2. Cảm Nghiệm Sống Lời Chúa

SỰ TỰ TIN VÀO GIÁ TRỊ BẢN THÂN VÀ ĐỨC KHIÊM NHƯỜNG TRONG ĐỜI SỐNG KITÔ HỮU

Thoạt nhìn, sự tự tin, ý thức về giá trị bản thân và đức khiêm nhường dường như đối lập nhau. Trong đời sống Kitô giáo, nhiều người ngại nói đến giá trị của bản thân vì sợ rơi vào tính kiêu ngạo. Nhưng nếu hiểu sai về đức khiêm nhường, chúng ta lại dễ rơi vào thái cực khác: đó là xem thường chính mình, phủ nhận những điều tốt đẹp Chúa đã ban và nghĩ rằng mình chẳng có giá trị gì. Đó không phải là đức khiêm nhường. Khiêm nhường là nhìn đúng sự thật về bản thân, không tự cao nhưng cũng không tự ti. Vì thế, sự tự tin, ý thức về giá trị bản thân và đức khiêm nhường không hề mâu thuẫn. Trái lại, chúng bổ túc cho nhau và giúp con người trưởng thành cả về nhân bản lẫn đời sống thiêng liêng.

  1. Hiểu đúng về sự tự tin, giá trị bản thân và đức khiêm nhường

Nhiều người hiểu sự tự tin, giá trị bản thân và đức khiêm nhường theo cách suy nghĩ và tiêu chuẩn của đám đông thường ngày, nên dễ cho rằng chúng mâu thuẫn với nhau. Thực ra, dưới góc nhìn của tâm lý học và thần học, ba khái niệm này bổ túc cho nhau.

Theo Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ – The American Psychological Association (APA), sự tự tin là cách chúng ta nhìn nhận tích cực về khả năng, phẩm chất và những điều mình đạt được. Nói đơn giản, đó là niềm tin rằng mình có thể phát triển những khả năng Trời ban cho. Sự tự tin được nuôi dưỡng từ hai nguồn: nỗ lực của chính bản thân và sự động viên, nâng đỡ của những người chung quanh.

Giá trị bản thân lại liên quan đến phẩm giá con người. Đó là ý thức rằng mình đáng được yêu thương và tôn trọng. Sự tự tin và giá trị bản thân có liên hệ chặt chẽ với nhau, nhưng không đồng nghĩa. Sự tự tin trả lời câu hỏi: “Tôi có khả năng làm được việc gì không?” Nó gắn với năng lực, kỹ năng và những thành quả chúng ta đạt được. Vì thế, sự tự tin có thể thay đổi theo thành công, thất bại hoặc cách người khác nhìn nhận chúng ta. Trong khi đó, giá trị bản thân trả lời câu hỏi: “Tôi có đáng được yêu thương không?” Nó không dựa trên những gì chúng ta làm, mà dựa trên chính con người chúng ta. Theo đức tin Kitô giáo, mỗi người đều có phẩm giá bất khả xâm phạm vì được Thiên Chúa tạo dựng theo hình ảnh Ngài và được Chúa Kitô yêu thương đến hiến mạng sống. Vì vậy, một người có thể thất bại trong công việc, mất đi sự tự tin vào khả năng của mình, nhưng không bao giờ đánh mất giá trị của mình trước mặt Thiên Chúa. Thực ra, hai điều này nâng đỡ nhau. Khi biết mình được yêu thương vô điều kiện, chúng ta có thêm can đảm để phát triển các khả năng Chúa ban và không sợ thất bại. Ngược lại, nếu chỉ đánh giá bản thân bằng thành tích, mỗi lần vấp ngã chúng ta rất dễ đi đến kết luận rằng mình vô dụng hoặc không còn đáng được yêu thương. Vì thế, sự tự tin giúp chúng ta tin vào điều mình có thể làm, còn giá trị bản thân giúp chúng ta xác tín mình là ai trước mặt Thiên Chúa, dù thành công hay thất bại. Một người có thể thất bại mà vẫn sống bình an, vì phẩm giá của họ không tùy thuộc vào thành tích, nhưng bắt nguồn từ việc họ được Thiên Chúa tạo dựng theo hình ảnh Ngài và được Chúa Kitô yêu thương.

Đức khiêm nhường cũng thường bị hiểu sai. Khiêm nhường không phải là tự hạ thấp mình, nhưng là nhìn đúng sự thật về bản thân. Thánh Tôma Aquinô dạy rằng: “Khiêm nhường nghĩa là nhìn nhận bản thân như cách Chúa nhìn nhận chúng ta; Hiểu rằng mọi điều tốt lành chúng ta có được đều đến từ Ngài như một món quà thuần khiết.” [1] Người khiêm nhường biết khả năng của mình, ý thức giới hạn của mình và nhìn nhận mọi tài năng đều là hồng ân Thiên Chúa.

Vì thế, sự tự tin giúp chúng ta tin rằng mình có thể trưởng thành; giá trị bản thân giúp chúng ta biết mình đáng được yêu thương; còn đức khiêm nhường nhắc chúng ta rằng mọi điều tốt đẹp đều khởi nguồn từ Thiên Chúa và chỉ đạt tới sự viên mãn khi gắn bó với Ngài. 

  1. Những hiểu lầm thường gặp

Muốn sống khiêm nhường, trước hết chúng ta cần gỡ bỏ những hiểu lầm về sự tự tin và giá trị bản thân. Chính những hiểu lầm này khiến nhiều người nghĩ rằng chúng không thể song hành với đời sống Kitô hữu.

Thứ nhất, sự tự tin không chỉ là cảm xúc. Nó không đơn thuần là cảm giác vui hay buồn về bản thân, nhưng được hình thành qua cách chúng ta suy nghĩ, lựa chọn, sống các giá trị, xây dựng các mối tương quan và đón nhận những trải nghiệm của mình. Vì thế, không thể đánh giá sự tự tin chỉ bằng cảm xúc nhất thời.

Thứ hai, nhìn nhận giá trị của mình không có nghĩa là phủ nhận những thiếu sót. Trái lại, chỉ khi biết mình có giá trị, chúng ta mới đủ bình tâm để nhìn nhận lỗi lầm và sửa đổi. Carl Rogers cho rằng khi con người cảm thấy mình được đón nhận và an toàn, họ sẽ có tự do để trưởng thành. Điều này cũng đúng trong đời sống đức tin: người biết mình luôn được Thiên Chúa yêu thương sẽ không sợ đối diện với những yếu đuối của mình.

