1. Hôn Nhân & Gia Đình

KINH THÁNH NÓI VỀ VỢ CHỒNG

Bài 3 : Hôn nhân và Gia Đình

1/ Thiên Chúa phán : “Con người ở một mình không tốt, Ta sẽ làm cho nó một trợ tá tương xứng với nó.” (Sáng thế 1, 18)  

2/ Đức Chúa là Thiên Chúa lấy cái xương sườn đã rut từ con người  ra làm thành một người đàn bà và dẫn đến với con người. 

Con người nói: “Phen này, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi! Nàng sẽ được gọi là đàn bà, vì đã được rút từ đàn ông ra.” 

Bởi thế, người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt. (Sáng thế 1, 22-24)

 

3/ Có vợ hiền, chồng thật có phúc, đời sống  chàng sẽ tăng gấp đôi.

    Vợ đảm đang làm chồng hả dạ, sống an vui trọn cả cuộc đời. 

   Vợ hiền đức là phúc phận may, ban cho ai kính sợ Chúa Trời.

   Giầu hay nghèo lòng vẫn an vui, và mặt mày suốt đời hớn hở.

                                                                        (Huấn ca 26, 1-4)

 

4/ Duyên của vợ làm chồng hả hê, kiến thức nàng thêm bề sức mạnh.

 Đàn bà kín tiếng là ân huệ Chúa ban,

Là con người cao qúy và vô giá.

Đàn bà nết na là người diễm phúc bội phần,

Đàn bà tiết hạnh thì muôn phần vô giá. 

Mặt trời mọc lên núi Chúa thế nào,

Thì người vợ xinh đẹp cũng rực rỡ trong nhà như thế.

Như ngọn đèn rung rinh trong đền thánh,

Thì nhan sắc nàng cũng huy hòang trên thân hình kiều diễm. 

Như những cột vàng dựng trên nền bạc vững vàng,

Thì hai chân nàng cũng cũng đứng vững trên gót vàng.

                                            (xem Huấn ca  26, 1-9 và 13-18)   

 

5/ Cưới vợ là tậu được cơ nghiệp lớn,

   Tìm được trợ giúp và cột tựa vững chắc.

   Vườn nho không dậu là vườn nho hoang vu,

   Đàn ông không vợ sẽ bơ vơ vất vưởng.

                                                (Huấn ca 35, 24-25) 

 

6- Thà ở một góc trên mái nhà,

Còn hơn chung sống với một bà hay gây.

    Thà sống nơi đìu cô quạnh,

Còn hơn bên người vợ hay gây gổ nổi xung.

                                                (Châm ngôn 21, 9 và 19) 

 

7/ Chơi với người khôn ắt sẽ nên khôn,

    Chơi cùng kẻ dại sẽ mang lấy họa.

     (Châm ngôn 13, 20) – Nhớ câu ca dao: Gần mực thì đen… 

 

8/ Người chậm giận thì đầy sáng suốt.

    Người nóng tính để lộ cái dại khờ.   (Châm ngôn 14, 29)

 

9- Người nói năng dè dặt là người hiểu biết.

      Kẻ giữ được điềm tĩnh là kẻ khôn ngoan.  (C. ngôn 17, 27)

 

10/ Ai kêu than ôi !? Khổ quá!? Ai cứ gây gổ? Đó là kẻ nấn ná bên  ly rượu.  (C.ngôn23, 29-30) – Bạn phải tránh xa từ lúc mới gặp.

 

11/ Hội Thánh tùng phục Đức Kitô thế nào, thì vợ cũng phải phục tùng  chồng trong mọi sự như vậy.

   Người chồng hãy yêu thương vợ, như chính Đức Kitô yêu Hội thánh và hiến mình vì Hội thánh.  (Êphêsô 5, 24-25)

 

12/ Người làm vợ hãy phục tùng chồng, như thế mới xứng đáng là người thuộc về Chúa. Người làm chồng hãy yêu thương, chứ đừng cay nghiệt với vợ.  (Côlôxê 3, 18-19)

 

Phó tế Định  Nguyễn

Tình Yêu và Hôn Nhân

Ý nghĩa sâu thẳm của tình yêu được minh chứng bởi xa cách, vắng mặt hơn là xum họp?

