2. Cảm Nghiệm Sống Lời Chúa

MÙA CHAY, HÀNH TRÌNH VÀO SA MẠC TÌNH YÊU

Mỗi năm, khi Mùa Chay trở lại, lòng người tín hữu thường mang theo những cảm xúc rất khác nhau. Có người đón nhận với tâm tình mong đợi và khao khát đổi mới, nhưng cũng có không ít người cảm thấy e ngại, thậm chí lo lắng. Mùa Chay gợi lên hình ảnh của hy sinh, sám hối, từ bỏ và đối diện với những giới hạn rất thật của bản thân. Thế nhưng, sâu thẳm trong lòng người Kitô hữu, Mùa Chay vẫn luôn là một thời gian thiêng liêng, một ân huệ, một lời mời gọi bước vào hành trình thay đổi, hoán cải và cứu độ.

Chúa Giêsu đã từng nói: “Hãy qua cửa hẹp mà vào, vì cửa rộng và đường thênh thang thì đưa đến diệt vong, mà nhiều người lại đi qua đó. Còn cửa hẹp và đường chật thì đưa đến sự sống, nhưng ít người tìm được lối ấy” (Mt 7: 13-14).

Lời mời gọi ấy không phải là một lời đe dọa, nhưng là một lời yêu thương chân thành. “Cửa hẹp” không phải vì Thiên Chúa muốn làm khó con người, mà bởi vì con đường dẫn đến sự sống đích thực luôn đòi hỏi sự từ bỏ, lòng can đảm và tình yêu hy sinh. Mùa Chay chính là thời gian Giáo Hội mời gọi chúng ta bước qua “cửa hẹp” ấy,  không phải một mình, nhưng cùng với Chúa Giêsu, Đấng đã đi trước chúng ta.

Đức Thánh Cha Phanxicô đã viết: “Mùa Chay là một khởi đầu mới, một con đường dẫn đến mục tiêu chắc chắn là Phục Sinh, là chiến thắng của Chúa Kitô đối với sự chết” (Sứ điệp Mùa Chay 2017). [1]

  1. Chúa Giêsu trong sa mạc, khởi đầu của hành trình cứu độ

Nền tảng của Mùa Chay bắt nguồn từ 40 ngày Chúa Giêsu ở trong sa mạc. Ngay sau khi chịu phép rửa tại sông Giođan, và trước khi bắt đầu sứ vụ công khai, Chúa Giêsu đã được Thánh Thần dẫn vào sa mạc. Ở đó, Ngài ăn chay, cầu nguyện, sống trong cô tịch, chịu đói khát và đối diện với những cơn cám dỗ dữ dội của ma quỷ.

Bốn mươi ngày ấy không phải là một khoảng thời gian ngẫu nhiên. Trong Kinh Thánh, con số 40 luôn gắn liền với thanh luyện, và hoán cải: 40 ngày của cơn đại hồng thủy, 40 năm dân Israel trong sa mạc, 40 ngày ông Môsê trên núi Sinai, 40 ngày ngôn sứ Êlia đi trong hoang địa… Và giờ đây, Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa làm người, cũng bước vào sa mạc mang lấy trọn vẹn thân phận mong manh của một con người thật sự, như chúng ta.

Đức Bênêđictô XVI đã nói: “Mùa Chay nhắc nhở cho chúng ta bốn mươi ngày chay tịnh mà Chúa đã sống trong hoang mạc, trước khi bắt đầu sứ vụ công khai của Ngài…Cũng như Môisê trước khi lãnh nhận Bia Luật (Xh 34: 28), như Êlia trước khi gặp Chúa trên núi Horeb (1 V 19), cũng thế, Chúa Giêsu, bằng việc cầu nguyện và ăn chay, cũng chuẩn bị cho sứ vụ của Ngài, mà khởi đầu đã được đánh dấu bằng một sự đối đầu gay go với tên cám dỗ” (Sứ điệp Mùa Chay 2009). [2]

Điều đáng kinh ngạc là Chúa Giêsu hoàn toàn tự nguyện vào trong hoang mạc. Ngài không bị ép buộc phải đói khát, phải chịu cám dỗ hay cô đơn. Ngài chọn đi vào sa mạc vì yêu thương con người chúng ta, để thánh hóa chính những kinh nghiệm mà con người thường sợ hãi: đói khát, cô đơn, thử thách, bất an.

Những cơn cám dỗ Chúa Giêsu phải đối diện trong sa mạc không xa lạ với chúng ta. Đó là cám dỗ của quyền lực, của sự an toàn giả tạo, của việc đặt cái tôi lên trên thánh ý Thiên Chúa. Ngài chịu cám dỗ trong tình trạng yếu đuối nhất về thể xác, để cho chúng ta thấy rằng ơn Chúa đủ cho chúng ta, và tình yêu mạnh hơn mọi thử thách.

  1. Thứ Tư Lễ Tro, khởi điểm của một khát vọng hoán cải

Mặc dù Thứ Tư Lễ Tro không phải là ngày lễ buộc, nhưng lại là một trong những ngày có đông người tham dự phụng vụ nhất trong năm. Điều đó không phải là ngẫu nhiên. Tro bụi, vốn là dấu chỉ của sự mong manh và chóng qua, chạm đến một nơi rất sâu trong lòng con người. Khi tro được xức trên trán, cùng với lời nhắc nhở: “Hãy nhớ mình là bụi tro, và sẽ trở về bụi tro”, hoặc “Hãy sám hối và tin vào Tin Mừng”, chúng ta ý thức rõ hơn về sự giới hạn của đời mình.