Thứ ba, sự tự tin không thể xây dựng chỉ bằng ý chí. Nó lớn lên trong suốt cuộc đời, nhất là qua những mối tương quan yêu thương. Susan Johnson cho rằng con người được hình thành trong tương quan với người khác. Chính khi được yêu thương, lắng nghe, tha thứ và đón nhận, chúng ta mới có đủ can đảm để phát triển và từng bước củng cố sự tự tin. Aristote cho rằng con người đạt tới sự viên mãn khi phát triển những khả năng tốt đẹp của mình.

Cuối cùng, khiêm nhường không phải là coi thường chính mình. Đức Giáo Hoàng Phanxicô nhắc rằng: “Đôi khi chúng ta nghĩ rằng khiêm nhường là im lặng, có lẽ cúi đầu nhìn xuống đất…đó không phải là khiêm nhường. Đó là sự khiêm nhường giả tạo, khoác lên mình, không cứu rỗi cũng không bảo vệ được trái tim. Chúng ta phải nhận thức rằng không có sự khiêm nhường đích thực nào mà không có sự tủi nhục, và nếu bạn không thể chịu đựng, không thể gánh vác sự tủi nhục trên vai, bạn không thực sự khiêm nhường: bạn chỉ giả vờ là mình khiêm nhường, nhưng thực chất thì không.” [2]

Đức khiêm nhường đích thực luôn đi đôi với sự thật. Người khiêm nhường biết rõ điểm mạnh và giới hạn của mình, nhìn nhận mọi tài năng đều là hồng ân, nên không tự cao nhưng cũng không tự ti. Chỉ khi hiểu như vậy, chúng ta mới thấy rằng sự tự tin, giá trị bản thân và đời sống Kitô hữu không hề mâu thuẫn, nhưng cùng giúp con người sống đúng với phẩm giá và ơn gọi của mình trước mặt Thiên Chúa.

  1. Sự tự tin, giá trị bản thân và đức khiêm nhường nâng đỡ nhau như thế nào?

Nhà tâm lý học John Bowlby từng viết: “Con người hạnh phúc nhất khi luôn có một nơi an toàn để ra đi và cũng có một nơi an toàn để trở về.”

“Nơi an toàn” ấy trước hết là những mối tương quan yêu thương. Đó là nơi chúng ta được nâng đỡ khi thất bại, được sẻ chia khi thành công và có thêm sức mạnh để tiếp tục bước đi. Chính trong những mối tương quan ấy, sự tự tin và giá trị bản thân được nuôi dưỡng. Đức khiêm nhường giúp tiến trình này lớn lên, vì người khiêm nhường biết mình cần người khác và trên hết là cần Thiên Chúa. Đó không phải là dấu hiệu của yếu đuối, nhưng của sự trưởng thành. Người chỉ cậy dựa vào sức riêng dễ thất vọng trước giới hạn của mình. Trái lại, người biết cậy dựa vào Chúa và đón nhận sự nâng đỡ của tha nhân sẽ ngày càng vững vàng và khám phá giá trị của chính mình.

Sự tự tin và giá trị bản thân không lớn lên trong cô lập, nhưng trong tình yêu. Chúng được hình thành khi con người được đón nhận, tha thứ và yêu thương. Đức khiêm nhường giúp chúng ta can đảm thưa: “Con cần Chúa. Con cần anh chị em mình.” Khi đó, sự tự tin không còn dựa trên sức riêng, nhưng là niềm xác tín rằng cùng với Thiên Chúa, chúng ta có thể làm những điều tốt đẹp.

Thiên Chúa dựng nên con người để sống trong tương quan với Ngài và với nhau. Tình yêu của Ngài chữa lành những tổn thương sâu kín và nhắc chúng ta rằng phẩm giá của mình không bao giờ mất đi. Đối với người Kitô hữu, điều đó chỉ trọn vẹn khi sống kết hiệp với Thiên Chúa. Càng gắn bó với Ngài, chúng ta càng trở thành con người mà Ngài muốn chúng ta trở thành.

Vì thế, giá trị bản thân là món quà của tình yêu hơn là thành quả của nỗ lực. Người ta thường nói: “Chúng ta khám phá mình là ai qua ánh mắt của những người yêu thương mình nhất.” Điều ấy càng đúng trong tương quan với Thiên Chúa. Khi nhìn mình bằng ánh mắt của Chúa, chúng ta nhận ra mình là người con được yêu thương, được tha thứ và luôn có thể bắt đầu lại. Càng ý thức giá trị của mình, chúng ta càng dễ tín thác vào Chúa.

Đức khiêm nhường là chiếc cầu nối của tiến trình ấy. Khiêm nhường không chỉ là nhìn nhận sự yếu đuối, mà còn là để Thiên Chúa yêu thương mình ngay trong những yếu đuối ấy. Ngay nơi chúng ta chỉ thấy tội lỗi và thất bại, Thiên Chúa vẫn dịu dàng nói: “Ta vẫn yêu con. Hãy đến với Ta.” Trở về với Chúa, chúng ta được tha thứ, phục hồi phẩm giá và học cách nhìn bản thân cũng như người khác bằng ánh mắt yêu thương của Chúa.

Có lẽ đó cũng là điểm gặp gỡ giữa tâm lý học và đức tin. Tâm lý học giúp con người hiểu mình, còn đức tin giúp con người biết mình được Thiên Chúa yêu thương. Khi hai điều ấy gặp nhau trong đức khiêm nhường, con người được giải thoát khỏi cả kiêu ngạo lẫn mặc cảm tự ti để sống đúng với phẩm giá những người con của Thiên Chúa.

Phêrô Phạm Văn Trung

Phỏng theo https://aoclinic.org

 

[1] https://catholicfaithpatronsaints.com/twenty-five-quotes-from-the-saints-on-humility/

[2] https://www.vaticannews.va/en/pope-francis/mass-casa-santa-marta/2018-01/pope-homily-santa-marta0.html

THINH LẶNG CỦA BẬC CHIÊM NIỆM

Với các nhà chiêm niệm, thinh lặng không phải là mục tiêu, lên tiếng cũng không phải là mục tiêu, Chúa mới chính là cùng đích và cứu cánh của mọi sự: giữa nói và không nói, họ đứng giữa như bàn cân, Chúa bên nào họ nghiêng về bên ấy, họ trao cho Chúa toàn quyền quyết định: họ có thể nói hoặc họ có thể im, nhưng, cả hai đều không làm họ lạc xa Chúa, và không làm họ đánh mất mình, giống như mặt hồ: có thể phản chiếu hình ảnh hoặc không phản chiếu, có sóng hoặc không có sóng, nước vẫn là nước; họ vẫn là họ, vẫn thuộc trọn về Chúa.

