- Details
-
Category: 2. Cảm Nghiệm Sống Lời Chúa
Não bộ có khả năng thay đổi theo thói quen. Nếu ta tập luyện một thói quen đủ lâu, não sẽ thay đổi để phù hợp với thói quen đó: nếu ta thường xuyên phân tán, não sẽ quen với sự phân tán; nếu ta tập luyện chú tâm, não cũng sẽ quen với sự chú tâm. Những cuốn sách vài trăm trang từng là chuyện bình thường của thế hệ trước, ngày nay, vừa mới đọc vài trang, ta đã thấy tâm trí bắt đầu mệt mỏi, không phải vì nội dung khó, mà vì, tâm trí ta đã quen với nhịp độ quá nhanh của thời hiện đại: Ý nghĩ đến thì tin, cảm xúc đến thì phản ứng, ham muốn đến thì chạy theo, tất cả diễn ra gần như tự động, giống như một chiếc máy đã được lập trình sẵn.
Khi ánh sáng được hội tụ qua một thấu kính, nó có thể tạo ra nhiệt rất mạnh, thậm chí, nó có thể đốt cháy; tâm trí cũng vậy, khi phân tán, năng lượng của nó yếu; khi hội tụ, sức mạnh của nó rất lớn. Một tâm trí ổn định có thể làm việc với độ sâu, mà tâm trí phân tán không thể đạt được, cầu nguyện chính là cách rèn luyện khả năng đó, không phải bằng áp lực, mà bằng sự quay về nhẹ nhàng, lặp đi lặp lại ngày này qua ngày khác. Giống như một đứa trẻ tập đi, đứa trẻ bước vài bước, rồi ngã, không ai trách nó, không ai nói nó thất bại, nó chỉ đứng lên và bước tiếp; với tâm trí cũng vậy, mỗi lần, nhận ra tâm trí chạy xa, ta quay lại, là ta đang tập cho nó một thói quen mới, ban đầu tâm trí có thể chạy hàng trăm lần, hàng nghìn lần, nhưng, mỗi lần quay lại là một lần tập luyện, mỗi lần nhận ra là một lần tiến bước, dần dần, khoảng cách giữa hai lần tâm trí chạy xa sẽ dài hơn, và sự chú tâm sẽ trở nên ổn định hơn.
Căng thẳng của cuộc sống không đến từ bên ngoài, mà, từ sự hỗn loạn của tâm trí. Nếu tâm trí dừng lại, thì, một loại nghỉ ngơi rất sâu sẽ xuất hiện, đó là lý do tại sao: cầu nguyện lại mang đến cho ta cảm giác nhẹ nhàng an lạc, không phải cuộc sống bên ngoài thay đổi, mà là, cách tâm trí phản ứng với cuộc sống đã thay đổi, và khi tâm trí ổn định ngày càng sâu, một nghịch lý thú vị bắt đầu hé lộ: sự tập trung sâu nhất không đến từ sự tập trung, mà, đến từ việc buông bỏ cố gắng tập trung, một nghịch lý, mà nếu không trải nghiệm trực tiếp, sẽ rất khó hiểu, nhưng, khi hiểu ra, nó sẽ thay đổi hoàn toàn cách ta nhìn về chú tâm và kiểm soát tâm trí.
Chúng ta muốn tâm trí yên, thì đừng cố làm cho nó yên; muốn tập trung sâu, thì đừng ép mình phải tập trung. Việc cần làm là: thấy rõ những gì đang xảy ra, khi sự thấy rõ ngày càng sâu, tâm trí tự nhiên trở nên tĩnh lặng, sự tập trung tự nhiên xuất hiện, không gượng ép, không căng thẳng, đây là điều mà ta chỉ thật sự hiểu sau khi thực hành một thời gian, trước đó, ta thường cố gắng quá nhiều, và chính sự cố gắng đó lại trở thành rào cản, khi hiểu được nghịch lý này, cách ta làm việc cũng bắt đầu thay đổi, ta không còn ép mình cầu nguyện trong căng thẳng nữa, ta bắt đầu cầu nguyện trong trạng thái chú tâm nhẹ nhàng, nhưng, rất sâu, và khi tâm trí đã ổn định theo cách đó, một điều sâu sắc hơn nữa bắt đầu xuất hiện, không chỉ là khả năng tập trung, mà là, sự sáng suốt của tâm trí. Khi tâm trí đủ vững, khôn ngoan sẽ mở ra, và đó mới là mục đích sâu xa nhất của cầu nguyện, bởi vì, cùng đích của cầu nguyện là chiêm niệm: chiêm ngắm Chúa, nhìn thấy Chúa, biết được ý Chúa, và mau mắn thi hành.