Khi con tàu chuyển bánh thì bến ga cũng nhạt nhòa, bởi đấy, xa nhau, người ta thường quên nhau. Tàu đi rồi, bến ga có thể chơ vơ trong sương bụi chiều hôm, nhưng đường tàu vẫn còn đó. Nếu xa nhau mà vẫn nối dài mến thương, như đường tàu trung thành làm dòng máu luân hoán yêu thương giữa con tàu cách xa và bến đỗ mong chờ, thì đấy mới là yêu thương đích thực.

Chia ly, tình yêu dễ bụi mờ, bởi trong xa cách là lúc tình yêu lên cao vút trên quãng đời mênh mông những lựa chọn, là lúc tình yêu xuống thẳm sâu dưới lũng đồi cám dỗ.

Hạnh phúc tạm dung thì bắt buộc phải gần gũi, vì hạnh phúc ấy không được thụ thai bởi tình yêu vượt núi đồi mà là hoa trái của khu vườn gần gũi. Hạnh phúc ấy bị vây bọc bởi bến ga chật hẹp. Do đó, vắng mặt người này, xa cách người kia, tình yêu biến dạng và phai màu. Ðấy là hạnh phúc của con tàu khi cập bến đỗ chứ không phải yêu thương của đường tàu nối dài viên miễn.

Nếu tình yêu được sinh bởi chọn lựa trong tự do, thì có thể mịt mùng xa cách, có thể thăm thẳm chia xa mà vẫn rực rỡ trong không gian. Chọn lựa là bao hàm từ chối. Chối từ là dứt bỏ. Dứt bỏ nào cũng thường có phần xót xa. Chính vậy, tình yêu trong tự do là tình yêu có ray rứt giữa những giằng co của lựa chọn, là tình yêu có đau khổ của một chối từ. Chính Thượng Ðế cũng đã đớn đau trước giờ chọn lựa: “Lạy Cha, nếu được, xin Cha cất chén đắng này cho con” (Mk. 14:36). Người yêu cần tự do để xác định tình yêu của mình. Ðau khổ của chối từ, ray rứt của chọn lựa minh chứng sự cao cả của tình yêu mình dành cho người yêu.

Tình yêu không tách rời khỏi thời gian, mà thời gian thì luôn luôn đổi mới, bởi thế, tình yêu không thể chọn lựa một lần là xong, cưới nhau một lần là đủ, mà tình yêu cần được rửa tội mỗi ngày, cưới nhau mỗi sáng. Chính mặt trời còn lột xác, khai sinh sau mỗi đêm đen, cho nên hôn nhân là tái xác nhận chọn lựa không ngừng.

Vì sự bất toàn của mình, con người không thể có một lựa chọn hoàn hảo tuyệt đối. Hôn nhân là chọn một người tình và chối từ những người tình khác. Nhưng bởi sự bất toàn, nên chọn lựa đó chẳng thể trọn vẹn, cho nên từ sâu thẳm trong căn hầm tham lam, đôi lúc họ khổ tâm vì mất mát do những mối tình khác mà họ phải chối từ. Họ bất toàn nên không thể cho nhau sự hoàn hảo. Từ đấy, họ mơ màng một tình yêu nào đó ngoài tình yêu mà họ đã lựa chọn, cho nên sự trung thành là thử thách lớn lao của tình yêu hôn nhân.

Yếu tính của trung thành là khả năng có thể vượt qua rừng sâu, trèo qua núi đá, có thể song hành với thời gian, và thế, tình yêu phát sinh từ sự trung thành sẽ bát ngát như vũ trụ và thênh thang như núi đồi.

Trong tình yêu, ràng buộc chính đáng nhất là hãy để nhau lớn lên trong tự do. Ý nghĩa cao cả của tự do là thành thực với chính mình và ngay thẳng với người tình. Hãy cho nhau tự do nhìn khuôn mặt thật của nhau. Ðừng tạo nên giá trị của mình bằng cách để người tình ngưỡng mộ những điều mình không có.

