2. Cảm Nghiệm Sống Lời Chúa

Tất cả là hồng ân

Có một bà lão đạo đức, nhưng nghèo đến nỗi không có đủ tiền mua gạo ăn. Hôm nọ, đói quá không làm gì nổi, bà chỉ còn cách qùy gối giữa nhà, hết lòng tha thiết van nài cùng Chúa:

– Lạy Chúa, xin giúp con có gạo nấu cơm ăn chiều nay, nếu không, chắc con chết mất. Xin Chúa thương con.

Lúc đó, một người vô thần tình cờ đi ngang, anh ta giở một trò để tiêu khiển niềm tin của bà. Anh chạy ra tiệm tạp hóa gần đó, mua một ký gạo, rồi trở về ném tuí gạo qua lỗ vách lá, rơi bịch trước mặt bà. Bà lão vô cùng mừng rỡ và hết sức ngỡ ngàng, đến nỗi quên cả đói khát vừa hô to:

– Cám ơn Chúa, cám ơn Chúa.

Bà vừa chạy vừa khoe với lối xóm là Chúa đã nhận lời bà cầu xin. Thấy bà già đã trúng kế mình, anh chàng vô thần cười chế nhạo, và nói rõ là anh ta vừa ra tiệm tạp hóa mua túi gạo, rồi ném qua lỗ vách cho bà. Nhưng bà già đáp:

– Có thể là anh mang gạo đến cho tôi nhưng tôi bảo đảm là lời tôi cầu nguyện đã được Chúa nhận lời. Tôi cầu xin chiều nay có gạo nấu cơm, và Chúa đã ban cho tôi y như lời tôi cầu. Tạ ơn Chúa, cám ơn anh.

+++++++++++++++++++

Người có đức tin nhìn thấy trong tất cả mọi sự là hồng ân của Thiên Chúa, và ơn Chúa có thể đến bất cứ từ đâu, miễn là chúng ta có một tâm hồn đơn sơ để nhận ra ơn Ngài. Bà lão đã xin gạo và đã được gạo, bà tạ ơn Chúa và nhận ra đó là ân huệ Chúa ban, cho dù gạo đó đến từ một âm mưu đen tối. Nhưng ai âm mưu thế nào không cần biết, chỉ biết tạ ơn Chúa vì đó là ơn lành Chúa ban, như lời Thánh Phaolô: “Xin cảm tạ Chúa vì phúc lộc khôn tả Người ban”. (2 Cr 9,15)

Trong đời sống của chúng ta, ơn Chúa đến từ mọi phiá, có thể nói được là chúng ta đang ngụp lặn trong ân sủng của Ngài:

– Ơn Chúa đến từ những người thân yêu.

– Ơn Chúa đến từ những người độc ác.

– Ơn Chúa đến từ những người quyền thế.

– Ơn Chúa đến từ những kẻ hèn mọn.

– Ơn Chúa đến lúc thoải mái bình an.

– Ơn Chúa đến khi khổ đau hoạn nạn.

Thánh Phaolô đã nhận ra ơn Chúa trong cuộc đời Ngài: “Tôi có là gì, cũng là nhờ ơn Thiên Chúa” (1 Cr15,10). Cuộc sống chỉ có ý nghĩa khi con người ý thức rằng tất cả những gì mình có đều đã lãnh nhận một cách nhưng không, vì sống là nhận lãnh và biết ơn. Biết ơn là nhận ra thân phận bất toàn của mình. Biết ơn là ý thức về tinh thần liên đới với người khác.

Cùng với tác giả Thánh Vịnh, chúng ta hãy ca vang lời tạ ơn: “Con sẽ ca ngợi tình thương Chúa tới muôn đời”. (Tv 88,2a)

++++++++++++

Lạy Chúa, xin cho con nhận thấy được tình yêu thương và ơn lành của Chúa trong cuộc sống con, cho con biết tin tưởng nơi Chúa là mục tử nhân lành dẫn dắt con đi trên cõi đời này. Dẫu lúc con đi trên con đường bằng phẳng, chói chang nắng ấm, hay khi qua thung lũng tối đen hiểm nguy, con không bao giờ nao núng vì Chúa luôn ở với con.

Lạy Chúa, con cám ơn Chúa vì mọi ơn lành – dù to hay nhỏ – trong đời con. Khi nhớ đến những ân huệ đó lòng con ngập tràn vui sướng. Xin cho con hết lòng tin cậy yêu mến Chúa luôn. Amen!

Thiên Phúc

THÍCH NGHE CHÚA NHƯNG LẠI LÀM THEO SATAN

Sau một giảng hay, lòng ta đầy tràn quyết tâm: sẽ bớt nóng giận, sẽ sống yêu thương, tha thứ, phục vụ, nhưng rồi, hôm sau, mọi thứ lại trở về như cũ, không phải vì quyết tâm ấy giả dối, mà vì, ta đã đánh giá quá thấp sức mạnh của những thói quen cũ: lòng ích kỷ, hận thù không biến mất, chỉ vì, nghe một bài giảng; thói kiêu ngạo không tan đi, chỉ vì, hiểu được khái niệm khiêm nhường, nhưng, chúng tan dần nhờ hàng ngàn hàng vạn lần được ta nhận diện và đem chúng đập tan vào thập giá của Đức Kitô. Lời Chúa là con đường để đi, chứ, không phải để ngắm, đừng nghe suông mà lừa dối chính mình, dù đường có dài, nhưng, có đi, ắt, có đến.

Đứa con gái của bà Hêrôđia đã chọn cái đầu của Gioan Tẩy Giả, thay vì, một nửa nước. Có người nói: sao dại thế? Thật ra, chiêu trò của Satan không dại chút nào: nó đâu có nhắm tới một nửa nước Ítraen bé nhỏ, điều nó nhắm tới là cả nhân loại này. Nhân loại theo lời xúi giục của nó, đang lao về phía vực thẳm của sự chết, nếu, có ai đó lên tiếng cảnh báo: bảo quay đầu lại, là nó tìm cách thủ tiêu ngay, càng có nhiều người lên tiếng kêu gọi, thì, nó càng lo sợ nhân loại tỉnh thức, chính vì thế, những người nói Lời Thiên Chúa, ngay cả, Đấng nói chính Lời của Người và bày tỏ cho nhân loại thấy ý định cứu độ của Người, tất cả đều cùng chung một số phận. Gioan Tẩy Giả nói Lời và ý định của Thiên Chúa cho vua Hêrôđê, thì, vua cứ thích nghe; còn, khi con gái bà Hêrôđia nói lời và ý định của mẹ cô cho vua Hêrôđê, thì, vua lại sai người vào ngục chặt đầu ông Gioan. Đây là một nghịch lý của đời sống chúng ta: một mặt, ta thích nghe Lời Thiên Chúa, mặt khác, ta lại thích làm theo lời xúi giục của Satan.

Chưa bao giờ, ta có thể tiếp cận được Lời Chúa dễ dàng như hiện nay. Chỉ với chiếc điện thoại trên tay, ta có thể nghe hết bài này đến bài khác, hết cha này đến cha khác, nghe đến mức thuộc lòng các khái niệm, có thể giải thích rất trôi chảy các vấn đề thiêng liêng, nhưng, chỉ cần một lời chê, một mất mát nhỏ, một sự không vừa ý, thì, mọi hiểu biết dường như tan biến. Sau khi nghe một bài giảng, ta cảm thấy tâm hồn nhẹ hơn, đó là một cảm giác rất đẹp, nhưng, nếu chỉ dừng ở cảm giác ấy, nó cũng sẽ tan đi như một bản nhạc hay vừa kết thúc, ngày hôm sau, những lo âu cũ lại xuất hiện, rồi, ta lại tìm một bài giảng khác để lấy lại bình an, cứ như vậy, việc nghe giảng trở nên một liều thuốc giảm đau tạm thời, ta không còn lắng nghe Lời Chúa để được biến đổi tận gốc, ta chỉ đi tìm cảm giác dễ chịu mà các bài giảng mang lại, và ta vô tình bước vào một vòng lặp, mà chính ta cũng không nhận ra: một vòng lặp của nghe nhiều hơn, biết nhiều hơn, nhưng, cuộc sống thì chẳng thay đổi gì, đây là một chướng ngại trên đường thiêng liêng: không do sự ngu dốt, mà, do tưởng rằng mình đã hiểu rõ biết nhiều.