Có những lúc thinh lặng là đồng lõa với bất công, thinh lặng vì sợ: sợ làm mất lòng, sợ bị cô lập, sợ bị xem là kẻ gây rối, sự thinh lặng đó khiến ta co lại, và lòng nặng nề. Có những lúc thinh lặng là khôn ngoan, khi thấy đối phương đang nóng giận, ta biết, bất kỳ lời giải thích nào lúc này cũng chỉ là đổ thêm dầu vào lửa, ta chọn thinh lặng không phải vì nhận mình thua, mà vì, ta thấy thời điểm chưa đúng, sự thinh lặng này là khôn ngoan, nó không để lại sự cay đắng. Có những lúc thinh lặng vì không còn nhu cầu chứng minh, ta nghe lời xúc phạm mà bên trong không có gì bị kích động: không còn ai cần được bảo vệ, không có hình ảnh nào cần được giữ gìn, sự thinh lặng này rất nhẹ, không cưỡng bức, không khó chịu.

Khi ai đó nói lời xúc phạm ta, sâu bên trong, ta thường nghĩ: họ không hiểu ta, chính nhu cầu cần được hiểu, mới là thứ làm ta khổ, ta có thể chịu được lời nói nặng, nhưng, ta rất khó chịu khi bị đặt trong một hình ảnh sai lệch, ta muốn sửa lại, muốn giải thích, muốn chứng minh rằng mình không như họ nghĩ, thoạt nghe thì rất chính đáng, nhưng, hãy nhìn cho kỹ: Vì sao ta cần họ hiểu? Thưa, vì ta tin rằng: giá trị của mình phụ thuộc vào cách người ta nhìn mình: nếu họ nghĩ xấu về ta, ta cảm thấy giá trị của mình bị giảm đi; nếu họ hiểu sai về ta, ta thấy mình bị đối xử bất công; và thế là, ta lao vào cuộc tranh luận, không phải vì sự thật, mà vì, hình ảnh ta đang muốn bảo vệ. Tuy nhiên, cho dù, ta có thể giải thích rất hay, trình bày rất rõ, ta có thể nói bằng tất cả thiện chí, nhưng, người kia vẫn không hiểu, không phải vì ta chưa nói đủ, mà vì, họ đang nghe qua lăng kính riêng của họ: mỗi người đều nghe bằng quá khứ, bằng định kiến, bằng vết thương lòng của họ, vì thế, ta không thể điều khiển được điều này; nếu ta chưa chấp nhận được thực tế này, ta sẽ luôn mệt mỏi, ta sẽ phải cố gắng sửa từng hiểu lầm, cố gắng làm vừa lòng từng ánh nhìn, cố gắng giữ hình ảnh của mình thật sạch sẽ trong mắt người khác, và đó là cuộc đua không có hồi kết, bởi vì, sẽ luôn có người hiểu sai về ta.

Giữa một thế giới đầy dẫy tiếng nói, các nhà chiêm niệm chọn thinh lặng, không phải vì họ không có gì để nói, mà vì, bên trong họ đã không còn gì bị kích động. Chúng ta không thể ngăn cản người khác nói, không thể ngăn cản họ hiểu sai về ta, không thể bắt họ nhìn ta theo cách ta muốn, nhưng, ta có thể học cách để những lời xúc phạm ấy không thể chi phối được ta. Thinh lặng chiêm niệm không làm ta yếu đi, mà làm ta mạnh hơn, không phải mạnh vì tách biệt khỏi đời, mà, mạnh khi đứng giữa đời, nhưng, không còn bị cuốn vào những cuộc tranh cãi, để, chứng tỏ mình mạnh và chứng minh mình đúng nữa.

Chóp đỉnh của thinh lặng chiêm niệm, không phải là không phản ứng, mà là, thinh lặng của thập giá: không còn cần được công nhận, không còn cần được đúng, không còn cần được hiểu, khi đó, những lời xúc phạm, không còn nơi bám, chúng đến rồi đi, giống như gió thổi qua một khung trời rộng lớn, và trong khung trời ấy, ta không bị nhỏ lại, trái lại, ta rộng hơn, rộng đến mức một câu nói không thể định nghĩa ta, một hiểu lầm không thể làm ta hẹp lại, và khi đó, thinh lặng không còn là kỹ thuật, mà, nó trở thành một biểu hiện tự nhiên của một tâm hồn chiêm niệm: nên giống Đấng Vâng Phục, từ đó, bình an không còn là điều phải đi tìm, nó là điều còn lại sau tất cả: khi ta không còn cần hơn thua, tranh giành đúng sai với bất kỳ ai; không còn cần thanh minh, biện bạch cho bất kỳ sự nhục mạ nào. Ước gì được như thế!

 Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền,OSB.

BƯỚC ĐI BẰNG TÌNH YÊU

Tìm ra đâu hạnh phúc

Trong đau thương, nước mắt

Và thất bại, đắng cay

Nơi cuộc sống từng ngày

Còn bao nhiêu trăn trở

Với những lần đổ vỡ

Mang ngậm ngùi, xót xa

Một thân xác tàn tạ

Trải qua đầy sóng gió

Kiếp gian trần nắng mưa

Nay chỉ tìm về Chúa

Đặt tất cả ước mơ

Cho trái tim rộng mở

Để bàn tay sẻ chia

Bên thập giá của Ngài

Mời gọi con đứng dậy

Bước đi bằng tình yêu

Sống yêu thương thật nhiều

Hầu trở nên giống Chúa.

 

Lm Trọng Khẩn  

KHÔNG CÒN GÌ ĐỂ DIỄN

Thứ Bảy Tuần 9 Thường Niên A

“Bà goá nghèo này đã bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết”.

“Đừng cố tỏ ra là một vị thánh; hãy thành thật là một tội nhân!” – Thomas Merton.

Kính thưa Anh Chị em,

Có những người sống cả đời để tỏ ra là một vị thánh; goá phụ trong Tin Mừng hôm nay thì khác. Dưới ánh mắt Chúa Giêsu, cô ‘không còn gì để diễn’.

Tin Mừng hôm nay mở ra như một sân khấu tôn giáo. Các kinh sư tìm danh dự; những người giàu tìm khoe khoang. Họ gây chú ý bằng những khoản dâng cúng lớn. Chúa Giêsu không quan sát số tiền hay vẻ bề ngoài; Ngài đọc điều ẩn phía sau. Trước Ngài, mọi vai diễn thánh thiện đều mờ nhạt, và sự thật tâm hồn được phơi bày. “Khiêm nhường là sống trong sự thật!” – Têrêxa Avila.

