2. Cảm Nghiệm Sống Lời Chúa

BƯỚC ĐI BẰNG TÌNH YÊU

Tìm ra đâu hạnh phúc

Trong đau thương, nước mắt

Và thất bại, đắng cay

Nơi cuộc sống từng ngày

Còn bao nhiêu trăn trở

Với những lần đổ vỡ

Mang ngậm ngùi, xót xa

Một thân xác tàn tạ

Trải qua đầy sóng gió

Kiếp gian trần nắng mưa

Nay chỉ tìm về Chúa

Đặt tất cả ước mơ

Cho trái tim rộng mở

Để bàn tay sẻ chia

Bên thập giá của Ngài

Mời gọi con đứng dậy

Bước đi bằng tình yêu

Sống yêu thương thật nhiều

Hầu trở nên giống Chúa.

 

Lm Trọng Khẩn  

PHÚC VÀ NGHIỆP TRONG ĐẠO CHÚA

Phúc hay phước và Nghiệp là hai lãnh vực  tưởng chừng khác biệt, nhưng  lại có  mối tương quan  chặt chẽ  với  nhau; trong đó Nghiệp là Nhân còn Phúc là Quả. Có nhận ra được mối tương quan ấy, chúng ta mới có thể vững tâm  bước đi trên con đường Bỏ Mình theo Chúa: “ Ai muốn theo Ta thì hãy bỏ mình vác thập giá mình hàng ngày mà theo. Vì hễ ai muốn cứu mạng sống mình thì phải mất. Còn hễ ai vì cớ Ta mà mất mạng sống mình thì sẽ tìm lại được. Vì chưng lời lãi cả và thế gian mà mất linh hồn mình thì nào được ích gì ?” ( Lc 9, 23 -25 ).

Đạo lý “ Bỏ Mình” của Đức Ki Tô là một nghịch lý: Muốn cứu lại mất, bỏ đi lại được. Thế nhưng chính cái…nghịch lý ấy  đã làm nên các vị thánh lớn của Đạo Công Giáo chẳng hạn thánh Phan Xi Co d’Assisi, thánh Phan Xi Co Xavie’  thánh Alphongse de Liugori…cũng như  các thánh tử đạo  trên khắp thế giới ! Mặt khác cũng với lời khuyên  dạy:“ Được lời lãi cả và thế gian mà mất linh hồn thì nào được ích gì” ấy đã khiến Đạo Công Giáo có được sự vững vàng trong đức tin trải qua bao thế hệ…Nhưng  thật đáng buồn ! đức tin chân thật ấy  dường như đã bị đổ vỡ trầm trọng và vì thế  tình trạng Bỏ Đạo  đã  diễn ra hàng loạt trên khắp các nước Âu Mỹ như  đang thấy  hiện nay !!!

Theo thống kê của PEW, một trung tâm độc lập của Mỹ ngày 25/ 2/ 2008  cho  biết  số người  rời bỏ Thiên Chúa Giáo  ngày càng tăng nhanh và Công Giáo là tôn giáo có số tín đồ bỏ đạo nhiều nhất. Ở Mỹ, Công Giáo chiếm tỷ lệ 31%  nhưng chỉ có chừng 24%  người Công Giáo còn nhìn nhận họ là Công Giáo có nghĩa  hiện có tới 76% người CG đã bỏ đạo !!!

Trong số 24% còn nhận mình là Công Giáo ấy, thử hỏi có được bao nhiêu người  còn sống đạo có nghĩa còn thực sự sống đức tin của mình ? Về việc người Công Giáo nói riêng  và Ky Tô Giáo nói chung bao gồm  các hệ phái như Tin Lành, Chính Thống, Anh Giáo đã…bỏ đạo, chắc hẳn phải có nguyên do quan trọng nào đó ? Theo tôi nguyên do chủ yếu chính là vì niềm tin  bấy lâu  vào sự hiện hữu của  Đấng Thiên Chúa Toàn Thiện, Toàn Năng  đã bị…khai tử bằng cái gọi là Thần Học về Cái Chết Của Thiên Chúa ( The’ologie de la mort de Dieu ).

Thần Học, từ bao lâu nay vẫn được nhìn nhận như là khoa học hiểu biết về Thiên Chúa, nay lại tuyên bố cái chết của Ngài  như thế, thử hỏi làm sao đức tin không bị tan  vỡ và một khi đức tin đã…vỡ thì mệnh lệnh Yêu Mến Thiên Chúa đâu còn  giá trị gì nữa ?

Cơn khủng hoảng cũng là tấn bi kịch của thế giới Tây Phương hiện nay  không thể không diễn ra một khi  mệnh lệnh  yêu mến Thiên Chúa Đấng là nguồn cội của Tình  Yêu và Trí Tuệ bị…phá sản ? Thực sự thì Thiên Chúa không đời nào…chết, cái chết do Thần Học tuyên bố chỉ là một khái niệm nào đó chứ không phải Thiên Chúa như đích thực Ngài Là ( Ego Sum Qui Sum – Xh 3, 14 ).

Thiên Chúa là Đấng Hằng Hữu, Tự Hữu, Ngài đòi buộc con người phải hết lòng yêu mến và tuân giữ các Giới Răn để được sống:“ Vậy, hỡi Itsraen, bây giờ Giehova ĐCT ngươi đòi hỏi ngươi điều  chi ? Há chẳng phải đòi ngươi kính sợ Giehova ĐCT ngươi, đi theo các đường lối Ngài, hết lòng hết ý kính mến và phụng sự Giehova ĐCT ngươi, giữ các giới răn  và luật lệ của  Đức Giehova mà Ta truyền cho ngươi ngày nay để ngươi được phước” ( Đnl 10, 12 -13 ).