Bản ngã không bao giờ biến mất, chỉ vì, ta thích nghe những điều thiêng liêng: trước đây, ta muốn sở hữu thật nhiều của cải vật chất, bây giờ, ta lại muốn có thật nhiều những hiểu biết thiêng liêng. Đó là lý do tại sao càng biết nhiều, ta càng khó lắng nghe, hoặc ta nghe không phải để hiểu, mà, chỉ để kiểm tra: nghe xem có đúng với điều mình biết không, nghe xem có điểm nào để mình phản biện không, nghe xem trường phái nào cao hơn trường phái nào, thoạt nhìn, đó là học hỏi, nhưng, nhìn kỹ, đó là sự phòng thủ của cái tôi, lòng ta không còn rộng mở, ta chỉ đang muốn bảo vệ những gì mình đã tích lũy, có lẽ, ta từng chứng kiến những cuộc tranh luận kéo dài hàng giờ: người này trích dẫn giáo lý, người kia nại vào các giáo phụ, người khác nữa viện dẫn các thần học gia hiện đại, ai cũng rất thông minh, ai cũng nói rất lưu loát, nhưng, sau cuộc tranh luận ấy, điều còn lại là gì: có ai bớt tham lam hơn không, có ai bớt nóng giận hơn không, có ai trở nên từ bi, khiêm nhường hơn không, nếu câu trả lời là không, thì, cuộc tranh luận ấy đã nuôi lớn điều gì: nuôi lớn đời sống thiêng liêng hay nuôi lớn bản ngã, đây là câu hỏi mà mỗi người phải tự thành thật trả lời cho chính mình.

Sau một giảng hay, lòng ta đầy tràn quyết tâm: sẽ bớt nóng giận, sẽ sống yêu thương, tha thứ, phục vụ, nhưng rồi, hôm sau, mọi thứ lại trở về như cũ, không phải vì quyết tâm ấy giả dối, mà vì, ta đã đánh giá quá thấp sức mạnh của những thói quen cũ: lòng ích kỷ, hận thù không biến mất, chỉ vì, nghe một bài giảng; thói kiêu ngạo không tan đi, chỉ vì, hiểu được khái niệm khiêm nhường, nhưng, chúng tan dần nhờ hàng ngàn hàng vạn lần được ta nhận diện và đem chúng đập tan vào thập giá của Đức Kitô. Lời Chúa là con đường để đi, chứ, không phải để ngắm, đừng nghe suông mà lừa dối chính mình, dù đường có dài, nhưng, có đi, ắt, có đến.

 Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền,OSB.

 

TIỀM THỨC VÀ…ĐỨC TIN

Tiềm Thức ( Subconscious ) là  thuật  ngữ  thuộc  lãnh vực  Tâm Lý Học và  rất khó để  nhận  biết, nó không phải là Ý Thức, điều đó là tất nhiên nhưng đồng thời cũng không phải là Vô Thức. Mặc dầu rất khó để nhận  biết  nhưng Tiềm Thức lại có ảnh hưởng rất lớn  không những trong đời sống thường nhật  mà còn  ảnh hưởng  sâu đậm  đến  đời sống đức tin  của con người ! 

 Như  đã biết, Tiềm Thức không phải là Ý Thức, mặc dầu nó luôn bắt đầu từ Ý Thức và khi Ý Thức đã thuần thục thì  nó sẽ  chuyển dần vào Tiềm Thức như một thứ Kho Chứa ( Tạng Tâm ). Chính từ cái Kho Chứa ấy mà Tiềm Thức hướng dẫn và điều khiển đời sống con người theo cả hai  khuynh hướng Thiện và Ác. 

 Để cho dễ hiểu, xin đưa ra  ví dụ cụ thể về việc…lái xe: Ban đầu khi mới tập, ta  sẽ dành gần như toàn bộ sự tập trung và ý thức của mình vào việc tập lái, đâu là chân ga, đâu là chân thắng và  hướng đi  trước mặt  v.v…Cho đến khi việc lái xe trở nên thuần thục hơn, khi ấy  ta không còn cần đến  sự can thiệp của ý thức  mà  việc lái xe vẫn diễn ra  cách dễ dàng, không còn căng thẳng. Lại nữa, trên đường về nhà, ban đầu chưa quen đường, quen ngõ, ta còn phải hết sức chú ý, phải đi đường nào, rẽ phải rẽ trái ở quãng nào …Thế nhưng khi đã  quen thuộc rồi thì ta chỉ cần  hành động dưới sự điều khiển của tiềm thức, chẳng cần  phải chú ý gì cả ! 

 Hành động theo sự điều khiển, hướng dẫn của Tiềm Thức như thế gọi là thói quen  và thói quen ấy ở nơi con người gọi là  Tập Quán. Còn ở nơi loài vật gọi là Bản Năng. Chính cái Tập Quán hay Bản Năng ấy, đã  không ngừng  chi phối, điều khiển toàn bộ đời sống của mọi sinh linh vạn vật. 

 Bởi vì hoạt động của Tiềm Thức sâu, xa  và mang tính quyết định như  thế  nên nó cần   được  khám phá,  hầu  áp dụng  vào đời sống  tâm linh của chính mình. Điều  nhất thiết cần  có trong đời sống tâm linh   đó  là đức tin.  Đức tin  được  ví như  một thứ Chìa Khóa để mở  ra cánh cửa bước vào Đạo và Đạo ấy theo quan niệm của minh triết Đông Phương  là một Thực Tại không thể nói, không thể gọi tên:“ Đạo khả đạo, phi thường Đạo. Danh khả danh, phi thường Danh. Vô danh thiên địa chi thỉ. Hữu danh, vạn vật chi mẫu” ( Đạo ) mà có thể gọi được, không ( còn ) phải là Đạo thường. Danh ( mà ta ) có thể gọi được, không ( còn ) là Danh thường. Không tên là gốc của Trời Đất. Có  tên là mẹ của Vạn Vật – Lão Tử ĐĐK chương một ). 

“ Thường” ở đây là thường hằng, bất biến, không sinh không diệt. Chính  bởi vì là…Đạo thường hằng như thế nên nó không thể diễn tả bằng ngôn ngữ, văn tự, bởi vậy, đức Lão Tử mới đưa ra chủ trương về việc “ Học”  thế này: “ Vi  học nhật ích. Vi Đạo nhật tổn. Tổn chi hựu tổn. Dĩ chí  ư vô vi” ( Theo học, ngày càng thêm. Theo Đạo ngày càng bớt, bớt mãi cho đến không còn gì – ĐĐK chương 48 ). 

 Đối với Minh Triết Đông Phương thì “ Đạo” là một Thực Tại thường hằng bất biến không thể dùng ngôn ngữ, văn tự để đạt được. Còn với Đạo Chúa thì Đức Giê Su Ki Tô gọi  “ Đạo” ấy là Đấng Cha và Ngài chính là Con Đường  đến với Đấng Cha ấy: “ Ta là đường là sự  thật  là  sự sống. Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy” ( Ga 14, 6 ). 

Một khi Chúa Giê Su đã khẳng định  mình là Con Đường  duy nhất đến với Đấng Cha thì cần  tin chắc thật vào điều ấy. Trái lại nếu không tin  thì không bao giờ có thể bước đi theo Chúa trên con đường về với  Cha ! Không đặt hết lòng tin vào Đức Ki Tô thì không  bao giờ có thể…đến  được với Đấng Cha  có nghĩa nhận biết Thiên Chúa như đích thực Ngài Là ( Ego sum qui sum – Xh 3, 15 ). 

 Để nhận biết Thiên Chúa như đích thực Ngài Là thì phải có lòng tin vào  Chúa Giê Su như một Con Đường của Sự Thật, của sự sống thần linh. Thế nhưng hiện nay, thần học lại chối bỏ đức tin ấy bằng  cách  đặt  vấn đề “ Đức Giê Su Trước Khi Có Ki Tô Giáo”. Với Ki Tô Giáo hay nói đúng hơn Giáo Hội Công Giáo từ trước tới nay vẫn tin rằng Chúa Giê Su là Đấng Ki Tô cũng gọi là  Chúa Cứu Thế. Còn nay với thần học thì không còn tin như  vậy nữa,  Nước Trời mà Ngài rao giảng chỉ còn  mang tính giải thoát  chính trị  nhằm  đưa con người   thoát   khỏi  cảnh   nghèo đói, bất công xã hội: 

“ Tin Mừng về Nước Trời đã là sự thông báo  về một trạng thái  mới của sự vật trên mặt đất. Một trật tự mới  trong đó người nghèo  không còn nghèo, những người đói sẽ được no và những người bị áp bức  sẽ được giải phóng. Nói “ Nước Cha trị đến” cũng như nói ý cha được thể hiện dưới đất cũng như trên trời” ( LM Vương Đình Bích – Đức Giê Su Trước Khi Có Ki Tô Giáo ). 

Vì lý do tại sao thần học lại có thể…dựng đứng việc Chúa Giê Su rao giảng một thứ Nước Trời mang tính giải phóng chính trị theo kiểu CS như thế ? Xin thưa đó là vì đã có sai lầm nghiêm trọng trong việc giải nghĩa Kinh Thánh: 

“ Nhiều Ki Tô Hữu trong nhiều thế kỷ đã hiểu sai về bản tính của Nước Trời do sự sai phiên dịch  về thánh Luca ( 17, 20 ) như người ta thường thấy ở câu nói” “ Nước Thiên Chúa ở trong anh chị em” Ngày nay, tất cả những vị chú giải Thánh Kinh nghiêm túc, tất cả những  người phiên dịch đều đồng ý rằng  nên đọc: “ Nước Thiên Chúa ở với anh chị em, hoặc ở giữa anh chị em” ( LM Vương Đình Bích đã dẫn ). 

