CẢM NGHIỆM TÌNH CHÚA YÊU TÔI

 

  •  
    nguyenthi leyen
     
    Wed, Feb 10 at 2:52 AM
     
     
     
     
     
     
     
    Ảnh cùng dòng


    TẠ ƠN CHÚA

    1THESS 5, 18

     

     TẠ ƠN CHÚA

     

    Hằng ngày, trước khi làm một việc đạo đức, học tập hoặc trước bữa ăn, chúng ta vẫn thường xin ơn Chúa giúp sức hoặc chúc lành cho ta. Và khi xong việc thì dâng lời tạ ơn.

     

    Làm một công việc thường ngày mà còn thế, huống hồ một công việc trọng đại, dài ngày, như tuần tĩnh tâm hay học hỏi, chúng ta càng phải có hành vi tạ ơn lúc cuối. Làm chung là chuyện đương nhiên, nhưng mỗi người cĩng cần làm riêng nữa.

     

    Tôi kết thúc loạt bài suy niệm bằng đôi ba ý gợi ra việc tạ ơn, giúp chúng ta suy nghĩ về hành vi tốt đẹp này, một hành vi phải được thực hiện lúc này lúc khác trong cả cuộc đời.

     

    Hãy bắt đầu bằng lời khuyên sau đây.

     

     "Hãy tạ ơn trong mọi hoàn cảnh" (1Tx 5,18)

     

    * Khi nhận được từ ai một ân huệ nào (một món quà, một lời khuyên tốt, một sự giúp đỡ.) ta vẫn nói lời cám ơn. Ân huệ càng lớn, cám ơn càng nồng. Ðây không chỉ là cách giao tế, phép lịch sự, mà chúng ta được dạy từ bé, nhưng chủ yếu nói lên tấm lòng biết ơn của ta đối với người khác, về một điều tốt nào đó họ làm cho ta.

     

    Nếu giữa con người với nhau là như thế, thì đối với Thiên Chúa là Ðấng thi ân gấp bội so với con người, ta càng phải bày tỏ tâm tình và thái độ này hơn. Ðó là nét riêng của con người Kinh Thánh và của người kitô hữu. Gọi là nét riêng vì, đối chiếu với nhiều tôn giáo đương thời, người ta không thấy hoặc ít thấy tâm tình và thái độ tương tự. Ở đầu thư Rôma, Phaolô tố giác tội nặng nhất của dân ngoại là đã không tôn vinh và tạ ơn Thiên Chúa (Rm 1,21).

     

    Thật ngược hẳn với Kinh Thánh. Ta thường xuyên bắt gặp trong đó những lời lẽ tạ ơn, những lời lẽ lắm khi gợi lên những cảm xúc mãnh liệt. Quả thực, tạ ơn có một vai trò quan trọng trong Kinh Thánh, vì là một phản ứng tôn giáo căn bản của con người, rung cảm, vui mừng, kính phục khi khám phá ra hành động của Thiên Chúa, khi nhận biết ân sủng của Thiên Chúa.

     

    Ở đây, tạ ơn không phải là hoàn lại ân huệ đã nhận hay dâng một điều gì đó để đền đáp, theo kiểu "Hòn đất ném đi hòn chì ném lại". Ai có thể đền bù lại cho Thiên Chúa? Và có thể lấy gì mà bù lại cơ chứ? Tạ ơn, đúng hơn, là nhìn nhận ơn Chúa ban, và đón nhận ân sủng nhưng không của Ngài, không dám mong tự chuộc mình hay trả giá thục hồi cho Ngài (Tv 49,8). Tạ ơn không khác gì nhìn nhận mình là người chịu ơn, là kẻ tuỳ thuộc, để cho Thiên Chúa là Thiên Chúa.

