2. Cảm Nghiệm Sống Lời Chúa

MỘT MÌNH

“Một Mình” là một trong những ít nhạc phẩm của người nhạc sĩ tài ba Lam Phương viết riêng cho mình.  Lúc sáng tác, ông chỉ đơn giản trút nỗi niềm u uẩn qua những vần thơ nốt nhạc, có điều ông không ngờ bài hát “Một Mình” được nhiều người ưa thích và trở thành một lời tiên tri buồn cho chính bản thân mình.  Sớm mai thức giấc, nhìn quanh một mìnhngoài hiên nắng lóe, đàn chim giật mình… đây có thể là nỗi sợ không chỉ một mình Lam Phương.  Ai cũng sợ một mình, dù giàu hay nghèo, già hay trẻ, đàn ông hay đàn bà, khỏe mạnh hay bịnh tật…  Dù là bất chợt một khoảng khắc một mình, một quãng đời tạm một mình, hay cả đời một mình…. thì cái một mình nào cũng đáng sợ.  Với người Á Đông, từ nhỏ đã quen sống chung đụng với anh chị em, cha mẹ, ông bà… thì cái một mình cô đơn mới đáng sợ hơn.  Vậy một mình có thật sự đáng sợ không?

Từ thời Cựu Ước, Thiên Chúa đã mời gọi con người một mình đi vào sa mạc để trong cõi hoang tịch cô liêu đó con người có thể nghe được tiếng tỏ tình từ trời cao “Này ta sẽ quyến rũ nó, đưa nó vào sa mạc, để cùng nó thổ lộ tâm tình.” (Hs 2,16).  Trong cõi một mình của Lam Phương phủ đầy những nỗi niềm u uất, những trằn trọc giãy giụa muốn thoát ra khỏi cái một mình cô đơn đang bủa vây xung quanh, đang một mình nhưng không muốn một mình, muốn bay vút ra khỏi “ngoài hiên nắng lóe” rực rỡ ngoài kia, muốn có ai đó ở bên kia hàng hiên nghe được tiếng lòng của mình“biết lời tỏ tình, đã có người nghe….?”  Còn trong sa mạc của Kinh Thánh là một sa mạc tĩnh lặng, ngọt ngào, ngập tràn những tiếng lòng thổn thức lãng mạn mà chỉ khi một mình bước chân vào đó mới nghe được “Vào ngày đó…. ngươi sẽ gọi Ta: “Mình ơi,” chứ không còn gọi “Ông chủ ơi” nữa.” (Hs 2,18).  Một sa mạc mở rộng vòng tay mời gọi con người một mình tự do tự tại bước vào để sống chậm lại, để cảm nhận “lời Ngài đã hứa, ngọt ngào hơn mật ong trong miệng” (TV 119, 103), để “nghiệm xem Chúa tốt lành biết mấy, hạnh phúc thay kẻ ẩn náu bên Người!” (TV 34, 9).  Hàn Mạc Tử khi một mình cô đơn đau đớn vì bịnh tật thay vì oán hận số phận hẩm hiu lại tha thiết mời gọi thế nhân “Ai hãy làm thinh chớ nói nhiều, để nghe dưới đáy nước hồ reo; để nghe tơ liễu run trong gió, và để xem trời giải nghĩa yêu… (Đà Lạt trăng mờ).  Vì chỉ khi một mình trong thanh vắng tôi mới nghe, mới xem, mới cảm và mới nếm được những điều kỳ diệu mà Thiên Chúa đang muốn mạc khải cho.

Nắng xuyên qua láhạt sương lìa cànhđời mong manh quá, kể chi chuyện mình, nắng buồn cuộc tình, bỗng tắt bình minh…  Cõi một mình của Lam Phương giăng đầy những nỗi buồn da diết kể về cuộc đời mong manh, là những giọt nước mắt khóc cho tình yêu dễ tan, là những tiếc nuối con người dễ quên, là cái nhìn ảm đạm cho một tương lai tăm tối sầu lo.  Lam Phương không hận, chỉ là những lời trách nhẹ nhàng bâng quơ “đường xưa quen lối, tình dối người mang,” buồn cho phận mình long đong lận đận tình duyên trăm mốimột kiếp đa đoan,” những nỗi buồn kế tiếp nỗi buồn.  Một nỗi buồn không chia sẻ được với ai, buồn lại càng thêm buồn, may mà có những nốt nhạc vần thơ nói lên được cõi lòng đơn côi của ông.  Ngược lại, cõi một mình trong sa mạc với Thiên Chúa là những hoan ca rộn ràng của hai tâm hồn có dịp gặp gỡ trò chuyện hàn huyên, là những nức nở buồn vui, cũng có những giọt nước mắt nuối tiếc cho những lầm lỡ sa ngã đã qua, sau đó là những vỗ về ủi an tha thứ, là những khích lệ nâng đỡ, là những lời tỏ tình mật ngọt… “Ta đã yêu ngươi bằng mối tình muôn thuở, nên Ta vẫn dành cho ngươi lòng xót thương” (Gr 31,3).  Và đoạn kết của một chuyện tình đẹp là một kết thúc có hậu với “một hôn ước vĩnh cửu.  Ta sẽ lập hôn ước với ngươi trong công minh và chính trực, trong ân tình và xót thương.” (Hs 2,21).

Nghe rồi mới hiểu tại sao phải đi vào sa mạc cô tịch, tại sao phải là một mình, phải lắng đọng, phải thinh lặng mới nghe được những lời tỏ tình mật ngọt rất nhỏ kia.  Nếu Lam Phương không buồn, không một mình, không cô đơn thì chắc chắn sẽ không có nhạc phẩm bất hủ “Một Mình.”  Nếu tôi không chọn một mình, không đi vào sa mạc, không rũ áo với những tiếng ồn tất bật xung quanh, biết tôi có nghe được gì chăng cho dù Chúa vẫn nói?  Một mình không phải để viết nhạc như Lam Phương,  làm thơ như Hàn Mạc Tử, nhưng một mình để mở lòng hướng về trời cao, trao ban cho Thiên Chúa cái tự do để Ngài muốn viết nên những vần thơ, điệu nhạc gì lên linh hồn tôi thì tùy ý Ngài.  Khi một mình là lúc trở về với chính mình, tôi mới nhận ra có một niềm khắc khoải trong hồn muốn tìm về cội nguồn Chân Thiện Mỹ, mới nghe được những khao khát sâu kín trong trái tim mình.