 Sai lầm  của thần học không chỉ diễn ra trong đoạn ( Lc 17, 20 -21 ) về Nước Trời…ở giữa hay ở trong  mà  với  toàn bộ  Kinh Thánh, đặc biệt là  Sách Sáng Thế về  Tạo Dựng. Đang khi việc tạo dựng ấy  là tạo dựng con người là Hình Ảnh Thiên Chúa ( St 1, 26 ) thì lại thành ra tạo dựng Thế Giới Vật Chất Hữu Hình. Chính  do quan niệm sai lầm ấy mà Nước Trời Mầu Nhiệm Nội Tại  đã biến thành…Nước Trời Tục Hóa !!! 

 Nước Trời mà Đức Ki Tô rao giảng là một Tin Mừng lớn lao về một Thực Tại Tâm cần  đặt hết lòng tin cùng với việc sám hối ăn năn tội  mình: “ Thời đã mãn, Nước Thiên Chúa đã gần. Các ngươi hãy ăn năn, sám hối và tin vào Tin Mừng” ( Mc 1, 15 ). Tin vào Tin Mừng của Đức Ki Tô có nghĩa là tin vào sự hiện hữu của Thực Tại Tâm cũng  chính là Nước Trời  mầu nhiệm  nội  tại  ở nơi  mỗi người. 

 Tin vào Đức Ki Tô luôn có nghĩa là tin sự hiện hữu của một  Thực Tại Tâm  mầu  nhiệm, bất sinh, bất diệt. Thế nhưng để có thể có được đức tin ấy thì cần  dốc lòng ăn năn, sám hối chừa cải tội  mình. Có thực lòng sám hối, chừa cải tội  thì mới có được đức tin vào Đức Ki Tô. Càng thực lòng sám hối tội mình bao nhiêu thì đức tin càng tăng trưởng bấy nhiêu, trái lại thì không. Thần học  bởi  cứ chấp  nê vào việc giải nghĩa mà không sống các chân lý  Thánh Kinh  thế  nên  đức tin ngày càng thối thất và  rồi  mất hẳn: “ Văn tự làm cho chết, chỉ thần khí mới làm cho sống” ( 2C 3, 6 ). 

 Chân Lý vốn dĩ là một, dù là Đông hay Tây cũng vậy. Thần Khí mà thánh Phao Lô đề cập tới ở đây chính là một thứ Trực Giác vượt khỏi ngôn  ngữ, văn tự, cái  đã  khiến cho con người ngày càng  xa rời chân lý. Qua câu chuyện dẫn chứng  về thiền sư Hương Nghiêm ( ? 898 ) sau đây cho thấy sự vô ích, nếu không nói  đó  là một trong những  trở ngại lớn  nhất  trên con đường giải thoát  tâm linh: 

“ Sư quê ở Thanh Châu, từ nhỏ sư đã chán cảnh trần thế, sư bèn xuất gia và đến tham học ở nhiều nơi. Đầu tiên, đến tham học nơi thiền sư Bách Trượng Hoài Hải. Sư học rộng, hiểu nhiều, thông suốt nhiều kinh điển, biện luận vô ngại, nhưng vẫn chưa Ngộ Đạo. Sau khi Bách Trượng  thị tịch, sư đến ở với pháp huynh là thiền sư  Qui Sơn Linh Hựu ( đại đệ tử của Bách Trượng )…

…Một hôm, sư đến  tham vấn Qui Sơn, Qui Sơn hỏi: Ta nghe sư đệ ở chỗ sư Bách Trượng thông minh, lanh lợi, nhưng ta không hỏi về chỗ học hành, kinh sách. Giờ đây, hãy nói thử một câu: Khi cha mẹ  chưa sinh xem. Sư không đáp được, bèn về lật hết  các Kinh Sách nhưng vẫn không giải quyết được  mối nghi tình này. Sư tự than rằng: Bánh vẽ chẳng no được cái bụng đói. Rồi đến xin sư Qui Sơn  chỉ bảo nhưng bị Quy Sơn từ chối và bảo: Nếu ta nói, sư đệ sau này sẽ mắng ta vì ta nói là việc của ta, liên hệ gì đến sư đệ ? Sư tự than trách mình yếu kém, tự nói: Đời này  thôi  không học pháp nữa, làm ông tăng thường, lo cơm lo cháo  để khỏi nhọc tâm. Sư về thất, đốt hết sách vở rồi đến từ biệt Quy Sơn ra đi…

…Sư vân du đến Núi Nam Dương, ở tại đây, sư hàng ngày làm ruộng, quét dọn tháp mộ của Quốc Sư Dương Huệ và chuyên tâm tu hành. Một hôm, khi đang quét lá, một viên sỏi bay vèo, đụng trúng khóm tre gây một tiếng  cốc. Sư chợt Đốn Ngộ liền phá lên cười. Rồi trở về thất, tắm gội, thắp hương nhắm  về hướng Quy Sơn mà đảnh lễ để cảm tạ.” 

Chỉ nghe  một tiếng… “Cốc” vang lên khi hòn sỏi bắn vào gốc tre mà Đốn Ngộ. Vậy  cái Ngộ ấy là Ngộ về cái gì ? Đó là  nhận  biết  Giác Tính hay còn gọi là Tánh Phật tức  Tánh Biết vốn vẫn  ở nơi  mình mà mình  không biết. Tánh  Biết  của Đại Thừa Phật Giáo ấy  cũng  là một  với  Đấng Cha mà  Chúa Giê Su  nói là  đã  biết, còn phàm phu chúng ta thì không: “ Các ngươi chẳng từng biết Ngài, nhưng Ta biết Ngài. Nếu Ta nói rằng Ta không biết Ngài thì Ta  sẽ cũng là kẻ  nói dối như các ngươi vậy. Song Ta biết Ngài, cũng giữ Đạo Ngài” ( Ga 8, 55 -56 ). 

 Chúa Giê Su nói Ngài…biết Cha và giữ Đạo Cha tức là  đạo yêu thương đem đến Sự Sống Đời Đời: Chúa Giê Su nói với các tông đồ: “ Ngày đó các con sẽ biết rằng Thầy ở trong Cha Thầy, các con ở trong Thầy và Thầy ở trong các con. Ai có các điều răn của Thầy và giữ lấy  ấy là kẻ thương yêu Thầy. Mà ai thương yêu Thầy  thì sẽ được Cha Thầy yêu mến. Thầy sẽ yêu thương người và tỏ mình ra cho người” ( Ga 14, 20 -21 ). 

 Chúa Giê Su yêu mến và  hoàn toàn vâng phục Thiên Chúa như  là Người Cha thân yêu   của mình;  cũng  vì thế   Ngài  đã  thông biết mọi sự: “ Vào giữa kỳ lễ, Đức Giê Su lên đền thờ và giảng dạy. Người Do Thái lấy làm ngạc nhiên, họ nói: Ông này không học hành gì mà sao  lại thông thạo chữ nghĩa như thế ? Đức Giê Su  trả lời: Đạo lý Ta truyền dạy không phải là của Ta  nhưng là của Đấng đã sai Ta. Ai  vâng theo Thánh Ý  thì sẽ biết rằng  đạo lý ấy  là bởi Thiên Chúa hay  do Ta tự mình nói ra” ( Ga  7, 14 -17 ). 

 Qua lời dạy của Chúa Giê Su cho thấy, yêu mến Thiên Chúa thì phải vâng theo Thánh Ý và chính cái việc vâng phục ấy sẽ đem đến sự khôn ngoan đích thực mà thế gian không sao có thể có được. Thánh Phao Lô nói với dân thành Corinto: “ Thưa anh em, khi tôi đến với anh em, tôi đã không dùng lời lẽ hùng hồn hoặc triết lý  cao siêu  mà loan báo mầu nhiệm của Thiên Chúa. Vì hồi còn ở giữa anh em, tôi đã không muốn biết sự gì khác  ngoài Đức Giê Su Ki Tô mà là Đức Ki Tô chịu đóng đinh trên thập tự giá. Vì thế, khi đến với anh em, tôi thấy mình yếu kém, sợ sệt và run rẩy. Tôi nói, tôi giảng mà chẳng có dùng lời lẽ  khôn ngoan, hấp dẫn  nhưng chỉ dựa vào  bằng chứng xác thực  của thần khí và quyền năng Thiên Chúa. Có vậy, đức tin  của anh em mới không dựa vào lời lẽ khôn ngoan của  phàm nhân  nhưng vào quyền năng của Thiên Chúa…

…Thế mà điều chúng tôi giảng dạy cho các tín hữu trưởng thành cũng là một lẽ khôn ngoan nhưng không phải là lẽ khôn ngoan của thế gian, cũng không phải của  các thủ lãnh thế gian này là những kẻ  sớm muộn gì cũng phải diệt vong” ( 1C. 2, 1 -6 ). 

 Lẽ khôn ngoan  thế gian ở đây ám chỉ cho mọi thứ Triết Học gọi chung là Văn Tự ấy rút cục chỉ đưa đến…sự chết và sự chết  mang tính tâm linh  tác hại lớn lao  do chính Thần Học gây ra đó là cái chết của Thiên Chúa ( The’ologie de la mort de Dieu ). 