     

    Ði sâu vào việc tạ ơn trong Kinh Thánh, ta thấy nó gói ghém nhiều khía cạnh. Hoặc biểu lộ ý thức của con người trước những kỳ công của Thiên Chúa, các hồng ân Thiên Chúa ban cho mình, từng cá nhân hay cả cộng đồng. Hoặc là sự bộc phát của một/những tâm hồn kinh ngạc về một Thiên Chúa thật quảng đại. Hoặc bày tỏ niềm hân hoan tri ân trước sự cao cả của Ngài. Có bao nhiêu khía cạnh là có bấy nhiêu hình thức tạ ơn: ca ngợi, tôn vinh, công bố, tuyên xưng, nhất là chúc tụng (bénédiction). Cái hay của hình thức chúc tụng là có thể bộc lộ được nhiều tình cảm, kéo dài lời lẽ, vì hoài niệm nhiều kỳ công Thiên Chúa làm trước đó.

     

    Chúng ta hẳn còn nhớ bài ca thắng trận trong sách Xuất Hành (15,1tt), vẫn được Phụng vụ lặp lại trong đêm Vọng Phục Sinh. Con cái Israel bấy giờ vượt qua Biển Ðỏ, thấy Thiên Chúa quăng tùm xuống biển xa mã và kỵ binh Ai Cập, đã hát mừng tán dương Ngài uy hùng cao cả. Tán dương như thế chính là tạ ơn Thiên Chúa đã cúu thoát họ khỏi tay quân thù. Một ví dụ khác: Khi Ðức Maria tôn dương Thiên Chúa ra oai hạ kẻ kiêu căng và tôn người khiêm nhượng, thì cũng là tạ ơn Ngài đã đoái nhìn phận tớ nữ hèn mọn, đã thực hiện nơi người tớ nữ này những điều cao cả (kinh Magnificat).

     

    Nếu tạ ơn gắn liền với chúc tụng, ca ngợi. thì quả nó có thêm một sắc thái tuyệt vời. Thông thường, tạ ơn hay cám ơn bao hàm một chút vụ lợi, vị kỷ. Tạ ơn là vì nhận được một điều tốt. Nhưng khi kèm thêm tâm tình chúc tụng ca ngợi, hoặc thể hiện chỉ bằng lời chúc tụng ca ngợi, việc tạ ơn của Kinh Thánh và của kitô giáo là một hành vi có ý nghĩa ít nhiều vô vị lợi. Chúng ta không nghĩ tới mình, nhưng nghĩ tới Ðấng ban ơn. Tuy trong việc tạ ơn ta vẫn biết đến những ơn lành Chúa ban cho ta, nhưng đi xa hơn, ta nhìn đến sự cao cả của Ngài, những việc kỳ diệu của Ngài. Rồi bày tỏ tâm tình thán phục, hân hoan, chúc tụng. Tạ ơn phải đi đến tột đỉnh là chúc tụng. Nó hướng tới Ðấng ban tặng, chứ không chỉ vì những điều được ban tặng.

     

    Nhiều bộ tộc ở sa mac có thói quen tiếp đãi khách thật nồng hậu, chu đáo. Cũng phải thôi. Sa mạc mênh mông, nếu không được giúp đỡ, làm sao khách có thể băng qua? Khách được coi như vua, nô lệ và thi sĩ. Một kiểu gói ghém hơi lạ. Vua, vì được cung phụng đủ thứ. Nô lệ, vì phải nghiêm giữ một số quy củ, mà nếu không tuân, dám bị giết lắm (ví dụ đụng đến đàn bà con gái của gia chủ). Thi sĩ, nghĩa là khi từ giã ra đi, tiếp tục hành trình, khách sẽ lãm thơ ca ngợi và rao báo cho người khác biết nghĩa cử của chủ nhà. Cái kiểu cám ơn này mới ý nghĩa làm sao!