Mệnh lệnh được ban cho những ai có lòng kính sợ Thiên Chúa, tuân giữ các giới răn của Ngài sẽ được vô vàn ơn phúc. Ngược lại  sẽ  bị tru diệt: “ Ngày nay, Ta  bắt trời và đất làm chứng cho các ngươi rằng: Ta đã đặt trước mặt các ngươi sự sống và sự chết, sự phước lành và sự nguyền rủa. Vậy, hãy chọn  sự sống hầu cho ngươi và dòng dõi ngươi được sống, thương mến Giehova ĐCT ngươi, vâng theo tiếng phán Ngài  và trìu mến Ngài. Vì Ngài  là sự sống ngươi  và làm cho ngươi  được sống lâu dài  đặng ở trên đất mà Đức Giehova đã thề hứa ban cho các tổ phụ ngươi là Apraham, Isaac và Giacop” ( Đnl 30, 19 -20 ).

“ Đất” được hứa ban ở đây không phải là Canaan nơi miền Trung Đông, đó chỉ là hình bóng của Nước Trời mầu nhiệm trong Tân Ước mà  Chúa Giê Su rao giảng: “ Người Pharisieu hỏi Chúa Giê Su  về Nước Thiên Chúa chừng nào đến thì Ngài đáp: Nước Thiên Chúa không đến cách mắt thấy được. Người ta cũng không thể nói: Đây này hay đó kia, vì này Nước Thiên Chúa ở trong các ngươi” ( Lc 17, 20 -21 ).

Không thể nói Nước Thiên Chúa, ở đây hay ở kia, bởi chưng đó là Thực Tại Tâm mầu nhiệm siêu việt cả không gian lẫn thời gian. Thực Tại ấy  con người chỉ có thể đạt được  khi quay về và sống với Bản Tâm Chân Thật  của mình: “ Luật pháp và tiên tri đến Gioan Baptist là hết. Rồi từ đó Tin Mừng được rao giảng ra và  ai nấy đều phải nỗ lực mà vào. Nhưng trời đất qua đi còn dễ hơn là một cái phết ( phảy ) của luật pháp  bị dứt mất” ( Lc 16, 16 -17 ).

Chúa Giê Su không  bãi bỏ Luật Pháp  nhưng đến để kiện toàn  và sự kiện toàn ấy đã được tiên báo ngay  trong thời Cựu Ước: “ Chúa lại phán: Này là Giao Ước Ta sẽ lập với nhà Itsraen: Sau những ngày đó, Ta sẽ để luật pháp Ta trong tâm trí họ, ghi  tạc nó vào lòng, Ta sẽ làm ĐCT của  chúng và chúng sẽ làm Dân của Ta” ( Dt 8, 10 ).

Trong Tân Ước, Đức Giê Su Ki Tô mạc khải về Đấng Thiên Chúa chẳng ai từng thấy biết ( Deus Abconsditus ) và Ngài gọi Đấng  ấy là  Cha: “ Cha Ta đã giao mọi sự cho Ta, Ngoài Cha không ai biết Con. Ngoài con và những ai Con muốn mạc khải cũng  không ai biết Cha” ( Lc 10, 22 ). “ Biết Cha” đây không phải là cái biết bằng tri giác hay lý trí nhưng  bằng Tình   Yêu vô phân biệt: “ Hỡi kẻ yêu dấu, chúng ta hãy yêu thương nhau vì sự yêu thương đến từ Thiên Chúa. Hễ ai yêu thương thì sanh bởi Thiên Chúa và nhận biết Thiên Chúa. Còn ai chẳng có lòng thương yêu thì không thể nhận biết Thiên Chúa vì Thiên Chúa là Tình  Yêu. Sự thương yêu của Thiên Chúa  đối với chúng ta  thể hiện trong điều này: Thiên Chúa đã sai Con Một của Ngài đến thế gian hầu cho chúng ta nhờ Con mà được sống” ( 1Ga 4, 7 -9 ).

Sự sống  Đức Giê Su Ki Tô đem đến cho nhân loại đó là  Sự Sống Viên Mãn Đời Đời chứ không phải  sự sống vật chất thế gian ! Ước muốn ngàn đời  của con người  là được sống trong an bình, hạnh phúc. Thế nhưng có điều…trái khoáy, một đàng  thì muốn  hạnh phúc, một đàng  người  ta  lại  hủy  nó đi bằng lối  sống  buông theo  dục vọng, để thỏa mãn  ý riêng mình ! Đang khi đó, dục vọng giống như  lửa hừng nung đốt. Người mong mỏi hạnh phúc mà không từ bỏ dục vọng, ý riêng  thì cũng giống  như dìm mình trong lửa, lại  hy vọng không bị, thiêu đốt, cháy bỏng ? Mong mỏi hạnh phúc mà không từ bỏ dục vọng, ý riêng đó là điều không  bao giờ có thể  có  được ! Tuy nhiên, việc từ bỏ  ý riêng ấy sẽ  là  bất khả  bao lâu  con người  vẫn còn  sống trong vòng trói buộc  của Nghiệp Lực Vô Minh.

Nghiệp được định nghĩa như là Tác Ý, tất cả những hành động có chủ ý được thể hiện qua Thân, Khẩu, Ý đều tạo thành cái  Nghiệp cho mỗi người. Nói  cho dễ hiểu, Nghiệp chẳng qua là những thói quen, tập quán đã hình thành qua nhiều  tháng, năm, ví dụ như một cậu thiếu niên nghe theo lời rủ rê của bạn bè xấu, tập tành uống rượu, hút thuốc, chích choác….Ban đầu thấy khó chịu có khi nôn ọe nhưng  ngày qua ngày lại đã trở thành  nghiện ngập lúc nào không hay  v.v…

Về  vấn đề Tạo  Nghiệp, Chúa Giê Su cũng nói không khác khi Ngài nặng lời  quở trách những người Pharisieu giả hình  đạo đức: “ Ớ dòng dõi  rắn độc kia, các ngươi là ác, làm sao có thể nói lời thiện được ? Vì do sự đầy dẫy trong lòng mà miệng mới nói ra. Người thiện do chứa thiện mà phát ra điều thiện. Kẻ ác do chứa ác mà phát ra điều ác” ( Mt 12, 34 -35 ).