Cầu nguyện không phải là cách trốn chạy khỏi cuộc sống, nhưng ngược lại, nó là cách trở về lại với cuộc sống, sống dồi dào và sâu sắc hơn. Chỉ cần một điều rất đơn giản: một khoảnh khắc được sống thật trong sự hiện diện của Thiên Chúa, khi tâm trí thôi chạy rong, dù, chỉ trong chốc lát, một điều rất đẹp bắt đầu xuất hiện, điều mà ta tìm kiếm đã từ rất lâu, lại, nằm ngay trong chính khoảnh khắc bình thường này, khoảnh khắc lần đầu tiên trong cuộc đời, ta thật sự nhận ra sự hiện diện của Thiên Chúa, nhận ra mình đang sống trong tình yêu và ân sủng của Người, và chỉ từ một khoảnh khắc bé nhỏ này, một hành trình rất lớn sẽ bắt đầu khởi động, hành trình tìm lại địa vị đích thực của chính mình: là hình ảnh, là con cái Thiên Chúa, để, ta sống sung mãn hơn giữa cuộc đời này. Ước gì được như thế!
Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền,OSB.
- Details
-
Category: 2. Cảm Nghiệm Sống Lời Chúa
“Bấy giờ Chúa Giêsu trừ một tên quỷ, và nó là quỷ câm. Khi quỷ xuất rồi, thì người câm nói được. Đám đông lấy làm ngạc nhiên” (Lc 11: 14). Việc Chúa Giêsu trừ quỷ câm không chỉ là một phép lạ thể hiện quyền năng phi thường, mà còn là một dấu chỉ của lòng thương xót. Hành động này lẽ ra phải đem đến sự ngạc nhiên và tin tưởng, nhưng một số người lại tìm cách bóp méo ý nghĩa của nó bằng cách gán cho Ngài quyền lực của quỷ vương Bêendêbun: “Ông ấy dựa thế quỷ vương Bêendêbun mà trừ quỷ” (Lc 11: 15). Không chỉ không tin vào Chúa Giêsu, họ còn đòi Ngài một dấu lạ từ trời: “Kẻ khác lại muốn thử Ngài, nên đã đòi Ngài một dấu lạ từ trời” (Lc 11: 16).
Có một sự đối lập rõ ràng giữa một bên là những người tin vào phép lạ trừ quỷ, đem lại tiếng nói và tự do cho một người câm, và một bên là những người nghi ngờ, không tin, không nhận ra dấu lạ lớn nhất ngay trước mắt họ: “Triều Đại Thiên Chúa đã đến giữa các ông” (Lc 11: 20).
- Chờ đợi một dấu lạ hữu hình
Trong suốt sứ vụ của Chúa Giêsu, Ngài đã thu hút một đám đông khổng lồ. Đám đông này gồm những người có những mong muốn khác nhau. Có những người đã đặt trọn niềm tin vào Ngài, như Nhóm Mười Hai Tông Đồ, đã dứt khoát từ bỏ mọi thứ, nhà cửa, gia đình, công việc, và sự ổn định, để đi theo tiếng gọi của Ngài. Mẹ Maria của Ngài, cùng với nhiều phụ nữ thánh thiện khác cũng là những môn đệ trung thành, tin tưởng vào những lời Ngài rao giảng và chứng kiến phép lạ Ngài thực hiện. Niềm tin của các ngài sâu sắc và chân thành, không cần phải tìm kiếm thêm bằng chứng hay lời xác nhận nào.
Tuy nhiên, trong đám đông đó, luôn có một nhóm người khác, hoài nghi, tò mò và mong có một chứng cứ hiển nhiên. Họ chất vấn Chúa Giêsu, yêu cầu Ngài minh chứng mình là ai bằng một “dấu lạ từ Trời”. Đối với họ, những phép lạ mà Chúa Giêsu đã thực hiện, như chữa lành người bệnh, xua đuổi ma quỷ hay hóa bánh ra nhiều, dường như là không đủ. Họ muốn một điều gì đó siêu nhiên, một sự can thiệp trực tiếp và không thể chối cãi từ Thiên Chúa, một dấu hiệu rõ ràng và công khai mà không ai có thể phủ nhận. Họ dường như muốn coi một “bộ phim” hoành tráng kiểu Hollywood, một kiểu hiển lộ thần linh đầy quyền năng, nhằm thỏa mãn tâm trí đầy nghi ngại của họ về Ngài. Họ không tìm kiếm một mối tương quan tin yêu tín thác, mà là một chứng cứ lạ thường nhằm trấn an, kể cả trấn áp mọi cảm xúc hoang mang của họ. Họ không muốn tin, họ cứ muốn thêm những bằng chứng thần linh.
