  ban cho nhân loại những Chứng Nhân thích hợp  trong  cả hai lãnh vực Tâm Linh và Khoa Học  hầu minh chứng cho niềm tin  Sự Sống Đời Sau.

Chứng từ của BS George Ritchie, người Mỹ.

“ Trường hợp lạ lùng của bệnh nhân George Ritchie đã chết rồi sống lại ( Hiện đang là bác sĩ tâm trí ) đã khiến cho các khoa học gia cũng như các nhà tâm lý học  đặc biệt chú ý. Bác sĩ Raymond Moody đã bỏ ra 5 năm để nghiên cứu trường hợp đặc biệt này. BS Raymond Moody  vừa là bác sĩ vừa là Nhà Phân Tâm Học là tác giả cuốn sách nổi tiếng “ Life After Life” với số độc giả cả triệu người  đã phổ biến trường hợp của  George Ritchie đến thế giới Tây Phương. Cuốn sách do BS Raymond Mondy viết  để tặng BS George Ritchie, trước đây là một bệnh nhân  trong quân đội. Câu chuyện có thật này  đã được đưa lên màn ảnh  với tựa đề Beyond And Back. Cuốn phim này đã làm chấn động dư luận” ( Nguồn Đạo Phật Online – 07/12/2019 – Trường  Hợp Chết Đi, Sống Lại Của  Một Bác Sĩ ).

Nghiên cứu về sự sống sau khi chết đang là một đề tài lớn trong giới Y Khoa. BS Donald G.Francy,y sĩ trưởng của trại Backeley gọi trường hợp của George Ritchie sống lại là một trong những sự lạ lùng và ly kỳ nhất chưa từng bao giờ có. Trong một bài đã được kiểm chứng, BS Francy viết như sau:

“  Bệnh nhân George Ritchie đã chết hẳn rồi lại sống lại rất mạnh khỏe là một trường hợp chưa từng có. Điều đáng lưu ý là  một người bị bệnh tim, khi tim ngừng đập, có thể dùng cách này hay cách khác có thể làm cho tim đập trở lại. Nhưng trường hợp của George Ritchie với bệnh sưng phổi, cơ thể đã bị nhiễm độc, các cơ quan trong người đã bị phá hủy thì việc làm cho trái tim đập trở lại  là không thể thực hiện được. Hơn nữa, George Ritchie  đã chết ít  nhất là 09 phút  thì bộ não đã bị hư hỏng không thể toàn vẹn được.”

Thân xác dù có chết, tức không còn hơi thở, tim không còn đập nhưng ý nghĩ  vẫn hoạt động và  theo lời kể của  George Ritchie, anh  vốn là một sinh viên chuẩn bị vào Đại Học, thế nên  ý nghĩ đầu tiên của anh lúc này là phải đi chuyến xe buýt  sáng sớm  để tới Trường Y Khoa tại Richmond để kịp lễ khai giảng khóa mới. Nhưng lạ lùng thay ! Quần áo của anh đâu  rồi ? Anh tìm khắp nơi trong phòng. À ! Có lẽ ở dưới gầm giường chăng ?

“ Tôi đi vòng quanh, rồi lạnh cứng. Có người nào đó đang nằm trên giường tôi kìa ! Tôi lại gần, đó là một người đàn ông còn trẻ, tóc màu  nâu, cắt ngắn nằm ngay đơ. Nhưng….không thể nào thế được ! Chính tôi vừa mới ra khỏi giường  này mà. Tôi thắc mắc khó hiểu sự kỳ lạ này. Thật là quá sức lạ lùng nghĩ đến việc này…nhưng không còn thì giờ nữa !…

…Anh phải đi tìm người phụ trách nơi đây để lấy lại quần áo. Ritchie trong thấy một trung sĩ đang đi ngoài hành lang, anh chặn lại và  yêu cầu ông ta giúp đỡ. Nhưng người này không thấy anh và cũng không nghe thấy anh nói, cứ tiếp tục đi thẳng  khiến anh phải tránh ra nhường lối cho ông ta  đi…

…Nóng lòng tới Trường Đại Học, Ritchie ra khỏi bệnh viện rồi…bay theo  hướng Bắc  về Richmond với một tốc độ nhanh chóng. Anh phân vân  không biết đi có đúng đường không ?