Vì tình yêu cũng là một thứ nhu cầu, bởi đó, người ta mới nói đến chinh phục. Có khó thì mới phải chinh phục, nên khi chinh phục người ta dùng mọi tài năng. Trong những tài năng tích cực, có một thứ tiêu cực là tạo ra một hình ảnh đẹp, nhưng không đúng với con người thật của mình.

Vì tình yêu cũng là một thứ nhu cầu, bởi đó, người ta nói đến tiếng sét ái tình. Ðã mê hoặc thì phải chiếm đoạt, nên chiếm đoạt trong tình yêu bao giờ cũng pha trộn mù quáng. Cần phải chiếm đoạt, nên người tình thường biện minh, rồi gán cho người yêu những đặc tính mà người yêu không có.

Tạo ra giá trị mình không có là lừa tha nhân. Gán cho tha nhân giá trị họ không có là lừa mình. Cả hai thái độ đều nguy hiểm như nhau. Cả hai thái độ đều là xây dựng giá trị trong thiếu tự do, lầm lẫn. Lầm lẫn không biến đổi bụi than thành kim cương, đá cuội thành ngọc qúy. Sớm muộn gì rồi cũng khám phá ra con người thực của nhau. Ngỡ người tình là kim cương, nhưng thực tế là đá cuội. Thất vọng, ở đó, bắt đầu nẩy sinh. Trung thành, từ đấy, bắt đầu lung lay. Tình yêu sống bởi sự thực, thiếu vắng sự thực tình yêu sẽ u buồn, ủ dột. Thiếu sự thực, tình yêu không còn là cây leo hạnh phúc trong mùa xuân, mà là bủng vàng xanh xao.

Hôn nhân là loài tằm chất phác và kiên nhẫn. Là loài dâu thật thà biết hy sinh. Là tằm, là dâu, chúng chung khúc yêu thương, âm thầm, gắn bó với nhau, góp nhặt hạnh phúc, chúng nhả tơ, dệt lụa óng ả cho đời.

Còn tình yêu của bầy ong với đám hoa cải, cho dù dẫu dễ thương đến đâu chăng nữa, trên da mặt chúng vẫn là mơ màng quyến rũ tình yêu bằng đỏm dáng, và thèm muốn tình yêu qua mật ngọt. Bởi đấy, chỉ là hạnh phúc bấp bênh.

Luống cải kia, cánh ong đó đã nghèo nàn hóa tình yêu của nhau bằng chiếm hữu. Chúng hạn chế hạnh phúc của nhau vì đánh giá tình yêu qua duyên sắc bên ngoài mà thôi. Tình yêu của cả hai đã thai nghén trong thiếu tự do vì sự hiểu biết bị lừa gạt, lòng thật thà bị lãng quên.

Như thế, khi mùa cưới đến, lúc tình yêu của chúng sáp lại. Khi thèm muốn và chiếm đoạt đã theo dòng thời gian thiếu thật thà ấy mà trưởng thành thì cũng là lúc buồn chán đã sẵn chờ đàng sau môi hôn.

Chúng nô lệ hóa nhau mà gọi là tự nguyện.

Chúng mang thương tích nhưng phải gọi là nỗi thương đau dịu dàng.

Chúng trao nhau tình yêu thể nào thì tình yêu cũng dầm bập chúng thể ấy. Bởi, chúng đã dệt tổ yêu thương bằng tơ lụa gấm vóc hơn là sự hiểu biết. Chúng nhìn tình yêu qua nhan sắc hơn là tâm hồn.

Có người hỏi: Sao các đôi tình nhân lại nhắm mắt mỗi khi hôn nhau?

Có phải, dẫu trong tha thiết thế nào, họ vẫn yêu một phần bóng tối?

Có phải, dẫu trong hạnh phúc sóng sánh đến đâu, cũng vẫn có một phần thiếu thật thà?

Nếu họ bất tòan, nếu họ chẳng thể trọn vẹn trao nhau thì sao họ lại mơ ước “tôi hóa” tha nhân? “Tôi hóa” tha nhân là bắt tha nhân nên giống như mình. Ðấy là tình yêu ích kỷ, là tàng tật hóa người yêu. Người yêu là của mình, nên khi tàng tật hóa người yêu thì cũng là tàng tật hóa chính hạnh phúc của tôi.