     

    Trước Thiên Chúa, tạ ơn mà không đạt tới tột đỉnh là chúc tụng, ta sẽ là những con người sợ hãi. Về phương diện tôn giáo, có thể phân biệt 3 cấp độ trong ý thức tôn giáo. Ðầu tiên là ngạc nhiên, thán phục trước sứ điệp và hành động phi thường của Thiên Chúa. Nếu thấy Ngài như một quyền lực đe doạ, đương nhiên là phải sợ rồi. Có tạ ơn về một điều lành nào Ngài ban cho, cũng là tạ ơn trong sợ hãi. Nhưng nếu thấy đó là một quyền năng thực sự thi ân, thì sợ hãi biến thành tin tưởng, từ đó mà có hành vi chúc tụng ca ngợi.

     

    * Có một từ ngữ mới, thông dụng trong Tân Ước, biểu lộ tính cách độc đáo và tầm quan trọng của tạ ơn kitô giáo. Từ ngữ bày không xa lạ gì với chúng ta. Eucharistia đó! Ðể đáp lại ơn Thiên Chúa ban trong Ðức Kitô Giêsu. Việc tạ ơn kitô giáo là một eucharistia. Nghi thức hoàn hảo của việc tạ ơn này là Thánh Thể, là Lễ Tạ Ơn của chính Ðức Kitô, được Ngài ban cho Giáo Hội.

     

    Thực ra, suốt cuộc đời Chúa đã là lời tạ ơn liên lỉ dâng lên Chúa Cha. Ðôi khi lời tạ ơn này được bộc lộ công khai, long trọng, để lôi kéo người ta cùng với Ngài tin tưởng và tạ ơn Thiên Chúa. Chẳng hạn trước khi cho Lazarô sống lại, Chúa đã ngước mắt lên và nói: "Lạy Cha, con cảm tạ Cha vì Cha đã nhậm lời con. Phần con, con biết Cha hằng nhậm lời con, nhưng vì dân chúng đứng chung quanh đây nên con đã nói, để họ tin là Cha đã sai con" (Ga 11,41-42).

     

    Thế nhưng chính hành vi sau cùng của Chúa trước khi chịu chết là một Lễ Tạ Ơn độc đáo. Chúng ta nghĩ ngay đến Thánh Thể, được Ngài thiết lập trong bữa Tiệc Ly. Thánh Thể là bí tích mà cũng là hy tế, thực hiện trước và làm lưu tồn hy tế thực hiện ngày hôm sau trên Thánh giá, trong đó Chúa dâng hiến mạng sống mình vì ơn cứu độ của muôn muôn người. Trong bữa Tiệc Ly cũng như trên Thánh giá, Chúa cho thấy động lực chi phối tất cả cuộc đời cũng như cuộc Khổ Nạn của Ngài. Ðộng lực này là tạ ơn bằng tấm lòng của một người con. Cử chỉ cuối cùng biểu lộ việc này chính là lời tạ ơn của Chúa khi Ngài cầm bánh và chén rượu lúc lập phép Thánh Thể.

     

    [(Ở đây, chúng ta gặp lại ý nghĩa tương đồng thực tế giữa tạ ơn và chúc tụng như nói ở trên. Theo Mt, Chúa đọc lời chúc tụng trên bánh và tạ ơn trên chén (Mt 26,26-27). Theo Phaolô, Chúa lại đọc lời tạ ơn trên bánh (1Cr 11,24) và lời chúc tụng trên chén (1Cr 10,16). Không có gì khác nhau đâu. Theo cách này, các Kinh Nguyện Thánh Thể trong Thánh Lễ cũng sử dụng những công thức khác nhau: hoặc chúc tụng tạ ơn cả trên bánh lẫn trên chén (KNTT 1và 3), hoặc chỉ tạ ơn (KNTT 2), hoặc chúc tụng trên bánh và tạ ơn trên chén (KNTT 4)]

     

