14. Cảm Nghiệm Tình Chúa Yêu Tôi

CẢM NGHIÊM TÌNH CHÚA YÊU CON - QUÝ VÂN VŨ

  •  
    Quyvan Vu
     

    CHÚA GIÊ-XU TIẾP NGƯỜI BỊ BỎ

    “Đức Chúa Giê-xu phán cùng họ rằng: Không phải người khỏe mạnh cần thầy thuốc, song là người đau ốm. Ta không phải đến để gọi kẻ công bình hối cải, song gọi kẻ có tội.”  Lu-ca 5:31-32

    Đã bao giờ bạn cảm thấy bị chối bỏ, bị xã hội khước từ, mất hết tất cả; ở địa vị thấp kém, bị tổn thương và bế tắc chưa? Chắn hẳn khi rơi vào tình trạng này, chúng ta sẽ tự hỏi liệu mình có thể tìm đến ai khi bị đau đớn? 

    Liệu chúng ta có thể đến gần ai khi bị ruồng rẫy, xa lánh?

    Một người mù, tên là Ba-ti-mê, ở thành Giê-ri-cô đã ở trong hoàn cảnh như vậy. Ông là một kẻ ăn xin nhơ nhuốc ; bị ruồng bỏ, bị coi thường. Ngày này qua tháng khác khổ sở ngồi xin ở bên đường, ngửa trông sự thương hại và bố thí của những người khác…

    …Cho đến một ngày Chúa Giê-xu bước vào thành! Vì đã nghe nói ấy là Đức Chúa Giê-xu, người Na-xa-rét, người vùng la lớn mà rằng: Hỡi Đức Chúa Giê-xu, con vua Đa-vít, xin thương tôi cùng!” – Mác 10:47

    Bỏ qua sự mặc cảm của một kẻ bị xã hội khinh dể; bỏ ngoài tai tất cả những lời quở trách, mắng nhiếc từ đám đông, Ba-ti-mê đã dám vùng dậy, la lớn tiếng mà cầu xin sự thương xót của Chúa Giê-xu. Và Ngài đã dừng lại!

    Chúa Giê-xu đã dừng công việc của mình lại, bỏ qua đám đông đang vây lấy Ngài mà đến cùng người mù đó và phán rằng: “Người muốn Ta làm chi cho ngươi?” (Mác 10:51).

    Việc Chúa Giê-xu phán hỏi Ba-ti-mê không phải vì Ngài không biết người này cần gì. Nhưng vì Ngài muốn lắng nghe lời thỉnh cầu của ông. Ngài đã kiên nhẫn lắng nghe lời cầu xin của một người thấp hèn, mù lòa, bị cả xã hội khước từ và NGÀI ĐÁP LỜI.

    Cầu Nguyện:Chúa Giê-xu ơi, dù con là ai, dù những thử thách con đang phải đối mặt là gì, con quyết định đặt hết mọi sự dưới chân Chúa ngày hôm nay. Thì giờ này, con đặt trọn vẹn niềm tin và hy vọng của con nơi Chúa là Đấng duy nhất làm thỏa được cơn khát của linh hồn con, ngoài Chúa ra, con chẳng làm chi được (Gioan 15:5)Con tìm thấy giá trị thực sự của mình ở trong Ngài.

    -----------------------------------------


CẢM NGHIỆM TÌNH CHÚA YÊU TÔI - KHÔNG CÒN CHỖ TRONG QUÁN TRỌ

  •  
    Chi Tran - LEYEN
     
     
     