Tro không chỉ nói về cái chết, nhưng còn nói về hy vọng. Bởi vì chính từ tro bụi ấy, Thiên Chúa có thể làm nảy sinh một điều mới mẻ. Việc nhiều người tìm đến Thứ Tư Lễ Tro phản ánh một khát vọng rất thật: ước mong một Mùa Chay có ý nghĩa, một cơ hội để bắt đầu lại, để quay về, để sống khác đi.

Truyền thống Giáo Hội luôn nhấn mạnh ba thực hành căn bản của Mùa Chay: ăn chay, cầu nguyện và bố thí. Đây không phải là những việc làm mang tính hình thức, nhưng là những con đường giúp chúng ta mở lòng ra với Thiên Chúa và với tha nhân.

Ăn chay giúp chúng ta nhận ra rằng không phải mọi nhu cầu đều là cần thiết, và không phải mọi ham muốn đều dẫn đến sự sống. Cầu nguyện giúp chúng ta trở về với mối tương quan nền tảng nhất, mối tương quan với Thiên Chúa là Cha. Bố thí giúp chúng ta bước ra khỏi cái tôi khép kín, để nhận ra khuôn mặt của Chúa nơi những người nghèo, những người bị tổn thương và bị gạt ra bên lề. Thánh Gioan Phaolô II nhắc nhở: “Phẩm giá đặc biệt của ơn gọi chúng ta được thể hiện trong sự sẵn sàng phục vụ, theo gương của Chúa Kitô, Đấng “đến không phải để được phục vụ mà để phục vụ”…Để có thể phục vụ người khác một cách xứng đáng và hiệu quả, chúng ta phải có khả năng làm chủ bản thân, sở hữu những đức tính làm cho sự làm chủ đó trở nên khả thi” (Thông điệp Redemptor Hominis, 1979, số 21).

Nhưng sâu xa hơn, Mùa Chay không chỉ là thời gian của kỷ luật bản thân, mà là thời gian của tình yêu. Thánh Gioan đã nói rất rõ ràng: “Thiên Chúa là tình yêu” (1 Ga 4: 8). Nếu chúng ta sống Mùa Chay mà thiếu chiều kích tình yêu, thì mọi hy sinh đều trở nên khô khan và nặng nề. Đức Thánh Cha Phanxicô nhấn mạnh: “Mùa Chay là mùa thuận lợi để chúng ta đổi mới việc gặp gỡ với Chúa Kitô, sống trong Lời Chúa, trong các bí tích và trong tha nhân…phục vụ Chúa Kitô hiện diện trong anh chị em chúng ta đang cần giúp đỡ…mở rộng cửa đón nhận những người yếu đuối và nghèo khổ” (Sứ điệp Mùa Chay 2016). [3]

  1. Khi bất an bao trùm, hãy để Chúa ở cùng chúng ta

Đối với nhiều người, Mùa Chay là thời gian khơi dậy những bất an sâu kín. Giữa một thế giới đầy biến động, chúng ta dễ rơi vào lo lắng và mệt mỏi. Khi cảm xúc bị xáo trộn, phản ứng tự nhiên thường là muốn hành động ngay để giành lại cảm giác kiểm soát.

Nhưng Mùa Chay mời gọi chúng ta chọn một con đường khác: dừng lại, lắng đọng, và chạy đến với Chúa Giêsu ngay trong chính bất an ấy, không phải để Ngài lập tức giải quyết mọi vấn đề, nhưng để chúng ta hiểu sâu hơn mối tương quan của mình với Ngài. Chúa Giêsu không xa lạ với những bất an của con người. Ngài đã sống trong một thời kỳ đầy hỗn loạn, dưới ách đô hộ của đế quốc Rôma. Ngài đã chứng kiến những người nghèo bị áp bức, những người bệnh tật bị loại trừ, những người tội lỗi bị khinh miệt. Và giữa thực tế đó, Ngài không chọn bạo lực hay trả thù, nhưng chọn con đường của tình yêu kiên nhẫn và tha thứ.

Thánh Phaolô, trong thư gửi tín hữu Côrintô, đã mô tả tình yêu một cách rất cụ thể: “Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc, không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù, không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật. Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả” (1 Cr 13: 4-7).

Đây không hề là một thứ tình yêu êm dịu dễ có. Đây là tình yêu có khả năng chịu đau khổ, biết chờ đợi, biết hy sinh. Đó chính là tình yêu Thiên Chúa đã dành cho chúng ta nơi Chúa Giêsu Kitô. Tình yêu ấy đạt đến tột đỉnh trên thập giá, khi Chúa Giêsu vẫn tha thứ cho những kẻ đóng đinh Ngài.

Mùa Chay là thời gian để chúng ta học lại cách yêu như Chúa yêu. Không phải bằng những cảm xúc hời hợt mau qua, nhưng bằng những lựa chọn dấn thân buông bỏ cách cụ thể trong đời sống hằng ngày.

  1. Đồng hành với Chúa Giêsu để trở nên giống Ngài hơn

Khi dành thời gian ở lại với Chúa Giêsu trong Mùa Chay, chúng ta dần hiểu Ngài hơn, yêu mến Ngài hơn, và khao khát trở nên giống Ngài hơn.

Từ mối tương quan thân mật ấy, chúng ta học cách mang chân lý và tình yêu của Ngài đến với những người chung quanh đang mang nhiều thương tích. Lời mời gọi ấy vang lên cách đặc biệt khi chúng ta nghĩ đến người nghèo, người xa quê, và những ai bị đẩy ra bên lề xã hội. Tro trên trán không chỉ là dấu chỉ sám hối cá nhân, mà còn là dấu chỉ của sự liên đới với họ.

Bước vào Mùa Chay là chấp nhận một hành trình không dễ dàng, nhưng cần thiết. Chúa Giêsu không hứa con đường bằng phẳng, nhưng hứa luôn đồng hành. Chúa mời gọi chúng ta đón nhận Mùa Chay này với tâm thế mới mẻ, mở lòng và dấn thân, tin rằng Ngài đang âm thầm hoạt động trong chúng ta, ngay cả khi chúng ta chưa thấy rõ kết quả.

Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã tự nguyện bước vào sa mạc để cầu nguyện, ăn chay và chịu cám dỗ. Chúa mời gọi con cùng đồng hành với Ngài trong Mùa Chay này, can đảm bước vào những khoảng lặng, đối diện với sự yếu đuối và tội lỗi của mình.

Xin cho con biết tìm đến với Chúa khi mất bình an, biết lắng nghe Lời Chúa trong cầu nguyện để con “biết Chúa, biết con”, để cuộc đời con trở nên dấu chỉ của tình yêu và của hy vọng giữa một thế giới còn nhiều đau khổ. “Ơn Ta đủ cho con” (2 Cr 12: 9). Amen.

Phêrô Phạm Văn Trung

[1] https://tgpsaigon.net/bai-viet/su-diep-mua-chay-2017-cua-duc-giao-hoang-phanxico-48974

[2] https://xuanbichvietnam.wordpress.com/2009/02/23/su-diep-mua-chay-2009-cua-duc-benedicto-xvi/

[3] https://www.vatican.va/content/francesco/en/messages/lent/documents/papa-francesco_20161018_messaggio-quaresima2017.html

Buổi Trình Diễn Không Đạt

Một nghệ sĩ trẻ tuổi đang trình diễn đàn dương cầm trước cử tọa ngồi chật cả thính phòng. Tất cả đều im lặng như nín thở để theo dõi từng nốt nhạc.  Theo lời quảng cáo, thì đây là lần trình diễn đầu tiên để giới thiệu một tài năng mới. Những ngón tay đẹp của nghệ sĩ không ngừng di động trên các phím đàn, hòa điệu với những âm thanh trầm bổng của dòng nhạc.

Bản đàn vừa chấm dứt, tất cả mọi người đứng dậy vỗ tay hoan hô nồng nhiệt. Và nhiều giọng nói yêu cầu của cử tọa xin trình diễn tiếp thêm nữa. Phải, tất cả mọi người đều đứng dậy bày tỏ lòng hâm mộ. Nhưng chỉ trừ có một cụ già ngồi ở hàng ghế đầu có thái độ khác. Cụ không đứng dậy vỗ tay tán thưởng, mà vẻ mặt lại để lộ chút không vui.

Trong khi đó trên sân khấu chàng nghệ sĩ trẻ tuổi rời dương cầm, bước ra ngoài tấm màn lớn đang từ từ kéo lại, cúi sâu chào khán thính giả, rồi vội vàng ẩn mình vào trong.

Chàng đến nhanh bên ông giám đốc tổ chức cuộc trình diễn, nói nhỏ:  – Không, tôi trình diễn chẳng hay gì cả, nhưng tệ lắm.

Ông giám đốc trả lời:  – Anh lầm rồi, mọi người vỗ tay hoan hô anh lâu như thế, mà anh bảo trình diễn dở nghĩa là làm sao?

Chàng nghệ sĩ trẻ nói tiếp:  – Không, tôi trình diễn không đạt. Ông có biết cụ già ngồi ngay hàng ghế đầu đấy không? Cụ là thầy dậy của tôi đó. Cụ không đứng dậy hoan hô, mà vẻ mặt còn có chút buồn nữa. Ðó là dấu hiệu cho tôi biết chắc chắn là tôi chưa trình diễn hay đủ.

***

Có thể so sánh cuộc đời mỗi người chúng ta với cuộc trình diễn của chàng nghệ sĩ này.

Thiên Chúa đã trao cho mỗi người chúng ta những tài năng khác nhau, và đã ban cho nhiều ơn, nhiều phương thế để huấn luyện ta sử dụng những tài năng ấy cho tốt đẹp, làm trổ sinh những hoa trái bổ ích. Cách này hay cách khác, mỗi người chúng ta đã sử dụng những tài năng đó phục vụ anh chị em chung quanh. Có thể anh chị em lên tiếng khen tặng ta, kính phục ta, hoan hô ta, như những khán thính giả từ ngoài nhìn vào.

Nhưng, như chàng nghệ sĩ kia chỉ nhìn vào thái độ của thầy mình để xem mình đã trình diễn đạt hay chưa, thì mỗi người người chúng ta cũng vậy, chúng ta cần nhìn lên Chúa để xem mình đã sống cuộc sống của mình một cách thành đạt chưa.

Chỉ có phán xét của Thiên Chúa là công bằng, không thiên tư. Ngài là vị Thiên Chúa ẩn khuất, nhưng Ngài thấu suốt mọi sự, mọi hành động của chúng ta. Chỉ mình Ngài mới đánh giá đúng từ bên trong. Chúng ta cần qui chiếu về Ngài, về những lời dậy của Ngài được ghi trong sách Phúc Âm, để có thể biết mình đã sử dụng những tài năng Chúa ban cách tốt đẹp nhất chưa.

Ước chi mỗi ngày, mỗi giây phút trong cuộc sống, chúng ta đặt mình trước nhan Ngài sống trong sự hiện diện của Ngài và dâng mọi hành động lớn nhỏ cho Ngài.

Mỗi người chúng ta hãy nhớ rằng, vào phút cuối đời, khi chúng ta xuất hiện trước nhan Ngài cách vĩnh viễn, thì lúc đó, như trong Phúc Âm Ngài đã kể, Ngài sẽ phán xét các hành động của ta theo mẫu mực lối sống yêu thương.

“Những gì chúng con làm cho một trong các anh em bé nhỏ của Ta đây, là chúng con đã làm cho chính Ta”.