Mong muốn đó, dù có vẻ hợp lý đối với lý trí con người, nhưng lại phơi bày sự cứng cỏi trong tâm hồn và sự thiếu đức tin của họ. Đó là một yêu cầu dựa trên sự thiếu tin tưởng chứ không phải một khao khát chân thành muốn tìm hiểu luôn mãi về Cõi Trời Cao, vốn không bao giờ có điểm dừng. Vì vậy, Chúa Giêsu không thể và sẽ không cho họ dấu lạ mà họ mong muốn. Ngài biết rằng nếu Ngài ban cho họ một dấu hiệu như thế, đức tin của họ sẽ không còn là một sự tự nguyện mà chỉ là kết quả áp đặt của một bằng chứng giới hạn bên ngoài. Tình yêu và lòng tin chân thật không thể ép buộc được, chúng chỉ có thể được trao đi một cách tự nguyện chân thành. Bằng cách từ chối yêu cầu của họ: “Thế hệ này là một thế hệ gian ác; chúng xin dấu lạ. Nhưng chúng sẽ không được thấy dấu lạ nào, ngoài dấu lạ ông Giôna” (Luca 11:29), Chúa Giêsu mời gọi họ tìm kiếm một đức tin ngày càng sâu sắc hơn, không dựa vào những điều “ngoạn mục” mà dựa vào mối tương quan cá vị với Thiên Chúa, Đấng không thể hiếu hết, cách trọn vẹn.
Thay vào đó, Chúa Giêsu đã nói rằng dấu lạ duy nhất mà họ sẽ nhận được là dấu lạ Giôna: “Quả thật, ông Giôna đã là một dấu lạ cho dân thành Ninivê thế nào, thì Con Người cũng sẽ là một dấu lạ cho thế hệ này như vậy” (Lc 11: 30). Câu chuyện của vị ngôn sứ Giôna không phải là một câu chuyện dễ chịu (Gn 1: 1-16). Giôna đã không làm theo lệnh của Chúa và bị ném xuống biển, sau đó bị một con cá lớn nuốt chửng. Ông đã sống trong bụng cá suốt ba ngày đêm tăm tối, một khoảng thời gian cô tịch, ăn năn và cầu nguyện: “Thiên Chúa khiến một con cá lớn nuốt ông Giôna. Ông Giôna ở trong bụng cá ba ngày ba đêm. Từ trong bụng cá, ông Giôna cầu nguyện cùng Thiên Chúa, Thiên Chúa của ông” (Gn 2: 1-2). Cuối cùng, “Chúa bảo con cá, nó liền mửa ông Giôna ra trên đất liền” (Gn 2: 11), và từ đó ông bắt đầu sứ mạng của mình. Dấu lạ của Giôna là dấu lạ của cái chết và sự phục sinh, của sự bất tuân và ơn cứu độ. Đó không phải là một phép lạ đẹp đẽ bên ngoài, mà là một sự biến đổi nội tâm, khó khăn, nhưng lại đầy ý nghĩa. Dấu lạ này không phải là một màn trình diễn quyền năng, nhưng là một dấu chỉ, báo trước một sự kiện còn vĩ đại hơn.
Chúa Giêsu đã tuyên bố rằng dấu lạ của Ngài sẽ giống như thế. Ngài sẽ phải chịu đựng sự đau khổ tột cùng dưới bàn tay của các nhà lãnh đạo tôn giáo và chính trị dân sự. Ngài sẽ bị đóng đinh, bị giết chết và được an táng trong một ngôi mộ lạnh lẽo. Nhưng rồi, ngày thứ ba, Ngài sẽ sống lại. Sự Phục Sinh của Ngài không phải là một sự kiện công khai với những tia sáng chói lòa, những tiếng kèn vang dội để tất cả mọi người trên thế gian này có thể chứng kiến. Thật vậy, những lần hiện ra sau khi Ngài Phục sinh chỉ dành cho những người đã tin theo Ngài, thậm chí đã theo Ngài đến tận cùng. Sự Phục Sinh của Chúa Giêsu không phải là câu trả lời cho những người duy lý đầy hoài nghi, hoặc chủ trương bất khả tri, rồi dừng lại nơi những lối sống duy thực dụng, duy vật vô thần… Sự Phục Sinh của Ngài, dấu lạ có một không hai trong lịch sử loài người, càng đòi hỏi có một niềm tin vượt trên lý lẽ hạn hẹp của phàm nhân, và trên hết đòi hỏi một mối tương quan tình yêu cá vị của từng người muốn bước theo và gắn bó với Ngài.