Một goá phụ xuất hiện. Cô không trình diễn lòng đạo đức. Chúa Giêsu nói cô đã “bỏ vào thùng nhiều hơn ai hết”. Bản Vulgata chỉ dùng một động từ rất đơn sơ: misit – “đã bỏ vào”. Nhưng dưới cái nhìn của Chúa Giêsu, điều quyết định không phải là cái được bỏ vào, mà là cái không được bỏ vào: phần dư hay chính sự sống. Những người khác vẫn còn để giữ lại; cô thì không. Không còn khoảng cách nào giữa điều cô trao và chính con người cô. Trước mặt Thiên Chúa, cô ‘không còn gì để diễn’.

Điều đáng suy nghĩ là những vai diễn tôn giáo thường không khởi đi từ sự xấu xa, nhưng từ nỗi sợ. Sợ bị xem thường, sợ phải đối diện với sự nghèo nàn thật của bản thân. Vì thế, người ta dễ khoe mẽ, loè bằng cấp hay những biểu hiện đạo đức để che phủ những khoảng trống bên trong. Goá phụ này thì khác. Cô không còn gì để giữ ngoài niềm tín thác vào Chúa. Chính sự nghèo khó ấy làm nên tự do của cô, giải phóng cô khỏi nhu cầu phải chứng minh bất cứ điều gì với bất cứ ai.

Một trong những ngẫu tượng nguy hiểm nhất của đời sống thiêng liêng là mê chính mình; người ta dễ nói về mình hơn là nói về Chúa, tìm kiếm sự chú ý hơn là tìm vinh quang Ngài. Vì thế, Phaolô nhắn nhủ: “Hãy tỉnh thức trong mọi hoàn cảnh!”. Chỉ khi thoát khỏi sức hút của cái tôi, người môn đệ mới có thể “tường thuật ơn cứu độ Ngài ban” – Thánh Vịnh đáp ca. Đó là những môn đệ trưởng thành không còn bận trình bày bản thân, nhưng bận rộn với sứ vụ “lên tiếng lúc thuận tiện cũng như lúc không thuận tiện” – bài đọc một.

Anh Chị em,

Goá phụ hôm nay không chỉ là một tấm gương đạo đức; cô còn báo trước điều Đức Kitô sẽ thực hiện cách trọn vẹn. Cô dâng toàn bộ sự sống, Ngài trao chính sự sống; cô không còn gì để dâng, Ngài không còn gì để giữ. Trên đồi Sọ, mọi vinh quang bị tước bỏ, chỉ còn lại một tình yêu trao hiến đến cùng. Điều làm chúng ta sợ không phải là nghèo, nhưng là bị nhìn thấy đúng như mình là. Vậy mà chỉ khi không còn cố tỏ ra là một vị thánh, chúng ta mới dám nhìn nhận mình là một tội nhân ‘không còn gì để diễn’ trước Thiên Chúa. Và chính ở đó, ân sủng bắt đầu. “Ân sủng mặc lấy con người thật của chúng ta, chứ không phải con người chúng ta giả vờ là!” – Henri Nouwen.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho con thôi diễn, thôi chứng minh, thôi che giấu; để ân sủng Ngài tìm thấy con trong sự thật – một tội nhân!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

PHÚC VÀ NGHIỆP TRONG ĐẠO CHÚA

Phúc hay phước và Nghiệp là hai lãnh vực  tưởng chừng khác biệt, nhưng  lại có  mối tương quan  chặt chẽ  với  nhau; trong đó Nghiệp là Nhân còn Phúc là Quả. Có nhận ra được mối tương quan ấy, chúng ta mới có thể vững tâm  bước đi trên con đường Bỏ Mình theo Chúa: “ Ai muốn theo Ta thì hãy bỏ mình vác thập giá mình hàng ngày mà theo. Vì hễ ai muốn cứu mạng sống mình thì phải mất. Còn hễ ai vì cớ Ta mà mất mạng sống mình thì sẽ tìm lại được. Vì chưng lời lãi cả và thế gian mà mất linh hồn mình thì nào được ích gì ?” ( Lc 9, 23 -25 ).

Đạo lý “ Bỏ Mình” của Đức Ki Tô là một nghịch lý: Muốn cứu lại mất, bỏ đi lại được. Thế nhưng chính cái…nghịch lý ấy  đã làm nên các vị thánh lớn của Đạo Công Giáo chẳng hạn thánh Phan Xi Co d’Assisi, thánh Phan Xi Co Xavie’  thánh Alphongse de Liugori…cũng như  các thánh tử đạo  trên khắp thế giới ! Mặt khác cũng với lời khuyên  dạy:“ Được lời lãi cả và thế gian mà mất linh hồn thì nào được ích gì” ấy đã khiến Đạo Công Giáo có được sự vững vàng trong đức tin trải qua bao thế hệ…Nhưng  thật đáng buồn ! đức tin chân thật ấy  dường như đã bị đổ vỡ trầm trọng và vì thế  tình trạng Bỏ Đạo  đã  diễn ra hàng loạt trên khắp các nước Âu Mỹ như  đang thấy  hiện nay !!!

Theo thống kê của PEW, một trung tâm độc lập của Mỹ ngày 25/ 2/ 2008  cho  biết  số người  rời bỏ Thiên Chúa Giáo  ngày càng tăng nhanh và Công Giáo là tôn giáo có số tín đồ bỏ đạo nhiều nhất. Ở Mỹ, Công Giáo chiếm tỷ lệ 31%  nhưng chỉ có chừng 24%  người Công Giáo còn nhìn nhận họ là Công Giáo có nghĩa  hiện có tới 76% người CG đã bỏ đạo !!!

Trong số 24% còn nhận mình là Công Giáo ấy, thử hỏi có được bao nhiêu người  còn sống đạo có nghĩa còn thực sự sống đức tin của mình ? Về việc người Công Giáo nói riêng  và Ky Tô Giáo nói chung bao gồm  các hệ phái như Tin Lành, Chính Thống, Anh Giáo đã…bỏ đạo, chắc hẳn phải có nguyên do quan trọng nào đó ? Theo tôi nguyên do chủ yếu chính là vì niềm tin  bấy lâu  vào sự hiện hữu của  Đấng Thiên Chúa Toàn Thiện, Toàn Năng  đã bị…khai tử bằng cái gọi là Thần Học về Cái Chết Của Thiên Chúa ( The’ologie de la mort de Dieu ).

Thần Học, từ bao lâu nay vẫn được nhìn nhận như là khoa học hiểu biết về Thiên Chúa, nay lại tuyên bố cái chết của Ngài  như thế, thử hỏi làm sao đức tin không bị tan  vỡ và một khi đức tin đã…vỡ thì mệnh lệnh Yêu Mến Thiên Chúa đâu còn  giá trị gì nữa ?