Chúa nói: “ Chứa” ở đây chính là Tác Ý là… tạo nghiệp và bất cứ  thứ Nghiệp nào dù thiện hay ác đều từ nơi Tâm mà phát khởi  để  rồi  phải  lãnh lấy  hậu quả  tương ứng. Trong thiên Thái Thượng Cảm Ứng, Lão Tử viết: “ Họa, Phúc không có cửa, tự nơi người rước lấy. Quả báo của điều thiện, điều ác  không khác nào như bóng theo hình. Cho nên những người nghĩ thiện dù thiện chưa được làm Cát Thần  cũng đã theo liền bên cạnh. Người nghĩ ác dù điều ác chưa  làm thì Hung Thần  cũng đã theo liền bên cạnh. Song làm ác mà sau biết ăn năn, sửa lỗi thì lâu ngày cũng sẽ gặp được sự lành và như thế gọi là chuyển Họa ra Phúc vậy” ( Minh Tâm Bửu Giám – Thiên Kế Thiện ).

Nghiệp không cố định mà có thể  chuyển, tức chuyển từ Nghiệp Thế Gian sang Nghiệp Xuất Thế Gian. Người đời  bởi Nghiệp mà sinh ra rồi cũng vì Nghiệp mà chết đi. Trái lại Ky Tô Hữu chúng ta là con cái Chúa, được sinh ra trong Bí Tích Thánh Tẩy như lời thánh Le’on Nativ nói: “ Cùng một năng lực của Đấng  Chí Cao, cùng một tác động của Chúa Thánh Thần đã làm cho Đức Maria  sinh ra Đấng Cứu Chuộc cũng làm cho người tín hữu được sinh ra trong nước tái sinh” ( M.V Bernado O.P – Mẹ Trong Đời Tôi ).

Được sinh ra bởi Chúa, rồi khi chết đi chúng ta lại được về với Chúa. Chỉ với niềm tin chân thành ấy mới đem lại cho con người niềm hy vọng  đích thực, trái lại thì không. Tuy nhiên đức tin cần  gắn với việc làm, đó là tích cực  bước đi trên con đường giải thoát của Đức Ki Tô: “ Con đã ban  Đạo Cha cho họ mà thế gian ghen ghét họ vì họ không thuộc về thế gian cũng như Con không thuộc về thế gian vậy. Con chẳng xin Cha cất họ khỏi thế gian nhưng xin Cha gìn giữ họ khỏi sự ác. Họ không thuộc về thế gian cũng như Con không thuộc về thế gian. Xin Cha lấy lẽ thật khiến họ nên thánh, Đạo Cha là lẽ thật” ( Ga 17, 14 -17 ).

Đi trên  đường giải thoát sẽ bị thế gian ghen ghét, Chúa Giê Su đã báo trước điều đó. Thế nhưng chính thực tế lịch sử ấy mới  chứng tỏ Đạo Công Giáo là… Đạo Thật. Giả dụ như Đạo Công Giáo không bị thế gian ghét bỏ, bách hại thì đó không phải là Đạo Thật  như lời Chúa nói. Mặc dầu vậy, có  vấn đề hết sức sâu  xa  cần đặt ra đó là lý do tại sao  Đạo Công Giáo lại bị ghen ghét  như thế  và sự ghét ghen ấy từ đâu mà đến?

Để trả lời thỏa  đáng cho hai câu hỏi trên đây, thiết nghĩ  chúng ta cần trở lại với câu chuyện  mang tính biểu tượng đầy tính minh triết  nơi  Vườn Địa Đàng  cùng với  sự lừa dối của Rắn Sa Tan: “ Vả, trong các loài thú đồng mà Gia Vê ĐCT  đã làm nên, có con rắn là giống quỷ quyệt hơn hết. Rắn nói cùng người nữ rằng: Có thật  Đức Chúa  đã  phán dạy các ngươi không được ăn mọi thứ cây, trái trong vườn không ? Người nữ  đáp: Chúng ta được ăn trái  các cây trong vườn, song về  trái của cây mọc giữa vườn thì Đức Chúa phán dạy: Hai người chẳng nên ăn đến và cũng chẳng nên đá động gì đến, e khi hai người phải chết chăng ? Rắn bèn nói với người nữ rằng: Chẳng chết chóc gì đâu, nhưng Đức Chúa  biết rằng hễ ngày nào hai người ăn trái cây đó, mắt mình  mở ra  sẽ như Đức Chúa, biết điều thiện và điều ác…

…Người nữ thấy trái của cây đó coi bộ ăn ngon, lại đẹp mắt và quí  để mở trí khôn, bèn hái ăn rồi trao cho chồng đang đứng gần mình ăn nữa. Đoạn, mắt hai người  đều mở ra, biết rằng mình lõa lồ bèn lấy lá cây  vả đóng khố che thân” ( St 3, 1 -8 ).

Sự xảo quyệt của Rắn Sa Tan chính là ở chỗ, nó lừa được Nguyên Tổ mà lại như không…có vẻ lừa chút nào ! Một đàng Đức Chúa nói không được ăn, một đàng nó lại  nói cứ ăn, chẳng chết đâu ? Đúng là  nguyên tổ không  những không chết mà mắt lại còn…mở ra ? Tuy nhiên, mắt mở ra ấy là con mắt xác thịt, khi  mắt xác thịt mở thì mắt tâm linh phải đóng lại để không thể  thấy  được  Sự Thật như nó là…

Con mắt xác thịt đây chính là Lý Trí Phân Biệt, thánh Phao Lô gọi  đó  là  khôn ngoan thế gian, nó hoàn toàn chống trái với khôn ngoan Thiên Chúa cũng gọi là  khôn ngoan  thập giá Chúa Ki Tô:“ Bởi chưng đạo  thập tự giá đối với những kẻ bị hư mất thì là  ngu dại. Song đối với chúng ta là người được cứu thoát thì là quyền năng của Thiên Chúa. Vì có lời chép rằng: Ta sẽ hủy diệt khôn ngoan của người khôn ngoan. Loại bỏ sự thông sáng của  người thông sáng. Người khôn ngoan ở đâu ? Văn sĩ ở đâu ? Biện sĩ ( Luật Sư ) đời này ở đâu ? Thiên Chúa há chẳng làm sự khôn ngoan của thế gian  này ra ngu dại ư ? Vì  tại thế gian cậy sự khôn ngoan mình  chẳng do sự khôn ngoan Thiên Chúa cho nên Thiên Chúa  vui lòng dùng sự  ngu dại  của đạo chúng ta  rao giảng mà cứu rỗi những kẻ tin” ( 1C  1, 18 -21 ).