Trong Tân Ước, Chúa Giêsu trước khi bắt đầu cuộc đời công khai, Ngài đã lui vào sa mạc để ở một mình 40 ngày.  Trước khi chọn 12 tông đồ, Ngài cũng đi vào cõi một mình và “Người đã thức suốt đêm cầu nguyện cùng Thiên Chúa” (Lc 6,12).  Sau những phép lạ, những lúc rao giảng mệt mỏi, Ngài lánh riêng ra một mình, khi thì “sáng sớm, lúc trời còn tối mịt,” hoặc “chiều đến.”  Trước khi bước vào cuộc tử nạn, Giêsu cũng đi vào cõi một mình trong vườn Cây Dầu cầu nguyện suốt đêm cho tới khi binh lính đến bắt Ngài.  Trong ba năm rao giảng và huấn luyện các tông đồ, Giêsu cũng buộc các ông sau những ngày bận rộn với đám đông, rao giảng, chữa lành… thì lánh riêng ra một chỗ nghỉ ngơi, cầu nguyện, tránh xa thế gian ồn ào… Đôi khi, Thầy Giêsu cũng phải dùng tới biện pháp mạnh là “đem các ông đi riêng với mình…” (Lc 9,10).

Như vậy một điều dễ nhận thấy là Giêsu thích ở một mình!  Khi tôi một mình ở với Giêsu Một Mình thì không còn là một mình nữa.  Hai cái một mình thì là hai rồi, không còn là một nữa.  Một mình ở với Giêsu không phải là cái một mình của cô đơn, lo lắng, tiếc nuối như cái một mình của Lam Phương, mà đó là cái một mình đáng yêu của Hàn Mạc Tử, trong đau đớn thể xác vẫn rung động với cảnh vật, vẫn nghe được Trời giải nghĩa yêu…

Một chiều thứ Sáu trên đồi Canvê năm xưa, có ba người tử tội bị hành hình trên ba cây thập tự giữa một đám đông ồn ào huyên náo, la hét, người cười kẻ khóc, người đau khổ tiếc thương, kẻ hả hê đắc chí….

Tử tội thứ nhất, tên cướp không ăn năn, khi sống hắn đã chọn con đường gian ác cô độc lẻ loi, ai ai cũng sợ hãi kinh khiếp tránh xa.  Đến gần với sự chết, hắn vẫn tiếp tục ngoan cố một mình giãy giụa trong sự dữ luôn miệng nguyền rủa và một mình đi vào cõi chết trong giận dữ, oán hận…  Cái một mình kinh hoàng của bóng đêm sự dữ, thiếu vắng bóng dáng tình yêu mặc dù Thiên Chúa Tình Yêu đang ở ngay cạnh bên.

Tử tội thứ hai, tên trộm lành, cũng như bạn mình đã sống cuộc đời của một tên cướp ác ôn.  Nhưng khi đối diện với thần chết, hắn lại mở lòng để nhìn ra những lầm lỡ sai trái của mình, mở mắt để nhìn thấy người tử tội bên cạnh là người vô tội bị án oan, dám mở miệng để mắng tên đồng bọn ngu ngốc, và khiêm nhường để xin sự tha thứ…  Và hắn đã được mãn nguyện!  Hắn không cô đơn một mình đi vào cõi chết!  Người bạn mới tử tù Giêsu đã nắm tay cùng đồng hành với hắn đi về một nơi mà hắn chỉ biết lơ mơ “Nước của ông,” với một lời hứa bao người mơ ước: “Tôi bảo thật anh, hôm nay, anh sẽ được ở với tôi trên Thiên Đàng.” (Lc 23, 43b).

Tử tội cuối cùng, Giêsu thành Nazaret, trong ba năm rao giảng làm bao nhiêu phép lạ cả thể, xung quanh lúc nào cũng có đám đông lớn nhỏ tung hô vạn tuế, với 12 tông đồ, 72 môn đệ, đến khi hấp hối chỉ còn một mẹ, một trò và vài người đàn bà khác dưới cây thập giá.  Lúc này đây có lẽ tử tội Giêsu mới thấm thía hai chữ một mình.  Một mình không nhất thiết là khi chỉ có một mình.  Một mình giữa đám đông với những tiếng la hét, nguyền rủa…  Một mình đang bị nhấn chìm từ từ với những cánh tay giơ lên “Đóng đinh nó vào thập giá!”  Một mình mới thấm thía cảm giác bị đệ tử thân tín phản bội, bị trò yêu chối bỏ, bị cả thế gian lên án.  Và cái đáng sợ nhất là cảm giác bị Người Cha yêu dấu bỏ rơi, để rồi trong hơi tàn sức kiệt trước khi chết, Giêsu đã phải thốt lên “Lạy Thiên Chúa, Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mc 15:34b).  Cái một mình này mới thật đáng sợ!  Chúa Giêsu trên cây thập giá đã đi đến tận cùng của một mình cô đơn, bị kết án, bỏ rơi, nguyền rủa…  Có ai hiểu cảm giác một mình lẻ loi bị bỏ rơi cho bằng Giêsu?

Sống là chuẩn bị cho chuyến đi cuối cùng!  Trong chuyến đi đó dù muốn hay không ai rồi cũng phải một mình ra đi.  Cho dù có vạn người khóc, triệu người thương, nhà nhà tiễn đưa… nhưng không ai có thể cùng đồng hành với tôi trong chuyến đi đó.  Chỉ một mình tôi sẽ độc hành trong chuyến đi cuối cùng này.  Chỉ một mình tôi sẽ ra trước tòa phán xét của Đấng Tối Cao.  Chỉ một mình tôi thôi!  Một mình lúc đó mới thật đáng sợ!  Vậy sao ngay bây giờ tôi không tập sống một mình với Giêsu để Ngài sẽ cùng đồng hành với tôi trong chuyến đi cuối cùng như Ngài đã từng đồng hành với tên trộm lành trong chuyến đi cuối cùng của hắn.  Và tôi sẽ không bơ vơ một mình trước tòa phán xét vì đã có Giêsu bênh đỡ cho tôi.

Lạy Chúa Giêsu, xưa Chúa đã yêu thích một mình, xin cho con biết sắp xếp thời gian bận rộn của mình để bước vào cõi tĩnh lặng với Chúa mỗi ngày, để làm bạn với Ngài ngay từ bây giờ để rồi con không phải một mình cô đơn trong cuộc sống này, không một mình trong chuyến đi cuối cùng, và chắc chắn sẽ không một mình lạc lõng trước tòa phán xét Chúa trong ngày sau hết.  Amen!

Lang Thang Chiều Tím

THÁNH GIUSE, NGƯỜI CỦA THÁNG BA, LÀ TẤM GƯƠNG MÙA CHAY CỦA CHÚNG TA

 Cũng như Mẹ Maria dạy chúng ta cách sống Mùa Vọng, Thánh Giuse là biểu tượng và người bạn đồng hành của chúng ta trong Mùa Chay.