Thiên Chúa bị thần học…giết chết,  đó chỉ là thứ Thiên Chúa của khái niệm triết học  chứ không phải Thiên Chúa của Thực Tại Ngài Là. Thiên Chúa đích thực  chính  là Bản Thể Tình Yêu như thánh Gioan Tông Đồ đã tuyên xưng: 

“ Anh em thân mến, chúng ta hãy  yêu thương nhau vì tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa. Phàm ai yêu thương thì sinh bởi Thiên Chúa và nhận biết Thiên Chúa. Còn ai không có lòng yêu thương thì không nhận biết Thiên Chúa vì Thiên Chúa Là Tình Yêu. Tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta được biểu lộ như thế này: Thiên Chúa đã sai Con Một của Ngài đến thế gian để nhờ Người Con ấy mà chúng ta được sống. Tình Yêu cốt ở điều này: Không phải chúng ta đã yêu mến Thiên Chúa nhưng chính Người đã yêu thương chúng ta  và sai Con của Người đến làm của lễ Chuộc Tội cho chúng ta” ( 1Ga 4, 7 -10 ). 

Thiên Chúa đã yêu thương trước, còn về phần chúng ta thì có biết Thiên Chúa là Đấng nào đâu để mà…yêu ? Thế nhưng nhờ Đức Giê Su Ki Tô, chúng ta có được đức tin về Tình Yêu Thương của Thiên Chúa đối với mình. Đức giám mục Bossuet nói: “ Tin mình được Chúa yêu thương là điều khoái lạc biết bao !. 

Tại sao tin mình được Thiên Chúa yêu thương lại là điều khoái lạc ? Bởi vì khi ấy dù  có nghèo đói, khổ cực  hay dù có vấp ngã phạm tội đi chăng  nữa nhưng nếu vẫn tin mình được Thiên Chúa yêu thương che chở, nâng đỡ thì chẳng còn sợ hãi chi nữa ! Mặt khác, trong  việc cầu nguyện, nếu chỉ dựa vào sức mình thì chắc chắn sẽ  thất bại. Nữ tu Jean Baptiste C.P trong cuốn Tin ở Tình Yêu Thiên Chúa. ( La foi en l’Amour  de Dieu ) đã viết: “ Không có lòng tin yêu làm nền tảng cho những cố gắng của mình thì linh hồn  dù  chí khí đến đâu cũng phải ngậm ngùi thất bại” 

 Nhất thiết  cần có lòng Tin, Yêu trong  việc phụng sự Thiên Chúa. Lý do  bởi  vì  Ngài  chính  là Bản Thể Tình Yêu  và khi đã hiểu Thiên Chúa như là Bản Thể ( Subtance ) như thế thì Ngài làm sao có thể tách rời khỏi chúng ta ? Để có thể nhận ra chân lý  kết hợp  ấy, xin đưa ra ví dụ chẳng hạn  các loại bánh như bánh mì, bánh chưng, bánh  ít, bánh  bông lan  v.v…dù có màu sắc, cân nặng, hình dáng  to, nhỏ  khác nhau thế nào nhưng tất cả đều làm bằng bột. Bột và Bánh tuy hai mà một, tuy một mà hai. Không  bao giờ  có  thể tách rời bột ra khỏi bánh và ngược lại. 

 Qua ví dụ cụ thể, dễ hiểu vừa nêu cho thấy không thể tách rời Bột và Bánh. Bột ở đây tượng trưng cho Thiên Chúa, còn Bánh là con người với đủ  loại dòng giống, màu da, chủng tộc  khác nhau. Nếu Bột và Bánh không thể tách rời thì Thiên Chúa  cũng vậy, cũng  không  bao giờ   tách  khỏi  cái  Hình Ảnh do Ngài tạo nên ! Như vậy, sự tách rời ấy  là do con người chứ hoàn toàn không  do Thiên Chúa. Tuy vậy, dù  sự tách rời  ấy  đã  đem lại  biết  bao  lo lắng, muộn phiền  cho con người  nhưng nhờ Đức Ki Tô,  con đường tìm kiếm để  Trở Về đã được thiết lập cùng với lời khuyên nhủ hãy vững  tin vào sự  quan phòng của Thiên Chúa: 

  “ Thế thì chớ lo lắng  rằng: Chúng ta ăn gì, uống gì, mặc gì ? Vì mọi điều đó  dân ngoại  vẫn lo. Song  Thiên Phụ các ngươi  biết các ngươi  cần dùng những thứ ấy rồi. Nhưng trước hết, hãy lo tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Người thì mọi điều ấy Người sẽ thêm cho. Vậy các con đừng lo lắng về ngày mai, ngày mai cứ để ngày mai lo, ngày nào có cái khổ của ngày ấy” ( Mt 6, 31 -34 ). 

 Chúa nói: Ngày nào có cái khổ của ngày ấy có nghĩa con người ta sống là khổ và cái khổ ấy tất cả là vì đã chấp cho xác thân này là mình. Lão Tử nói: “ Ngã sở dĩ hữu đại hoạn giả. Vị ngô hữu thân. Cập ngô vô thân. Ngô hữu hà hoạn” ( Ta sở dĩ có nỗi khổ lớn là vì ta có thân. Nhược bằng không có thân thì đâu có khổ ? –ĐĐK Chương 13 ). 

 Có Thân tức là chấp cho  cái xác thân nặng vài chục kí lô, sống nay chết mai này  là mình. Bao lâu còn chấp  xác thân  là mình thì  không cách chi  thoát  khổ  được. Thế nhưng,  truy nguyên  tới cùng   thì  con người  không sống với  thân xác nhưng là với tư tưởng.  Thật  vậy,  có tư tưởng ăn mới ăn, có tư tưởng đi, đứng, nằm ngồi, rẽ phải, rẽ trái v.v..thì mới đi, đứng, nằm, ngồi v.v…Còn  nói  cách triệt để  như  giáo sư  William James ( 1840 – 1910 ), nhà tâm lý học trứ danh thì “ Chính tư tưởng là người tư tưởng”. 

 Chính bởi tư tưởng đóng  vai trò có tính quyết định như thế, nên Y Học hiện đại mới có phương pháp gọi là Tự Kỷ Ám Thị ( Autosuggestion ) dùng Giả Dược ( Placebo Effect ) để chữa bệnh. Trong việc dùng Giả Dược để chữa bệnh cần có hai điều kiện, trước hết, những viên thuốc giả ấy  cần  được thiết kế giống hệt những viên thuốc thật cả về màu sắc lẫn hình dáng với  giá cả tương xứng. Thứ hai, bệnh viện hay bác sĩ đứng ra chữa trị  cần  có tiếng tăm, uy tín. Nếu không đủ hai tiêu chuẩn này, việc chữa trị sẽ không thể có kết quả ? 

 Dùng Giả Dược để chữa bệnh hiện nay đã được khoa học áp dụng và thành công trong nhiều trường hợp. Tuy nhiên, việc chữa trị ấy  nếu mục đích chỉ là để chữa cái phần xác thịt thôi thì  theo tôi cũng chẳng ơn ích gì. Lý do, bởi  con người ta  nào có  ai  sống mãi trên cõi đời này đâu, kể cả những ông bác sĩ tài giỏi nhất, thử hỏi  có  ông   nào  cứu người ta khỏi phải chết không  ? Tuy nhiên có một vị đệ nhất thần y là Chúa Giê Su lại có thể cứu con người  khỏi chết đời đời. Nghe tin Lazaro bị ốm, Chúa Giê Su đến thăm nhưng khi đến nơi thì được Matha  khóc và báo: “ Thưa Thầy, nếu có Thầy ở đây thì em  con đã không chết. Nhưng bây giờ con biết, bất cứ điều gì Thầy xin cùng Thiên Chúa, Người cũng ban cho Thầy. Chúa nói: Em  con  sẽ không chết, Matha thưa: Con biết em con sẽ sống lại  khi kẻ chết sống lại trong ngày tận thế. Chúa Giê Su liền phán: Ta là sự sống lại và là sự sống, ai tin Ta  thì dù đã chết cũng sẽ được sống lại, con có tin điều đó không ? Matha đáp: Thưa Thầy con  vẫn tin Thầy là Đức  Ki Tô, Con Thiên Chúa Hằng Sống phải đến trong thế gian” ( Ga 11, 21 -27 ). 

Tin Chúa Giê Su là Đấng Ki Tô sẽ không phải chết đời đời, thế nhưng niềm tin ấy ngày nay dường như đã không còn ? Chính Chúa Giê Su đã báo  cho biết điều này: “ Liệu khi Con Người đến, há còn tìm thấy đức tin trên mặt đất này  chăng ?” ( Lc 18, 8 ). Tình trạng  mất  đức tin như hiện nay đang thấy, đó  chính là một trong những điều báo của Ngày Chúa Đến  và điều này đã được  cả Chúa Giê Su cũng như Đức Mẹ truyền cho thánh nữ Faustina Kowaska. Chúa nói: “ Con sẽ chuẩn bị cho lần đến sau cùng của Cha ( NK 429 ) Còn Đức Mẹ nói: “ Mẹ đã ban Đấng Cứu Thế cho thế giới. Còn con, con phải nói cho  thế giới biết  về lòng thương xót bao la của  Người  và chuẩn  bị cho thế giới tiếp đón Người đến trong lần thứ hai. Người không đến trong tư cách  Đấng Cứu Độ Nhân Lành  nhưng trong tư cách một Thẩm Phán Chí Công” ( NK 635 ). 