“ Một con sông rộng ở dưới tôi. Tôi thấy có một cái cầu dài, cao và tít đàng xa, bên kia sông có một thành phố lớn mà tôi chưa bao giờ đến đó cả. Tôi muốn đáp xuống kiếm người hỏi thăm, tôi từ từ ngưng lại, ngay dưới tôi có hai con đường chập lại làm một và tôi bị cuốn hút bởi một luồng ánh sáng xanh chiếu ra từ một  bảng hiệu “  Past Blue Ribbon Beer” treo ngay trên cửa sổ và trước nhà bảng hiệu “ Café” lơ lửng trên cửa ra vào…Trên con đường  nhỏ dẫn vào quán Café bán đêm nay, có một người đang rảo bước, tôi bèn  xuống đi bên cạnh và hỏi:

  • Làm ơn cho tôi biết đây là thành phố nào ? Ông ta vẫn tiếp tục…đi thẳng…Chúng tôi tới quán Café, ông ta xoay tay nắm cửa bước vào, có lẽ ông ta bị điếc hẳn ? Tôi lấy tay trái đập lên vai ông ta, không có gì cả mà hình như tay tôi vừa để vào khoảng không. Rõ ràng tôi thấy ông ta mà, tôi còn nhận ra ông ta có một chòm râu đen ở cằm, cần phải cạo đi nữa”

Trong cơn thoát xác, Ritchie cảm thấy chuyến đi Richmond thật phù phiếm, chẳng ai thấy và nghe được anh cả, anh tự nghĩ:“ Nếu tôi có trở về gia đình  thì cũng chẳng ai thấy tôi. ? Ý tưởng cô đơn xâm chiếm tôi nhưng dù sao tôi cũng phải về ngay nơi mà mọi người thấy tôi và nghe được tôi nói chứ ?…

…Rồi George Ritchie  nghĩ đến cái xác hãy còn đang nằm tại bệnh viện, bèn vội vàng quay trở về  bệnh viện tại Trại Beckeley. Tới nơi, Ritchie  đã phải xục xạo  tìm lại cái  xác nằm tại một trong 200 căn phòng  của 5000 binh sĩ  đang ngủ…

…Đèn không  được sáng, thật khó khăn mới nhìn được mặt họ. Cả giờ rồi, toát cả mồ hôi, qua hết phòng này đến phòng khác mà vẫn không kết quả. Đột nhiên, anh nhớ ra, tay trái anh có đeo một cái nhẫn hội viên Phi Gamma Delta. Và tiếp tục  tìm kiếm, anh đã tìm được cái xác một người đàn ông trong một căn phòng nhỏ, phủ một tấm chăn và tay trái có đeo chiếc nhẫn…

…Tôi tiến lại từ từ, mắt dán chặt  vào cái bàn tay đeo nhẫn, tôi khiếp hãi, dưới ánh đèn mờ ảo, tôi thấy bàn tay đó thật trắng và thật mềm. Trước đây, tôi đã nhìn thấy bàn tay ấy ở đâu nhỉ ?  Tôi đã nhớ ra: Cha  Dabney  nằm trong phòng khách  Moss Side. Tôi lùi lại gần cửa ra vào, người nằm trên giường đã chết. Tôi cảm thấy khó chịu  như trước đây tôi đã phải ở chung với một người đã chết trong một căn phòng. Nhưng…cái nhẫn là của tôi mà, vậy đây chính là tôi mà ! Vậy  thì một phần của tôi  nằm trên cái giường này, phủ một tấm chăn. Vậy có nghĩa là tôi đã…Đó là lần đầu tiên  tôi đã  trực nhận đến  chữ chết liên quan đến những gì  đang xảy ra  cho tôi. Nhưng tôi chưa chết mà…sao tôi  có thể chết  trong khi  tôi vẫn còn thức đây ? Sau cùng tôi ngồi xuống giường, tôi nghĩ: Tôi đã thoát ra khỏi  xác, nên  không thể tiếp xúc lại được. Đây chính là lúc  tôi cảm thấy da thịt tôi và tôi ( Hình  Hài và Linh Hồn )  ở hai hành tinh  riêng biệt”.