Theo truyền thống Giáo hội, tháng Ba được dành riêng cho Thánh Giuse, và trong lịch Giáo hội, Mùa Chay chủ yếu rơi vào tháng Ba. Điều đó khiến Thánh Giuse trở thành người hướng dẫn chúng ta trong Mùa Chay mỗi năm. Điều này rất hợp lý. Ngài là người hướng dẫn chúng ta trong Mùa Chay theo như cung cách Mẹ Maria là “Người phụ nữ của Mùa Vọng”.

  1. Mẹ Maria chỉ cho chúng ta cách đón nhận Chúa Kitô trong Mùa Vọng.

Mùa Vọng là mùa đón nhận, và điều đó khiến Mẹ Maria trở thành “Đức Trinh Nữ của Mùa Vọng”, như Thánh Gioan Phaolô II đã nói.

Trong khi mong đợi Chúa Kitô đến, Giáo hội liên tục hướng chúng ta đến các nhân đức của Mẹ Maria, với Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội vào ngày 8 tháng 12 để tôn vinh sự vô nhiễm tội lỗi của Mẹ, với lễ Đức Mẹ Loreto, mới được thiết lập, vào ngày 10 tháng 12 để tôn vinh ngôi nhà mà Mẹ đã dành cho Chúa Giêsu, và Lễ Đức Mẹ Guadalupa vào ngày 12 tháng 12, để tôn vinh cung cách mà Mẹ, vào năm 1531, đã chuẩn bị Tân Thế Giới cho Chúa Kitô.

Mẹ Maria cho chúng ta thấy cách chuẩn bị một chỗ cho Chúa Giêsu trong cuộc sống của chúng ta, giống như cách Mẹ đã làm trong thế gian.

Nhưng nếu Mùa Vọng nói về “sự vắng mặt của Chúa Kitô”, khi chúng ta đọc về niềm khát khao Chúa Kitô của các tiên tri, thì Mùa Chay nói về “sự viên mãn của Chúa Kitô”, khi chúng ta sống cùng Chúa Giêsu Kitô trong sa mạc, cùng bước đi trên Con Đường Thập Giá và chuẩn bị cho chiến thắng cuối cùng của Ngài vào Lễ Phục Sinh.

  1. Tương tự như vậy, Thánh Giuse đã chỉ cho chúng ta cách giữ gìn Chúa Kitô trong Mùa Chay.

Mùa Vọng là mùa đón nhận, còn Mùa Chay là mùa giữ gìn, là thời gian chúng ta chăm sóc, bảo vệ và gìn giữ món quà tuyệt vời là Chúa Kitô trong cuộc sống. Chúng ta chờ đợi Chúa Kitô trong Mùa Vọng, nhưng chúng ta chờ đợi cùng Chúa Kitô trong Mùa Chay. Chúa Kitô đã đến, và Ngài đã mời gọi chúng ta ở lại với Ngài cho đến cùng.

Không có tấm gương nào tốt hơn Thánh Giuse về điều đó. Ngày lễ Thánh Giuse 19 tháng 3 là ngày lễ Bạn Trăm Năm của Mẹ Maria, khi chúng ta tôn vinh người thợ mộc đến từ Nadarét, người đầu tiên phải thay đổi cuộc đời mình vì Chúa Giêsu đã đến thế gian.

Khi Tin Mừng nói “Ngôi Lời đã trở nên xác thịt và cư ngụ giữa chúng ta”, thực tế tiếng Hy Lạp nói rằng Ngài “đã dựng lều tạm giữa chúng ta”. Nói cách khác, Ngôi Lời đã vào gia đình Giuse, sống trong nhà Giuse và phó thác chính mình cho sự chăm sóc của Giuse. Trong Cựu Ước, vua Đavít đã đề nghị xây nhà cho Thiên Chúa, nhưng Thiên Chúa đã từ chối. Thế mà Giuse thuộc dòng dõi Đavít đã xây một ngôi nhà cho Chúa Giêsu, và chính gia đình ngài đã trở thành Nơi Chí Thánh, nơi ngự trị của chính Thiên Chúa.

Đó chính là nhiệm vụ Mùa Chay của chúng ta: trở thành những người gìn giữ tốt hơn ơn ban của Chúa Kitô, bằng cách xây dựng ngôi nhà của chúng ta phù hợp với những gì Ngài cần đến.

  1. Thánh Giuse cũng là hình mẫu cho sự hy sinh của Chúa Kitô.

Trọng tâm chính khác của Mùa Chay là Cuộc Khổ Nạn của Chúa Kitô. Khi chúng ta vác thập giá và theo Chúa Giêsu, Thánh Giuse lại một lần nữa là mẫu mực cho chúng ta. Toàn bộ cuộc đời Ngài dành trọn cho sự hy sinh, cầu nguyện và hiến dâng bản thân, khi ngài sống đời sống độc thân đúng nghĩa, tập trung vào Chúa Kitô và vâng phục Chúa, Đấng đã nhiều lần kêu gọi Ngài.

Nhưng theo Mẹ Têrêsa, thánh Giuse còn là một tấm gương về sự khổ nạn theo một cách khác nữa. Thánh nhân nói: “Thánh Giuse là tấm gương tuyệt vời nhất! Khi Ngài nhận ra Mẹ Maria mang thai, Ngài chỉ cần làm một việc: Đến gặp người lãnh đạo, gặp tư tế và nói, ‘Vợ tôi có con, không phải con tôi.’… Họ hẳn đã ném đá bà ấy; đó là lề luật.” Theo Mẹ Têrêsa, thay vào đó, “Ngài quyết định, ‘Tôi sẽ bỏ đi.’ Và lề luật là… nếu Ngài bỏ trốn và bỏ mặc người vợ mang thai, họ sẽ ném đá Ngài.”

Nếu đó là điều mà Giuse đã nghĩ đến, và điều đó hoàn toàn hợp lý, thì mỗi khi tháng Ba đến, chúng ta tưởng nhớ thánh Giuse trong cuộc đời Chúa Giêsu, người đã nêu gương về việc gánh lấy tội lỗi của những người thân yêu của mình.

  1. Cuối cùng, Thánh Giuse là hình mẫu của một con người nhân đức mà Mùa Chay nhắm giúp chúng ta trở thành.

Sách Tin Mừng Mátthêu mô tả Thánh Giuse là một người “công chính” hay “người ngay thẳng”. Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI chỉ ra rằng độc giả Do Thái của Mátthêu hẳn đã biết thế nào là một “người công chính” theo như tác giả thánh vịnh nói: “chẳng nghe theo lời bọn ác nhân, chẳng bước vào đường quân tội lỗi, không nhập bọn với phường ngạo mạn kiêu căng, nhưng vui thú với lề luật Chúa, nhẩm đi nhẩm lại suốt đêm ngày” (Tv 1: 1-2).

Hãy nghĩ đến điều đó như một lời mô tả về Thánh Giuse, một người mạnh mẽ, im lặng và kiên định, người không làm lu mờ Mẹ Maria và Chúa Giêsu mà còn bổ sung cho các đấng ấy, “tựa cây trồng bên dòng nước, cứ đúng mùa là hoa quả trổ sinh” (Tv 1: 3).