    Khi ban bí tích Thánh Thể cho Giáo Hội, Ðức Kitô muốn nói lên chân lý nền tảng này: chỉ mình Ngài là lời tạ ơn của ta, chỉ mình Ngài là lời ngợi khen của ta. Ngài đi tiên phong dâng lời tạ ơn Chúa Cha. Sau đó mới đến lượt ta chúc tụng tạ ơn Thiên Chúa "nhờ Ngài, với Ngài và trong Ngài", như đọc trong Vinh tụng ca kết thúc Kinh Nguyện Thánh Thể. Ðức Kitô là gương mẫu và trung gian duy nhất của mọi lời cầu nguyện nói chung. Ngài cũng là gương mẫu và trung gian duy nhất của mọi lời chúc tụng tạ ơn nói riêng.

    * Ý thức ân huệ mình đã lãnh nhận, cũng như noi theo gương Thày, người môn đệ chúng ta cũng hãy biết dâng lời tạ ơn Chúa. Phaolô thường xuyên nhắc cho các tín hữu biết tạ ơn, trong hầu hết các thư của ngài. Chính ngài cũng thi hành điều mình nhắc cho người khác, như khi ngài viết: "Tôi hằng cảm tạ Thiên Chúa của tôi vì anh em về ân huệ Người đã ban cho anh em nơi Ðức Kitô Giêsu" (1Cr 1,4).

     

    Khởi đầu kinh Tiền Tụng trong Thánh Lễ, bao giờ chúng ta cũng nghe đọc: "Tạ ơn Cha mọi nơi mọi lúc thật là chính đáng, phải đạo và sinh ơn cứu độ cho chúng con". Chính đáng và phải đạo, vì chúng ta là con cái được Chúa Cha ban cho vô vàn ân phúc, mà chủ yếu là ơn cứu độ. Càng cảm tạ, càng được thêm ơn cứu độ.

     

    Những lời trên đây của Kinh Thánh cũng như của Giáo Hội không nhắc cho ta nhớ việc quan trọng này hay sao? Nhắc làm, và còn nhắc phải làm luôn, làm không ngừng, trong mọi hoàn cảnh, mọi nơi mọi lúc. Ngạn ngữ Anh có câu: "Cám ơn nhiều quá là âm thầm xin thêm". Có thể đúng. Và nếu thế thì khi thụ ân, liệu cám ơn vừa phải thôi, kẻo gây khó nghĩ cho người thi ân (nghĩ rằng: chắc nó muốn mình cho nó thêm cái gì nữa đây!). Nhưng đấy là giữa con người với nhau. Còn đối với Thiên Chúa, chẳng bao giờ cám ơn Ngài cho đủ đâu. Augustinô bảo: "Khi bạn nói đủ rồi, tức là bạn đã chết" (Ubi dixisti satis, periisti). Hơn nữa, nếu cám ơn để được thêm ơn, càng tốt chứ sao, vì ta vẫn không ngừng xin thêm ơn Chúa.

     

    Trong những dịp tĩnh tâm dài ngày chẳng hạn, ta tin Chúa ban cho ta nhiều ơn, kể chẳng xiết. Những điều kiện thuận lợi bên ngoài. Những ơn soi sáng, hướng dẫn và thúc đẩy bên trong. Cho dù có hình thức tạ ơn chung đi nữa, mỗi người hãy thực sự cảm nghiệm ơn Chúa dành cho mình để, một cách bộc phát, biến tâm tình của ta thành lời ca ngợi chúc tụng Chúa.

     

    Nói như trên, tâm trí chúng ta cơ hồ chỉ nghĩ đến ơn này ơn khác, nhiều hay ít, đặc biệt hay không đặc biệt, được Chúa ban cho lúc này lúc nọ. Một suy nghĩ như thế có thể đưa đến hệ quả là chỉ tạ ơn khi nhận được một ơn nào cụ thể. Các tấm bảng Tạ Ơn Ðức Mẹ gắn la liệt chung quanh các tượng đài Ðức Mẹ phải chăng nói lên điều đó?

     

    --------------------------------------