Bài học cho chúng ta là Thiên Chúa sẽ không bao giờ thuyết phục chúng ta về những vấn đề đức tin qua những biểu lộ công khai, mạnh mẽ và đầy kịch tính như những bộ phim “bom tấn” tạo ra những cảm xúc cao trào. Ngài không cần phải dùng đến những màn trình diễn để chứng minh sự vĩ đại của Ngài. Thay vào đó, “dấu lạ” mà chúng ta được ban cho là một lời mời gọi mang tính cá nhân: lời mời gọi cùng chết với Chúa Kitô. Đó là lời mời gọi chết đi cho những tội lỗi và những ham muốn ích kỷ của chúng ta, để chúng ta có thể bắt đầu cảm nghiệm cuộc sống mới của sự Phục sinh. Ân huệ của đức tin không phải là một sự kiện bên ngoài, mà là một sự biến đổi từ trong tâm hồn. Cái chết của chúng ta đối với tội lỗi là một hành động mang tính cá nhân và nội tâm, một sự lựa chọn của ý chí để từ bỏ con người cũ. Cuộc sống mới mà chúng ta nhận được nhờ sự Phục sinh của Chúa Giêsu chỉ có thể được nhìn thấy bởi người khác qua chứng tá trong cuộc sống đã được biến đổi của chúng ta.
Hôm nay, chúng ta hãy suy ngẫm về dấu lạ đích thực mà Chúa đã ban cho chúng ta. Đôi khi chúng ta cũng có thể bị cám dỗ tìm kiếm những dấu hiệu lớn lao, trong khi những dấu hiệu của Thiên Chúa lại đang hiện hữu trong những điều nhỏ bé, trong những hành động tử tế, trong những phép lạ hàng ngày của lòng thương xót. Nếu chúng ta là người dường như đang chờ đợi một dấu lạ lớn lao nào đó từ Thiên Chúa, thì đừng chờ đợi nữa. Dấu lạ đã được ban cho chúng ta từ lâu rồi. Hãy nhìn lên cây thánh giá, biểu tượng cho những đau khổ và cái chết của Chúa Giêsu. Hãy chiêm ngưỡng sự hy sinh tột cùng đó và chọn theo Ngài. Hãy chọn chết đi mọi tội lỗi và ích kỷ của chính mình. Hãy cùng chết với Ngài, cùng vào mồ với Ngài và để Ngài đưa chúng ta đến với sự đổi mới cõi lòng từng ngày. Chỉ khi chúng ta chấp nhận cái chết cá nhân này, chúng ta mới có thể được biến đổi bởi dấu chỉ duy nhất này từ Trời cao, một dấu chỉ không cần lời nói, không cần ánh sáng chói lòa, nhưng đủ sức mạnh để biến đổi cõi lòng thẳm sâu của chúng ta.
- Tình yêu sâu xa xua tan sợ hãi
Chúa Giêsu nói với các môn đệ: “Con Người phải chịu đau khổ nhiều, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ trỗi dậy” (Luca 9:22).
Chúa Giêsu biết Ngài sẽ chịu đau khổ nhiều, bị chối bỏ và bị giết. Chúng ta sẽ đối mặt với cái biết đó như thế nào nếu bằng cách nào đó chúng ta biết về tương lai của chính mình? Hầu hết mọi người sẽ tràn ngập nỗi sợ hãi, bị ám ảnh và cố tránh né nó. Nhưng Chúa Giêsu không tránh né như thế. Câu Kinh Thánh trên đây cho thấy Chúa Giêsu đã có ý muốn ôm lấy Thánh Giá của Ngài một cách tin tưởng và can đảm không lay chuyển như thế nào.
Đây chỉ là một trong nhiều lần Chúa Giêsu bắt đầu báo cho các môn đệ về số phận đang chờ đợi của Ngài. Và mỗi lần Ngài nói như vậy, phần lớn các môn đệ giữ im lặng hoặc chối bỏ. Thánh Phêrô đã phản ứng như vậy khi ông đáp lại lời báo trước của Chúa Giêsu về Cuộc Khổ nạn của Ngài bằng cách nói: “Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy!” (Mt 16: 22).