 Tình trạng mất đức tin của Dân Chúa hiện nay, như đã nói đó là một trong những điềm báo  Ngày  Chúa Đến đã gần kề. Thế nhưng hầu như người ta vẫn dửng dưng coi như đó là chuyện viển vông xa vời chẳng liên quan gì đến mình. Tuy vậy, với những ai thực sự quan tâm đến thời sự trong  thời gian  gần đây, ngay trong năm 2026 này sẽ thấy Lời Chúa đã hoàn toàn ứng nghiệm: “ Các ngươi  sẽ nghe về giặc và tiếng đồn về giặc giã, chiến tranh. Hãy bình tĩnh, chớ kinh hoảng  vì những sự ác phải xảy đến. Song kỳ cuối cùng chưa đến đâu, vì dân này sẽ dấy nghịch cùng dân kia, nước nọ đánh nước khác. Nhiều nơi sẽ có động đất, sẽ có nạn đói. Song đó mới chỉ là khởi đầu cơn quặn thắt.  Bấy giờ, người ta  sẽ nộp các ngươi vào sự  hoạn nạn và giết đi. Các ngươi sẽ bị mọi dân  thù ghét vì Danh Ta. Khi ấy, nhiều kẻ sẽ vấp phạm, bắt nộp lẫn nhau  và ghen ghét nhau. Nhiều tiên tri giả sẽ dấy lên và lừa dối nhiều người. Lại  vì có sự gian ác thêm nhiều  nên tình thương yêu sẽ nguội lần. Song ai bền đỗ đến cùng thì người ấy được cứu” ( Mt 24, 6 -13 ). 

 Những ai bền đỗ đến cùng, sẽ được cứu và cứu ở đây không có nghĩa là không phải chết, nhưng là sau khi chết sẽ được về Thiên Đàng hưởng Nhan Thánh Chúa đời đời. Điều quan trọng nhất, không chi sánh bằng  đối với mỗi một Ki Tô Hữu chúng ta dù ở trong bất cứ đấng bậc nào  là sau khi qua đời được về nơi  Cõi Phúc Thiên Đàng. Thế nhưng để được về nơi  vinh  phúc  đó nhất là trong hoàn cảnh  nguy nan hiện nay  thì cần có sự chuẩn bị, sẵn sàng. Chúa Giê Su, với lòng thương xót vô biên, Ngài đã truyền cho thánh Faustina vẽ một bức ảnh: “ Hãy vẽ  một bức ảnh  theo như mẫu con nhìn thấy với hàng  chữ: Lạy Chúa Giê Su, con tín thác nơi Chúa. Cha ước mong bức ảnh này  được tôn kính, trước là trong nhà nguyện của các con  và ( sau đó tại khắp nơi trên thế giới ). Cha hứa rằng linh hồn nào tôn kính Bức Ảnh  này  sẽ không bị hư mất. Cha cũng hứa cho họ  vinh thắng những kẻ thù  ngay trên thế gian này, nhất là trong giờ lâm tử. Chính Cha sẽ bảo vệ họ như  vinh quang riêng của Cha” ( NK 47 ). 

 Lời hứa của Chúa  Giê Su, những ai trong giờ lâm chung mà nhìn Bức Ảnh Lòng Thương Xót với sự tôn kính thì sẽ được  Chúa cứu. Một khi Chúa đã hứa như vậy thì chắc chắn phải được, thế nhưng làm sao để có được sự tôn kính ấy, đó mới là điều quan trọng và đây chính là điểm cốt yếu trong việc chữa trị  bằng Ám Thị của  Y Khoa thời hiện đại. 

 Như đã biết việc  sử dụng Giả Dược để chữa bệnh sở dĩ có kết quả là nhờ  ở  hai yếu tố, một là viên thuốc giả ấy phải làm giống y như viên thuốc thật, hai là bệnh nhân cần  có lòng tin vào vị bác sĩ  uy tín, tài năng. Cả hai yếu tố này chẳng qua mục đích để tạo niềm tin cho người bệnh. Đang khi đó với Bức Ảnh Lòng Thương Xót cùng với câu: “ Lạy Chúa Giê Su, con tín thác  nơi Chúa” ta cứ nhìn ngắm hết ngày này tháng khác thì sao lời ấy lại chẳng in sâu vào tiềm thức và khi tiềm thức đã ghi  nhớ được…câu thần chú cùng với Hình Ảnh Chúa Giê Su  sắc nét rõ ràng như thế làm sao lại không có được như lời Chúa hứa ? Chỉ với  niềm tin vào vị bác sĩ, cũng  là người  đời  mà còn  chữa  khỏi  bệnh, huống chi là đức tin vào Chúa Giê Su như  thánh Phao Lô  nói: “ Đấng đã yêu mến tôi và hiến mạng sống mình vì tôi” ( Gl 2, 30 ). 

Phùng  Văn  Hóa 

 

NHỊN ĂN GIÁN ĐOẠN VÀ ĐỜI SỐNG TÂM LINH

Sau khi chịu Phép Rửa tại sông Gioc Đan, Chúa Giê Su vào trong hoang địa, tại đó, Ngài ăn chay ròng rã suốt 40 ngày, 40 đêm, rồi  chịu Sa Tan cám dỗ: “ Khi ấy, tên cám dỗ đến gần Người, nói: Nếu ông là Con Thiên Chúa thì hãy truyền  cho những hòn đá này hóa thành bánh mà ăn đi !. Nhưng  Người đáp: Đã có lời chép rằng: Người ta sống không nguyên bởi bánh, nhưng còn nhờ mọi lời Thiên Chúa phán ra” ( Mt 4, 3 -4 ).

Lời Chúa Giê Su trích dẫn Kinh Thánh để đáp lại Sa Tan là lời được trích trong Sách Đệ Nhị Luật với  đầy đủ ý nghĩa  như sau:“ Hãy nhớ trọn con đường nơi đồng vắng, mà Giehova ĐCT ngươi  đã dẫn ngươi đi  trong 40 năm này để hạ ngươi xuống và thử thách ngươi, đặng biết điều có ở trong lòng ngươi hoặc ngươi có gìn giữ những điều răn của Người  hay chăng ? Vậy, Người có hạ ngươi xuống, làm cho ngươi bị đói, đoạn cho ăn manna mà ngươi cùng tổ phụ ngươi  chưa hề biết, để khiên ngươi biết rằng: loài người sống không chỉ bởi cơm, bánh  nhưng còn sống bởi mọi lời bởi miệng Đức Chúa  phán  ra. Trong bốn mươi năm này, áo xống ngươi không hư mòn, chân ngươi chẳng phù lên. Vậy khá nhận biết trong lòng rằng: Giehova ĐCT ngươi, sửa phạt ngươi như một người cha sửa phạt con mình vậy.” ( Đnl 8, 2 -5 ).

Cuộc Vượt Qua của Dân Chúa từ đất nô lệ Ai Cập trở về nơi Đất Hứa Canaan là cuộc hành trình đầy thử thách, gian nan nhưng luôn có sự quan phòng của Thiên Chúa. Khi dân đói, khát thì Người ban cho bánh và nước uống, khi bị rắn, bò cạp, trùng độc cắn thì Người truyền đúc  một con rắn đồng để ai nhìn lên thì được cứu. Sự quan phòng của Thiên Chúa trong Cuộc Vượt Qua ấy thật vô biên, vô hạn, thế nhưng Dân Chúa cần  nhận biết mục đích của cuộc hành trình, nếu không, sẽ không thể vượt qua  được  thử thách:

“ Vậy, khá coi chừng, chớ nói trong lòng rằng: Ấy nhờ quyền năng ta  và sức lực của tay ta mà đoạt được những sản nghiệp này. Hãy nhớ lại Giehova ĐCT ngươi, vì ấy là Ngài ban cho ngươi sức lực  đoạt được những sản nghiệp , để làm trọn sự Giao Ước Ngài đã thề cùng tổ phụ ngươi, y như Ngài đã làm ngày nay” ( Đnl 8, 17 -18 ).

Tin vào sự quan phòng của Thiên Chúa hầu có thể tiến bước trong Cuộc Vượt Qua  là điều cần thiết, thế nhưng lòng tin ấy không hề  tránh cho Dân Chúa khỏi phải tìm kiếm, bởi vậy, Chúa Giê Su nói:“Thế thì, chớ lo lắng rằng chúng ta ăn gì ? Uống gì ? Mặc gì ? Vì mọi điều đó dân ngoại vẫn lo. Song Thiên Phụ các ngươi biết các ngươi cần dùng những thứ ấy rồi. Nhưng trước hết, hãy lo tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Người thì mọi điều ấy sẽ được thêm cho. Vậy các ngươi chớ lo lắng về ngày mai, ngày mai cứ để ngày mai lo, ngày nào  có cái khổ của ngày đó” ( Mt 6, 31 -34 ).