     
    KHÔNG CÒN CHỖ TRONG QUÁN TRỌ
     
    Tên tuổi của chúng ta sẽ không bao giờ tỏa sáng lấp lánh và chúng ta sẽ chết trong sự vô danh bình thường, chẳng được mấy ai ngoài nhóm thân quen biết đến.
    Chúa Giêsu ra đời ở bên ngoài thành phố, bên ngoài bệnh viện hay một ngôi nhà bình thường. Các sách Phúc âm cho chúng ta biết Chúa Giêsu ra đời ở chuồng bò, bên ngoài thành phố vì không còn chỗ trong quán trọ.
    Chúng ta luôn chê ghét người chủ quán trọ xấu tính đã đuổi Đức Mẹ và thánh Giuse đi, và rút ra bài học là cần phải mở lòng ra để có chỗ cho nhiều chuyện khác xảy đến trong đời, chúng ta đừng quá bận rộn, quá bận tâm đến nỗi không có chỗ cho sự thánh thiêng nảy sinh trong đời chúng ta.
    Thật ra, còn có một bài học nữa mà tôi nghiệm thấy quá cần thiết cho chính cuộc sống của tôi. Vì áp lực trong mấy năm qua, tôi chưa có dịp để suy tư sâu về Giáng Sinh. Hiện giờ trong quán trọ của tôi chẳng còn chỗ! Và tôi dần thấy thương cho người chủ quán trọ năm xưa, vì biết rằng chúng có thể chồng chất quá nhiều lên cuộc đời mình đến nỗi không còn chỗ để chào đón một vị khách thánh thiêng.
    Đấy rõ ràng là một thách thức quan trọng dành cho chúng ta, nhưng đồng thời các học giả kinh thánh cũng nói rằng còn có một bài học sâu sắc hơn trong việc Chúa Giêsu ra đời ở một chuồng bò bên ngoài thành phố vì không còn chỗ cho Ngài trong quán trọ. Ý nghĩa thật sự trong các sách Phúc âm không phải nhắm đến sự nhẫn tâm của người chủ quán trọ, nhưng đúng hơn là nói đến sự thật, Chúa Giêsu ra đời ở bên ngoài thành phố, bên ngoài những gì tiện nghi thoải mái, bên ngoài danh vọng, bên ngoài những gì được công nhận bởi người giàu có và quyền thế, bên ngoài những gì được thế giới thường nhật chú ý đến. Chúa Giêsu ra đời giữa sự vô danh, nghèo hèn, không ai để ý ngoại trừ người có đức tin và Thiên Chúa.
    Chúa ra đời ở bên ngoài thành phố cũng báo trước về cái chết và mai táng của Ngài. Cuộc đời trần thế của Chúa Giêsu sẽ kết thúc như lúc khởi đầu, như một người lạ, một kẻ ngoài cuộc bị đóng đinh bên ngoài thành phố, được chôn cất bên ngoài thành phố hệt như khi Ngài ra đời bên ngoài thành phố.
    Thomas Merton từng có một nhận định cực kỳ thấm thía như thế này: Ở thế giới này, ở quán trọ điên loạn này, tuyệt đối chẳng có chỗ cho Ngài, Chúa Kitô là khách không mời mà đến. Nhưng bởi Ngài không thể cư ngụ ở đó, bởi Ngài không thuộc về nơi đó, thế mà Ngài vẫn ở trong đó, cho nên chỗ của Ngài là ở với những người không có phòng để ở. Chỗ của Ngài là ở với những người không thuộc về chốn này, những người bị giới cầm quyền loại trừ vì họ bị xem là yếu đuối, không có uy tín, bị chối bỏ tư cách làm người, bị tra tấn, bị ném bom và bị diệt trừ. Cùng với những người không có phòng để ở đó, Chúa Kitô hiện diện trong thế giới này. Ngài hiện diện một cách bí nhiệm trong những người dường như là con số không, là cặn bã của thế giới.