Cơn khủng hoảng cũng là tấn bi kịch của thế giới Tây Phương hiện nay  không thể không diễn ra một khi  mệnh lệnh  yêu mến Thiên Chúa Đấng là nguồn cội của Tình  Yêu và Trí Tuệ bị…phá sản ? Thực sự thì Thiên Chúa không đời nào…chết, cái chết do Thần Học tuyên bố chỉ là một khái niệm nào đó chứ không phải Thiên Chúa như đích thực Ngài Là ( Ego Sum Qui Sum – Xh 3, 14 ).

Thiên Chúa là Đấng Hằng Hữu, Tự Hữu, Ngài đòi buộc con người phải hết lòng yêu mến và tuân giữ các Giới Răn để được sống:“ Vậy, hỡi Itsraen, bây giờ Giehova ĐCT ngươi đòi hỏi ngươi điều  chi ? Há chẳng phải đòi ngươi kính sợ Giehova ĐCT ngươi, đi theo các đường lối Ngài, hết lòng hết ý kính mến và phụng sự Giehova ĐCT ngươi, giữ các giới răn  và luật lệ của  Đức Giehova mà Ta truyền cho ngươi ngày nay để ngươi được phước” ( Đnl 10, 12 -13 ).

Mệnh lệnh được ban cho những ai có lòng kính sợ Thiên Chúa, tuân giữ các giới răn của Ngài sẽ được vô vàn ơn phúc. Ngược lại  sẽ  bị tru diệt: “ Ngày nay, Ta  bắt trời và đất làm chứng cho các ngươi rằng: Ta đã đặt trước mặt các ngươi sự sống và sự chết, sự phước lành và sự nguyền rủa. Vậy, hãy chọn  sự sống hầu cho ngươi và dòng dõi ngươi được sống, thương mến Giehova ĐCT ngươi, vâng theo tiếng phán Ngài  và trìu mến Ngài. Vì Ngài  là sự sống ngươi  và làm cho ngươi  được sống lâu dài  đặng ở trên đất mà Đức Giehova đã thề hứa ban cho các tổ phụ ngươi là Apraham, Isaac và Giacop” ( Đnl 30, 19 -20 ).

“ Đất” được hứa ban ở đây không phải là Canaan nơi miền Trung Đông, đó chỉ là hình bóng của Nước Trời mầu nhiệm trong Tân Ước mà  Chúa Giê Su rao giảng: “ Người Pharisieu hỏi Chúa Giê Su  về Nước Thiên Chúa chừng nào đến thì Ngài đáp: Nước Thiên Chúa không đến cách mắt thấy được. Người ta cũng không thể nói: Đây này hay đó kia, vì này Nước Thiên Chúa ở trong các ngươi” ( Lc 17, 20 -21 ).

Không thể nói Nước Thiên Chúa, ở đây hay ở kia, bởi chưng đó là Thực Tại Tâm mầu nhiệm siêu việt cả không gian lẫn thời gian. Thực Tại ấy  con người chỉ có thể đạt được  khi quay về và sống với Bản Tâm Chân Thật  của mình: “ Luật pháp và tiên tri đến Gioan Baptist là hết. Rồi từ đó Tin Mừng được rao giảng ra và  ai nấy đều phải nỗ lực mà vào. Nhưng trời đất qua đi còn dễ hơn là một cái phết ( phảy ) của luật pháp  bị dứt mất” ( Lc 16, 16 -17 ).

Chúa Giê Su không  bãi bỏ Luật Pháp  nhưng đến để kiện toàn  và sự kiện toàn ấy đã được tiên báo ngay  trong thời Cựu Ước: “ Chúa lại phán: Này là Giao Ước Ta sẽ lập với nhà Itsraen: Sau những ngày đó, Ta sẽ để luật pháp Ta trong tâm trí họ, ghi  tạc nó vào lòng, Ta sẽ làm ĐCT của  chúng và chúng sẽ làm Dân của Ta” ( Dt 8, 10 ).

Trong Tân Ước, Đức Giê Su Ki Tô mạc khải về Đấng Thiên Chúa chẳng ai từng thấy biết ( Deus Abconsditus ) và Ngài gọi Đấng  ấy là  Cha: “ Cha Ta đã giao mọi sự cho Ta, Ngoài Cha không ai biết Con. Ngoài con và những ai Con muốn mạc khải cũng  không ai biết Cha” ( Lc 10, 22 ). “ Biết Cha” đây không phải là cái biết bằng tri giác hay lý trí nhưng  bằng Tình   Yêu vô phân biệt: “ Hỡi kẻ yêu dấu, chúng ta hãy yêu thương nhau vì sự yêu thương đến từ Thiên Chúa. Hễ ai yêu thương thì sanh bởi Thiên Chúa và nhận biết Thiên Chúa. Còn ai chẳng có lòng thương yêu thì không thể nhận biết Thiên Chúa vì Thiên Chúa là Tình  Yêu. Sự thương yêu của Thiên Chúa  đối với chúng ta  thể hiện trong điều này: Thiên Chúa đã sai Con Một của Ngài đến thế gian hầu cho chúng ta nhờ Con mà được sống” ( 1Ga 4, 7 -9 ).

Sự sống  Đức Giê Su Ki Tô đem đến cho nhân loại đó là  Sự Sống Viên Mãn Đời Đời chứ không phải  sự sống vật chất thế gian ! Ước muốn ngàn đời  của con người  là được sống trong an bình, hạnh phúc. Thế nhưng có điều…trái khoáy, một đàng  thì muốn  hạnh phúc, một đàng  người  ta  lại  hủy  nó đi bằng lối  sống  buông theo  dục vọng, để thỏa mãn  ý riêng mình ! Đang khi đó, dục vọng giống như  lửa hừng nung đốt. Người mong mỏi hạnh phúc mà không từ bỏ dục vọng, ý riêng  thì cũng giống  như dìm mình trong lửa, lại  hy vọng không bị, thiêu đốt, cháy bỏng ? Mong mỏi hạnh phúc mà không từ bỏ dục vọng, ý riêng đó là điều không  bao giờ có thể  có  được ! Tuy nhiên, việc từ bỏ  ý riêng ấy sẽ  là  bất khả  bao lâu  con người  vẫn còn  sống trong vòng trói buộc  của Nghiệp Lực Vô Minh.