Kẻ muốn đồng hóa tha nhân trong tình yêu là những đôi tình nhân yêu nhau hơi gặp hơi, thở gặp thở mà vẫn như mênh mông xa cách, vẫn như khắc khoải kiếm tìm. Họ khắc khoải kiếm tìm vì chẳng bao giờ con người có thể “tôi hóa” được nhau. Bắt người khác giống mình là hủy diệt tự do và bản tính của người đó, càng bắt họ giống mình bao nhiêu thì sự hiện hữu của họ càng mất đi bấy nhiêu. Tôi muôn đời vẫn là tôi. Tha nhân nghìn đời vẫn là tha nhân.

Nếu tha nhân là tha nhân, tôi là tôi, thì làm sao có thể nên một trong tình yêu như lời Kinh Thánh mong mỏi?

Kẻ nên một trong tình yêu là những đôi hôn nhân đem sự khác biệt của nhau làm nên phong phú của một kết hợp. Khi nói nên một thì phải chấp nhận là đã có hai. Làm sao có kết hợp nếu không có khác biệt. Như thế, khác biệt đã là điều kiện cần thiết cho kết hợp. Trong ý nghĩa đó, khác biệt phải có một giá trị tự nó. Kết hợp không biến hóa nguyên thể của các khác biệt mà là một luân vũ nhịp nhàng. Ðó là một hoà âm trầm bổng của các đơn thể khác nhau chứ không phải là đơn điệu. Ðó là kết hợp của âm nhạc, của vũ trụ, của tình yêu. Kẻ lớn lên trong tình yêu hợp nhất là những đôi uyên ương nửa bên bờ đại dương, nửa trên “cánh đồng nước mặn” Việt Nam mà tình yêu của họ vẫn chập chùng qua biển cả, bàng bạc qua không gian.

Con tàu chỉ tới bến trên tuyến đường sắt song hành. Sự nên một của tuyến đường là cùng sóng đôi chứ không phải là cùng chạm nhau. Mất sự sóng đôi, con đường đánh mất bản tính của mình. Mất sự song hành thì tuyến đường không còn là tuyến đường nữa, bởi, sự hợp nhất căn tính của nó hệ tại cùng sóng đôi đi về một hướng.

Hôn nhân là nên một trong tình yêu. Nên một trong tình yêu là nên một trong hòa đồng chứ không phải nên một bằng đồng hóa.

Kinh Thánh bảo: Phải nên một!

Ôi! đâu là ý muốn thâm sâu của Thượng Ðế.

Cẩn thận! Nếu không đấy chỉ là những lời lừa dối mà thôi. Bởi, chính trên bàn thờ mà hai cây nến cũng có bao giờ dám cháy cạnh nhau đâu.

Lm. Nguyễn Tầm Thường

Sắc Hoa Tháng Năm – Ngày 14

1. XIN ƠN CHÚA THÁNH THẦN (hát hoặc đọc):

Hát: Cầu Xin Chúa Thánh Thần

1. Cầu xin Chúa Thánh Thần, Người thương thăm viếng hồn con. Ban xuống cho con hồng ân chan chứa, trau dồi cho đáng ngôi thánh đường.

ÐK: Nguyện xin Chúa Ngôi Ba, đoái nghe lời con thiết tha. Tình thương mến ấp ủ con ngày đêm, nhuần thấm xác hồn tràn lan ơn thiêng.

2. Cầu xin Chúa Thánh Thần, nguồn thiêng ân ái từ nhân, hun đốt tim con tình yêu lai láng, cho lòng thao thức bên Chúa luôn.

Đọc: Kinh Đức Chúa Thánh Thần

Chúng con lạy ơn Đức Chúa Thánh Thần thiêng liêng sáng láng vô cùng. Chúng con xin Đức Chúa Thánh Thần xuống, đầy lòng chúng con là kẻ tin cậy Đức Chúa Trời, và đốt lửa kính mến Đức Chúa Trời trong lòng chúng con; chúng con xin Đức Chúa Trời cho Đức Chúa Thánh Thần xuống.

– Sửa lại mọi sự trong ngoài chúng con.