    Chúa Giêsu ra đời, vào thế giới mà chẳng ai để ý, ở bên ngoài thành phố, bên ngoài mọi con người và sự kiện có vẻ quan trọng vào thời điểm đó. Hai ngàn năm sau, bây giờ chúng ta công nhận tầm quan trọng của sự hạ sinh này. Thật ra chúng ta tính thời gian bằng mốc đó. Chúng ta đang ở năm thứ 2022 từ sau sự hạ sinh không đáng chú ý đó. Tuy nhiên, hiện giờ, gần như cũng không ai để ý.
    Từ đây, chúng ta thấy được bài học gì? Một bài học, chuyện này phải cho chúng ta một quan điểm khác về những gì là tối quan trọng trong thế giới này và xét tận cùng, ai là người định hình lịch sử? Những người quyền thế hay những người ở ngoài rìa?
    Theo Kinh thánh, hầu hết chúng ta đều sinh ra bên ngoài thành phố, nghĩa là trong đời mình chúng ta sẽ luôn mãi là kẻ ngoài cuộc, vô danh, xa lạ, nhỏ bé tầm thường, những vai phụ trong bức tranh toàn cảnh. Hình ảnh và câu chuyện của chúng ta sẽ không bao giờ được lên trang nhất. Tên tuổi của chúng ta sẽ không bao giờ tỏa sáng lấp lánh và chúng ta sẽ chết trong sự vô danh bình thường, chẳng được mấy ai ngoài nhóm thân quen biết đến.
    Hầu hết chúng ta sẽ sống đời mình trong âm thầm chẳng mấy ai biết, ở những vùng nông thôn, thành thị nhỏ, ở những phần vô danh trong thành phố, đứng từ xa mà chứng kiến những sự kiện lớn của thế giới xảy ra và luôn thấy người khác quan trọng hơn mình. Dường như chúng ta sẽ mãi mãi vô danh, tài năng và đóng góp của chúng ta sẽ không được bất kỳ ai chú ý đặc biệt, thậm chí là cả người nhà cũng vậy. Có thể nói, chúng ta sẽ luôn “ở bên ngoài thành phố”. Chúng ta sống, làm việc, yêu thương và tạo nên sự sống ở những nơi thấp hèn.
    Có lẽ đau đớn nhất là chúng ta sẽ biết được sự chán nản khi không thể đưa tài năng và thiên tư của chúng ta vào thế giới, nhưng vẫn cứ thấy rằng những hòa âm và giai điệu thâm sâu nhất trong chúng ta sẽ không bao giờ được thể hiện gì nhiều ở thế giới ngoài rìa này. Những ước mơ và sự phong phú sâu sắc nhất nơi chúng ta sẽ chẳng bao giờ có được một sân khấu ở trần gian. Sẽ không bao giờ có chỗ trong quán trọ cho những gì tốt đẹp nhất nơi chúng ta ra đời. Những sự phong phú sâu sắc nhất trong chúng ta, cũng như sự hạ sinh của Chúa Giêsu, sẽ vẫn “ở bên ngoài thành phố”, rồi cuối cùng chết đi “bên ngoài thành phố”, chết trong đau đớn của kiếp vô danh và không thể tỏ lộ mình cho đủ.
    Đức Mẹ đã sinh Chúa Giêsu trong một chuồng bò bên ngoài thành phố vì không còn chỗ trong nhà trọ. Chuyện này không chỉ là lời trách cứ sự phũ phàng của một chủ quán trọ đang quá căng thẳng vì áp lực. Bài học quan trọng hơn là cách chúng ta cần phải xác định đến tận cùng, điều gì định hình cuộc sống.
     