Có thể nói, con người ta thường trực sống trong các mối lo và mối lo hàng đầu đó  chính là…lo đói. Thật vậy, chẳng phải cái mối Lo Đói ấy đã chi phối mọi hoạt động của con người trong mọi thời, mọi  nơi  hay sao ? Thậm chí các cuộc chiến tranh, các cuộc xâm chiến thuộc địa trong thế kỷ 19 hoặc dưới các hình thức tinh vi ngày nay cũng chỉ để đáp ứng cho cái nhu cầu Lo Đói ấy mà thôi. Lo đói mà chẳng giải quyết được gì, trái lại càng khiến cho nạn đói trên thế giới càng gia tăng đúng như cảnh báo của Chương Trình Lương Thực Thế Giới ( WFP ): “ Ngay trong năm 2026 này sẽ có 320 triệu người có nguy cơ đối mặt với nạn đói nghiêm trọng, tăng hơn gấp đôi so với năm 2019. Nếu không có hành động khẩn cấp cuộc khủng hoảng…đói, nghèo  này sẽ lan rộng ở cấp độ toàn cầu trong thời gian tới” ( Nguồn Báo Nhân Dân – 20/11/2025 ).

Lo đói chẳng những không…hết đói mà còn gia tăng, vậy đâu là nguyên nhân gây nên tình trạng đáng lo âu đó ? Xin thưa nguyên nhân sâu xa chính là vì con người đã không sống  thuận theo Tính Bản Nhiên mà Đấng Tạo Hóa đã sắp  đặt ở nơi nó. Thay vì nhịn đói để cơ thể được nghỉ ngơi thì lại bắt nó phải ăn quá  no, quá nhiều. Con người được ví như một tiểu vũ trụ, trong đó cơ thể được tạo thành từ hàng nghìn tỷ tế bào, mỗi tế bào lại có cấu trúc và chức năng riêng nhưng tất cả đều hài hòa trong một thế liên hợp kỳ diệu. Tuy nhiên sự hài hòa ấy đã bị phá vỡ và đó chính là mầm mống gây ra đủ mọi thứ  bệnh tật, đau đớn, nhức mỏi, kể cả các  tai vạ đưa đến: “ Bệnh theo miệng mà vào. Họa từ miệng mà ra”.

Để hiểu tại sao…ăn no lại phát sinh bệnh tật,đau ốm còn nhịn đói lại giúp cơ thể được nghỉ ngơi, khỏe mạnh, chúng ta cần trở lại lịch sử của việc…ăn no. Theo BS Yoshinori Nagumo thì tại Nhật Bản, chủ trương việc ăn no tức ăn ngày 03 bữa chỉ mới được thực hiện sau Thế Chiến II cùng với cách nghĩ “ Cung cấp đủ dưỡng chất là bí quyết của sức khỏe”. Chính với quan niệm sức khỏe chỉ có thể có được khi cung cấp  đủ dưỡng chất mà người ta đã lạm dụng nó khiến con người phải đối diện với đủ thứ bệnh tật, ốm đau như tim mạch, béo  phì, tiểu đường typ 2, gout, viêm loét tá tràng  kể cả ung thư v.v…

Ăn no khiến phát sinh bệnh tật, ốm đau do cơ thể không có được sự nghỉ ngơi cần thiết; để rồi từ đó chủ trương Nhịn Ăn Gián Đoạn ra đời. Đây là  khám phá khoa học đoạt giải Nobel Y Sinh năm 2016 của giáo sư Yoshinori Ohsumi thuộc Viện Công Nghệ Nhật Bản.

Nhịn Ăn Gián Đoạn ( Intermittent Fastin ) hoàn toàn khác với việc Bỏ Đói cơ thể. Bỏ Đói khiến cơ thể suy kiệt rồi chết, còn Nhịn Ăn Gián Đoạn khiến được nghỉ ngơi, khỏe mạnh. Có thể ví như một  căn phòng nọ, nếu  hàng ngày cứ chở đến, chất chứa vào đó  đủ thứ vật dụng lớn nhỏ thì rồi căn phòng ấy có ngày  sẽ trở nên chật chội, bức bối đến nỗi không còn chỗ để nghỉ ngơi, thư giãn ? Đối với cơ thể ta cũng vậy, nếu cứ ăn, cứ uống hết bữa này bữa khác, từ sáng đến trưa rồi cả đêm khuya nữa thì dạ dày sẽ đầy ứ, gây khó khăn cho việc tiêu hóa. Một khi thức ăn chưa tiêu hóa hết sẽ đọng lại trong bao tử, trong ruột, thấm vào máu, bệnh tật  từ đó phát sinh là điều đương nhiên !

Nhịn Ăn Gián Đoạn  mục đích  là để tạo khoảng cách giữa các bữa ăn, khoảng cách ấy cần đủ độ dài thì cơ thể mới thực sự được chữa lành và nghỉ ngơi. Khoảng cách lý tưởng của Nhịn Ăn Gián Đoạn là 16/8, có nghĩa chỉ ăn trong khoảng thời gian 08 tiếng, còn nhịn ăn hoàn toàn trong 16 tiếng đồng hồ còn lại trong ngày. Trong khung thời gian nhịn 16 tiếng này, không được ăn, được uống bất  cứ thứ gì chứa Calo  chẳng hạn một lá rau, một viên kẹo nhỏ….

Tùy theo hoàn cảnh, công việc, mỗi người có thể áp dụng phương pháp Nhịn Ăn Gián Đoạn theo cách phù hợp. Có nhiều  khung giờ khác nhau nhưng theo kinh nghiệm bản thân từ hơn một năm nay thì bữa ăn cuối cùng trong ngày chấm dứt lúc 19 giờ, nhịn qua đêm đến 10 giờ sáng hôm sau là đã nhịn  đủ 16 tiếng. Trong khung 08 giờ được ăn đó nên bảo đảm có đủ dưỡng chất, tinh bột ( Cơm, phở, bún ) đạm ( Thịt, Cá ) và rau, củ xanh, tươi. Tuy nhiên đối với chất đạm thì nên hạn chế thịt nhất là thịt heo, thịt bò mà nên  ưu tiên các loại cá béo như cá bông lau, cá tra, cá hồi v.v…

Để hiểu tại sao cần nhịn ăn trong khoảng 16 tiếng đồng hồ mới có tác dụng chữa bệnh, chúng ta cần biết qua diễn tiến  xảy ra trong cơ thể: Từ khi bắt đầu nhịn đến 04 giờ không có gì xảy ra. Sau 04 đến 05 giờ, thức ăn trong dạ dày đã tiêu hóa hết, trở thành một thứ dưỡng chất lỏng đi vào ruột non. Từ 06  đến 16 giờ, glucogen khi ấy đã ở mức thấp nhất và insulin, một thứ hocmon đóng vai trò quan trọng trong việc điều hòa nồng độ gluco trong máu được ổn định đã ở vào tình trạng chạm đáy, có nghĩa Tuyến Tụy khi ấy đã được nghỉ ngơi. Điều này trái ngược với việc liên tục cứ ăn cứ uống đưa đến tình trạng kháng Insulin, khiến gluco tích tụ trong máu là nguyên nhân đưa đến bệnh đái tháo đường type 2, nhồi máu cơ tim, gan nhiễm mỡ …

Chỉ khi đạt đến việc nhịn ăn 16 tiếng thì cơ chế Autophagy mới thực sự được kích hoạt. Autophagy bắt nguồn từ tiền tố tiêng Hy Lạp, trong đó Auto nghĩa là tự động, còn Phagy nghĩa là tự ăn. Do đó Autophagy trong hàm ý dễ hiểu nhất có nghĩa là tế bào tự ăn tế bào. Dưới góc độ khoa học, Autophagy được gọi với cái tên Tự Thực Bào là một quá trình làm sạch sinh học tự nhiên mà trong đó tế bào  phá vỡ các thành phần cũ, hư hỏng, không cần thiết hoặc rối loạn chức năng trong tế bào và sau đó tái sử dụng các thành phần đó làm nhiên liệu, năng lượng để chúng trở thành các tế bào khỏe mạnh hơn.

Như đã nói, cơ chế Autophagy chỉ kích hoạt sau khi nhịn ăn được 16 tiếng đồng hồ. Khi ấy glycogen dự trữ trong gan  ở mức thấp nhất, hocmon Insuline do Tuyến Tụy sản sinh  đã  cạn kiệt. Trong trạng thái này, cơ thể  chuyển  đổi nguồn nhiên liệu để sử dụng giống như xe đang chạy bằng xăng sang Pin Điện. Kho mỡ  dự trữ trong gan và trong cơ thể  chuyển hóa acid béo thành Ketone và não khi ấy đã được cung cấp một thứ năng lượng sạch hơn bao giờ hết.