Chúng con cầu cùng Đức Chúa Trời xưa đã cho Đức Chúa Thánh Thần xuống soi lòng dậy dỗ các Thánh Tông Đồ, thì rầy chúng con cũng xin Đức Chúa Trời cho Đức Chúa Thánh Thần lại xuống, yên ủi dạy dỗ chúng con làm những việc lành, vì công nghiệp vô cùng Đức Chúa Giêsu Kitô là Chúa chúng con. Amen.

2. TIN MỪNG (theo ngày trong tuần): Ga 15,9-17

9 Chúa Cha đã yêu mến Thầy thế nào, Thầy cũng yêu mến anh em như vậy. Anh em hãy ở lại trong tình thương của Thầy.10 Nếu anh em giữ các điều răn của Thầy, anh em sẽ ở lại trong tình thương của Thầy, như Thầy đã giữ các điều răn của Cha Thầy và ở lại trong tình thương của Người.11 Các điều ấy, Thầy đã nói với anh em để anh em được hưởng niềm vui của Thầy, và niềm vui của anh em được nên trọn vẹn.

12 Đây là điều răn của Thầy: anh em hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em.13 Không có tình thương nào cao cả hơn tình thương của người đã hy sinh tính mạng vì bạn hữu của mình.14 Anh em là bạn hữu của Thầy, nếu anh em thực hiện những điều Thầy truyền dạy.15 Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu, vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết.

16 Không phải anh em đã chọn Thầy, nhưng chính Thầy đã chọn anh em, và cắt cử anh em để anh em ra đi, sinh được hoa trái, và hoa trái của anh em tồn tại, hầu tất cả những gì anh em xin cùng Chúa Cha nhân danh Thầy, thì Người ban cho anh em.17 Điều Thầy truyền dạy anh em là hãy yêu thương nhau.

3. SUY NIỆM:

“Giờ” đã đến. Chính trong đau khổ, Chúa Con diễn tả tình yêu tuyệt đối với Chúa Cha và nhân loại. Đồng thời cũng là tình Cha yêu nhân loại đến nỗi trao ban người Con Một. Nên đó là “giờ tôn vinh” của cả Chúa Cha và Chúa Con. Chúa Con sẽ được tôn vinh khi bị treo trên cây thập giá. Chính trên cây thập giá, Chúa Con đã tôn vinh Chúa Cha.

4. QUYẾT TÂM:

Qua lời Chúa đây, con nhận ra ý nghĩa của đau khổ. Con sẽ bắt chước Chúa can đảm đón nhận đau khổ trong sự thanh thản và an bình.

5. LẦN HẠT (chọn 1 trong 3 cách dưới):

          1- Lần hạt 5 chục theo ngày trong tuần

          2- Lần hạt tuỳ ý

          3- Lần hạt theo mầu nhiệm gợi ý ở dưới đây:

Đức Chúa Trời thưởng Đức Mẹ trên Trời. Ta hãy xin Đức Mẹ phù hộ cho ta được thưởng cùng Đức Mẹ trên nước Thiên Đàng.

(Đọc 1 Kinh Lạy Cha, 10 Kinh Kính Mừng và 1 Kinh Sáng Danh).

6. BÀI ĐỌC:

Lòng Thương Cảm của Đức Maria

Tác giả: Thánh Pierre-Julien Eymard

I. Đức Maria không có tội nguyên tổ cũng không có tội riêng phải chuộc đền. Thiên Chúa không chất trên Mẹ gánh nặng tội lỗi bất chính của chúng ta như đã chất trên Chúa Giêsu. Vậy tại sao Mẹ, một người vô tội lại phải chịu quá nhiều đau khổ suốt cả đời, vì trong suốt cuộc đời, thị kiến về cái chết của Con Mẹ không ngừng ám ảnh Mẹ cho tới khi thành hiện thực trên đồi Can-vê?