    Về căn bản, đó không hẳn là những người có vẻ đang ngự trị ở trung tâm mọi sự (người giàu có, quyền thế, danh nhân, lãnh đạo chính quyền, người nổi tiếng ngành giải trí, chủ các công ty tập đoàn, học giả) những người mà cuộc đời họ thành mốc lịch sử. Những gì sâu sắc nhất, ý nghĩa nhất và quan trọng nhất trong đời thường được sinh ra trong vô danh, không được giới quyền thế để ý đến, được trìu mến quấn trong khăn là đức tin, ở bên ngoài thành phố.
    J.B. Thái Hòa dịch
    Ronald Rolheiser,
     
     
     
     

CẢM NGHIỆM TÌNH CHÚA YÊU TÔI - GIÊ-SU LUÔN TƯƠI CƯỜI

  •  
    Chi Tran - LEYEN

     
     
     
     
     


    TỪ MÁNG CỎ ĐẾN THẬP GIÁ: GIÊSU MỈM CƯỜI
     
    Tôi không có ý nói đến những lúc trẻ sơ sinh đang ngủ với khuôn mặt giống như đang mỉm cười hạnh phúc, hoặc đôi khi có những nụ cười ‘vu vơ thoáng qua’. Điều tôi muốn nói về nụ cười nhân văn...
    MẦU NHIỆM ẨN CHỨA TRONG NỤ CƯỜI HÀI NHI GIÊSU[1]
    Hành động nhân văn đầu tiên của con người chính là mỉm cười.
    Đúng vậy, khi nhu cầu động vật của trẻ thơ được đáp ứng - bé đã được bú sữa no nê và ngủ ngon, mọi sự đã hài hòa êm ấm rồi - thì hành động nhân văn đầu tiên của bé thơ chính là mỉm cười (chứ không phải là hút và bú như thực vật và động vật).
    Tôi không có ý nói đến những lúc trẻ sơ sinh đang ngủ với khuôn mặt giống như đang mỉm cười hạnh phúc, hoặc đôi khi có những nụ cười ‘vu vơ thoáng qua’. Điều tôi muốn nói về nụ cười nhân văn, đó là khi bé thơ đã lớn hơn một chút, ở hai hoặc ba tháng tuổi, đã có thể tập trung đôi mắt của mình đủ lâu để nhìn vào mắt mẹ và mỉm cười với mẹ mình.
    Khi ấy, rất chính xác, đây chính là hành vi nhân văn đầu tiên mà một trẻ sơ sinh đã thực hiện được. Không phải cử chỉ giơ tay, không phải giọng nói, không phải cái gật đầu hay cái nháy mắt, mà chính là hành vi mỉm cười với người khác. Phải nói rằng, thật đúng là một biến cố đáng kinh ngạc khi mọi người đang đứng xung quanh bé, bất ngờ thốt lên: “Nhìn kìa, bé mỉm cười với bạn kìa!” Chúng ta thấy rằng nụ cười của bé khi ấy chính là nét đặc trưng của con người, do sự tinh tế của nó, nhưng cũng do những gì sẽ được phát triển lên sau này.
    Nụ cười trẻ thơ mang đậm nhiều ý nghĩa. Nó không chỉ là một phản xạ đơn thuần, bởi vì nó có mục đích và diễn ra trong một bối cảnh cụ thể. Quả là nó có một ‘phần cứng’, nghĩa là không cần luyện tập học hỏi, bé thơ cũng có thể mỉm cười được. Nụ cười của bé xuất hiện rất tự nhiên, nhưng tự nhiên cách thông minh và nhanh nhạy.
    Nếu nụ cười trẻ thơ có ý nghĩa, thì ý nghĩa đó đến từ bản chất con người - và do đó đến từ Đấng Tạo Hóa, bởi vì nụ cười của trẻ thơ không phải là hành vi cụ thể của riêng nó – giống như những câu nói mà bé sẽ thốt ra sau này.
    Hãy lắng nghe Đấng Tạo Hóa nói về ý nghĩa nụ cười của trẻ thơ: “Khi sinh con, người đàn bà lo buồn vì đến giờ của mình; nhưng sinh con rồi, thì không còn nhớ đến cơn gian nan nữa, bởi được chan chứa niềm vui vì một con người đã sinh ra trong thế gian” (Ga 16,21). Chúng ta có thể thấy rằng niềm vui của mẹ và của con rất giống nhau. Và điều chúng ta thấy được trong nụ cười của trẻ sơ sinh chính là niềm vui của một con người vừa mới chào đời.
    Niềm vui của một con người vừa mới chào đời, không phải là vì một cái ‘Tôi’ vừa mới được sinh ra - bởi lẽ, niềm vui đó nằm trong sự tốt lành của bản chất và hiện hữu con người, chứ không phải nằm trong cá vị của trẻ bé đó. Một trẻ bé xem ra có vẻ ích kỷ theo nghĩa là nó luôn cố gắng tìm thỏa mãn nhu cầu của mình. Nhưng trẻ bé đó lại hoàn toàn quên mình bởi vì bé không hề nghĩ về bản thân mình như là một thực thể đối kháng với người khác; bé hoàn toàn hòa nhập với mọi người.