Chợt, George Ritchie thấy trong phòng tự nhiên sáng hẳn lên, anh nhìn vào cái bóng đèn 15 Watts và chắc chắn cái bóng đèn này không thể sáng đến thế được !

“ Tôi ngạc nhiên thấy ánh sáng càng  ngày càng rúc lên ở trong phòng. Tất cả các  bóng điện trong bệnh viện thắp lên cũng không thể sáng như thế. Tất cả những ngọn đèn trên thế giới cũng không thể  sáng như thể, kể  cả triệu bóng đèn cùng cháy lên một lúc”

Bây giờ, George Ritchie nhận thấy không phải là ánh sáng mà là một người đang bước vào phòng, nói đúng hơn là Một Người được làm bằng ánh sáng. Con Người này đã  tỏa ra sức thần thông của chính mình xưa hơn cả thời gian  và hiện  đại, hơn bất cứ ai mà tôi đã được gặp. Người này  đã nhìn thấy suốt cuộc đời anh: “ Người này đã biết đến cả những gì khó ưa trong tôi. Người đã chấp nhận và thương yêu tôi. Người này đã hỏi anh: Anh đã làm được những gì trong cuộc đời ? Câu hỏi được nhắc đi nhắc lại  nhưng anh lẩn tránh. Cuối cùng  anh cũng phải trả lời là chẳng làm được gì trong suốt cuộc đời”.

Con Người Thiên Thể này  đã dẫn dắt Ritchie đi; sau này Ritchie  gọi là “ Một  Cuộc Kinh Lý Giáo Dục”. Ritchie đã được dẫn đến  thế giới thiên thể ở tầng trời cao nhất. Ở thế giới thiên thể này Ritchie đã nhìn thấy  cảnh các  linh hồn đam mê nhục dục. Những người nghiện rượu được kéo ra khỏi các quán rượu, các quán cà phê  và đây là địa ngục của họ. Những người  nghiện rượu trông thấy người khác  đang uống mà không được đụng đến  cái ly. Ritchie  nhìn thấy những người khác  vì say mê ái dục mà trở thành  bất lực; đây là địa ngục của họ. Ritchie đã nhìn thấy những người tự tử vì thất vọng…

…Khi được đưa tới tầng trời thứ ba thì Ritchie bị ngất ngây  bởi vô lượng ánh sáng  của Người Đồng Hành Thiên Thể mà sau này, Ritchie  nghĩ là Đấng Tối Thượng, Tối  Cao hơn cả. Đó là Đức Chúa Christ với người Thiên Chúa Giáo. Đức Phật với người Phật Giáo. Khrisna ( Phạm Thiên ) với người Ấn Độ Giáo. Messia Giáo Chủ với người Do Thái Giáo. Có lẽ tất cả đều đúng…

…Đã đến lúc phải trở về với nhiều nuối tiếc. Những bức tường đã ngăn chặn chúng tôi. Những bức tường rất hẹp như những cái hộp. Rồi trong khoảnh khắc, tôi nhận ra được  cái phòng của bệnh viện  mà tôi đã bỏ đi trong một thời gian. Anh cố gắng  nhập vào cái xác đang nằm trên giường. Anh cố gắng mở mắt  nhưng không sao mở được vì bị tấm chăn phủ mắt. Anh muốn giở  hai tay  nhưng không thể được và cảm thấy như đang nâng hai thanh sắt nặng. Anh chậm chạp xích hai bàn tay lại gần nhau và xoay cái nhẫn vài lần…