Rắn Sa Tan đã  thành công trong  việc  cám dỗ Nguyên Tổ…ăn trái cấm, cái trái “ Coi bộ ăn ngon lại đẹp mắt và quí để mở trí khôn” ấy. Sự thành công của Sa Tan lại chính là thất bại của Nguyên Tổ chỉ vì đã không vâng lời Đức Chúa, cứ cố tình…ăn Trái Cây  Phân Biệt Thiện Ác  để rồi đã bị đuổi ra khỏi Vườn Địa Đàng, chịu muôn vàn khổ đau, cay đắng: “ Đất sẽ sanh chông gai, cây trái đắng đót và ngươi sẽ ăn rau cỏ ngoài đồng. Ngươi sẽ phải làm lụng đổ mồ hôi trán mới có cái để mà ăn cho đến ngày nào ngươi trở về đất là nơi mà có ngươi ra  vì ngươi là bụi đất sẽ trở về đất bụi” ( St 3, 18 -19 ).

Như đã biết Nguyên Tổ không vâng lệnh Đức Chúa, cố tình ăn Trái Phân Biệt Thiện Ác nên đã bị đuổi ra khỏi Vườn Địa Đàng. Sự cố tình ấy, nó chính là  Tạo Nghiệp Thế Gian và  một khi đã vướng vào Nghiệp Thế Gian thì sẽ không  cách chi  thoát khổ, bởi  đã bị Sa Tan lừa dối dẫn dắt  vào con đường  nô lệ tội lỗi.Chúa Giê Su nói với người Do Thái:

“ Thật, tôi bảo thật các ông: hễ ai phạm tội thì làm nô lệ cho tội. Còn tôi mọi thì không được ở trong nhà luôn, chỉ con mới được ở trong nhà luôn. Vậy nếu Con giải thoát  các ngươi thì các ngươi được tự do thật sự. Ta biết rằng các ngươi là dòng giống Apraham, nhưng các ngươi lại tìm cách giết Ta vì Đạo Ta không tiến hành được trong  các ngươi. Ta nói điều Ta đã thấy nơi Cha Ta, còn các ngươi  thì làm điều các ngươi  đã nghe ở nơi cha các ngươi…

…Chúng đáp rằng: Cha chúng tôi là Apraham. Chúa Giê Su phán: Nếu các ngươi là con cái Apraham thì chắc phải làm  công việc của Apraham. Nhưng nay các ngươi tìm cách giết Ta là người lấy lẽ thật  đã nghe ở nơi Thiên Chúa mà nói cho các ngươi. Apraham chẳng hề làm điều đó. Các ngươi làm công việc  của cha các ngươi. Chúng nói rằng: Chúng tôi chẳng do dâm loạn  mà sanh ra đâu, chúng tôi chỉ có một Cha là Thiên Chúa. Chúa Giê Su phán: Ví bằng Thiên Chúa là Cha các ngươi thì các ngươi hẳn phải thương yêu Ta  vì Ta vốn từ Thiên Chúa  mà ra và đến chứ chẳng phải tự mình mà đến đâu, nhưng Ngài đã sai Ta. Tại sao các ngươi không hiểu lời Ta ?  Ấy là vì  các ngươi chẳng thể  nghe Đạo Ta. Các ngươi ra từ cha các ngươi  là ma quỷ và các ngươi muốn làm theo tư dục  của cha các ngươi. Từ ban đầu nó là kẻ giết người, chẳng đứng trong sự thật vì trong nó không có sự thật đâu. Khi nó nói dối  thì tự mình nó nói vì nó vốn là kẻ nói dối cũng là cha của sự ấy” ( Ga 8, `34 -44 )

Chúa Giê Su vạch mặt Sa Tan cho thấy nó là kẻ  dối trá, giết người. Như đã biết  quỷ nói với  Nguyên Tổ cứ việc…ăn trái cây biết điều thiện, điều ác đi, mắt sẽ được mở ra giống như Thiên Chúa  nhưng  sự thật. đó là lời nói dối trắng trợn: Mắt xác thịt mở ra còn mắt tâm linh thì bị đóng lại, không còn thấy sự thật, chỉ còn là vô minh, tăm tối…

Đức Giê Su Ki Tô từ Thiên Chúa đến để…Khai Thị tức mở con mắt tâm linh  cho con người bằng cách  truyền dạy Con Đường Tình Yêu hầu nhận biết Thiên Chúa, Đấng Hằng Hữu ở nơi mình: “ Các ngươi đã từng nghe phán: Hãy yêu người thân cận  và ghét kẻ thù nghịch. Nhưng Ta nói cùng các ngươi, hãy yêu kẻ thù nghịch các ngươi và cầu nguyện cho kẻ bắt bớ các ngươi hầu cho  các ngươi được làm con của Cha các ngươi trên trời  bởi Ngài khiến mặt trời  soi trên kẻ ác cùng người thiện. Mưa cho kẻ bất chính cũng như người công chính” ( Mt 5, 43 -45 ).

Với Chúa Giê Su, Thiên Chúa là Đấng Vô Phân Biệt và Ngài  chẳng ở đâu xa mỗi người dù kẻ đó có là thiện hay ác ?:“ Đạo ở gần ngươi, ở trong miệng ngươi và ở trong lòng ngươi tức là Đạo Đức Tin mà chúng tôi rao giảng đây. Vậy nếu miệng ngươi thừa nhận Giê Su là Chúa và lòng ngươi tin Thiên Chúa đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại thì ngươi sẽ được cứu” ( Rm 10, 8 -10 ).