Có thắc mắc được nêu ra khi nhịn ăn  nhiều giờ như thế khiến bụng đói cồn cào thì liệu chừng có bị mất cơ, khiến cơ thể gầy mòn, yếu nhược  đi không ? Để trả lời cho thắc mắc này, các nhà khoa học viện dẫn những con người tiền sử trong thời săn bắt, hái lượm, có khi vài ba ngày phải nhịn đói nhưng không vì thế mà mất đi cơ bắp, trái lại các quan năng như mắt nhìn, tai nghe, tứ chi càng trở nên nhạy bén, khỏe mạnh hơn ?

Qua  dẫn chứng trên đây cho thấy Bản Năng Sinh Tồn mà Tạo Hóa đã phú bẩm không những  ở nơi con người mà còn có  trong toàn thể các loài động vật khác. Bản Năng ấy cũng chính là Gene Sinh Mệnh  mà loài người thu nạp được sau  khi  đã  vượt qua  những mối  hiểm nguy  như  các nạn đói liên tiếp  cũng như  nhiều thứ thiên tai khác !!!

Bản Năng Sinh Tồn  giúp cho muôn loài được tồn tại. Thế nhưng  cũng chính cái Bản Năng ấy đã  khiến con người nếu không  Vượt Qua được thì sẽ không sao có thể bước vào Cõi Sống Đời Đời mà Thiên Chúa trong suốt Lịch Sử  Cứu Độ, đã không ngừng  kêu gọi những  người  được  chọn  sẵn sàng  bước vào. Dân Itsraen chính là Dân được tuyển chọn ấy nhưng  cuối cùng họ đã  nhất quyết từ chối. Trước khi qua đời, tiên tri Moise đã triệu tập các bậc trưởng lão, kỳ mục trong dân đến và truyền  cho  những lời này:

“ Vì ta biết rằng: Sau khi ta qua đời, các ngươi hẳn sẽ bại hoại, phản bội đường lối ta  đã truyền đạt cho các ngươi. Trong ngày sau rốt, tai họa sẽ  xông hãm các ngươi, bởi các ngươi đã làm điều ác  trước mặt Đức Giehova, lấy những việc của tay mình mà chọc cho Ngài nổi giận” ( Đnl 31, 29 ).

Ý nghĩa sâu xa của việc làm điều ác ở đây theo quan niệm của  Minh Triết Đông Phương đó là không sống theo Thiên Mệnh, mà  không sống theo Thiên Mệnh thì ắt sẽ đưa đến diệt vong:“Thuận Thiên Giả Tồn. Nghịch Thiên  giả vong” Còn Chúa Giê Su như trong Kinh Lạy Cha, Ngài dạy: “ Vâng Ý Cha dưới đất cũng như trên trời”. Đất ở đây cần được hiểu như là Thân còn Trời là Tâm. Thân  và Tâm cần  hiệp nhất, đó mới  là  lẽ sống của Đạo Chúa !

Mục đích của phương pháp Nhịn Ăn Gián Đoạn ngoài việc làm cho thân thể khỏe mạnh, nó còn giúp cho tâm trí  ngày càng trở nên minh mẫn, sáng suốt hơn trong cuộc sống. Tuy nhiên có một vấn đề mang tính chất muôn thuở cần đặt ra, đó là về ý nghĩa của cuộc đời, con người ta sinh ra, sống trên cõi đời này một thời gian nào đó rồi cũng theo nhau mà chết đi, hết thế hệ này đến thế hệ khác, rút cục để được gì ?

Suy tư về cái chết luôn là lẽ khôn ngoan trong mọi truyền thống, đạo học, tâm linh. Có suy tư như vậy con người ta mới  có thể tránh được những ham hố, phiền muộn, lắng lo, stress chất đầy trong thời đại đang bên bờ diệt vong hôm nay:“ Phải như thế, vì anh em biết chúng ta đang sống trong thời nào. Đêm sắp tàn, ngày hầu đến, vậy chúng ta hãy lột bỏ những việc tối tăm mà mặc lấy binh giáp của sự sáng. Chúng ta hãy ăn ở đoan trang như đang sống  giữa  ban ngày, chớ tiệc tùng  say sưa, chớ đắm sắc  buông tuồng, chớ cãi cọ, ganh ghét, nhưng hãy mặc láy Chúa Giê Su Ki Tô và đừng chiều theo  tính xác thịt mà thỏa mãn các dục vọng” ( Rm 13, 11 -14 ).

Thánh Phao Lô nói “ Ngày hầu đến” ám chỉ cho Ngày Chúa Quang Lâm đã gần kề. Ngày Ấy sẽ là ngày đoán phạt “ Kẻ bất nghĩa cứ để nó làm điều bất nghĩa nữa. Kẻ công chính cứ để nó làm điều công chính nữa. Kẻ thánh cứ để người nên thánh nữa. Kìa Ta đến mau chóng, đem tiền công theo  để trả cho mỗi người tùy công việc của họ. Ta là Alpha và Omega, là Đầu và Cuối là Khởi Nguyên và Tận Cùng” ( Kh 21, 11 -13 )./.

 Phùng  Văn  Hóa   

 

CHÚA GIÊSU CÓ PHẢI LÀ NGƯỜI “DỄ TÍNH” KHÔNG?

Có lần tôi ngồi uống cà phê với vài người bạn. Chúng tôi nói đủ chuyện từ bóng đá, giá sinh hoạt, làm ăn, con cái đến sức khỏe. Rồi câu chuyện chuyển sang chuyện tâm linh, tín ngưỡng và tôn giáo. Một người bạn không theo đạo bất chợt hỏi: “Nè, ông Giêsu có phải là người dễ chơi không?” Tôi bật cười vì câu hỏi thật lạ. Người có đạo thường hỏi Chúa có ban điều mình xin không, hay phải cầu nguyện thế nào. Còn anh bạn lại hỏi một câu rất đời: “Ông Giêsu có dễ chơi không?” Tôi không trả lời ngay, bởi nhận ra đây là một câu hỏi rất đáng để suy nghĩ. 

  1. Chúa Giêsu không hề kén chọn bạn bè

Ở Việt Nam, “dễ chơi” nghĩa là dễ gần, không màu mè, không chảnh, không xét nét, có thể ngồi uống ly cà phê, ăn tô hủ tíu để tâm sự mà không sợ bị coi thường. Nhưng “dễ chơi” không có nghĩa là ba phải, ai nói gì cũng gật. Vậy nếu gặp Chúa Giêsu ngoài đời, Ngài sẽ là kiểu người nào? Liệu Ngài có phải là người mà ai cũng muốn ngồi chung bàn, hay là một vị đạo đức nghiêm nghị khiến người ta phải đứng xa?

Khi đọc các sách Tin Mừng, hầu như ai cũng muốn đến gần Chúa Giêsu: trẻ em, người nghèo, người bệnh và cả người tội lỗi. Đức Giáo Hoàng Phanxicô từng ví Giáo Hội như “bệnh viện dã chiến sau trận đánh”, nơi những người bị thương được đón nhận và chữa lành.

Chúa Giêsu không kén chọn bạn bè. Ngài nhận lời đến dự tiệc tại nhà Lêvi, một người thu thuế vốn bị xã hội khinh miệt. Khi bị xì xào, Ngài nói: “Người khỏe mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi” (Mc 2,17). Ngài tìm đến những người đang cần được chữa lành.

Với người phụ nữ Samaria bên giếng Giacóp (Ga 4,7-26), Chúa Giêsu cũng không bắt đầu bằng lời kết án. Ngài chủ động xin nước và trò chuyện với chị, dù người Do Thái vốn tránh tiếp xúc với người Samaria, nhất là một phụ nữ có quá khứ yêu đương phức tạp. Ngài giúp chị nhận ra giá trị của mình trước khi mời gọi chị thay đổi.

Ông Dakêu cũng vậy. Bị cả thành phố khinh ghét, ông phải trèo lên cây sung để nhìn Chúa Giêsu. Nhưng Ngài lại ngước lên trước và nói: “Này ông Dakêu, xuống mau đi, vì hôm nay tôi phải ở lại nhà ông” (Lc 19,5). Đức Bênêđíctô XVI viết: “Trở thành Kitô hữu… là trải qua một biến cố, gặp gỡ một nhân vật có khả năng mở đời mình ra cho một chân trời mới” (Deus Caritas Est, số 1). Được Chúa đón nhận, Dakêu tự nguyện nói: “Tôi xin lấy một nửa tài sản cho người nghèo; nếu tôi đã chiếm đoạt của ai cái gì, tôi xin đền gấp bốn” (Lc 19,8). Không ai ép buộc ông. Tình yêu đã làm điều mà lề luật không thể làm nổi.

  1. Chúa Giêsu rất dễ gần, nhưng không hề dễ dãi

Nếu chỉ đọc những câu chuyện Chúa Giêsu ăn uống với người thu thuế hay tha thứ cho người tội lỗi, chúng ta dễ nghĩ Ngài là người dễ dãi. Nhưng Chúa Giêsu rất dễ gần mà không hề dễ dãi. Ngài mở rộng vòng tay đón nhận mọi người, nhưng vì yêu thương, Ngài không muốn họ tiếp tục sống trong thói hư tật xấu và “con người cũ”.