…Rồi đầu óc Ritchie  mờ đi, Ritchie  lại rơi vào tình trạng hôn mê và hình như lại chết một lần nữa. Chính sau này, thân xác anh cử động được  nhưng đầu óc anh vẫn mê man mất 03 ngày. Lần này khi mở mắt  ra, anh nhìn thấy cô y tá đang nhìn anh mỉm cười và nói: “ Thật vui mừng  anh đã trở lại với chúng tôi, đã có lúc  chúng tôi tưởng chừng không thành công”

Thời gian bình phục thật khó khăn. Khi trở về Richmond, Ritchie chỉ như một bộ xương, không ai có thể tin được Ritchie có thể theo học lớp Y Khoa. Phải mất đúng một năm, Ritchie mới hoàn toàn bình phục. Sau đó, Ritchie được  chuyển trở lại Trại Berkeley và được gởi sang phục vụ một đơn vị ở Âu Châu. Khi chiến tranh ( Thế Chiến 2 ) kết thúc, Ritchie đã tiếp tục học lại và sau đây, anh kể tiếp câu chuyện đời mình:

“ Khi tôi xin vào nội trú tại Đại Học Đường Virginia, một người bạn  đã khuyên tôi đừng nên  cho Ban Tuyển Chọn biết chuyện tôi đã  Xuất Hồn vì những người chấm điểm có thể nghi ngờ tôi. Người đầu tiên phỏng vấn tôi  là BS Wilfred Abse, giáo sư ngành Phân Tâm Học, Tâm Lý Học  thuộc Viện Tâm Trí và là một trong những người đứng đầu Ngành Phân Tâm Học  tại Virginia, ngay khi vào phòng, BS Abse đã nói với tôi:

“ Tốt, này bác sĩ Ritchie, hình như anh đã được gặp Chúa Christ. Tôi tưởng rằng cơ may  của tôi đã bị ném qua cửa sổ. BS Abse là người Do Thái, một người nghiên cứu về triết học Freud. Ông ta đã trực tiếp phỏng vấn tôi. Tôi đã nói hết sự thực và không dấu diếm chút nào về việc đã xảy ra tại Trại Barkeley, Texas.

Không thể ngờ được, hai tuần lễ sau cuộc phỏng vấn, tôi nhận được thư thông báo Ban Tuyển Chọn đã chấp nhận tôi vào nội trú và tôi đã trở thành một bác sĩ về tâm trí. Những năm sau này, BS Abse đã trở thành bạn thân của tôi. Trong một  câu chuyện giữa chúng tôi, bác sĩ đã cho biết: “ Mọi người nơi đây đều biết  rõ câu chuyện Xuất Hồn của anh. Nếu trong cuộc phỏng vấn, anh giấu diếm thì tôi đã không chọn anh vì cho anh là một người không có tinh thần vững vàng, một người như vậy, ắt hẳn không thể phân biệt đâu là sự thật, đâu là ảo tưởng” ( Nguồn: Đạo Phật Online – 07/12/2019 ).

Qua lời của  bác sĩ Abse cho thấy câu chuyện… chết, rồi sống lại dù chỉ sau 09 phút không chỉ có tính chất lạ lùng, ly kỳ chưa từng có mà  đó  còn chuyên chở một Sứ Mạng Tâm Linh được Chúa Ki Tô Phục Sinh đích thân trao cho George Ritchie. Sứ Mạng ấy có lẽ còn được trao cho nhiều người  nữa  và sau đây xin nêu lên một chứng từ khác, ngay trong thời đại này đó là Chứng Từ của Gloria Polo. Sự việc  xảy ra vào ngày 5 tháng 5/1995. Đây là bài nói chuyện với các sinh viên tại  Trường Đại Học Bogota:

“ Tôi là một nha sĩ, hồi đó tôi mới  30 tuổi. Tôi làm việc chung với người em họ của tôi, 23 tuổi, cũng là nha sĩ, cũng luận án như tôi. Vào một buổi chiều thứ sáu, trời mưa tầm tã, chúng tôi đi với chồng tôi tới trường đại học  để lấy  một số sách cần thiết. Em họ tôi và tôi đi chung một cái dù nhỏ. Chồng tôi có một chiếc áo khoác  không thấm nước  và đi dọc theo bức tường  của “ Thư Viện Lớn”  để đỡ bị ướt, trong khi chúng tôi luôn cố gắng tránh các vũng nước…

…Khi chúng tôi đi đến một hàng cây nhỏ và vừa nhảy qua một vũng nước  lớn thì cả hai chúng tôi đều bị sét  đánh. Em họ  của tôi bị chết liền tại chỗ. Sét đã đốt cháy  các cơ quan nội tạng của em. Mặc dù em còn trẻ, nhưng em sống tín thác vào Thiên Chúa  và em cũng có lòng sùng kính  đặc biệt Chúa Giê Su Hài Đồng, em luôn luôn đeo một mẫu ảnh  Chúa Giê Su Hài Đồng  bằng thạch anh trên ngực. Theo khám nghiệm tử thi cho biết, thì sét đã đánh vào thạch anh, sau đó vào trái tim, rồi xuống cơ thể và cuối cùng theo đôi chân ra ngoài. Nhìn bên ngoài, người ta không thấy có dấu vết cháy gì cả…

Còn đối với tôi, sét đã vào cơ thể  của tôi qua cánh tay  và thoát ra ngoài qua bàn  chân phải của tôi. Tôi đã bị đốt cháy khủng khiếp trên cơ thể của tôi, cả bên ngoài lẫn bên trong. Hầu như tất cả thịt của tôi đã bị đốt cháy, ngực của tôi đã bị lấy đi và đặc biệt là phía ngực bên trái  có một lỗ lớn, không còn thịt ở bên dưới cơ thể của tôi, kể cả chân và sườn, một phần gan đã bị cháy thành than, thận và phổi cũng bị cháy nhiều…Cơ thể mà bạn nhìn thấy bây giờ  là một sự tái tạo của Thiên Chúa nhân từ…

…Trong khi cơ thể tôi đã cháy thành than như thế thì linh hồn tôi đã cảm nghiệm được  điều tốt đẹp nhất. Linh hồn tôi đã được đưa tới  một đường hầm  với ánh sáng trắng tuyệt đẹp. Nó đã được hưởng  một sự an bình, hạnh phúc mà không  có từ nào có thể mô tả được, đó là sự ngất trí phi thường. Tôi hạnh phúc vô cùng và hầu như tôi  không còn trọng lượng  trong đường hầm này. Cuối cùng, tôi nhìn thấy  cái gì đó  như mặt trời, xinh đẹp, rực rỡ  ánh sáng. Tôi gọi đó là “ Vầng Trắng”  để chỉ về màu sắc  nhưng thật sự  không có màu sắc trần gian nào  so sánh được  với ánh sáng vinh quang đó. Tôi cảm thấy đây là  nguồn gốc  của tất cả Tình Yêu và An Bình…

…Trong lúc tôi đi lên, tôi nhận ra rằng tôi đã chết. Vào lúc đó, tôi nghĩ tới các con tôi và nói: Lạy Chúa, các con của con, chúng nó sẽ nghĩ gì về con ? Một người mẹ đã quá bận rộn đến nỗi không  không bao giờ  dành thời gian cho chúng ? Giờ đây, tôi thấy  được cuộc sống  quá khứ của tôi ra sao và điều đó làm cho tôi rất buồn. Tôi đã ra khỏi nhà mỗi ngày để thay đổi thế giới  nhưng tôi đã không thể  chăm sóc các con tôi ở nhà…