Cần nhìn nhận Đạo Công Giáo như là Đạo Đức Tin  có nghĩa  nhờ vào sự phục sinh của Đức Ki Tô, chúng ta tin  sự hiện hữu của Thiên Chúa, Đấng ở nơi mình. Có tin Thiên Chúa, Đấng ở nơi mình, chúng ta mới hết lòng tìm kiếm và  sống đời yêu thương chân thật được. “ Vả, không có đức tin  thì chẳng thể đẹp lòng  Ngài. Vì kẻ đến cùng Thiên Chúa  cần phải tin rằng Ngài thực hữu và là Đấng ban thưởng  cho kẻ tìm kiếm Ngài” ( Dt 11, 6 ).

Hết lòng tìm kiếm với lòng yêu mến sẽ được Thiên Chúa  ban thưởng  hạnh phúc cả đời này lẫn đời sau. Tuy nhiên cũng  chính vì sự…ban thưởng ấy mà  Đạo Công Giáo khắp  nơi  đã bị thế gian ghen ghét  đến nỗi  muốn trừ khử nó đi. Sự ghen ghét của người đời đối với Đạo Công Giáo là một thực tế lịch sử không thể phủ nhận, chúng ta cần nhận ra nguyên nhân của sự ghét ghen ấy  để từ đó vững tâm  bước đi trên con đường tìm kiếm Sự Thật của Đức Ki Tô.

Cần nhận ra nguyên nhân sâu xa  khiến  Đạo Công Giáo luôn  bị ghen ghét là  do  hậu quả của Tội Phân Biệt Thiện Ác. Một khi  có sự phân biệt, đây là thiện kia là ác thì  người  ta  thường  có thái độ  đứng về phía thiện để chống lại phía ác mà không hề biết rằng điều đó chỉ khiến cho cái ác  càng trở nên…ác hơn. Chẳng hạn chủ nghĩa CS do  Karl Mark và Engel khởi xướng vào TK 19 được rất nhiều người hưởng ứng tin  theo  với lời hô hào  giới vô sản trên toàn thế giới đoàn kết lại để chống giới tư bản, giàu có bóc lột…Không những chỉ chống Tư Bản, các chế độ CS khắp nơi còn  chủ trương  triệt  hạ  04 thành phần được cho là…phản cách mạng bao gồm  Trí, Phú, Địa, Hào. Chủ trương chống lại  mang tính hệ thống đó, hậu quả  đưa đến đó là người giàu, trí thức  bị phân biệt, đối xử  loại trừ, còn người nghèo, thất học lại  càng nghèo thêm, nghèo cả về tài sản lẫn lòng nhân ái v.v…

Ai cũng biết CS luôn chủ trương duy vật, vô thần, nhằm  chống lại niềm tin tôn giáo, cho đó như là  thứ thuốc phiện: “ Cảnh khốn cùng tôn giáo  vừa  là cách diễn tả cảnh khốn cùng thực sự vừa là sự phản kháng cảnh khốn cùng thực sự. Tôn giáo là tiếng than vãn  của thọ tạo bị đàn áp là tâm hồn của một thế giới vô tâm. Cũng như tôn giáo  là tinh thần của  những tình huống vắng bóng tinh thần. Tôn giáo là thuốc phiện của quần chúng.” ( Karl Heinz Weger S.J – Phê Bình Tôn Giáo Qua Các Tác Giả ).

CS phê phán tôn giáo cho đó là thuốc phiện lừa dối nhân dân để rồi  hứa hẹn một Thế Giới Đại Đồng trong đó con người sẽ  làm theo năng lực và hưởng theo nhu cầu ? Tuy nhiên  cái được  gọi là  nhu cầu ấy thực chất  chỉ là  dục vọng, ý riêng, mà ý riêng  chẳng những không bao giờ  thỏa mãn, trái lại theo lời thánh Benado nói: “ Không sự gì cũng không ai có thể làm ta xa cách Thiên Chúa dù cả loài người hay dù cả  các quỷ  trong Hỏa Ngục hợp lại. Không  một sự gì có thể, chỉ trừ ý riêng thôi. Giả thử trong  loài người khỏi được cái tai vạ này: Không còn ai theo ý riêng mình nữa tất sẽ không còn  Hỏa Ngục, nó là kẻ thù phá tiệt mọi nhân đức” ( Thánh Alfongse de Liguori – Kẻ Nữ Tu Thánh Thiện ).

Nếu Ý Riêng là kẻ thù phá tiệt mọi nhân đức thì trái lại thực thi Thánh Ý Chúa lại là nguyên lý  của mọi nhân đức: “ Chẳng phải mỗi kẻ nói cùng Ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa mà vào được Nước Trời đâu. Nhưng chỉ những ai thực thi Thánh Ý Cha Ta mà thôi. Trong ngày đó, nhiều người sẽ nói cùng Ta rằng: Lạy Chúa, chúng tôi há chẳng  từng nhân danh Chúa  mà nói tiên tri sao ? Nhân danh Chúa mà đuổi quỷ sao  và nhân danh Chúa mà làm  nhiều  việc quyền năng sao ? Khi ấy Ta sẽ phán cùng chúng rằng: Ta chẳng hề biết các ngươi, hãy lìa khỏi mặt Ta hỡi những kẻ làm ác kia !” ( Mt 7, 21 – 23 ).

Đối với người đời thì  nói tiên tri, trừ quỷ, làm phép lạ là những việc làm  lớn lao, có giá trị nhưng với Chúa đó lại là…ác. Tại sao vậy ? Bởi vì những việc làm ấy chỉ theo ý riêng mình chứ không theo Ý Chúa. Giữa ý riêng và Ý Chúa  có một vực thẳm cách biệt:“ Thật vậy, tư tưởng của Ta không phải là tư tưởng của các ngươi và đường lối của Ta cũng không phải là đường lối của các ngươi. Trời cao hơn đất chừng nào  thì đường lối  của Ta cũng cao hơn đường lối các ngươi  chừng ấy” ( Is 55, 8 -9 ).