Nguồn: Khoi-nguon.com

SỰ KHIÊM NHƯỜNG LÀ GÓT CHÂN ASIN CỦA QUỶ DỮ

Từ Sáng thế ký đến Guadalupa, Kinh thánh và truyền thống cho thấy Satan không thể sao chép được sự khiêm nhường, là nhân đức mà nhờ đó Chúa và các thánh của Ngài đã đánh bại hắn.

Thiên Chúa của chúng ta là Thiên Chúa của những điều bất ngờ. Từ việc Con Thiên Chúa sinh ra là một hài nhi yếu đuối được một người thợ mộc nuôi dưỡng, rồi chết để mang lại ơn cứu độ, đường lối của Ngài vượt quá sức tưởng tượng của con người.

Sự khiêm hạ của Chúa chính là nút thắt cuối cùng khiến Satan bối rối. Ác quỷ đã chọn hỏa ngục muôn đời thay vì hạ mình trước chính Đấng đã tạo ra hắn. Và cú ăn miếng trả miếng đầu tiên của hắn với nhân loại đã được thực hiện thông qua thói kiêu ngạo, trái ngược với sự khiêm nhường, khi Adam và Eva ăn trái cấm vì muốn trở nên giống Thiên Chúa. Lẽ ra họ đã được bảo vệ khỏi sự ngu ngốc ấy nếu họ khiêm nhường.

Ma quỷ chỉ bị đánh bại khi chúng ta khiêm nhường và vâng phục Thiên Chúa. Thánh Gioan Vianney, cha sở xứ Ars, người thường xuyên bị ma quỷ quấy nhiễu, đã kể lại một cuộc trò chuyện với nó.

Quỷ nói: “Ta có thể làm mọi điều ngươi làm, ta cũng có thể làm những việc đền tội của ngươi; ta có thể bắt chước ngươi trong mọi việc. Tuy nhiên, có một điều ta không thể làm được; ta không thể bắt chước ngươi về sự khiêm nhường.”

Thánh Gioan Vianney đáp lại: “Đó là lý do tại sao ta đánh bại ngươi” (Tiểu sử thánh Gioan Maria Vianney do Abbé François Trochu ghi lại).

Qua nhiều năm phỏng vấn các nhà trừ tà, tôi nhận thấy thông điệp của họ luôn nhất quán: sự khiêm nhường, cầu nguyện, thờ phượng và các bí tích là những công cụ mạnh mẽ nhất chống lại ma quỷ. Vậy thì thật hợp lý khi Mẹ Maria, người mẹ thánh thiện và khiêm nhường nhất của Chúa Cứu Thế Giêsu Kitô, lại đánh bại Satan bằng đức khiêm nhường của mình, đó lá gót chân Asin của ma quỷ.

Mẹ Maria, Mẹ rất thánh yêu dấu của chúng ta, được nhắc đến trong sách đầu tiên của Kinh thánh: “Ta sẽ gây mối thù giữa ngươi và người phụ nữ, giữa dòng dõi ngươi và dòng dõi người ấy; dòng dõi người ấy sẽ giày đạp đầu ngươi, và ngươi sẽ rình rập gót chân người ấy” (Sách Sáng thế 3: 15)

Ảnh vẩy Phép Lạ, được trao cho Thánh Catherine Labouré ở Pháp vào năm 1830, cho thấy Mẹ Maria đang giẫm lên con rắn. Và trong những lần Mẹ hiện ra ở Guadalupa, Mexicô, chính tên của Mẹ trong tiếng bản địa có nghĩa là “Đấng nghiền nát con rắn.”

Thánh Louis Marie de Montfort đã viết về sức mạnh của sự khiêm nhường của Mẹ Maria trong tác phẩm Lòng sùng kính chân thành đối với Mẹ Maria: “Vì vậy, Thiên Chúa muốn tỏ bày và cho mọi người biết đến Mẹ Maria, kiệt tác của bàn tay Ngài, trong những thời kỳ cuối cùng…Mẹ Maria phải tỏa sáng hơn bao giờ hết trong lòng thương xót, quyền năng và ân sủng trong những thời kỳ cuối cùng này…Thiên Chúa đã dành riêng cho mình một nhóm lớn những linh hồn được chọn mà Mẹ Maria phải uốn nắn trong những thời kỳ cuối cùng này…Họ sẽ nghiền nát đầu ma quỷ bằng gót chân của mình, tức là bằng sự khiêm nhường của họ” (Lòng sùng kính đích thực đối với Đức Trinh Nữ Maria, số 54–56).

Mẹ Maria không hề đối mặt tranh luận trực tiếp với ma quỷ. Mẹ quy hướng mọi sự về Chúa Con, và ma quỷ đã bị đánh bại. Vì vậy, chúng ta có thể cảm thấy an tâm khi đứng dưới chân Mẹ Maria, Mẹ Thiên Đàng, luôn khiêm nhường, luôn hướng về Thiên Chúa: “Bà Maria thưa: Này tôi là nữ tỳ của Chúa; xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói” (Lc 1: 38), và “Mẹ Ngài bảo các gia nhân: “Ngài bảo gì, các anh cứ việc làm theo” (Ga 2: 5).