Đức Giáo Hoàng Phanxicô, khi viết về Thánh Giuse, ca ngợi tất cả những ai, giống như Thánh Giuse, là: “những con người bình thường, những con người ít ai để ý. Những con người không xuất hiện trên mặt báo, hay trên chương trình truyền hình mới đây nhất, nhưng trong những ngày này rõ ràng họ đang làm nên những sự kiện quyết định cho lịch sử chúng ta” (Tông thư Patris Corde, ngày 8 tháng 12 năm 2020, phần mở đầu).

Mùa Chay là thời gian để chúng ta uốn nắn tâm hồn theo các nhân đức của Thánh Giuse, xây dựng tương lai mà không cần phải phô trương ầm ĩ, vì Chúa Kitô.

Tom Hoopes, https://aleteia.org

Chuyển ngữ: Phêrô Phạm Văn Trung

 

NGỦ CHAY

Khi thức, ta giữ chay nghiêm ngặt, nhưng, khi ngủ, ta mơ thấy mình ăn đủ thứ; Khi thức, ta nhún nhường khiêm hạ, nhưng, khi ngủ, ta mơ thấy mình quát tháo, biểu dương quyền lực. Khi thức, ta buông bỏ mọi sự, nhưng, khi ngủ, ta mơ thấy mình níu chặt, nhất quyết không chịu buông bất cứ thứ gì. Con người thật của ta không nói bằng lời, nó nói bằng hình ảnh, bằng cảm giác, bằng giấc mơ. Trong mơ, con người thật của ta hiển lộ rõ nhất: khi không còn đóng vai người khiết tịnh, kẻ khó nghèo, bậc chiêm niệm, nhà thần bí; khi ta không còn phải chứng minh cho ai thấy, chỉ còn lại ta trần trụi với toàn bộ những gì chưa được nhìn thấy.

 Có một đứt gãy rất lớn trên hành trình thiêng liêng: khi thức ta tu tập, khi ngủ ta buông xuôi; khi thức ta cảnh giác, khi ngủ ta mặc kệ; hành trình thiêng liêng bị chia làm hai nửa, và chính sự chia đôi này, làm cho con đường thiêng liêng không bao giờ liền mạch. Có một sự thật không mấy dễ chịu là: không phải khi thức: ta tỉnh, mà là, khi thức: ta đang cố diễn mình tỉnh, còn khi ngủ, ta không còn cố được nữa, nên ta trở về đúng với bản chất của mình.

Nếu khi thức, ta không trốn tránh, không cố diễn, thì, khi ngủ, giấc mơ sẽ tự thay đổi: khi thức, nếu ta dám nhìn thẳng vào sợ hãi, thì, khi ngủ, nỗi sợ không cần gào lên trong mơ nữa; khi thức, nếu ta không dồn nén giận dữ, thì, khi ngủ, giấc mơ không cần xả giận thay ta; khi thức, nếu ta thật sự không dính mắc, thì, khi ngủ, giấc mơ không cần tạo kịch bản để nhắc ta về những thứ mà ta đang thèm khát; giấc mơ chỉ bù trừ những gì ta đã cố tránh khi thức. Nếu khi thức, ta không giả hình, không cố diễn, nhưng, thật sự bước đi dưới ánh nhìn của Chúa, thì, khi ngủ, ta cũng sẽ thật sự ở trong sự hiện diện của Người, không phân hai, không cắt khúc.

Có người sẽ nói: Khi thức, còn chưa ý thức được sự hiện diện của Chúa, thì huống chi, là lúc ngủ. Đúng vậy, đối với con người thì không thể, nhưng, đối với Thiên Chúa, thì, không gì là không thể. Sống trong sự hiện diện của Chúa, thì, phải để Chúa làm chủ, để Chúa điều phối mọi sự. Thái độ giả hình, cố diễn của chúng ta xuất phát từ thói thích “làm chủ” của chúng ta, để rồi, chúng ta cố tránh, cố xua đi những giấc mơ xấu, khi chúng ta bị dồn vào chân tường, bị buộc phải nói thật, thay vì, tránh né, chúng ta hãy chấp nhận sự thật là: mình vẫn chưa thật sự khiêm nhường, vẫn chưa thật sự khó nghèo, vẫn chưa thật sự khiết tịnh… Chúng ta có sao, Chúa yêu chúng ta như vậy, đâu phải vì ta tốt lành thánh thiện, Chúa mới yêu. Chúng ta hãy cứ thành thật, đơn sơ, như con thơ sống trong sự hiện diện và sống dưới ánh nhìn của Cha hiền.

Giấc mơ chính là phép thử, là thước đo mức độ con người thật của chúng ta, tất cả những gì, khi thức, chúng ta cố che đậy bằng những mỹ từ: khiêm nhường, nghèo khó, khiết tịnh, bác ái, yêu thương, phục vụ sẽ hiện nguyên hình dưới “chiếc gương giấc mơ”. Vì thế, ta hãy trao quyền làm chủ lại cho Chúa, thì, mọi vấn đề sẽ được giải quyết: đời sống của ta sẽ như một dòng chảy trong sự hiện diện của Chúa, từ khi thức dậy cho đến lúc đi ngủ, không phải vì ta đã có những giấc mơ đẹp, không phải vì ta đã tốt lành thánh thiện, mà vì, cách ta hiện diện trong cuộc sống đã thay đổi, trước đây, ta có hai thế giới: khi thức, là thế giới của tỉnh, khi ngủ, là thế giới của mê; khi thức, là nơi ta tu tập, khi ngủ, là nơi mọi thứ được thả rong, hai nửa không gặp nhau, và vì vậy, đời sống luôn có một vết cắt ngầm, khi trao quyền làm chủ lại cho Chúa, vết cắt đó tan biến, lúc này, thức và ngủ chỉ là một nhịp khác nhau của cùng một dòng sống hiện diện trong Chúa: khi thức, ta không còn cố tỉnh nữa, vì sự tỉnh đó không còn đến từ việc giả hình, cố diễn của ta, nhưng, đến từ tấm lòng hiếu thảo của người con thơ kính sợ Cha hiền; khi ngủ, ta không còn buông xuôi nữa, vì sự buông mình đó không đến từ việc lười biếng hay mặc kệ, nhưng, đến từ lòng đơn sơ của người con bé nhỏ phó mình trong bàn tay quan phòng của Cha. Ơn biến đổi, sự thánh thiện là của Chúa, Chúa cho ai, lúc nào, thì, khi ấy người đó được.

Ước gì chúng ta biết cộng tác và kiên nhẫn đợi chờ Chúa. Ước gì được như thế!

Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền,OSB.