Lý do thứ nhất là vì đau khổ là định luật của tình yêu; chính tình yêu của Đức Maria tạo nên cuộc tử đạo của Mẹ, và vì Mẹ yêu nhiều hơn bất cứ thụ tạo nào, nên Mẹ phải chịu một cuộc tử đạo khôn sánh. Lý do thứ hai là vì đau khổ là sự tôn vinh thực tế của Chúa Giêsu Kitô trong chúng ta. Nhờ đau khổ, chúng ta tiếp tục và hoàn tất hy lễ của Ngài. Sau cùng, bởi vì mẫu tính được mua bằng đau khổ. Trong khi sinh ra Người Con vô tì vết, Mẹ Maria đã thoát được luật này; nhưng khi Mẹ trở nên Mẹ chúng ta, sinh chúng ta ra trong ân sủng, Mẹ phải chịu tất cả những gay gắt của đau khổ. Chúa Giêsu đã không phải chịu đau khổ để tái tạo chúng ta trong Ngài đó sao? Đức Maria cũng thế, khi đứng dưới chân Thánh Giá, Mẹ đã trải qua tất cả những hình khổ của cuộc khổ nạn, để trở nên Mẹ chúng ta do việc chấp nhận.

Thế nên chúng ta hãy suy tư về việc Mẹ Maria tham phần vào cuộc khổ nạn của Chúa Giêsu, và hãy cố gắng hiểu phần mà Mẹ đã dự vào đó.

II. Nhờ ánh sáng siêu nhiên, Đức Maria đã nhìn thấy Chúa Giêsu trong vườn Cây Dầu; Mẹ đã tham dự vào lời cầu nguyện, nỗi sầu thương, cơn hấp hối của Ngài, vì giữa Hai Trái Tim này có một mối đồng cảm và tình yêu hoàn hảo.

Sau đó Mẹ đã nhìn thấy Chúa Giêsu bị Giuđa phản bội, bị mọi người bỏ rơi, bị Phêrô chối bỏ; một mình Ngài đứng trước toà, không người bào chữa, bị tạt vả cách nhục nhã, bị đối xử như một người điên. Than ôi người Mẹ đáng thương! Mẹ phải chịu cảnh cực kỳ bơ vơ tàn nhẫn chừng nào! Không một ai, kể cả trong số các bạn hữu, bênh đỡ cho Ngài! Thậm chí không ai dám nhìn nhận Ngài!

Và khi Thánh Gioan đến nói với Mẹ về quang cảnh phòng xử án của Philatô, về bản án tử hình bất công, thì Trái Tim Hiền Mẫu của Mẹ hẳn phải tan nát vì đau thương. Mẹ đi đến pháp trường: kìa, Mẹ nghe thấy tiếng roi vọt; Mẹ nhìn thấy Chúa Giêsu được đặt bên Baraba và được giới thiệu cho công chúng như kẻ ngang hàng với tên gian ác công khai; Mẹ nghe thấy tiếng Ecce Homo, và những tiếng kêu man rợ của đám quần chúng vô đạo đức: “Tolle, tolle, crucifige.” Đem đi, đem đi đóng đanh nó vào Thập giá.” A! người Mẹ đáng thương, Mẹ muốn có thể cướp lấy Con Mẹ khỏi những kẻ tố cáo tàn bạo này! Than ôi! Mẹ chỉ biết khóc!

III. Mẹ theo Chúa Giêsu lên đồi Can-vê. Mẹ gặp Ngài trên con đường đau thương đó, con đường mà Ngài đã tưới đẫm máu đào. Bốn con mắt giao nhau, hai Trái Tim khổ sầu kết hợp trong một hành vi sát tế, một hành vi nhẫn nại trọn hảo.

Hãy xem Chúa Giêsu trên đồi Can-vê! Mẹ Maria nhìn Ngài bị lột hết y phục một cách tàn nhẫn vô nhân đạo. Mẹ thấy Ngài giang tay trên Thánh Giá; Mẹ nghe thấy tiếng búa đang đóng chân tay Ngài vào giá gỗ. Còn cảnh nào ghê gớm hơn cho một người mẹ! Mẹ cũng bị đóng đinh – tiếng búa dội ngược lại gây cho Mẹ những dấu tích thương đau.