Mẹ Têrêsa Calcutta là một vị thánh có lòng khiêm nhường mà nhiều người trong chúng ta vẫn còn sống đã chứng kiến. Theo lời của Mẹ Têrêsa: “Khiêm nhường là mẹ của mọi nhân đức: thanh khiết, bác ái và vâng phục. Chính trong sự khiêm nhường mà tình yêu của chúng ta trở nên chân thật, tận tụy và nồng nàn. Nếu bạn khiêm nhường, không gì có thể lay chuyển bạn, dù là lời khen hay lời chê, bởi vì bạn biết mình là ai. Nếu bị chỉ trích, bạn sẽ không nản lòng. Nếu người ta gọi bạn là thánh, bạn sẽ không tự đặt mình lên bệ thờ.” [1]

Sự khiêm nhường, như chúng ta thấy qua Chúa Giêsu, Mẹ Maria và các thánh, là một liều vắcxin chống lại bóng tối. Nó vô hiệu hóa ma quỷ và dẫn chúng ta đến sự thánh thiện qua gương mẫu của Chúa Giêsu Kitô. Văn hóa của chúng ta đang có sự mâu thuẫn sâu sắc về vấn đề này. Gọi ai đó là khiêm nhường được hiểu là một lời khen, trong khi gọi họ là kiêu ngạo lại là một sự xúc phạm. Tuy nhiên, có một sự tập trung thái quá vào tính tự đề cao bản thân trên mạng xã hội và một nỗi ám ảnh về danh tiếng khiến mọi người trở nên kiêu ngạo và cố gắng thu hút sự chú ý.

Nhưng việc suy ngẫm về sự khiêm nhường của Chúa và các thánh của Ngài sẽ giải thoát chúng ta khỏi sự ràng buộc văn hóa đó. Chúng ta không cần phải bận tâm đến những ý kiến ​​trái chiều của người khác; chúng ta chỉ cần quan tâm đến những gì Thiên Chúa nghĩ.Sau đây là những việc làm mà Mẹ Têrêsa đã chia sẻ để mỗi người luyện tập đức khiêm nhường của mình.

  1. Nói càng ít về bản thân càng tốt.
  2. Hãy bận rộn với công việc của mình chứ không phải công việc của người khác.
  3. Tránh tò mò.
  4. Đừng can thiệp vào chuyện của người khác.
  5. Chấp nhận những sự khó chịu nhỏ bằng thái độ hài hước.
  6. Đừng bận tâm đến lỗi lầm của người khác.
  7. Chấp nhận những chỉ trích ngay cả khi chúng không đích đáng.
  8. Hãy nhượng bộ ý muốn của người khác.
  9. Chấp nhận sự sỉ nhục và tổn thương.
  10. Chấp nhận sự khinh miệt, bị lãng quên và không được quan tâm.
  11. Hãy lịch sự và tế nhị ngay cả khi bị ai đó khiêu khích.
  12. Đừng tìm kiếm sự ngưỡng mộ và yêu mến.
  13. Đừng bảo vệ bản thân với lý do tôn trọng phẩm giá của riêng mình.
  14. Hãy nhượng bộ trong các cuộc thảo luận, ngay cả khi bạn đúng.
  15. Luôn chọn nhiệm vụ khó khăn hơn.

 

Phêrô Phạm Văn Trung

theo Patti Maguire Armstrong, https://www.ncregister.com

[1] https://www.goodreads.com/quotes/559677-humility-is-the-mother-of-all-virtues-purity-charity-and?utm_source=chatgpt.com

 

“Mùa Thường Niên”: Hành Trình Thăng Tiến Thiêng Liêng Giữa Đời Thường

Sau lễ Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa, Giáo hội chính thức khép lại Mùa Giáng Sinh để bước vào Mùa Thường Niên – giai đoạn chiếm thời lượng lớn nhất trong năm phụng vụ, với 33-34 tuần. Sự chuyển đổi này được nhận diện rõ nét qua việc thay đổi sắc phục phụng vụ từ màu trắng sang màu xanh lá cây, đồng thời không gian thờ phượng nơi các nhà thờ cũng trở lại nhịp điệu sinh hoạt ổn định hơn sau các đại lễ.

Mùa Thường Niên không phải là “quãng nghỉ”, mà là hành trình cử hành trọn vẹn mầu nhiệm Chúa Kitô qua nhịp sống hằng ngày. Đây chính là thời điểm để các tín hữu hiện thực hóa lời Chúa bằng sự kiên trì trong cầu nguyện và trau dồi nhân đức qua những hành động cụ thể nhất.

Sự hình thành và Bản chất Phụng vụ của Mùa Thường Niên

Nhìn lại hành trình hai thiên niên kỷ, Mùa Thường Niên là kết quả của một quá trình tiến hóa phụng vụ đầy sống động, khởi nguồn từ tâm điểm là Chúa Nhật – “Ngày của Chúa”. Trong truyền thống Giáo hội sơ khai, mỗi Chúa Nhật được cử hành như một lễ Phục Sinh hằng tuần. Niềm vui Phục Sinh ấy lớn lao đến mức các tín hữu từng có lệ cấm ăn chay và quỳ gối trong ngày này. Thánh Augustinô giải thích tư thế đứng chính là “để tôn kính sự phục sinh”, còn Thánh Basiliô coi đó là “dấu chỉ chúng ta đã trỗi dậy cùng Chúa Kitô để hướng về cõi trường sinh”.

Cấu trúc của các tuần lễ dần định hình rõ nét hơn từ thế kỷ VI dưới thời Thánh Grêgôriô Cả, sau đó đạt bước ngoặt vào năm 788 khi đan sĩ Alcuin biên soạn thêm các lời nguyện cho các Chúa Nhật sau lễ Hiển Linh và Hiện Xuống. Tuy nhiên, phải đến cuộc cải tổ lớn của Công đồng Vaticanô II, vị thế “hạt nhân” của ngày Chúa Nhật mới thực sự được khôi phục. Hiến chế Sacrosanctum Concilium, số 106 nhấn mạnh: “Chúa Nhật là ngày lễ rất đặc biệt phải được đề cao và in sâu vào lòng đạo đức của các tín hữu… vì đây là nền tảng và cốt lõi của cả năm phụng vụ”. Do đó, các nghi thức khác không được ưu tiên hơn lễ Chúa Nhật để bảo toàn niềm vui và ý nghĩa của ngày nghỉ lễ này.