MÙA CHAY – LÊN NÚI VỚI CHÚA KITÔ, VÀ XUỐNG NÚI VỚI NIỀM HY VỌNG

Mùa Chay là hành trình của sa mạc, của từ bỏ, của hoán cải; nhưng đồng thời cũng là hành trình của ánh sáng và hy vọng. Phụng vụ Lời Chúa hôm nay mở ra một linh đạo Mùa Chay: ra đi, lên núi, lắng nghe – xuống núi, vác thập giá, tiến về vinh quang phục sinh.

  1. Khởi đầu hành trình đức tin

Trong sách Sáng Thế, Thiên Chúa phán với Ápram: “Hãy rời bỏ xứ sở, họ hàng và nhà cha ngươi, mà đi tới đất Ta sẽ chỉ cho ngươi” (Stk 12: 1). Kinh thánh mô tả sự vâng phục của Ápram thật đơn sơ nhưng đầy cương quyết: “Ông Ápram ra đi, như Chúa đã phán với ông” (St 12: 4a).

Mùa Chay bắt đầu bằng một tiếng gọi như thế: rời bỏ. Rời bỏ tội lỗi, thói quen xấu, những an toàn giả tạo, những “xứ sở” của ích kỷ và tự mãn. Rời bỏ để bước vào một tương quan mới với Thiên Chúa. Thánh Augustinô đã cầu nguyện: “Chúa đã dựng nên chúng con cho Chúa nên lòng chúng con khắc khoải cho đến khi nghỉ yên trong Chúa” (Tự Thú 1,I,1). Sự khắc khoải ấy chính là động lực của Mùa Chay. Chúng ta không được dựng nên cho những điều tạm bợ, vốn dĩ không sớm thì muộn chúng ta cũng phải từ bỏ, nhưng chúng ta được dựng nên cho chính Thiên Chúa.

Lệnh truyền “Hãy rời bỏ xứ sở” không chỉ là một hành vi đổi hướng địa lý, nhưng là một cuộc xuất hành nội tâm trong đức tin. Thánh Phaolô khẳng định: “Nhờ đức tin, ông Abraham đã vâng nghe tiếng Chúa gọi mà ra đi đến một nơi ông sẽ được lãnh nhận làm gia nghiệp, và ông đã ra đi mà không biết mình đi đâu. Nhờ đức tin, ông đã tới cư ngụ tại Đất Hứa như tại một nơi đất khách, ông sống trong lều cũng như ông Ixaác và ông Giacóp là những người đồng thừa kế cũng một lời hứa, vì ông trông đợi một thành có nền móng do chính Thiên Chúa vẽ mẫu và xây dựng” (Hípri 11: 8-10). Điều vĩ đại của tổ phụ Abraham không phải là quãng đường ông đi, nhưng là sự vâng phục tức khắc và trọn vẹn của ông. Đức tin là bước đi trong bóng tối chỉ dựa vào lời hứa của Thiên Chúa.

Thiên Chúa hứa: “Nhờ ngươi, mọi gia tộc trên mặt đất sẽ được chúc phúc” (Stk 12: 3). Lời hứa ấy đạt đến viên mãn nơi Chúa Kitô. Thánh Phaolô xác quyết rằng mọi dân tộc được chúc phúc trong Chúa Kitô, hậu duệ của Abraham: “Những lời hứa đã được ban cho ông Abraham và dòng dõi ông, Kinh Thánh không nói: cho những dòng dõi, như thể nói về nhiều dòng dõi, mà chỉ nói về một dòng dõi: cho dòng dõi người là Chúa Kitô” (Gl 3: 16). Như thế, hành trình của Abraham là hình bóng của hành trình Mùa Chay: từ lời hứa đến hoàn tất, từ đức tin đến chiêm ngắm tỏ tường.

  1. Ánh sáng giữa hành trình

Tin Mừng kể: “Chúa Giêsu đem các ông Phêrô, Giacôbê và Gioan là em ông Giacôbê đi theo mình. Ngài đưa các ông đi riêng ra một chỗ, tới một ngọn núi cao. Rồi Ngài biến đổi hình dạng trước mặt các ông. Dung nhan Ngài chói lọi như mặt trời, và y phục Ngài trở nên trắng tinh như ánh sáng” (Mt 17: 1-2).

Biến cố Hiển Dung là một mặc khải về căn tính thật của Chúa Giêsu, nhưng cũng là một chuẩn bị cho các môn đệ trước cuộc Thương Khó. Thánh Tôma Aquinô nói: “Chúa Giêsu đi trước để chỉ đường cho chúng ta, cả lên núi lẫn vào Thiên đàng.” Thánh Lêô Cả nói: “Ngài đã biến hình để chúng ta cũng được biến hình.” [1]

Từ đám mây sáng ngời có tiếng phán: “Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Ngài. Các ngươi hãy vâng nghe lời Ngài!” (Mt 17: 5). Mệnh lệnh này là trọng tâm của toàn bộ đời sống Kitô hữu. Mùa Chay không chỉ là ăn chay, bố thí, cầu nguyện một cách hình thức; nhưng chính là lắng nghe và tuân theo Lời Chúa.

Sự kiện này được Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI diễn giải: “Biến Hình là một sự kiện cầu nguyện: trong khi cầu nguyện, Chúa Giêsu được hòa mình vào Thiên Chúa, kết hợp mật thiết với Ngài, tuân theo ý muốn yêu thương của Cha bằng ý chí con người của chính Ngài, và do đó ánh sáng xâm chiếm Ngài và hiện ra hữu hình như chân lý về bản thể của Ngài: Ngài là Thiên Chúa, Ánh sáng của Ánh sáng…Điểm mấu chốt của sự Biến Hình là sự báo trước về sự Phục Sinh, nhưng điều này lại giả định sự chết. Chúa Giêsu bày tỏ vinh quang của Ngài cho các Tông đồ để họ có sức mạnh đối mặt với thử thách của Thập tự giá và hiểu rằng cần phải trải qua nhiều gian truân để đạt đến Nước Thiên Chúa. Để bước vào sự sống đời đời, chúng ta cần lắng nghe Chúa Giêsu, theo Ngài trên con đường Thập tự giá, giống như Ngài, mang trong lòng mình niềm hy vọng về sự Phục sinh.” [2]

Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI giúp chúng ta hiểu rằng vinh quang trên núi không tách khỏi con đường Thập giá, nhưng chính là ánh sáng soi dẫn các môn đệ bước qua thử thách trong niềm hy vọng Phục Sinh. Tuy nhiên, khi ánh sáng thần linh ấy bừng lên và tiếng Chúa Cha vang dội, phản ứng tự nhiên của con người vẫn là run sợ trước mầu nhiệm vượt quá sức mình: “Các môn đệ kinh hoàng, ngã sấp mặt xuống đất” (Mt 17: 6). Chính khi ấy, Chúa Giêsu “lại gần, chạm vào các ông và bảo: Trỗi dậy đi, đừng sợ!” (Mt 17: 7). Cử chỉ và lời nói đầy dịu dàng của Chúa Giêsu đưa các môn đệ từ nỗi kinh hoàng đến lòng can đảm, từ ngã sấp xuống đất đến đứng lên tiếp tục hành trình đức tin.