Mẹ nhìn ngắm Ngài khi người ta dựng Ngài lên khỏi mặt đất; Mẹ dõi mắt theo Ngài. Khi người ta đang hì hục dựng Thánh giá lên, thì người Mẹ can đảm đó đã gặt phăng mọi chướng ngại, tiến đến sát bên. Ơ đó, chìm ngập trong đại dương sầu đắng, Mẹ chiêm ngắm Ngài. Mẹ cảm nếm mỗi một trong các nỗi đau của Ngài; Trái Tim Mẹ như bị ngẹn vít bởi những tiếng kêu của Chúa Giêsu. Mẹ lắng nghe từng lời Con Mẹ phán ra; Mẹ ghi nhớ những lời ấy trong ký ức Mẹ để sau này kể lại cho chúng ta. Mẹ nhìn dòng Máu Thánh chảy xuống lai láng; Mẹ nhìn thấy Ngài đang dốc cạn hết sự sống Ngài ra. Mẹ nghe thấy tiếng Ngài kêu khát mà Mẹ không biết làm sao cho Ngài giãn khát! Và sau cùng Mẹ nghe thấy Ngài kêu Ngài bị Chúa Cha ruồng bỏ! – rồi người Con chí ái của đã trút hơi thở cuối cùng.

Bây giờ Đức Maria làm gì? Mẹ đang trong cơn hấp hối dằn vặt yêu thương, nhưng rồi Mẹ đã tiếp nhận trong vòng tay hiền mẫu Thân Xác Cực Thánh Ngài, Mẹ ôm ấp với tình mẫu ái dịu dàng, thờ lạy với Đức tin Kitô hữu, và chuẩn bị mai táng như một quả phụ sầu thảm mai táng đứa con độc nhất – và rồi Mẹ khóc.

Đời sống của Mẹ Maria bây giờ sẽ trôi qua trong nỗi gợi nhớ những niềm đau của cuộc Tử nạn, để làm mới lại cuộc tử đạo riêng của Mẹ và đem lại vinh quang về cho Thiên Chúa nhờ những đau khổ Mẹ chịu. Mẹ sẽ suy đi gẫm lại đoạn đường đau thương đó, và cũng là để trước hết dạy chúng ta biết sùng mộ Đường Thánh Giá, để được đẹp lòng Chúa Giêsu và sinh ích cho các linh hồn.

CAN-VÊ VĨNH CỬU

Mẹ Maria đã đau đớn khóc lóc dưới chân Thánh Giá. Mẹ sẽ cảm thấy đớn đau biết bao khi thấy Con Mẹ vẫn phải chịu nhục mạ, ngược đãi, khinh thường trên các bàn thờ của chúng ta còn hơn cả ở núi Can-vê xưa!

Chị Maria Thánh Giá ở Sicily, đã nghe thấy một tiếng kèn vang lên tựa tiếng sấm vào lúc có một vị linh mục phạm thánh dâng Thánh Lễ, và có một tiếng nói vang lên: “Ultio, poena, dolor!” Báo oán, trừng phạt, hành khổ!” và chị ta thấy một thiên thần cầm gươm trong tay sẵn sàng bổ vào vị linh mục quái gở. Khi vị đó đọc lời truyền phép, chị ta thấy dường như Chúa Giêsu hiền như con chiên, để Mình bị xâu xé ra từng mảnh bởi con sói dữ đó. Nhưng khi vị linh mục đó hiệp lễ thì Thiên đàng trở nên tối đen, các thiên thần chung quanh bàn thờ khóc lóc; và Đức Mẹ đứng gần Con mình cũng vừa khóc, vừa chìm trong nỗi đau khổ khôn lường phát sinh do cái chết của Chúa Giêsu rất trong trắng, cũng như do sự hư mất của đứa con bội bạc này đã dám sát tế Ngài một cách cực dữ. (Thánh. Alphosô Liguori, selva.)

Thực hành – Kết hợp với Đức Maria, chúng ta hãy dùng mọi phương thế đền tạ những sự phạm thánh người ta phạm đến Thánh Thể.

Hoa thiêng – Ôi Mẹ của tình yêu! Xin ban cho chúng con có thể cảm được nỗi khổ sầu mênh mông trước quang cảnh Chúa Giêsu bị vũ nhục trong phép Thánh Thể.

7. KẾT THÚC (hát hoặc đọc):

Hát: Linh hồn tôi ngợi khen Ðức Chúa

ĐK: Linh hồn tôi tung hô Chúa, tung hô Chúa (í, a) thần trí tôi mừng vui vời vợi trong Đấng Cứu Chuộc tôi. Chúa đã dủ thương đoái nhìn phận hèn tôi tớ. Vì vậy đến muôn đời, sẽ khen tôi đầy ơn, sẽ khen tôi đầy phúc, sẽ khen tôi muôn đời, đến muôn đời, đến muôn đời.