Nghiệp được định nghĩa như là Tác Ý, tất cả những hành động có chủ ý được thể hiện qua Thân, Khẩu, Ý đều tạo thành cái  Nghiệp cho mỗi người. Nói  cho dễ hiểu, Nghiệp chẳng qua là những thói quen, tập quán đã hình thành qua nhiều  tháng, năm, ví dụ như một cậu thiếu niên nghe theo lời rủ rê của bạn bè xấu, tập tành uống rượu, hút thuốc, chích choác….Ban đầu thấy khó chịu có khi nôn ọe nhưng  ngày qua ngày lại đã trở thành  nghiện ngập lúc nào không hay  v.v…

Về  vấn đề Tạo  Nghiệp, Chúa Giê Su cũng nói không khác khi Ngài nặng lời  quở trách những người Pharisieu giả hình  đạo đức: “ Ớ dòng dõi  rắn độc kia, các ngươi là ác, làm sao có thể nói lời thiện được ? Vì do sự đầy dẫy trong lòng mà miệng mới nói ra. Người thiện do chứa thiện mà phát ra điều thiện. Kẻ ác do chứa ác mà phát ra điều ác” ( Mt 12, 34 -35 ).

Chúa nói: “ Chứa” ở đây chính là Tác Ý là… tạo nghiệp và bất cứ  thứ Nghiệp nào dù thiện hay ác đều từ nơi Tâm mà phát khởi  để  rồi  phải  lãnh lấy  hậu quả  tương ứng. Trong thiên Thái Thượng Cảm Ứng, Lão Tử viết: “ Họa, Phúc không có cửa, tự nơi người rước lấy. Quả báo của điều thiện, điều ác  không khác nào như bóng theo hình. Cho nên những người nghĩ thiện dù thiện chưa được làm Cát Thần  cũng đã theo liền bên cạnh. Người nghĩ ác dù điều ác chưa  làm thì Hung Thần  cũng đã theo liền bên cạnh. Song làm ác mà sau biết ăn năn, sửa lỗi thì lâu ngày cũng sẽ gặp được sự lành và như thế gọi là chuyển Họa ra Phúc vậy” ( Minh Tâm Bửu Giám – Thiên Kế Thiện ).

Nghiệp không cố định mà có thể  chuyển, tức chuyển từ Nghiệp Thế Gian sang Nghiệp Xuất Thế Gian. Người đời  bởi Nghiệp mà sinh ra rồi cũng vì Nghiệp mà chết đi. Trái lại Ky Tô Hữu chúng ta là con cái Chúa, được sinh ra trong Bí Tích Thánh Tẩy như lời thánh Le’on Nativ nói: “ Cùng một năng lực của Đấng  Chí Cao, cùng một tác động của Chúa Thánh Thần đã làm cho Đức Maria  sinh ra Đấng Cứu Chuộc cũng làm cho người tín hữu được sinh ra trong nước tái sinh” ( M.V Bernado O.P – Mẹ Trong Đời Tôi ).

Được sinh ra bởi Chúa, rồi khi chết đi chúng ta lại được về với Chúa. Chỉ với niềm tin chân thành ấy mới đem lại cho con người niềm hy vọng  đích thực, trái lại thì không. Tuy nhiên đức tin cần  gắn với việc làm, đó là tích cực  bước đi trên con đường giải thoát của Đức Ki Tô: “ Con đã ban  Đạo Cha cho họ mà thế gian ghen ghét họ vì họ không thuộc về thế gian cũng như Con không thuộc về thế gian vậy. Con chẳng xin Cha cất họ khỏi thế gian nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi sự ác. Họ không thuộc về thế gian cũng như Con không thuộc về thế gian. Xin Cha lấy lẽ thật khiến họ nên thánh, Đạo Cha là lẽ thật” ( Ga 17, 14 -17 ).

Đi trên  đường giải thoát sẽ bị thế gian ghen ghét, Chúa Giê Su đã báo trước điều đó. Thế nhưng chính thực tế lịch sử ấy mới  chứng tỏ Đạo Công Giáo là… Đạo Thật. Giả dụ như Đạo Công Giáo không bị thế gian ghét bỏ, bách hại thì đó không phải là Đạo Thật  như lời Chúa nói. Mặc dầu vậy, có  vấn đề hết sức sâu  xa  cần đặt ra đó là lý do tại sao  Đạo Công Giáo lại bị ghen ghét  như thế  và sự ghét ghen ấy từ đâu mà đến?

Để trả lời thỏa  đáng cho hai câu hỏi trên đây, thiết nghĩ  chúng ta cần trở lại với câu chuyện  mang tính biểu tượng đầy tính minh triết  nơi  Vườn Địa Đàng  cùng với  sự lừa dối của Rắn Sa Tan: “ Vả, trong các loài thú đồng mà Gia Vê ĐCT  đã làm nên, có con rắn là giống quỷ quyệt hơn hết. Rắn nói cùng người nữ rằng: Có thật  Đức Chúa  đã  phán dạy các ngươi không được ăn mọi thứ cây, trái trong vườn không ? Người nữ  đáp: Chúng ta được ăn trái  các cây trong vườn, song về  trái của cây mọc giữa vườn thì Đức Chúa phán dạy: Hai người chẳng nên ăn đến và cũng chẳng nên đá động gì đến, e khi hai người phải chết chăng ? Rắn bèn nói với người nữ rằng: Chẳng chết chóc gì đâu, nhưng Đức Chúa  biết rằng hễ ngày nào hai người ăn trái cây đó, mắt mình  mở ra  sẽ như Đức Chúa, biết điều thiện và điều ác…

…Người nữ thấy trái của cây đó coi bộ ăn ngon, lại đẹp mắt và quí  để mở trí khôn, bèn hái ăn rồi trao cho chồng đang đứng gần mình ăn nữa. Đoạn, mắt hai người  đều mở ra, biết rằng mình lõa lồ bèn lấy lá cây  vả đóng khố che thân” ( St 3, 1 -8 ).

Sự xảo quyệt của Rắn Sa Tan chính là ở chỗ, nó lừa được Nguyên Tổ mà lại như không…có vẻ lừa chút nào ! Một đàng Đức Chúa nói không được ăn, một đàng nó lại  nói cứ ăn, chẳng chết đâu ? Đúng là  nguyên tổ không  những không chết mà mắt lại còn…mở ra ? Tuy nhiên, mắt mở ra ấy là con mắt xác thịt, khi  mắt xác thịt mở thì mắt tâm linh phải đóng lại để không thể  thấy  được  Sự Thật như nó là…

Con mắt xác thịt đây chính là Lý Trí Phân Biệt, thánh Phao Lô gọi  đó  là  khôn ngoan thế gian, nó hoàn toàn chống trái với khôn ngoan Thiên Chúa cũng gọi là  khôn ngoan  thập giá Chúa Ki Tô:“ Bởi chưng đạo  thập tự giá đối với những kẻ bị hư mất thì là  ngu dại. Song đối với chúng ta là người được cứu thoát thì là quyền năng của Thiên Chúa. Vì có lời chép rằng: Ta sẽ hủy diệt khôn ngoan của người khôn ngoan. Loại bỏ sự thông sáng của  người thông sáng. Người khôn ngoan ở đâu ? Văn sĩ ở đâu ? Biện sĩ ( Luật Sư ) đời này ở đâu ? Thiên Chúa há chẳng làm sự khôn ngoan của thế gian  này ra ngu dại ư ? Vì  tại thế gian cậy sự khôn ngoan mình  chẳng do sự khôn ngoan Thiên Chúa cho nên Thiên Chúa  vui lòng dùng sự  ngu dại  của đạo chúng ta  rao giảng mà cứu rỗi những kẻ tin” ( 1C  1, 18 -21 ).