Trước đó, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã mở đầu triều đại giáo hoàng của mình bằng lời kêu gọi: “Đừng sợ! Hãy mở rộng cửa cho Chúa Kitô!” (Bài giảng khai mạc triều đại, 22/10/1978). Như thế, Mùa Chay mời gọi chúng ta mạnh dạn lên “núi” cầu nguyện để được biến đổi mà không do dự, chần chừ, e dè, sợ sệt. Mùa Chay cũng là thời gian để nghe lại lời “đừng sợ” ấy: đừng sợ ánh sáng vạch trần tội lỗi; đừng sợ thập giá; đừng sợ thay đổi.

Trên núi, các môn đệ được nếm trước vinh quang ấy, được nhìn thấy Thiên Chúa trong dung nhan vinh quang của Chúa Kitô tỏ tường đến độ Phêrô thốt lên: “Lạy Ngài, chúng con ở đây, thật là hay!” (Mt 17: 4). Đó là kinh nghiệm thiêng liêng của những giờ cầu nguyện sốt sắng, những khoảnh khắc tĩnh lặng sâu xa. Vì thế, Phêrô muốn dựng ba lều, muốn giữ lại giây phút ấy bình an hạnh phúc đó. Tuy nhiên, Mùa Chay dạy ta rằng không thể dừng lại trên núi; phải xuống núi, đi vào đời, chấp nhận thập giá.

  1. Xuống núi không sợ hãi

Biến hình không dừng ở đỉnh núi. Con đường tiếp theo là Giêrusalem, là Thương Khó, là Thập Giá, cần phải xuống núi bước vào con đường thập giá đó: “Thầy trò từ trên núi xuống…” (Mt 17: 9). Ánh sáng rạng ngời trên núi Tabor cần phải chiếu rọi vào bóng tối của đồi Canvê đời thường. Tabor đem lại sức mạnh cho Canvê, như Thánh Phaolô viết cho Timôthê: “Dựa vào sức mạnh của Thiên Chúa, anh hãy đồng lao cộng khổ với tôi để loan báo Tin Mừng” (2 Tm 1: 8). Kitô hữu không chỉ chiêm ngắm vinh quang cùa Chúa Giêsu, nhưng còn chia sẻ vinh quang ấy cho những người khác, ngay cả vì thế mà phải chịu đau khổ, như Thánh Phaolô khẳng định: “Chính vì lý do ấy mà tôi phải chịu những đau khổ này; nhưng tôi không hổ thẹn, vì tôi biết tôi tin vào ai” (2 Tm 1: 12). Đau khổ vì Chúa Kitô không phải là để “kể công” với Thiên Chúa, nhưng là để ý thức rằng mọi sự là ân sủng, vì: “Ngài đã cứu độ và kêu gọi chúng ta vào dân thánh của Ngài, không phải vì công kia việc nọ chúng ta đã làm, nhưng là do kế hoạch và ân sủng của Ngài” (2 Tm 1: 9).

Ánh sáng Tabor không phải là ánh sáng thoáng qua; đó là ánh sáng của sự sống lại, ánh sáng chiến thắng sự chết: “Chính Chúa Kitô đã tiêu diệt thần chết, và đã dùng Tin Mừng mà làm sáng tỏ phúc trường sinh bất tử” (2 Tm 1:10). Việc Biến Hình cho thấy trước rằng con người sẽ được tham dự vào vinh quang Thiên Chúa: “Con Một Thiên Chúa, bởi muốn cho chúng ta được tham dự vào thần tính của Ngài, nên đã mang lấy bản tính của chúng ta, để Đấng đã làm người, làm cho người ta trở thành những vị thần” (GLHTCG, số 460). Mùa Chay là hành trình bước vào tiến trình ấy: từ con người cũ đến con người mới.

Nhưng sự biến đổi ấy không xảy ra tức khắc. Muốn biến hình như Chúa Giêsu, chúng ta cần phải cầu nguyện, chay tịnh, bác ái. Ba thực hành truyền thống của Mùa Chay không phải là mục đích tự thân, nhưng là phương thế để tâm hồn trở nên nhạy bén với ánh sáng. Cầu nguyện là lên núi với Chúa. Chay tịnh là rời bỏ “xứ sở” cũ của bản năng và dục vọng. Bác ái là xuống núi, mang ánh sáng đến cho anh chị em.

Kinh nghiệm thiêng liêng thật là đẹp, là hay, nhưng chưa phải là tất cả. Chúa Giêsu không cho các môn đệ ở lại trên núi. Vinh quang chỉ được hiểu trọn vẹn dưới ánh sáng Phục Sinh. Chỉ sau Phục Sinh, các môn đệ mới hiểu rằng thập giá không phủ nhận vinh quang, nhưng là con đường dẫn tới đó. Chính vì thế mà Chúa Giêsu truyền: “Đừng nói cho ai hay thị kiến ấy, cho đến khi Con Người từ cõi chết trỗi dậy” (Mt 17: 9). Mùa Chay đặt chúng ta trong sự căng kéo ấy: giữa ánh sáng và bóng tối, giữa hy vọng và thử thách. Nhưng chính trong sự căng kéo ấy mà đức tin lớn lên.

  1. Chỉ còn một mình Chúa Giêsu

Các ông ngước mắt lên, không thấy ai nữa, chỉ còn một mình Chúa Giêsu mà thôi” (Mt 17: 8). Có thể nói đây là lời tóm kết cho linh đạo Mùa Chay. Sau khi đã rời bỏ “con người cũ”, đã lên núi, đã nghe tiếng Chúa Cha, đã xuống núi, đã chấp nhận đau khổ, điều còn lại là Chúa Giêsu. Sau mọi thị kiến, sau mọi cảm xúc, điều còn lại là chính Chúa Giêsu. Đức tin trưởng thành không dựa trên cảm giác lạ thường nhất thời, nhưng trên sự gắn bó bền bỉ với một mình Chúa Giêsu.

Mùa Chay mời gọi chúng ta tự hỏi: trong đời tôi, sau tất cả, còn lại điều gì? Câu trả lời là: còn Chúa Giêsu. Và khi còn Chúa Giêsu, một mình Chúa Giêsu. chúng ta sẽ còn tất cả.