…Vào lúc đó, tôi nghe tiếng của chồng tôi, anh ta  khóc lóc và nài xin tôi tha thiết: Gloria, Gloria. Điều gì đã xảy ra vậy ? Gloria, hãy trở lại với các con đi Gloria ! Tôi nhìn anh và thấy anh buồn khổ và khóc rất lớn. Tôi không chỉ nhìn thấy mà còn cảm thấy nữa. Vào thời điểm này, Chúa cho tôi  trở lại cơ thể của tôi, nhưng tôi không muốn trở lại, bởi vì  nơi tôi đang ở chứa đầy  hoan lạc, an bình và hạnh phúc..

…Khi tôi từ từ xuống, nhìn vào cơ thể tôi, thấy thân xác tôi nằm bất động trên cáng của bệnh xá  Trường Đại Học Quốc Gia Bogota. Tôi thấy thân xác tôi bao quanh bởi các bác sĩ giải phẫu, đang dùng những cái xốc điện  để  làm phục hồi trái tim tôi. Phải mất ít nhất hai tiếng rưỡi mới có thể làm cho tôi hồi sinh được…

…Tôi tới gần đầu  của tôi và tôi cảm thấy điều  gì đó  như một cú sốc mạnh đẩy tôi trở lại  trong cơ thể của tôi. Và cuối cùng, tôi đã trở lại thân thể của tôi. Điều đó đã  làm cho tôi đau đớn rất  nhiều khi trở lại  do các tia bắn ra từ mọi phía. Tôi cảm thấy  ngột ngạt và như bị nhốt lại và tôi cảm thấy  nỗi đau đớn nơi thân xác  bầm tím và bị đốt cháy của tôi. Sau đó tôi nghe  bác sĩ nói…cô ấy đã tỉnh lại. Họ rất đỗi vui mừng, nhưng nỗi đau đớn của tôi vẫn còn ác liệt…

…Nhưng chấn thương đau đớn nhất là sự ảo mộng của tôi. Tôi là một phụ nữ thế tục,một  nhà quản trị, một trí thức, một sinh viên, tôn thờ vẻ đẹp  cơ thể, vẻ đẹp bên ngoài và thời trang. Tôi tập luyện bốn giờ một ngày để cho có một cơ thể mảnh mai, lo trị liệu, kiêng ăn uống v.v…

Sau cú sét đánh kinh hoàng,“ bị đốt cháy khủng khiếp  trên cơ thể, cả bên trong lẫn bên ngoài” tưởng chừng đã chết, nhưng khi  trở lại với thân thể có nghĩa  được…sống, lẽ ra  Gloria Polo phải  mừng lắm, chứ sao lại  cảm thấy ngột ngạt  và như bị nhốt lại ? Sở dĩ  chị có cảm tưởng ấy là vì đã  bắt gặp   dù chỉ trong  khoảnh khắc  một Thực Tại  gọi là “ Vầng Trắng”,  nguồn gốc  của tất cả Tình Yêu và Bình An của con người.

Cả bác sĩ George Ritchie lẫn  nha sĩ Gloria Polo đều thực sự  chết nhưng rồi đã sống lại. Hiện tượng này được  giới  Y Khoa  gọi là Hội Chứng Lazarus để chỉ cho  những trường hợp Cận Tử ( chết rồi sống lại ). Trong những trường hợp ấy, không có ngoại lệ, một khi đã thoáng gặp được Thực Tại là  nguồn gốc của Tình Yêu và Bình An ấy đều không ai muốn trở lại trong thân xác nơi cõi trần ai, khổ lụy này nữa !!!