    Đây chính là niềm vui vì một người đã được sinh ra “trên thế giới”. Câu nói này mang cả hai nghĩa: trẻ sơ sinh “đến từ thế giới” và “đến với thế giới”. Và cả hai ý nghĩa này đều thấy được trong nụ cười của trẻ sơ sinh.
    “Nụ cười đến từ một thế giới”: Trong nụ cười trẻ thơ, chúng ta thấy rằng trẻ bé này đã đến từ một nơi nào đó, không phải từ bụng mẹ, mà là từ Cha trên trời.
    Trong nụ cười của mình, trẻ sơ sinh chia sẻ với chúng ta một điều ẩn giấu. Nụ cười của bé cho thấy mối quan hệ đặc biệt với Đấng Tạo Hóa mà bé đang vui hưởng trong tư cách một nhân vật mới mẻ đầy thơ ngây và tươi mới (như lời của Thánh Jose María Escrivá). Đó là lý do tại sao nụ cười trẻ thơ thậm chí có thể khiến chúng ta tự cảm thấy xấu hổ và có cảm giác mình không xứng đáng với một nụ cười xinh đẹp và thánh thiện như thế.
    “Nụ cười đến với thế giới”: Không còn nghi ngờ gì nữa, nụ cười trẻ thơ là một niềm vui được chia sẻ với người khác và mang xã hội tính. Nó đòi hỏi chúng ta phải đáp lại bằng nụ cười vui mừng tương tự - và chúng ta đã làm như thế.
    Sự ‘siêu việt nội tại’ này - mà nhà triết học người Do Thái Emmanuel Levinas đã nhận ra trên khuôn mặt con người - được nhìn thấy trước hết trong nụ cười trẻ thơ.
    Và hãy nghĩ đến nụ cười của Hài nhi Giêsu, nụ cười diễn tả niềm vui của một ‘Thiên Chúa làm người’ đã đến trong thế giới.
    Trong Tin Mừng Gioan, Chúa Giêsu đã mô tả cuộc khổ nạn của Ngài như việc chào đời của một trẻ thơ. Ta hãy cùng làm như vậy.
    Với nhiều vị thánh, hành động cuối cùng cũng như đầu tiên trong đời của họ chính là mỉm cười. Không phải là Chúa của họ cũng đã làm như thế và đã mỉm cười trên thập giá hay sao? Ngài đã mỉm cười, ngay trong cơn đau, khi nhìn Mẹ Maria và nói với Gioan: “Này là Mẹ con!”
    Thánh Tôma Aquinô kết nối lời này trên thập giá với tiệc cưới Cana: “Trong tiệc cưới Cana, khi Mẹ Maria nói: 'Họ hết rượu rồi' (Ga 2, 3), Đức Giêsu đáp: ‘Thưa Bà, chuyện đó can gì đến Bà và Tôi? Giờ của Tôi chưa đến.’ Giờ của Tôi là Giờ thương khó, khi Tôi chịu đau khổ nơi thân xác đã nhận được từ nơi Bà. Giờ đó chưa đến. Nhưng khi Giờ đó đến, Tôi sẽ ‘xác nhận’ Bà. Và bây giờ đã đến Giờ ấy, Chúa đã giới thiệu Mẹ mình: ‘Này là Mẹ con!’”
    Vì có một sợi chỉ trực tiếp nối từ máng cỏ đến thập giá - như Đức Giáo hoàng Phanxicô đã xác định trong một bài giảng Giáng Sinh - nên câu nói này trên thập giá cũng kết nối với Bêlem. Kết nối qua đôi mắt của Mẹ Maria. Là người môn đệ tốt lành của Chúa, hẳn Mẹ vẫn nhớ lời dạy của Con mình mà nhìn Thánh giá Chúa như một cuộc sinh nở.
    Và, nếu chúng ta cho rằng Chúa chúng ta đã mỉm cười với Mẹ mình từ đỉnh cao thập giá, thì hãy tưởng tượng rằng, Mẹ cũng đã nhìn thấy, trong nụ cười ấy, có nụ cười của Hài nhi Giêsu lúc mới chào đời. Ý nghĩa của cả hai nụ cười rất giống nhau. Trong cả hai nụ cười, Mẹ thấy niềm vui của bản tính nhân loại - mà Đức Giêsu đã nhận lấy từ Mẹ để mạc khải thiên tính của Ngài - đã đến trong thế giới để cứu độ với cuộc khổ nạn của Ngài.
    Vì thế, đây chính là liều thuốc giải độc cho chủ nghĩa cảm tính về Giáng Sinh, được tìm thấy trong nụ cười của Hài nhi Giêsu. Vì như Đức Giáo hoàng Phanxicô đã nói, nụ cười ấy giải thích mầu nhiệm Giáng Sinh - “một mầu nhiệm không ngừng chất vấn chúng ta, cũng là mầu nhiệm của niềm hy vọng và nỗi sầu muộn.” Ta có thể hiểu hơn về ý nghĩa nụ cười của Hài nhi Giêsu trong 2 bài thơ dưới đây.