Có thể nói, toàn bộ việc sống đạo của người Công Giáo  dù trong bất cứ bậc sống nào, giáo sĩ hay giáo dân, mục đích cũng là để thực thi Thánh Ý Chúa. Thế nhưng vấn đề ở chỗ là làm sao để biết đâu là  ý riêng, đâu là Ý Chúa để theo ? Mặc dầu đây là điều rất khó thế nhưng với Chúa thì cái khó ấy lại trở nên không khó, miễn là chúng ta, đặc biệt  những hội viên Legio Mariae biết kết hợp với Đức Maria trong lời cầu nguyện cũng như công tác của mình: “ Như vậy, con được thanh sạch trong Đấng mà Chúa đã dựng nên Vô Nhiễm Nguyên Tội. Và nhờ Chúa  mà Đức Ki Tô, Chúa của chúng con cũng được lớn lên trong con. Nhờ đó, con có thể đưa Chúa Ki Tô đến với thế giới và những linh hồn cần đến Người nhờ Đức Maria  là Mẹ Chúa. Như vậy, những linh hồn ấy và con, sau khi thắng trận, được ngự trị đời đời  cùng Đức Maria  trong vinh quang Thiên Chúa Ba Ngôi” ( TB chương 15. Câu số 169 – Kinh Tuyên Hứa )./.

Phùng  Văn  Hóa

SỰ PHỤC SINH CỦA THÂN XÁC

Mùa Phục Sinh đang được cử hành, và chúng ta không chỉ vui mừng trước sự Phục Sinh của Chúa Kitô, mà còn vui mừng trước ý nghĩa của điều này đối với chính thân xác chúng ta: trong Ngày Phán Xét Cuối Cùng, thân xác chúng ta cuối cùng cũng sẽ được giải thoát khỏi mồ mả để được phục hồi về với linh hồn. Đây là một điều răn, điều thứ mười một, điều mà chúng ta tái khẳng định mỗi Chúa Nhật trong Kinh Tin Kính khi lặp lại: “Tôi tin xác loài người ngày sau sẽ sống lại.”

Tuy nhiên, điều này có vẻ hơi mơ hồ; nó có nghĩa gì trong thực tế? Theo Thánh Augustinô, được trích dẫn trong Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo, đây cũng là điều răn bị thách thức nhiều nhất: “Trong đức tin Kitô giáo, không có việc nào bị chống đối cách mạnh mẽ, dai dẳng, quyết liệt và hăng hái cho bằng vấn đề thân xác sống lại” (GLHTCG, số 996).

Điều này thật đáng tiếc, bởi vì xét cho cùng, điều hấp dẫn nhất về thiên đàng lại chính là những gì xảy ra với thân xác, chứ không phải với linh hồn. Chúng ta đều biết rằng niềm vui chính yếu của thiên đàng là sự chiêm ngưỡng hạnh phúc: “Những ai chết trong ân sủng và tình bằng hữu của Thiên Chúa, và những ai đã được thanh luyện trọn vẹn, thì được sống muôn đời với Chúa Kitô. Muôn đời họ sẽ giống như Thiên Chúa, bởi vì họ thấy Ngài “như Ngài là” (1 Ga 3,2), “mặt giáp mặt” (GLHTCG, số 1023). Nhưng điều đó quá trừu tượng đến nỗi có lẽ khiến chúng ta ít xúc động.

Sách Giáo lý của Giáo hội Công giáo không đi sâu vào chi tiết về các phẩm chất của thân xác phục sinh, chỉ nói rằng thân xác phục sinh sẽ được thánh hóa và biến đổi trong Chúa Kitô. Nhưng thực tế, điều đó vẫn còn quá trừu tượng để khiến chúng ta quá phấn khích. Chúng ta phải quay lại Sách Giáo lý Rôma, còn được gọi là Sách Giáo lý của Công đồng Trentô năm 1566, để đi vào trọng tâm vấn đề, một cách thích hợp. Trong số những điều khác, sách này trích dẫn Thánh Augustinô rằng sau khi thân xác phục sinh:

Khi ấy sẽ không còn sự biến dạng thân xác; nếu ai đó bị thừa mỡ, họ sẽ không lấy lại được toàn bộ trọng lượng cũ. Tất cả những gì vượt quá tỷ lệ thích hợp sẽ được coi là dư thừa. Mặt khác, nếu thân xác bị suy nhược do bệnh tật hoặc tuổi già, hoặc bị gầy yếu vì bất kỳ nguyên nhân nào khác, nó sẽ được phục hồi bởi quyền năng thiêng liêng của Chúa Kitô, Đấng không chỉ phục hồi thân xác cho chúng ta, mà còn bù đắp bất cứ điều gì nó đã mất do sự khốn khổ của cuộc sống này. Ở một chỗ khác, Ngài nói: Con người sẽ không lấy lại được mái tóc cũ của mình, nhưng sẽ được trang điểm bằng những kiểu tóc phù hợp với mình, theo lời: “Ngay đến tóc trên đầu anh em, Ngài cũng đếm cả rồi” (Mt 10: 30).

Cuối cùng, đây là điều chúng ta muốn nghe. Tất cả những cân thừa tích tụ và “gánh nặng” cho chúng ta sẽ biến mất, và chúng ta sẽ không còn phải lo lắng về mớ tóc thưa thớt mà chúng ta đã than thở suốt nhiều năm, mà thay vào đó, chúng ta sẽ có mái tóc mà Chúa muốn ban cho, có lẽ là dày và óng ả, vì dù sao đây cũng là thiên đàng. Chắc chắn đây sẽ là một trong những niềm vui lớn lao của thiên đàng: được ngắm nhìn hết thân hình tuyệt đẹp này đến thân hình tuyệt đẹp khác, và tất nhiên chúng ta sẽ chẳng phiền lòng chút nào khi bản thân mình cũng là đối tượng được người khác ngắm nhìn.