Câu Kinh Thánh trên làm tỏa sáng sức mạnh, lòng dũng cảm và quyết tâm của Chúa Giêsu, bởi vì Ngài nói rất rõ ràng và dứt khoát. Và điều thúc đẩy Chúa Giêsu nói ra điều đó cách xác tín và can đảm như thế chính là tình yêu của Ngài.
“Tình yêu” thường được hiểu là một cảm giác mạnh mẽ và tốt đẹp. Tình yêu được coi là một sự hấp dẫn hoặc một sự yêu thích mạnh mẽ đối với điều gì đó. Nhưng đó không phải là tình yêu chân thật nhất, vì đó chỉ là tìm kiếm một cảm giác thỏa mãn ích kỷ. Tình yêu đích thực là một sức mạnh không lay chuyển chỉ tìm kiếm điều tốt đẹp cho người mình yêu, bất kể cái giá phải trả, bất kể khó khăn như thế nào.
Tình yêu của Chúa Giêsu dành cho nhân loại là một sức mạnh như thế, không thể lay chuyển, mạnh mẽ đến nỗi thúc đẩy Ngài chấp nhận cái chết đang chờ đợi. Đó không phải là một sự hy sinh miễn cưỡng, mà là một sự lựa chọn chủ ý và kiên quyết. Ngài đã tự nguyện dâng hiến mạng sống mình cho tất cả chúng ta, và không một thế lực nào trên thế gian này có thể ngăn cản Ngài thực hiện sứ mệnh thiêng liêng đó. Sự quyết tâm của Ngài là minh chứng rõ ràng nhất cho tình yêu vô bờ bến mà Ngài dành cho nhân loại.
Trong cuộc sống hiện đại đầy rẫy những toan tính vị kỷ, chúng ta rất dễ đánh mất ý nghĩa thật sự của tình yêu. Chúng ta có thể bị cuốn vào những ham muốn ích kỷ, những lợi ích cá nhân, và nhầm tưởng rằng đó chính là tình yêu đích thực. Những cảm xúc đó, dẫu có mãnh liệt đến đâu, cũng chỉ là những khao khát riêng tư chứ không phải là tình yêu. Tình yêu đích thực luôn đòi hỏi sự hy sinh, sự cho đi và lòng vị tha.
Chúa Kitô yêu thương tất cả chúng ta bằng cách hy sinh, chấp nhận đau khổ cùng cực, chịu đựng sự khước từ và cuối cùng là chết trên Thập giá. Dù phải đối mặt với nỗi đau thể xác và tinh thần khủng khiếp, Ngài vẫn không lùi bước. Không một ai, không một điều gì có thể làm lung lay tình yêu này. Tình yêu của Ngài là một tấm gương sáng ngời, một lời nhắc nhở mạnh mẽ rằng tình yêu đích thực luôn vượt qua mọi thử thách.
Chúng ta cũng phải học cách thể hiện cùng một tình yêu hy sinh như thế. Chúng ta được mời gọi để yêu thương không phải chỉ bằng lời nói, mà bằng những hành động cụ thể, bằng sự sẵn lòng cho đi, chịu đựng và tha thứ cho người khác. Tình yêu này không chỉ là một cảm xúc, mà là một sự lựa chọn hàng ngày, đòi hỏi sự kiên nhẫn, lòng trắc ẩn và sự hy sinh không ngừng nghỉ. Khi sống với tình yêu hy sinh, chúng ta mới thực sự thể hiện được tình yêu của Chúa Kitô trong cuộc đời mình và mang lại ý nghĩa sâu sắc cho cuộc sống của chính mình và của những người chung quanh.
Lạy Chúa Giêsu đáng mến yêu, con cảm tạ Chúa vì Chúa đã quyết hy sinh tất cả cho chúng con, vì tình yêu đích thực sâu thẳm không dò thấu được này của Chúa. Xin ban cho con ơn biết nhìn lên Chúa chịu đóng đinh trên thánh giá và nhận ra hành động yêu thương vĩ đại nhất từng được biết đến, trong cái chết của Chúa, mà con cần, để con biết từ bỏ mọi thứ ích kỷ, chết đi cho cái tôi tội lỗi của mình, và có thể tham dự vào tình yêu hy sinh hoàn hảo nhất của Chúa. Nhờ đó con được biến đổi trong hành trình theo Chúa và thông phần trọn vẹn vào sự sống mới của Chúa Phục Sinh Vinh Quang. Amen.
Phêrô Phạm Văn Trung
phỏng theo https://catholic-daily-reflections.com