    KHI GIÊSU MỈM CƯỜI VỚI TÔI
    Hồn u ám trong đêm tội lỗi,
    Không ánh sáng của Chúa chiếu soi
    Nhưng Cứu Chúa đã đến tìm tôi
    Ôi hồn tôi thắng được bóng tối
    Vì Giêsu mỉm cười với tôi.
    Khi Giêsu mỉm cười,
    ngày tăm tối cũng thành tươi sáng.
    Khi Giêsu mỉm cười
    tim chĩu nặng cũng hóa dịu êm,
    Khi Giêsu mỉm cười
    tôi chẳng sợ dù ngày hay đêm.
    Ôi Giêsu mỉm cười với tôi…
    Đường tôi đi âm u lạc loài,
    Lang thang trong mê cung vô vọng
    Tôi vẫn hát những lời ca tụng
    Vì Giêsu mỉm cười với tôi.
    Khi Thần Chết gọi tôi đi với nó
    Dẫn tôi vào cõi lạnh lẽo giá băng
    Vẫn thấy Ngài nên tôi vẫn hân hoan
    Ngài vẫn mỉm cười với tôi nơi đó… [2]
    GIÊSU MỈM CƯỜI [3]
    Khi Giêsu mỉm cười, trong nụ cười ấy có tình yêu. Có yên vui. Có hòa bình.
    Khi Giêsu mỉm cười, trong nụ cười ấy có sự đón nhận và hiệp nhất. Có sự khiêm tốn và dịu dàng như nụ cười của một người mẹ tặng cho con mình. Đó là nụ cười giống như khi người mẹ quay sang nhìn con trong tấm thân hồng hào quấn tã.
    Khi Giêsu mỉm cười,
    Hỡi bạn là những người hiền lành, những người không ghen ghét, tự bản chất bạn là thế, bạn chỉ biết yêu thương mọi loài. Ôi ngay cả các bạn, những người thuộc mọi thế giới đang trân trọng tình yêu, hòa bình và yên vui, hãy để nụ cười Giêsu thấm sâu vào trong bạn và hãy mỉm cười.
    Giêsu mỉm cười. Trong nụ cười này là sự hòa điệu.
    Chúng ta cũng hãy mỉm cười như thế.
    Đừng để những khắc nghiệt xen vào giữa chúng ta. Vì nụ cười này là tình yêu. Đừng xét đoán, đừng buộc tội; đừng để bất kỳ suy nghĩ không tử tế nào đến giữa chúng ta, ngay cả khi chúng ta xa nhau, hoặc khi chúng ta ở một mình.
    Dù bạn sống ở phía bên kia thế giới, còn tôi sống ở phía bên này, chúng ta cũng hãy mỉm cười.
    Dù bạn sống ở phía bên kia hàng rào, còn tôi ngồi ở đây, chúng ta hãy mỉm cười.
    Giêsu mỉm cười. Xin đừng để cho ‘cái tôi’ đi vào trong nụ cười ấy. Vì ở đây không cần diễn văn uyên bác, câu nói vô tình, ý đồ ngang ngạnh. Hoặc sự kiêu căng nhằm chứng tỏ mình đúng đắn.
    Luôn chỉ có nụ cười. Và hòa bình.
    Đừng xúc phạm nhau vì chỉ có tình yêu khi có nụ cười.
    Khi Giêsu mỉm cười,
    Nụ cười này là nụ cười của tình yêu hoàn hảo vô vị lợi, mang đến cho người khác những gì họ đang mong đợi. Trong nụ cười này, xin đừng để những khắc nghiệt và ích kỷ đến giữa chúng ta.
    Khi Giêsu mỉm cười,
    Hãy gặp nhau như thể chúng ta hằng luôn hiểu biết nhau. Hãy gặp và tôn kính tình yêu trong nhau. Hãy mỉm cười vì kìa, Giêsu đang mỉm cười.
    Hãy gặp nhau và khởi hành trong hòa bình. Hãy gặp nhau và khởi hành với tình yêu. Vì nụ cười thậm chí đã phủ đầy ngay cả những tâm hồn khắc nghiệt nhất. Hãy để nụ cười đó tràn ngập tâm hồn bạn.
    Như Giêsu mỉm cười. Mỉm cười luôn mãi.
    Chú thích:
    [1] Vi Hữu chuyển ngữ từ bài viết ‘The Mystery in the Christ Child’s Smile’ của Michael Pakaluk,
    [2] Vi Hữu dịch thành thơ, từ bài thánh ca ‘When Jesus smiles on me’ của nhạc sĩ Thomas Curtis Clark.
    [3] Vi Hữu chuyển ngữ thơ ‘Jesus smiles’ của Raj Arumugam
    Lm Giuse Vi Hữu
    Không có mô tả ảnh.
     
     
     
    Xem thông tin chi tiết và quảng cáo
    Quảng cáo bài viết
     
    55
     
     
    2 lượt chia sẻ
     
    Thích
     
     
     
    Bình luận
     
     
    Chia sẻ
     

    1