Dĩ nhiên, khi chúng ta ở trên thiên đàng, nhờ ơn ban của Thiên Chúa, chúng ta sẽ thực sự đắm chìm trong vẻ đẹp hạnh phúc đến nỗi cân nặng, mái tóc và tất cả những thứ khác sẽ trở nên không đáng kể… nhưng không phải bây giờ. Chúng ta không nghĩ nhiều về vẻ đẹp hạnh phúc ấy như lẽ ra phải thế, nhưng chúng ta lại nghĩ rất nhiều về mái tóc thưa dần, vòng bụng ngày càng to ra, làn da dần trở nên nhăn nheo, vốn từng hoàn hảo khi còn trẻ, than ôi, giá như hồi đó chúng ta biết trân trọng nó hơn, và tất cả những bộ phận khác của cơ thể đang xuống cấp. Và không chỉ là chúng ta nghĩ về điều đó: chúng ta làm hầu hết mọi thứ để giảm cân, có thân hình săn chắc, giữ gìn hoặc phục hồi mái tóc bù xù, xóa mờ nếp nhăn, tóm lại, tất cả chỉ để trông đẹp hơn. Và điều đó là đúng đắn, bởi vì Chúa đã tạo ra chúng ta không chỉ để thánh thiện về mặt tâm linh, mà còn để đẹp về mặt thể chất, thực sự đẹp.

Trong cuộc sống này, sau một thời điểm nhất định, chúng ta đang chiến đấu một trận chiến vô vọng trên phương diện nhan sắc. “Con người bên ngoài” đang tàn phai, như Thánh Phaolô đã nói: “Dù con người bên ngoài của chúng tôi có tiêu tan đi, thì con người bên trong của chúng tôi ngày càng đổi mới. Thật vậy, một chút gian truân tạm thời trong hiện tại sẽ mang lại cho chúng ta cảmột khối vinh quang vô tận, tuyệt vời. Vì thế, chúng ta mới không chú tâm đến những sự vật hữu hình, nhưng đến những thực tại vô hình. Quả vậy, những sự vật hữu hình thì chỉ tạm thời, còn những thực tại vô hình mới tồn tại vĩnh viễn” (2 Côrintô 4:16).

Nhưng dù vậy, một ngày nào đó, mỗi người, sau khi đã chiến đấu hết sức mình, sẽ trở nên xinh đẹp hơn cả những gì họ tưởng tượng.

Chuyển ngữ: Phêrô Phạm Văn Trung

‍từ  https://thecatholicherald.com

CHIÊM NIỆM KHÔNG LÀM TA VÔ CẢM

Có một cạm bẫy rất tinh vi trên Đường Thiêng Liêng, đó là: hiểu sai, nhưng, cứ tưởng mình đúng. Thà, khập khiễng bước đi mà đúng đường, còn hơn, chạy thật nhanh, nhưng lại trật hướng. Trên Đường Thiêng Liêng, ta rất dễ nhầm lẫn giữa “từ bỏ mọi sự” với “thờ ơ lãnh đạm”, giữa “thế à” với “vô cảm”. Sau một thời gian thực hành “từ bỏ”, luyện tập “thế à”, nếu ta thấy mình “thong dong” hơn, và đồng thời, cũng yêu mến nồng nàn hơn, đồng cảm sâu sắc hơn, và bao dung quảng đại hơn, thì, ta đang đi đúng hướng, còn nếu, ta thấy mình ít rung động hơn, ít quan tâm hơn, ít muốn dấn thân hơn, thì, ta hãy dừng lại, đặt mình trước Chúa, để nhìn lại thật sâu, có lẽ, ta đã nhầm lẫn giữa “từ bỏ” với “lãnh đạm”, giữa “thế à” với “vô cảm”. 

Các bậc chiêm niệm, các nhà thần bí sống giữa thế gian, nhưng, không thuộc về thế gian, họ đã từ bỏ những gì thuộc hạ giới, để chỉ chú tâm vào những gì thuộc thượng giới. Tuy nhiên, họ không phải là những khúc gỗ, những cục đá giữa cuộc đời này. Nếu sống chiêm niệm, mà, bớt yêu thương, bớt rung động, bớt chạm vào cuộc đời, thì, đó không phải là con đường đúng, mà, chỉ là một cách trốn chạy cảm xúc, “từ bỏ” thế gian không phải là dập tắt trái tim, mà là, sống trọn vẹn với trái tim ấy, nhưng, không để cho tim mình bị trói buộc bởi bất kỳ thứ gì khác, ngoài một mình Thiên Chúa mà thôi, ranh giới này thật mong manh, chỉ cần lệch một chút thôi: ta có thể đi lạc rất xa, mà, cứ tưởng mình đang tiến nhanh trên đàng nhân đức.

Một người chiêm niệm vẫn có thể yêu sâu sắc: vẫn chăm sóc gia đình, vẫn dấn thân vào các công việc, nhưng, không còn để: thành bại, được mất, quyết định giá trị của mình, thì, đó là “từ bỏ”, là “thế à”, còn nếu, vì sợ đau nên không yêu nữa, vì sợ thất vọng nên không hy vọng nữa, vì sợ bị tổn thương nên không mở lòng nữa, thì, đó không phải là “từ bỏ”, mà là co rút. Bản ngã rất khéo: nó có thể biến “nỗi sợ” thành triết lý, biến sự “đóng lại” thành trưởng thành thiêng liêng, biến sự “lãnh cảm” thành an nhàn thư thái, và thế là, chúng ta tin vào nó.

“Vô cảm” là trạng thái đóng cửa với cả khổ lẫn vui: ít đau khổ, nhưng, cũng ít hạnh phúc; ít thất vọng, nhưng, cũng ít say mê; sống an toàn, nhưng, không sâu sắc, đó không phải tự do, mà là thu hẹp: một trái tim đóng lại, có thể, ngăn gió lạnh, nhưng, cũng không còn đón được nắng ấm; tránh được những xung động làm ta đau, nhưng, đồng thời, cũng chặn luôn những rung động làm ta sống, và điều nguy hiểm là ta rất dễ nhầm trạng thái đó với bình an, bởi vì, bên ngoài nhìn vào: ta không còn bốc đồng, không còn phản ứng mạnh, ta nghĩ mình đã mạnh mẽ, vì tin rằng: ta không còn bị tổn thương nữa, ta đã thoát khỏi những ràng buộc tình cảm, nhưng thực tế là, ta đang cố bảo vệ cái tôi của mình: khi bị tổn thương, ta học cách đề phòng; khi bị bỏ rơi, ta học cách không cần ai; khi bị phản bội, ta học cách không tin ai nữa. “Vô cảm” khiến ta không dám chạm vào nỗi đau của mình và của người khác, vì sợ rằng: những vết thương cũ trong ta sẽ rung lên, thế nên, ta chọn cách đứng ngoài, thờ ơ, lãnh đạm.