Rắn Sa Tan đã  thành công trong  việc  cám dỗ Nguyên Tổ…ăn trái cấm, cái trái “ Coi bộ ăn ngon lại đẹp mắt và quí để mở trí khôn” ấy. Sự thành công của Sa Tan lại chính là thất bại của Nguyên Tổ chỉ vì đã không vâng lời Đức Chúa, cứ cố tình…ăn Trái Cây  Phân Biệt Thiện Ác  để rồi đã bị đuổi ra khỏi Vườn Địa Đàng, chịu muôn vàn khổ đau, cay đắng: “ Đất sẽ sanh chông gai, cây trái đắng đót và ngươi sẽ ăn rau cỏ ngoài đồng. Ngươi sẽ phải làm lụng đổ mồ hôi trán mới có cái để mà ăn cho đến ngày nào ngươi trở về đất là nơi mà có ngươi ra  vì ngươi là bụi đất sẽ trở về đất bụi” ( St 3, 18 -19 ).

Như đã biết Nguyên Tổ không vâng lệnh Đức Chúa, cố tình ăn Trái Phân Biệt Thiện Ác nên đã bị đuổi ra khỏi Vườn Địa Đàng. Sự cố tình ấy, nó chính là  Tạo Nghiệp Thế Gian và  một khi đã vướng vào Nghiệp Thế Gian thì sẽ không  cách chi  thoát khổ, bởi  đã bị Sa Tan lừa dối dẫn dắt  vào con đường  nô lệ tội lỗi.Chúa Giê Su nói với người Do Thái:

“ Thật, tôi bảo thật các ông: hễ ai phạm tội thì làm nô lệ cho tội. Còn tôi mọi thì không được ở trong nhà luôn, chỉ con mới được ở trong nhà luôn. Vậy nếu Con giải thoát  các ngươi thì các ngươi được tự do thật sự. Ta biết rằng các ngươi là dòng giống Apraham, nhưng các ngươi lại tìm cách giết Ta vì Đạo Ta không tiến hành được trong  các ngươi. Ta nói điều Ta đã thấy nơi Cha Ta, còn các ngươi  thì làm điều các ngươi  đã nghe ở nơi cha các ngươi…

…Chúng đáp rằng: Cha chúng tôi là Apraham. Chúa Giê Su phán: Nếu các ngươi là con cái Apraham thì chắc phải làm  công việc của Apraham. Nhưng nay các ngươi tìm cách giết Ta là người lấy lẽ thật  đã nghe ở nơi Thiên Chúa mà nói cho các ngươi. Apraham chẳng hề làm điều đó. Các ngươi làm công việc  của cha các ngươi. Chúng nói rằng: Chúng tôi chẳng do dâm loạn  mà sanh ra đâu, chúng tôi chỉ có một Cha là Thiên Chúa. Chúa Giê Su phán: Ví bằng Thiên Chúa là Cha các ngươi thì các ngươi hẳn phải thương yêu Ta  vì Ta vốn từ Thiên Chúa  mà ra và đến chứ chẳng phải tự mình mà đến đâu, nhưng Ngài đã sai Ta. Tại sao các ngươi không hiểu lời Ta ?  Ấy là vì  các ngươi chẳng thể  nghe Đạo Ta. Các ngươi ra từ cha các ngươi  là ma quỷ và các ngươi muốn làm theo tư dục  của cha các ngươi. Từ ban đầu nó là kẻ giết người, chẳng đứng trong sự thật vì trong nó không có sự thật đâu. Khi nó nói dối  thì tự mình nó nói vì nó vốn là kẻ nói dối cũng là cha của sự ấy” ( Ga 8, `34 -44 )

Chúa Giê Su vạch mặt Sa Tan cho thấy nó là kẻ  dối trá, giết người. Như đã biết  quỷ nói với  Nguyên Tổ cứ việc…ăn trái cây biết điều thiện, điều ác đi, mắt sẽ được mở ra giống như Thiên Chúa  nhưng  sự thật. đó là lời nói dối trắng trợn: Mắt xác thịt mở ra còn mắt tâm linh thì bị đóng lại, không còn thấy sự thật, chỉ còn là vô minh, tăm tối…

Đức Giê Su Ki Tô từ Thiên Chúa đến để…Khai Thị tức mở con mắt tâm linh  cho con người bằng cách  truyền dạy Con Đường Tình Yêu hầu nhận biết Thiên Chúa, Đấng Hằng Hữu ở nơi mình: “ Các ngươi đã từng nghe phán: Hãy yêu người thân cận  và ghét kẻ thù nghịch. Nhưng Ta nói cùng các ngươi, hãy yêu kẻ thù nghịch các ngươi và cầu nguyện cho kẻ bắt bớ các ngươi hầu cho  các ngươi được làm con của Cha các ngươi trên trời  bởi Ngài khiến mặt trời  soi trên kẻ ác cùng người thiện. Mưa cho kẻ bất chính cũng như người công chính” ( Mt 5, 43 -45 ).

Với Chúa Giê Su, Thiên Chúa là Đấng Vô Phân Biệt và Ngài  chẳng ở đâu xa mỗi người dù kẻ đó có là thiện hay ác ?:“ Đạo ở gần ngươi, ở trong miệng ngươi và ở trong lòng ngươi tức là Đạo Đức Tin mà chúng tôi rao giảng đây. Vậy nếu miệng ngươi thừa nhận Giê Su là Chúa và lòng ngươi tin Thiên Chúa đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại thì ngươi sẽ được cứu” ( Rm 10, 8 -10 ).

Cần nhìn nhận Đạo Công Giáo như là Đạo Đức Tin  có nghĩa  nhờ vào sự phục sinh của Đức Ki Tô, chúng ta tin  sự hiện hữu của Thiên Chúa, Đấng ở nơi mình. Có tin Thiên Chúa, Đấng ở nơi mình, chúng ta mới hết lòng tìm kiếm và  sống đời yêu thương chân thật được. “ Vả, không có đức tin  thì chẳng thể đẹp lòng  Ngài. Vì kẻ đến cùng Thiên Chúa  cần phải tin rằng Ngài thực hữu và là Đấng ban thưởng  cho kẻ tìm kiếm Ngài” ( Dt 11, 6 ).