Về bản chất, Mùa Thường Niên là thời gian để chiêm ngưỡng trọn vẹn dung mạo Đấng Phục Sinh đang hoạt động giữa đời thường. Quy luật tổng quát về Năm Phụng vụ (1969), số 43 đã khẳng định: “Trong các tuần lễ này, Giáo hội không cử hành một khía cạnh đặc biệt nào về mầu nhiệm Chúa Kitô; nhưng đúng hơn, Giáo hội cử hành chính mầu nhiệm Chúa Kitô trong sự viên mãn của Người, nhất là trong các ngày Chúa Nhật”. Như vậy, thay vì tập trung vào một biến cố riêng lẻ, Mùa Thường Niên mời gọi các tín hữu tôn vinh toàn bộ mầu nhiệm cứu độ xuyên suốt nhịp sống hằng ngày.

Giải mã ý nghĩa của từ “thường niên”

Một điểm thú vị trong lịch sử phụng vụ là cụm từ “Mùa Thường Niên” hoàn toàn không xuất hiện trong ấn bản Latinh gốc của Sách Lễ 1969. Thay vào đó, Giáo hội sử dụng thuật ngữ Tempus per annum – nghĩa là “thời gian xuyên suốt năm”. Đây là một khởi đầu mới mẻ nhằm xóa bỏ cách gọi truyền thống dựa trên các mốc lễ Hiển Linh hay Hiện Xuống, từ đó thiết lập một khối phụng vụ duy nhất. Mục tiêu của sự thay đổi này là tạo ra những Chúa Nhật ở “trạng thái thuần khiết”, nơi cộng đoàn cử hành toàn bộ mầu nhiệm Chúa Kitô thay vì chỉ tập trung vào một khía cạnh cụ thể.

Đồng thời, Hội đồng Giám mục Hoa Kỳ cũng làm rõ nguồn gốc tên gọi Mùa Thường Niên. “Thường niên” không có nghĩa là ‘bình thường’ hay ‘không có gì đặc biệt’. Từ tiếng Anh ordinary bắt nguồn từ tiếng Latinh ordinalis, có nghĩa là ‘được đánh số’ hoặc ‘theo thứ tự’. Do đó, các tuần lễ trong Mùa Thường Niên được tính theo số thứ tự để thể hiện trình tự liên tục của thời gian phụng vụ.

Nhà nghiên cứu Michael Foley cho rằng thuật ngữ “Mùa Thường Niên” thực chất được Pierre Jounel – cộng tác viên của Đức Tổng Giám mục Annibale Bugnini (1912–1982) – kiến trúc sư chính của cuộc cải cách phụng vụ Roma sau Công đồng Vatican II – đưa vào sử dụng lần đầu tiên từ năm 1969.

Dưới góc nhìn sâu sắc hơn, Michael Foley lập luận rằng khi dùng thuật ngữ này, Pierre Jounel đã hình dung về một “Nghi thức chung của các Mùa Phụng vụ” (Ordinary of Seasons), tương tự như “Nghi thức Thánh Lễ” (Ordo Missae). Trong một Thánh lễ, “Nghi thức chung” là những phần cốt lõi không bao giờ thay đổi (như Kinh Thương Xót hay Lời nguyện truyền phép…), đóng vai trò làm khung xương vững chắc cho toàn bộ buổi cử hành. Trong ý nghĩa này, Mùa Thường Niên đóng vai trò như một “khuôn bản mẫu” cho sự thờ phượng – một nền tảng vững chắc và không thay đổi để từ đó các đặc tính riêng biệt của Mùa Vọng hay Mùa Chay được thêm vào.

Tuy vậy, dù hiểu theo nghĩa “thứ tự” để thấy một đời sống đức tin có mục đích, hay nghĩa “bản mẫu” để thấy tính chất không đổi của mầu nhiệm cứu độ, Mùa Thường Niên vẫn luôn tràn đầy sức sống. Sắc xanh lá cây chủ đạo của mùa này chính là biểu tượng của sự tăng trưởng, đổi mới và hy vọng. Đây là lúc chúng ta nhìn ngắm Chúa Kitô như một Đấng Cứu Độ trọn vẹn, mời gọi chúng ta khám phá sự hiện diện sống động của Người trong từng nhịp sống bình dị nhất.

Thánh Josemaría Escrivá từng khẳng định mạnh mẽ: “Thiên Chúa đang gọi bạn để phụng sự Người trong và từ những điều bình thường… Có điều gì đó thánh thiêng, điều gì đó thần linh ẩn giấu trong những tình huống bình thường nhất, và việc khám phá ra nó tùy thuộc vào mỗi người các bạn”. Ngài nhấn mạnh rằng chính “cuộc sống hằng ngày chính là chất liệu bình thường để tạo nên sự thánh thiện”. Vì vậy, Mùa Thường Niên không phải là quãng thời gian “nghỉ giải lao” khỏi đời sống thiêng liêng, mà là cơ hội quý giá để ta gặp gỡ Chúa qua việc dọn dẹp nhà cửa, lao động văn phòng, hay trong sự kiên nhẫn yêu thương dành cho những người thân yêu ngay tại gia đình mình.

Đối diện với “Sự hai mặt” và Bí quyết Thánh hóa Đời thường

Mùa Thường Niên không chỉ là thời gian phụng vụ mà còn là dịp để chúng ta phản tỉnh về những mối tương quan gần gũi nhất. Tác giả Whitney Hetzel – một người mẹ với 27 năm kinh nghiệm giáo dục 9 người con tại gia – đã chia sẻ một thực tế đầy trăn trở mà bà gọi là lối sống “hai mặt”. Đó là trạng thái khi chúng ta trình diễn một vẻ ngoài hoàn hảo trước xã hội nhưng lại đánh mất sự tử tế trong chính nội tâm và tổ ấm của mình. Bà thú nhận: “Thực tế, tôi cảm thấy hơi nhói lòng khi nghĩ về điều này, vì tôi biết đôi khi mình cũng mắc lỗi sống hai mặt”.