Thực Tại, Gloria Polo gọi là “Vầng Trắng” là ánh sáng vinh quang đó  không những con người chỉ…thoáng nhận được sau khi chết mà  ngay khi còn sống trong thân xác, Thực Tại ấy vẫn tiềm ẩn trong tâm hồn mỗi người, chỉ vì  Vô Minh che lấp nên không nhận ra đó thôi ! Bao lâu còn chấp cho  xác thân này là mình thì  không thể có được  đức tin về sự hiện hữu  của Thiên Chúa. Chính bởi lẽ đó, thánh Phao Lô nói: “ Vậy, chúng ta hãy vững lòng  luôn luôn, vì biết rằng khi chúng ta  ở trong thể xác này  thì còn cách xa Chúa. Vì chúng ta bước đi bởi đức tin chứ không phải bởi mắt thấy. Vậy thì, chúng  ta vững lòng, thà  nguyện lìa khỏi thể xác này  để ở cùng Chúa thì tốt hơn” ( 2C 5, 7 -8 ).

Khi  thánh  Phao Lô nói, thà lìa khỏi thể xác, ngài không có ý nói  về việc tự tử nhưng nhắc nhở chúng ta đừng cố chấp cho thân xác thể lý này là mình, bởi hễ còn giữ  Cái Chấp ấy thì không sao có thể có  được đức tin chân chính. Tại sao việc chấp xác thân là mình thì không thể có đức tin ? Bởi vì Đấng Thiên Chúa của đức tin ấy  như tiên tri Isaia nói đó là Đấng Thiên Chúa Ẩn Giấu ( Deus Abconsditus – Is 45, 15 ). Chính vì Thiên Chúa là Đấng Ẩn Giấu nên mới cần có đức tin nhưng đức tin ấy làm sao có thể có được  nếu không nhận lãnh từ nơi Đức Giê Su Ki Tô ? “ Ta  là đường là sự thật và là sự sống. Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy” ( Ga 14, 6 ).

Để…đến được với Đấng Cha thì cần đặt hết lòng tin  nơi Đức Ki Tô, thế nhưng, nếu thực sự có lòng tin thì phải  theo và thực thi  lời truyền dạy của Ngài: “ Ai muốn theo Ta thì hãy từ bỏ mình, hàng ngày vác thập tự giá mình mà theo. Thật vậy, ai muốn cứu mạng sống mình thì phải mất, còn ai vì cớ Ta mà mất mạng sống mình thì sẽ cứu được. Vì chưng lời lãi cả thế gian mà mất linh hồn thì nào được ích gì ?” ( Lc 9, 23 -25 ).

Muốn cứu lại mất, bỏ đi lại được, điều này  xem ra có vẻ nghịch lý, khó thể chấp nhận. Tuy nhiên, để có thể nhận ra điều nghịch lý ấy thì chẳng có cách  nào khác ngoài con đường thực hành:“ Sao các ngươi cứ gọi Ta là Chúa là Thầy mà không thực hành những điều Ta đã truyền dạy ? Ta sẽ chỉ cho các ngươi  biết, kẻ nào đến với Ta và làm theo  thì giống ai ? Kẻ ấy, ví như  người kia cất nhà trên vầng đá, khi nước lụt tràn ngập, ngọn nước đổ vào nhà ấy thì cũng không rúng động được  vì đã xây cất chắc chắn. Song kẻ nào nghe, mà không làm theo  thì ví như  người kia cất nhà trên đất không có nền tảng. Ngọn nước  đổ vào, nhà đó  tức thì  đổ sụp  và sự hư hại rất lớn” ( Lc 6, 46 -49 ).