Hết lòng tìm kiếm với lòng yêu mến sẽ được Thiên Chúa  ban thưởng  hạnh phúc cả đời này lẫn đời sau. Tuy nhiên cũng  chính vì sự…ban thưởng ấy mà  Đạo Công Giáo khắp  nơi  đã bị thế gian ghen ghét  đến nỗi  muốn trừ khử nó đi. Sự ghen ghét của người đời đối với Đạo Công Giáo là một thực tế lịch sử không thể phủ nhận, chúng ta cần nhận ra nguyên nhân của sự ghét ghen ấy  để từ đó vững tâm  bước đi trên con đường tìm kiếm Sự Thật của Đức Ki Tô.

Cần nhận ra nguyên nhân sâu xa  khiến  Đạo Công Giáo luôn  bị ghen ghét là  do  hậu quả của Tội Phân Biệt Thiện Ác. Một khi  có sự phân biệt, đây là thiện kia là ác thì  người  ta  thường  có thái độ  đứng về phía thiện để chống lại phía ác mà không hề biết rằng điều đó chỉ khiến cho cái ác  càng trở nên…ác hơn. Chẳng hạn chủ nghĩa CS do  Karl Mark và Engel khởi xướng vào TK 19 được rất nhiều người hưởng ứng tin  theo  với lời hô hào  giới vô sản trên toàn thế giới đoàn kết lại để chống giới tư bản, giàu có bóc lột…Không những chỉ chống Tư Bản, các chế độ CS khắp nơi còn  chủ trương  triệt  hạ  04 thành phần được cho là…phản cách mạng bao gồm  Trí, Phú, Địa, Hào. Chủ trương chống lại  mang tính hệ thống đó, hậu quả  đưa đến đó là người giàu, trí thức  bị phân biệt, đối xử  loại trừ, còn người nghèo, thất học lại  càng nghèo thêm, nghèo cả về tài sản lẫn lòng nhân ái v.v…

Ai cũng biết CS luôn chủ trương duy vật, vô thần, nhằm  chống lại niềm tin tôn giáo, cho đó như là  thứ thuốc phiện: “ Cảnh khốn cùng tôn giáo  vừa  là cách diễn tả cảnh khốn cùng thực sự vừa là sự phản kháng cảnh khốn cùng thực sự. Tôn giáo là tiếng than vãn  của thọ tạo bị đàn áp là tâm hồn của một thế giới vô tâm. Cũng như tôn giáo  là tinh thần của  những tình huống vắng bóng tinh thần. Tôn giáo là thuốc phiện của quần chúng.” ( Karl Heinz Weger S.J – Phê Bình Tôn Giáo Qua Các Tác Giả ).

CS phê phán tôn giáo cho đó là thuốc phiện lừa dối nhân dân để rồi  hứa hẹn một Thế Giới Đại Đồng trong đó con người sẽ  làm theo năng lực và hưởng theo nhu cầu ? Tuy nhiên  cái được  gọi là  nhu cầu ấy thực chất  chỉ là  dục vọng, ý riêng, mà ý riêng  chẳng những không bao giờ  thỏa mãn, trái lại theo lời thánh Benado nói: “ Không sự gì cũng không ai có thể làm ta xa cách Thiên Chúa dù cả loài người hay dù cả  các quỷ  trong Hỏa Ngục hợp lại. Không  một sự gì có thể, chỉ trừ ý riêng thôi. Giả thử trong  loài người khỏi được cái tai vạ này: Không còn ai theo ý riêng mình nữa tất sẽ không còn  Hỏa Ngục, nó là kẻ thù phá tiệt mọi nhân đức” ( Thánh Alfongse de Liguori – Kẻ Nữ Tu Thánh Thiện ).

Nếu Ý Riêng là kẻ thù phá tiệt mọi nhân đức thì trái lại thực thi Thánh Ý Chúa lại là nguyên lý  của mọi nhân đức: “ Chẳng phải mỗi kẻ nói cùng Ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa mà vào được Nước Trời đâu. Nhưng chỉ những ai thực thi Thánh Ý Cha Ta mà thôi. Trong ngày đó, nhiều người sẽ nói cùng Ta rằng: Lạy Chúa, chúng tôi há chẳng  từng nhân danh Chúa  mà nói tiên tri sao ? Nhân danh Chúa mà đuổi quỷ sao  và nhân danh Chúa mà làm  nhiều  việc quyền năng sao ? Khi ấy Ta sẽ phán cùng chúng rằng: Ta chẳng hề biết các ngươi, hãy lìa khỏi mặt Ta hỡi những kẻ làm ác kia !” ( Mt 7, 21 – 23 ).

Đối với người đời thì  nói tiên tri, trừ quỷ, làm phép lạ là những việc làm  lớn lao, có giá trị nhưng với Chúa đó lại là…ác. Tại sao vậy ? Bởi vì những việc làm ấy chỉ theo ý riêng mình chứ không theo Ý Chúa. Giữa ý riêng và Ý Chúa  có một vực thẳm cách biệt:“ Thật vậy, tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi và đường lối của Ta cũng không phải là đường lối của các ngươi. Trời cao hơn đất chừng nào  thì đường lối  của Ta cũng cao hơn đường lối các ngươi  chừng ấy” ( Is 55, 8 -9 ).

Có thể nói, toàn bộ việc sống đạo của người Công Giáo  dù trong bất cứ bậc sống nào, giáo sĩ hay giáo dân, mục đích cũng là để thực thi Thánh Ý Chúa. Thế nhưng vấn đề ở chỗ là làm sao để biết đâu là  ý riêng, đâu là Ý Chúa để theo ? Mặc dầu đây là điều rất khó thế nhưng với Chúa thì cái khó ấy lại trở nên không khó, miễn là chúng ta, đặc biệt  những hội viên Legio Mariae biết kết hợp với Đức Maria trong lời cầu nguyện cũng như công tác của mình: “ Như vậy, con được thanh sạch trong Đấng mà Chúa đã dựng nên Vô Nhiễm Nguyên Tội. Và nhờ Chúa  mà Đức Ki Tô, Chúa của chúng con cũng được lớn lên trong con. Nhờ đó, con có thể đưa Chúa Ki Tô đến với thế giới và những linh hồn cần đến Người nhờ Đức Maria  là Mẹ Chúa. Như vậy, những linh hồn ấy và con, sau khi thắng trận, được ngự trị đời đời  cùng Đức Maria  trong vinh quang Thiên Chúa Ba Ngôi” ( TB chương 15. Câu số 169 – Kinh Tuyên Hứa )./.

Phùng  Văn  Hóa