Lạy Chúa Giêsu  Kitô, trong Mùa Chay này, xin cho chúng con can đảm bước đi như Abraham, chăm chú lắng nghe như các môn đệ trên núi, và quảng đại chịu đựng vì Tin Mừng như thánh Phaolô. Để rồi, sau hành trình vác thập giá, chịu chết cùng Chúa Giêsu, chúng con cũng được tham dự vào “sự sống đời đời” trong ánh sáng vinh quang của Chúa Kitô Phục Sinh.

Phêrô Phạm Văn Trung

[1] https://westcoastcatholic.co/blogs/news/transfiguration-of-the-lord-meaning-biblical-significance-catholics?

[2] https://www.vatican.va/content/benedict-xvi/en/angelus/2008/documents/hf_ben-xvi_ang_20080217.html

[3] https://tgpsaigon.net/bai-viet/chan-phuoc-gioan-phaolo-ii-dung-so-%E2%80%93-hay-yeu-thuong-%E2%80%93-hay-hy-vong-40111

CHÚA GIÊSU MỜI GỌI HOÁN CẢI TRỌN VẸN

Đối với người Công giáo, mỗi khi Mùa Chay đến, thật khó để lòng mình phớt lờ lời mời gọi hoán cải.

Khi linh mục xức tro trên trán ta theo hình thánh giá và nhắc: “Hãy nhớ mình là bụi tro, và sẽ trở về bụi tro”, lời ấy không chỉ nhắc chúng ta về thân phận mong manh, mà còn đưa ta trở lại với tiếng gọi đầu tiên của Chúa Giêsu khi Ngài bắt đầu sứ vụ công khai  của Ngài: “Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng.”

Mùa Chay vì thế không chỉ là một khoảng thời gian trong năm phụng vụ. Đó là lời nhắc nhở rất thật: như Chúa đã chết, chúng ta rồi cũng sẽ chết. Nhưng trước khi thể xác chết đi, chúng ta ta được mời gọi chết đi cho tội lỗi, để sống một đời sống mới trong Chúa Kitô Phục sinh.

Đây là mùa của hy vọng. Mùa của lòng thương xót. Mùa của “cơ hội làm lại”, không chỉ một lần, mà “bảy mươi lần bảy”. Đây là “thời thuận tiện”, là “ngày cứu độ”, để ta giao hòa lại với Thiên Chúa và trở về với Ngài bằng cả tấm lòng.

Khi ấy, chúng ta không chỉ “giữ Mùa Chay”, mà thực sự để Mùa Chay đổi mới đời mình. Khi thành thật nhìn vào chính lòng mình, thì mùa Chay thực sự là một hành trình nội tâm, không phải hành trình đi tìm cảm giác hay cảm xúc nhất thời và hay thay đổi thất thường, nhưng là hành trình tìm ra sự thật. Tro trên trán rồi sẽ rơi, nhưng câu hỏi còn lại là: trong lòng ta có điều gì thực sự thay đổi không?

Con người hôm nay rất dễ sống vội, quen với nhịp nhanh, với kết quả tức thì, với những thay đổi bề ngoài. Sự hoán cải mà Chúa mời gọi không phải là chỉnh sửa vài thói quen, nhưng là đổi hướng cõi lòng, thay đổi lối suy nghĩ, buông bỏ những ham muốn. Hoán cải là quay đầu, quay khỏi cái tôi thích trở thành trung tâm, là đặt Thiên Chúa vào vị trí ưu tiên.

Sa mạc của Mùa Chay không chỉ là bớt đi một món ăn hay một thú vui. Sa mạc là khoảng trống. Và khoảng trống luôn khiến ta sợ hãi. Vì khi bớt tiếng ồn, bớt những trò giải trí, bớt bận rộn sao lãng tinh thần, chúng ta bắt đầu nghe rõ hơn những khắc khoải, những bất an, những vết thương chưa lành trong lòng mình. Chính ở đó, Chúa chờ chúng ta.

Nhiều khi chúng ta sợ thinh lặng, vì trong thinh lặng chúng ta phải đối diện với sự thật: sự yếu đuối của mình, những lựa chọn sai lầm, những tương quan rạn nứt, những đam mê chưa được thanh luyện. Nhưng nếu không dám bước vào sa mạc nội tâm ấy, chúng ta sẽ không bao giờ kinh nghiệm được sự tự do thật sự.

Sống Mùa Chay cách hời hợt như thế thì quá dễ. Có người bỏ qua Mùa Chay như thể chẳng có gì đặc biệt. Có người vẫn đi lễ, vẫn nhận tro, nhưng chỉ như một thói quen đẹp, rồi lau sạch dấu tro và trở lại nhịp sống cũ, như thể chưa từng có lời nhắc nhở nào vang lên. Có người “hy sinh” cho có lệ: bớt một chút sở thích nho nhỏ, nhưng vẫn dành sẵn những bù đắp khác thoải mái hơn.

Có lẽ suy nghĩ và thái độ không hiếm của không ít người là biến Mùa Chay thành một mùa “cải thiện sức khỏe thể lý hoặc tâm lý của bản thân” như tập thể dục đều đặn hơn, ăn uống điều độ hơn, bớt dùng mạng xã hội, sống tích cực hơn… Những điều đó tự nó không xấu. Nhưng nếu chỉ dừng lại ở việc làm cho mình khỏe hơn, dễ chịu hơn, cảm thấy sức khỏe tốt hơn, thì chúng ta vẫn đang quay về với chính mình, thay vì quay về với Chúa.

Thay vì trở về với Thiên Chúa bằng cả cõi lòng,chúng  ta lại quay trở lại với chính mình. Thay vì làm mọi việc vì Chúa là Đấng thấu suốt mọi điều kín đáo, chúng ta lại có thể làm mọi việc nhằm để người khác thấy, hoặc để chính mình cảm thấy hài lòng về chính mình.

Sống Mùa Chay cách trọn vẹn phải bắt đầu từ ước muốn cùng Chúa Giêsu bước vào sa mạc, để rồi bước ra với một con người đổi mới. Nghĩa là dám theo Ngài trên con đường thập giá, dám để cái tôi của mình nhỏ lại, để Tin Mừng của Ngài được lớn lên trong chúng ta. “Tin vào Tin Mừng” không chỉ là chấp nhận một chân lý, mà là chọn Tin Mừng làm chuẩn mực cho đời sống.

Vì thế, Mùa Chay là dịp để chúng ta làm mới lại những lời hứa ngày lãnh nhận Bí tích Rửa Tội, à cơ hội để ta sống đúng căn tính Kitô hữu của mình: sống lại “mối tình” với Chúa. Tình yêu phải trở thành dấu ấn trong mọi tương quan, với Thiên Chúa và với tha nhân.

Con đường quen thuộc của mùa chay là cầu nguyện, ăn chay, hãm dẹp thói hư tật xấu, hy sinh và buông bỏ cái tôi ích kỷ. Cầu nguyện, ăn chay, thực hiện việc bác ái, không phải là những lựa chọn tùy hứng. Chúng gắn liền với sứ mạng mà Chúa trao cho chúng ta. Khi sống với tâm tình hiệp thông cùng Hội Thánh và với khát vọng cứu độ muôn người, thì Mùa Chay sẽ không còn hời hợt.