Whitney nhận diện sự mâu thuẫn này qua những chi tiết rất đời thực: bà cảm thấy có thể dễ dàng mỉm cười tử tế với một người lạ ở siêu thị hay đồng nghiệp, nhưng cử chỉ nhỏ bé ấy lại trở nên khó khăn khi dành cho chính chồng hoặc các con của mình. Trích dẫn lời một linh mục, bà đặt ra câu hỏi: “Thường thì chúng ta không thực sự nhìn thấy những người ở ngay trước mắt mình. Tại sao những người ở bên cạnh ta hằng ngày trong các hoạt động đời thường lại đôi khi là những người ta bỏ bê nhiều nhất?” Sự trớ trêu nằm ở chỗ chúng ta có thể vồn vã qua điện thoại với người xa lạ, nhưng lại sẵn sàng gắt gỏng với bạn đời sau một ngày mệt mỏi.

Để vượt qua sự “hai mặt” và thánh hóa những mối tương quan này, Thánh Teresa Calcutta nhắc nhở: “Chúng ta hãy yêu thương nhau như Thiên Chúa yêu thương mỗi người chúng ta. Và tình yêu này bắt đầu từ đâu? Trong chính ngôi nhà của bạn. Hãy yêu thương nhau ngay trong chính gia đình mình. Tôi muốn các bạn hãy tìm kiếm những người nghèo ngay tại đây, trong chính ngôi nhà của mình. Và trước hết, hãy bắt đầu yêu thương ngay tại đó”.

Trong cuốn Nhật ký, số 201, Thánh Faustina Kowalska chia sẻ một kinh nghiệm thiêng liêng để giữ trái tim luôn nồng ấm tình Chúa giữa mọi hoạt động. Ngài nhấn mạnh: “Dù đang ở cùng những người khác, trái tim con vẫn luôn kết hợp với Người. Khi ngủ, con dâng cho Người từng nhịp đập trái tim mình; khi thức, con đắm mình trong Người mà không nói một lời… Sau đó, con cố gắng làm cho Chúa Giêsu đi qua con đến với người khác dễ dàng hơn. Con đi khắp nơi với Chúa Giêsu. Sự hiện diện của Người đồng hành với con khắp mọi nơi”.

Khi thực hành phương pháp kết hợp liên lỉ với Chúa Giêsu như Thánh Faustina, chúng ta sẽ nhận ra việc phục vụ người thân không còn là gánh nặng. Thay vào đó, nó trở thành một đặc ân để Chúa Giêsu có thể yêu thương họ thông qua chính hành động của chúng ta trong suốt Mùa Thường Niên.

Gợi ý thực hành “Sống đạo theo Chu kỳ Phụng vụ”

Để biến các tuần lễ của Mùa Thường Niên thành một hành trình thăng tiến thiêng liêng, tác giả Lindsey Weishar và chuyên gia về đời sống phụng vụ gia đình Kendra Tierney đã đưa ra những gợi ý cụ thể về việc “Sống đạo theo Chu kỳ Phụng vụ”, giúp đưa tinh thần đức tin thấm nhuần vào từng nhịp sống thường nhật.

Hành trình này có thể bắt đầu ngay từ việc chăm chút cho không gian sống, làm cho ngôi nhà hòa nhịp với Giáo hội bằng cách thay khăn trải bàn thờ gia đình sang màu xanh lá cây, hoặc đặt một chậu cây xanh nhỏ nơi góc cầu nguyện như biểu tượng sống động cho sự tăng trưởng của hạt giống đức tin.

Song song với đó, việc học hỏi Lời Chúa cần được chú trọng thông qua việc chọn một sách Tin Mừng cụ thể, chẳng hạn như Tin Mừng theo Thánh Mát-thêu trong năm nay, để nghiên cứu sâu và ghi chép lại những cảm nghiệm thiêng liêng vào một cuốn nhật ký cầu nguyện. Để mầu nhiệm Chúa thực sự thẩm thấu sâu vào lịch sử cuộc đời, mỗi Kitô hữu được mời gọi cố gắng dành ít nhất 15’ hoặc một giờ Chầu Thánh Thể mỗi tuần, tạo nên những khoảng lặng cần thiết giữa nhịp sống thường nhật.

Thú vị hơn, “thực đơn” của đời sống đức tin còn có thể trở nên “ngon miệng” và gần gũi thông qua các truyền thống gia đình, nơi những công thức nấu ăn liên quan đến cuộc đời các vị Thánh được thực hiện, ví dụ như cách Kendra Tierney tổ chức Lễ Nến vào ngày 2/2 với bánh crepes và những ngọn nến thắp sáng suốt bữa tối để nhắc nhớ về Ánh Sáng Chúa Kitô đang hiện diện.

Cuối cùng, trong thời đại số, họ cũng khuyên chúng ta cũng nên tận dụng công nghệ như một phương tiện để thăng tiến thiêng liêng, chẳng hạn như lắng nghe podcast về giáo lý hoặc sử dụng các ứng dụng để lắng nghe nhạc thánh ca và các bài suy niệm Lời Chúa hằng ngày, biến chiếc điện thoại thông minh thành một công cụ hữu hiệu để kết nối với Thiên Chúa mọi lúc mọi nơi.