Để xây nhà trên nền tảng vững chắc  thì  trong mọi việc cần thực hiện trong tinh thần Bỏ Mình:“ Bố thí thì đừng  để cho  tay trái biết việc tay phải làm” ( Mt 6, 3 ). Ăn Chay thì đừng làm bộ rầu rĩ, nhăn nhó, cần rửa mặt, xức dầu thơm để không ai  biết là mình ăn chay ( Mt 6, 17 ).Cầu nguyện thì phải vào phòng kín đóng cửa lại mà cầu nguyện Cha ngươi ( Mt 6, 6 ) v.v…

Việc Bỏ Mình, về  nguyên tắc là vậy  nhưng  nếu không có Ơn Chúa thì không  ai có thể thực hiện.“ Ngoài Ta, các con không thể làm gì được” ( Ga 15, 5 ). Có Ơn Chúa ở đây tức là Lòng Cậy Trông. Tuy nhiên con người chỉ có Lòng Cậy trông khi ỡ trong  những  hoàn cảnh  khó khăn  như  nghèo khổ, chịu áp  bức bất công mà không biết dựa vào đâu để được nâng đỡ, chở che, hoặc bệnh hoạn mà không chữa chạy được v.v…

Có khổ mới mong thoát khổ, có bị giam cầm trong tù ngục mới mong có ngày được tự do…Thế nhưng khổ, lại không biết mình khổ  để tìm phương thoát khổ thì làm sao thoát khổ được ? Thực tế ngày nay tại các nước  thịnh vượng, giàu có ở Tây Phương và Bắc Mỹ, tình trạng Bỏ Đạo diễn ra ngày càng nhiều. Có nhiều lý do nhưng quan trọng nhất là vì người ta  thấy không cần đến Thiên Chúa hiểu như là Đấng Toàn Năng, Toàn Thiện nữa. Bởi không cần, thế nên  đức tin vào sự hiện hữu của Ngài  tất nhiên  cũng chẳng thể có. Lòng tin ấy, nay đã bị thay thế  bằng sự tín nhiệm xã hội ( Social  Trust ). Lòng cậy trông  trước đây đặt vào Chúa vào Đức Mẹ thì ngày nay  được đặt vào chế độ An Sinh  Phúc Lợi Xã Hội ngày càng bảo đảm  ?

Có phải chăng khi  được  chính phủ bảo đảm về  vấn đề An Sinh Xã Hội thì con người  có được Hạnh Phúc hay không ?  Câu trả lời là…không ! Tại sao con người khi được bảo đảm ( ? ) về An Sinh Xã Hội lại không  hạnh phúc ? Lý do là vì con người ngoài mối lo cơm, áo, gạo, tiền, nó còn cần thỏa mãn về mặt tâm linh và có thể nói chính trên bình diện tâm linh  ấy, con người mới thực sự là Con  Người hiểu như là Hình Ảnh được Thiên Chúa tạo dựng ( St 1, 26 ).

Chính vì con người mang Hình Ảnh Thiên Chúa,  mà BS George Ritchie cũng như nha sĩ Gloria Polo khi trong khoảnh khắc gặp được Ánh Sáng huy hoàng, vi diệu đó đã không muốn  giam nhốt mình một lần nữa  trong cái thể xác hữu hạn và khổ đau này ? Dẫu vậy, cả hai con người ấy vì vâng  theo Thánh Ý, đã trở về như một  Chứng Nhân Thời Đại, một thời đại hầu như đã cạn kiệt  đức tin nơi Đấng Thiên Chúa Giàu Lòng Thương Xót và Từ Bi:

“ Lúc đó, Ngài  trao cho tôi  một sứ mệnh: Con  sẽ quay trở về  để công bố Lời Chứng của con cho mọi người. Con sẽ lập lại không phải một ngàn lần  nhưng là một ngàn nhân một ngàn. Khốn  cho những kẻ nào  nghe lời con  nói mà không chịu hoán cải.  Người đó sẽ bị xét xử nghiêm khắc  hơn và điều này cũng áp dụng  cho chính con trong lần con quay trở lại lần thứ hai. Cũng vậy, đối với các tu sĩ và các linh mục của Ta và bất cứ ai khác không nghe con. Không ai…điếc  cho bằng  kẻ không muốn nghe và cũng không có kẻ mù lòa nào cho bằng kẻ không muốn nhìn” ./.

Phùng  Văn  Hóa