Cầu nguyện trong Mùa Chay vì thế không chỉ là đọc thêm vài kinh, dự thêm vài thánh lễ. Cầu nguyện là dám ở lại với Chúa trong sự nghèo khó của mình, là nói với Ngài những điều ta vẫn né tránh, để Lời Chúa soi vào những góc tối tâm hồn mà chúng ta không muốn ai chạm tới. Và khi để Chúa soi sáng cho mình nhìn thấy trọn vẹn con người của mình như thế, chúng ta mới hiểu lòng thương xót của Chúa lớn lao đến chừng nào. Khi cầu nguyện, chúng ta không chỉ tìm sự bình an cho riêng mình. Chúng ta cầu xin cho ý Chúa được thực hiện, cho nhiều người nhận biết Ngài, và cho chính ta biết đáp lại tiếng gọi của Ngài. Cầu nguyện giúp ta nên thân thiết với Chúa, nhưng cũng giúp ta can đảm bước vào sứ mạng Ngài trao.

Khi ăn chay, chúng ta không chỉ tập chế ngự bản thân, vì đôi khi chúng ta nghĩ ăn chay chỉ là từ bỏ một bữa ăn nào đó. Thực ra, cơn đói thể lý trở thành lời nhắc nhở về cơn đói thiêng liêng: đói sự thật, đói tình yêu, đói ý nghĩa sống. Ta học khao khát điều Chúa khao khát. Ta cảm nhận cơn đói, để hiểu hơn cơn đói thiêng liêng của nhân loại, cơn đói được gặp gỡ và được nuôi dưỡng bằng chính Chúa. Chúng ta ăn chay để lòng mình biết mong chờ Ngài, và để nhiều người khác cũng được dự phần vào “bàn tiệc” Ngài đã dọn sẵn. Ăn chay còn là một hành vi yêu thương. Khi tự nguyện thiếu đi một chút, chúng ta liên đới với những người thiếu thốn ngoài kia. Khi cảm thấy đói, chúng ta nhớ rằng còn biết bao nhiêu người đói khát mỗi ngày trong rất nhiều hoàn cảnh khó khăn khác nhau.

Làm việc bác ái cũng không chỉ là chuyện tiền bạc. Có những người rất quảng đại về vật chất nhưng lại khép kín về con tim. Làm việc bác ái, ta không chỉ chia sẻ của cải vật chất, nhưng đúng thực là đòi ta trao đi thời gian, sự quan tâm, sự kiên nhẫn, và cả việc tha thứ, vốn là một trong những hình thức bác ái khó nhất. Tha thứ đòi ta từ bỏ điều mà ta cho là quyền được giữ mãi nỗi oán giận. Nhưng chính khi tha thứ, ta được giải thoát trước tiên. Ta học yêu như Chúa yêu, là tham dự vào sự chăm sóc của Thiên Chúa bằng chính hành động cụ thể của mình: chăm sóc người nghèo, nâng đỡ người yếu đuối, quan tâm đến cả nhu cầu thân xác lẫn tâm hồn của anh chị em.

Cách chúng ta sử dụng tiền bạc cho thấy chúng ta coi trọng giá trị nào sâu xa phía sau. Chúa Giêsu nhắc rằng ta không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi tiền của. Mùa Chay là dịp để ta chọn lại: chọn tích trữ kho tàng trên trời, chọn đầu tư cho những giá trị bền vững, chọn đặt của cải mình vào việc phục vụ Nước Trời, ngay trong chính công việc mưu sinh hàng ngày. Mùa Chay chuẩn bị ta vượt qua thử thách lớn nhất: buông bỏ mình khỏi sự bám víu vào trần thế để thuộc trọn về Thiên Chúa hơn.

Khi bước vào Mùa Chay thánh này, chúng ta được nhắc nhớ rằng điều Chúa muốn ban nơi ta không chỉ là vài thay đổi nho nhỏ bên ngoài. Ngài muốn biến đổi ta từ bên trong, như biến đổi Saolô hung hăng bách hại những người theo Chúa trở thành Phaolô, tông đồ dân ngoại đi khắp nơi rao giảng về Chúa, như biến đổi Phêrô sau những vấp ngã thành vị Tông đồ trưởng kiên vững của Chúa Giêsu, như biến đổi Maria Mađalêna sau khi được thứ tha tội lỗi thành người môn đệ hết lòng yêu mến và ra đi loan báo Tin mừng Phục sinh của Chúa Kitô. Đây là mùa ta được mời gọi cam kết lại với sự thánh thiện và với sứ mạng. Ở lại với Chúa để rồi được sai đi. Gắn bó với Ngài để trở thành môn đệ, và rồi thành tông đồ giữa đời, như lời kêu gọi của Hội đồng Giám mục Việt nam: “Mỗi Kitô hữu lả một môn đệ thừa sai”.

Mùa Chay còn là mùa của Hội Thánh, không phải chỉ của cá nhân. Chúng ta không hoán cải một mình. Chúng ta bước đi cùng cộng đoàn, cùng những anh chị em cũng đang vật lộn với tội lỗi và khao khát nên thánh. Điều đó nhắc chúng ta khiêm tốn: tôi không tốt hơn ai, nhưng tôi cũng không đơn độc.

Và cuối cùng, Mùa Chay luôn hướng về Phục Sinh. Nếu không có ánh sáng Phục Sinh, mọi hy sinh sẽ trở nên nặng nề. Khi biết rằng thập giá dẫn đến sự sống, chúng ta có thể kiên nhẫn hơn, ngay trong những cố gắng khó nhọc mỗi ngày.

Có thể chúng ta không trở thành một con người hoàn toàn khác chỉ sau bốn mươi ngày. Nhưng nếu mỗi ngày lòng chúng ta mềm mại hơn một chút, yêu thương hơn một chút, trung tín hơn một chút, thì Mùa Chay đã bắt đầu sinh hoa trái.

Điều Chúa mong không phải là những thành tích thiêng liêng rực rỡ, nhưng là một con tim biết mở ra. Khi trái tim mở ra, ân sủng có chỗ để chạm vào. Và khi ân sủng chạm vào, con người thật của ta bắt đầu được hồi sinh.

Mùa Chay, vì thế, không phải là gánh nặng. Đó là lời mời bước vào hành trình tự do, tự do khỏi tội lỗi, khỏi cái tôi ích kỷ, khỏi những ràng buộc vô hình của thần dữ. Và ở cuối hành trình ấy, chúng ta không chỉ gặp lại chính mình, mà còn gặp Đấng đã yêu chúng ta đến cùng.

Phêrô Phạm Văn Trung