Mùa Thường Niên chính là thời điểm để đức tin được rèn luyện ngoài “công trường” của cuộc sống thực tế. Đây không phải là mùa của sự tạm bợ hay những khoảng trống vô nghĩa, mà là mùa của sự bền bỉ, của tình yêu trung kiên trong những điều bình dị nhất. Xin cho màu xanh của hy vọng và sự sống luôn được làm mới trong tâm hồn mỗi Kitô hữu, để mỗi tuần lễ thường niên trôi qua không chỉ là một con số khô khan, tầm thường, mà là một bước chân vững chãi hơn trên hành trình cùng Chúa Giêsu tiến về hạnh phúc vĩnh cửu.

Nguồn: Vatican News

NĂM NGỌ - BỐN CON NGỰA TRONG KHẢI HUYỀN

Trong sách Khải Huyền, thánh Gioan có tường thuật về bốn con ngựa với những màu sắc và đặc trưng khác nhau: (1) Ngựa trắng: mang sự sống, chiến thắng vinh quang; (2) Ngựa đỏ: chiến tranh; (3) Ngựa đen: kinh tế suy thoái; (4) Ngựa xanh: chết chóc.

  1. Ngựa trắng: Màu trắng là màu mang ý nghĩa tích cực trong sách Khải Huyền: Kìa một con ngựa trắng, và người cưỡi ngựa mang cung. Người ấy được tặng một triều thiên và ra đi như người thắng trận, để chiến thắng (Kh 6,2);  Đầu Người tóc trắng như len trắng, như tuyết (Kh 1,14); Ai thắng sẽ được mặc áo trắng; Ta sẽ không xóa tên người ấy khỏi Sổ Trường Sinh (Kh 3,5); Bấy giờ mỗi người trong số họ được lãnh một áo trắng (Kh 6,11); Kìa một con ngựa trắng, và người cưỡi ngựa mang tên là “Trung thành và Chân thật” (Kh 19,11).
  1. Ngựa đỏ: Một con ngựa khác đi ra, đỏ như lửa, người cưỡi ngựa nhận được quyền cất hòa bình khỏi mặt đất, để cho người ta giết nhau (Kh 6,4).
  1. Ngựa đen: Kìa một con ngựa ô, và người cưỡi ngựa cầm cân trong tay. Tôi lại nghe như có tiếng nói từ giữa bốn Con Vật vang lên: “Một cân lúa mì, một quan tiền! Ba cân lúa mạch, một quan tiền! Còn dầu và rượu, thì chớ đụng đến!” (Kh 6,5-6).
  1. Ngựa xanh: Kìa một con ngựa xanh nhạt, và người cưỡi ngựa mang tên là Tử thần, có Âm phủ theo sau. Chúng nhận được quyền hành trên một phần tư mặt đất, để giết bằng gươm giáo, đói kémôn dịch và thú dữ sống trên đất (Kh 6,8). 

Hiện nay, bốn con ngựa này vẫn đang phi nước đại: Ngựa đỏ chiến tranh: vẫn đang đánh dấu lịch sử thế giới bằng những cuộc chiến tranh đẫm máu, cuộc chiến này chưa dứt, thì, người ta đã chuẩn bị cho cuộc chiến kế tiếp, loài người vẫn đang giết hại lẫn nhau; Ngựa đen khủng hoảng kinh tế: Chiếc cân trong tay người cưỡi ngựa, liên quan đến thương trường khốc liệt, lòng tham tiền vẫn đang thống trị nhân loại: khoa học kỹ thuật, hệ thống y tế đều bị nhuốm mùi tiền, ngành công nghiệp dược phẩm quan tâm đến lợi nhuận nhiều hơn là chữa bệnh cho con người, thị trường chứng khoán rớt giá, khủng hoảng ngân hàng, nạn thất nghiệp tràn lan, gây bất ổn trên toàn thế giới. Ngựa xanh chết chóc: nhiều người đang bị chết vì nghèo đói và dịch bệnh, do kinh tế suy thoái và y tế bị quá tải, nhiều bệnh lạ đang xuất hiện trên thế giới. 

Đứng trước một viễn tượng đen tối như thế, nhưng, chúng ta không đánh mất niềm hy vọng, bởi vì, con ngựa trắng và người cưỡi nó sẽ chiến thắng: Người khoác một áo choàng đẫm máu, và danh hiệu của Người là: “Lời của Thiên Chúa”. Các đạo quân thiên quốc đi theo Người, họ cưỡi ngựa trắng, mặc áo vải gai mịn trắng tinh. Người mang một danh hiệu viết trên áo choàng và trên vế: “Vua các vua, Chúa các chúa” (x. Kh 19,13-16).

 

Thế giới này sẽ qua đi cùng với những dục vọng của nó: con ngựa đỏ chiến tranh tàn khốc do lòng thù hận, và tranh chấp quyền lực; con ngựa đen khủng hoảng kinh tế do lòng ham tiền, và tư lợi ích kỷ; con ngựa xanh chết chóc do nghèo đói và dịch bệnh, tất cả sẽ kết thúc, chỉ còn lại con ngựa trắng mang sự sống, chiến thắng vinh quang của Đức Kitô sẽ tồn tại mãi. Chương 6 của sách Khải Huyền cho ta thấy: bốn con ngựa này chỉ xuất hiện sau khi Chiên Con mở ấn, nghĩa là, Thiên Chúa vẫn nắm quyền kiểm soát, sự dữ được phép xảy ra, nhằm để thanh luyện ta, nếu ta muốn thuộc về Vương Quốc của Đức Kitô, ta phải chiến đấu dưới cờ thập giá, phải luôn cầm khiên mộc là đức tin, đội mũ chiến là ơn cứu độ và cầm gươm của Thần Khí là Lời Thiên Chúa, phải kiên vững như con bạch mã: không chùn bước khi gặp thử thách, giữa những gian truân, vẫn hí vang khúc hùng ca chiến thắng. Ước gì được như thế!

Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền,OSB.