Với bậc chiêm niệm, “từ bỏ” không phải là ngừng sử dụng mọi thứ, mà là, thôi ảo tưởng mình sở hữu mọi sự; không phải là ngừng quan tâm, mà là, thôi biến sự quan tâm thành sự kiểm soát; không phải là ngừng nồng ấm, mà là, thôi dùng sự ấm áp để đòi hỏi một sự đáp lại. Khi bị xúc phạm, người vô cảm cắt đứt ngay dòng cảm xúc để khỏi nhìn thấy, bậc chiêm niệm thì nhìn thẳng vào dòng cảm xúc và thấy nó như nó là, không né tránh. Khi sống với cái nhìn “chiêm niệm”, sống dưới ánh nhìn của Chúa, ta sẽ đón nhận tất cả mọi sự với lòng tin tưởng, cậy trông, phó thác, trái tim ta không còn co lại để phòng thủ, nhưng, luôn mở ra, vì biết rằng: không có gì có thể đe dọa phần sâu nhất bên trong ta, phần ấy, không phải là cảm xúc, không phải là suy nghĩ, mà là cái nhìn “chiêm niệm”: nhìn thấy Chúa trong mọi sự, và khi đã chạm đến cái nhìn ấy, đời sống ta sẽ trở nên nhẹ hơn, thật hơn, và đầy sinh khí hơn, khi đó, ta không còn tha thiết gì nữa, ngoài, một mình Chúa mà thôi. Ước gì được như thế!

Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền, OSB.

BÌNH THƯỜNG - NƠI CHÚA ẨN

Lễ Thánh Giuse Thợ

“Ông này không phải là con bác thợ sao?”.

“Thiên Chúa tỏ mình bằng cách ẩn mình!” - Hans Urs von Balthasar.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa lễ Thánh Giuse đặt chúng ta trước một nghịch lý: Thiên Chúa tỏ mình bằng cách ẩn mình; không ở nơi xa lạ, nhưng ngay trong điều bình thường. Và chính nơi đó, ‘bình thường - nơi Chúa ẩn’.

Khi gọi Chúa Giêsu là “con bác thợ”, họ không sai về gốc gác; nhưng chính cái đúng ấy lại che khuất điều ẩn giấu. Đó là skandalon - cớ vấp phạm: ánh sáng không thiếu, nhưng ánh sáng xuất hiện dưới một hình thức quá thân quen. Điều họ thấy là đúng, nhưng không đủ; và chính khi tưởng đã nắm bắt, họ lại không còn nhận ra. Không phải vì không thấy, nhưng vì đã thấy theo cách quen nhìn của mình. “Thiên Chúa đặt những dấu chỉ để người ta nhận ra Ngài; nhưng Ngài cũng che phủ chúng, để chỉ ai tìm kiếm mới nhận ra!” - Blaise Pascal.

“Con bác thợ”, một danh xưng của đời sống lao động tầm thường. Nhưng chính ở đó, Con Thiên Chúa ẩn mình, mang lấy tất cả những lam lũ của Ngài. Ngay từ thuở đầu, Thiên Chúa đã tạo dựng con người theo hình ảnh Ngài và trao cho họ cộng tác vào công trình ấy; Ngài làm việc, nghỉ ngơi, và đặt con người vào nhịp điệu đó - bài đọc một. Lao động vì thế mang dấu ấn của Đấng Tạo Hoá; continuatio creationis - sự tiếp tục của hành động sáng tạo. Và điều chúng ta vẫn lặp lại mỗi ngày lại không trôi qua vô nghĩa: “Lạy Chúa, việc tay chúng con làm, xin Ngài củng cố!” - Thánh Vịnh đáp ca. Chính ở đó, điều tưởng chừng bình thường lại trở thành nơi mầu nhiệm ẩn giấu: ‘bình thường - nơi Chúa ẩn’.

Thánh Giuse ở trong mầu nhiệm ấy. Không một lời, không xuất hiện, không được nhận ra; nhưng chính trong đời sống lao động bình thường, ngài gìn giữ và cộng tác với công trình của Thiên Chúa. Giuse không làm những điều phi thường; nhưng ở lại trong điều bình thường, và chính ở đó, mầu nhiệm được bảo toàn. Nơi ngài, điều ẩn giấu không còn là thiếu vắng, nhưng là một cách hiện diện; một hiện diện không phô bày, nhưng mang lấy và gìn giữ điều Thiên Chúa đang thực hiện: dưỡng dục Chúa Con. Giuse không chỉ là mẫu gương; nơi ngài, người ta học cách Thiên Chúa hành động. “Giây phút hiện tại luôn chứa đựng một kho tàng vô hạn!” - Jean-Pierre de Caussade.

Anh Chị em,

Nơi Đức Kitô, cách Thiên Chúa hành động đạt đến cùng tận: Bêlem nghèo hèn, ba mươi năm ẩn dật; và cuối cùng, thập giá. Đó không phải là những biến cố tách biệt, nhưng là cả một cuộc đời được chọn để tỏ mình trong ẩn giấu; không ở ngoài, nhưng đi vào tận bên trong đời sống con người. Chính khi không được nhận ra, Con Thiên Chúa lại ở gần nhất; không chỉ sống ẩn, Ngài biến sự ẩn giấu thành mặc khải. Đó cũng là nơi đời sống chúng ta chạm tới: không trong những gì phi thường, nhưng ngay trong những điều lặp lại mỗi ngày. “Có một điều thánh thiêng, một điều thần linh, ẩn giấu trong những hoàn cảnh bình thường nhất!” - Josemaría Escrivá.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin đừng để con vì quá quen mà không còn nhận ra Ngài; cho con gặp Ngài ngay trong những điều con vẫn coi là tầm thường!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)