Câu chuyện người phụ nữ bị bắt quả tang ngoại tình (Ga 8,1-11) diễn tả điều ấy rất rõ. Chúa Giêsu nói: “Ai trong các ông sạch tội, thì cứ việc lấy đá mà ném trước đi” (Ga 8,7). Khi đám đông lần lượt bỏ đi, Ngài nói với chị: “Tôi không lên án chị đâu. Thôi chị cứ về đi, và từ nay đừng phạm tội nữa” (Ga 8,11). Hai câu nói diễn tả trọn vẹn cách Ngài yêu thương: “Tôi không lên án chị” là lòng thương xót; “Đừng phạm tội nữa” là lời mời gọi trở về với sự thật. Ngài không ghét tội nhân, nhưng muốn chữa lành căn bệnh tội lỗi nơi họ.

Chúa Giêsu cũng có những lời rất “khó nghe”. Sau phép lạ hóa bánh ra nhiều, dân chúng tìm đến vì muốn được ăn, nhưng Ngài lại nói về Bánh Hằng Sống: “Ai ăn thịt và uống máu tôi thì được sống muôn đời” (Ga 6,54). Nhiều môn đệ liền bỏ đi. Ngài không sửa lời để chiều lòng đám đông, mà hỏi Nhóm Mười Hai: “Cả anh em nữa, anh em cũng muốn bỏ đi hay sao?” (Ga 6,67). Phêrô đáp: “Bỏ Thầy thì chúng con biết đến với ai? Thầy mới có những lời đem lại sự sống đời đời.”

Ngài yêu thương nhưng cũng dám sửa dạy. Chúa Giêsu khiển trách các kinh sư và Pharisêu không phải vì họ giữ luật, nhưng vì họ đặt hình thức lên trên lòng thương xót, chất gánh nặng lên người khác mà chính mình không muốn mang (Mt 23,2-7). Khi Phêrô can ngăn Ngài bước vào con đường thập giá, Chúa Giêsu cũng nói rất mạnh: “Xatan, lui lại đằng sau Thầy!” (Mt 16,23). Bởi đôi khi yêu thương chính là dám nói một sự thật khó nghe.

Điều “khó chơi” nhất nơi Chúa Giêsu nằm ở những đòi hỏi của Ngài: “Hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em” (Mt 5,44); tha thứ “bảy mươi lần bảy” (Mt 18,22); và “Ai muốn theo tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo” (Lc 9,23). Khó nhất trong đời sống Kitô hữu không phải chỉ là đi lễ hay đọc kinh, mà là tha thứ khi bị xúc phạm, yêu người làm tổn thương mình và sống trung thực giữa một môi trường gian dối. Trong Bữa Tiệc Ly, Ngài trao điều răn mới: “Anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em” (Ga 13,34). Chữ “như” ấy đòi hỏi một tình yêu đến cùng, kể cả khi bị phản bội và phải hy sinh.

Vì thế, nếu hỏi: “Ông Giêsu có dễ chơi không?”, câu trả lời là CÓ, vì Ngài rất dễ gần. Nhưng “sống như Ngài có dễ không?” thì KHÔNG HỀ DỄ. Theo Ngài là để cho Ngài biến đổi chính cõi lòng mình.

  1. Càng đi với Ngài, cái khó lại càng trở thành niềm vui

Yêu kẻ thù, tha thứ không giới hạn, vác thập giá mỗi ngày… nghe thôi đã thấy “đuối”. Những tiêu chuẩn ấy đi ngược với bản năng tự nhiên. Nếu Kitô giáo chỉ là một bộ luật, nó đã không tồn tại suốt hai ngàn năm. Điều làm nên sự khác biệt là Chúa Giêsu không chỉ ra lệnh, mà Ngài còn ban sức mạnh để con người làm được điều Ngài dạy.

Chúa Giêsu luôn bắt đầu bằng tình yêu trước khi đưa ra yêu cầu. Ngài gọi Matthêu khi ông còn ngồi ở bàn thu thuế, bước vào nhà Dakêu trước khi ông quyết định đền lại những gì đã lấy. Ân sủng luôn đi trước sự hoán cải. Thánh Phaolô viết: “Chúa Kitô đã chết vì chúng ta ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi” (Rm 5,8). Chúa không đợi chúng ta tốt rồi mới yêu; chính vì được yêu mà chúng ta dần trở nên tốt hơn.

Thánh Phêrô là minh chứng rõ ràng. Từ một ngư phủ nóng nảy, từng ba lần chối Thầy, ông đã trở thành vị mục tử dám hy sinh mạng sống vì đoàn chiên. Sau Phục Sinh, Chúa Giêsu không trách móc, chỉ ba lần hỏi: “Anh có yêu mến Thầy không?” (Ga 21,15), để chữa lành ba lần ông chối Chúa.

Chúa thay đổi con người bằng tình yêu chứ không bằng ép buộc. Ngài nói: “Ách của tôi thì êm ái, và gánh của tôi thì nhẹ nhàng” (Mt 11,30). Ngài không nói thập giá nhẹ, nhưng hứa cùng chúng ta mang thập giá. Một bao gạo nặng năm mươi ký sẽ nhẹ hơn khi hai người cùng khiêng. Cũng vậy, Chúa không cất hết khó khăn, nhưng Ngài luôn ở bên để chúng ta không phải mang gánh nặng một mình.

  1. Niềm vui của những người đã gặp Chúa Giêsu

Các vị thánh như Phanxicô Assisi, Maximilian Kolbe hay Têrêsa Calcutta đều sống giữa nhiều hy sinh, nhưng tâm hồn luôn tràn đầy niềm vui sâu xa. Đức Giáo Hoàng Phanxicô viết: “Niềm Vui của Tin Mừng đổ đầy trái tim và cuộc sống của tất cả những ai gặp Chúa Giêsu…Với Chúa Kitô, niềm vui luôn luôn được tái sinh” (Evangelii Gaudium, số 1). Đó là niềm vui của người biết mình không còn cô đơn, vì luôn có Chúa đồng hành.

Chúa Giêsu quả thật là người rất “dễ chơi”, ai cũng có thể đến với Ngài, vì Ngài không dựng hàng rào loại trừ ai. Nhưng chính sự gần gũi ấy lại khiến người ta không muốn sống như con người cũ nữa, vì đã nếm cảm được một tình yêu đủ lớn.

Nếu gặp lại anh bạn ở quán cà phê, tôi sẽ nói: “Ông Giêsu là người dễ gần nhất tôi từng biết. Ngài không soi xét học thức, giàu nghèo hay quá khứ sai lầm. Ngài chỉ hỏi: Anh có muốn khỏi bệnh không? (Ga 5,6), hay hỏi Phêrô: Anh có yêu mến Thầy không? (Ga 21,15)”. Ngài nhìn con người bằng ánh mắt của người cha chờ con trở về, nên người tội lỗi, trẻ nhỏ và những người bị gạt ra bên lề đều tìm thấy nơi Ngài một chỗ đứng bình an.

Tuy nhiên, đến với Chúa Giêsu thì dễ, còn để Ngài thay đổi mình thì không dễ. Ngài dạy ta biết tha thứ, xin lỗi và khiêm nhường. C.S. Lewis viết rằng: “Càng gạt bỏ những gì chúng ta gọi là “bản thân mình” và để Ngài nắm lấy chúng ta, chúng ta càng trở nên chân thật hơn…Bản chất thực sự của chúng ta đang chờ đợi chúng ta trong Ngài…Nếu bạn tìm kiếm bản thân mình, thì cuối cùng bạn sẽ chỉ tìm thấy sự thù hận, cô đơn, tuyệt vọng, giận dữ, đổ nát và suy tàn. Nhưng nếu bạn tìm kiếm Chúa Kitô, thì bạn sẽ tìm thấy Ngài, và cùng với Ngài là tất cả mọi thứ khác.” [2] Khi tìm kiếm Chúa Kitô, con người không đánh mất chính mình, nhưng lại tìm thấy bản thân đích thực cùng với Ngài. Vì thế, cái khó khi theo Chúa không phải là cay đắng, mà là cái khó của người biết mình đang đi đúng đường.

Chúa Giêsu không hứa một cuộc đời không nước mắt, nhưng hứa: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20). Ngài rất dễ gần vì không từ chối người thành tâm tìm đến. Nhưng Ngài cũng “khó tính” theo cách tốt lành, vì tình yêu của Ngài không để chúng ta mãi sống nhỏ bé, ích kỷ và tầm thường. Ngài yêu chúng ta như chúng ta là, nhưng luôn dẫn chúng ta trở nên con người tốt đẹp nhất, giống như Ngài.

 

Phêrô Phạm Văn Trung

 

[1] https://www.ncronline.org/blogs/parish-diary/church-should-be-hospital-sinners

[2]  https://www.cslewisinstitute.org/resources/reflections-september-2011/

Subcategories