1. Đấng toàn năng đã làm cho tôi những việc cao trọng Danh Người là Thánh. Lượng từ ái trải qua từ đời nọ đến đời kia, hằng bao bọc những ai kính sợ Người.

2. Chúa biểu dương sức mạnh oai phong tiêu diệt tơi bời những phường tự đắc, bọn quyền quý tự kiêu, Ngài triệt hạ khỏi tòa cao và nâng dậy những ai ở khiêm nhường.

3. Lũ giàu sang đuổi về tay không, những người thanh bần ban đầy hồng phúc. Người đã nhớ lời hứa mà độ trì Ít-ra-en cùng tổ phụ Áp-ram với miêu duệ.

Đọc:  Thánh Ca (Lc 1,47-55)

Linh hồn tôi ngợi khen Đức Chúa
Thần trí tôi hớn hở vui mừng
Vì Thiên Chúa, Đấng cứu độ tôi.
Phận nữ tỳ hèn mọn,
Người đoái thương nhìn tới ;
Từ nay hết mọi đời
Sẽ khen tôi diễm phúc.
Đấng Toàn Năng đã làm cho tôi
Biết bao điều cao cả.
Danh Người thật chí thánh chí tôn !
Đời nọ tới đời kia,
Chúa hằng thương xót những ai kính sợ Người.
Chúa giơ tay biểu dương sức mạnh
Dẹp tan phường lòng trí kiêu căng.
Chúa hạ bệ những ai quyền thế,
Người nâng cao mọi kẻ khiêm nhường.
Kẻ đói nghèo, Chúa ban của đầy dư,
Người giàu có, lại đuổi về tay trắng.
Chúa độ trì Ít-ra-en, tôi tớ của Người,
Như đã hứa cùng cha ông chúng ta.
Vì Người nhớ lại lòng thương xót
Dành cho tổ phụ Áp-ra-ham
Và cho con cháu đến muôn đời.
Vinh danh Chúa Cha và Chúa Con,
cùng vinh danh Thánh Thần Thiên Chúa,
tự muôn đời và chính hiện nay
luôn mãi đến thiên thu vạn đại. A-men.

 

****

Tài liệu trích dẫn:

1/ Kinh Thánh: Bản dịch của Nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ

2/ Bài suy niệm và cầu nguyện: Nữ Đan Viện Đa Minh

3/ Thánh Pierre-Julien EymardNgười Say Yêu Thánh Thể, bản dịch Việt ngữ của  Đức Phương & Đức Nguyên, SSS; nguồn: danchuausa.net

4/ Bài hát: Thánh ca Cộng đồng

 

 

 

BAN CỔ VÕ KINH MÂN CÔI

DÒNG ĐA MINH VIỆT NAM

KINHMANCOI.NET

 

Đặc trách 

Lm. FX. Trần Kim Ngọc, OP.

BÀI 2 : TÌM HIỂU BÍ TÍCH HÔN NHÂN CÔNG GIÁO


  1- Định nghĩa
: Bí tich Hôn nhân là những hành động bên ngoài nói lên sự cam kết của hai vợ chồng trước mặt Thiên Chúa và Hội thánh. Còn ý nghĩa thiêng liêng mà Thiên Chúa ban cho hai tâm hồn họ yêu thương nhau như Chúa Kitô yêu Hội thánh. 

  2- Cử hành Bí tich Hôn nhân : Chính hai vợ chồng làm Bí tich Hôn nhân cho nhau, trước sự chứng giám của LM hay Ptế thay mặt Hội thánh. Trong trường hợp đặc biệt, người giáo hữu có thế thay mặt Hội thánh cho đôi Tân hôn chủ trì Bí tich này trước mặt hai người làm chứng, với điều kiện Giám mục bản quyền cho phép. 

  3- Lời Chúa dạy : Như vậy, họ sẽ không còn là hai; nhưng  chỉ là một xương một thịt. Vậy sự gì Thiên Chúa đã kết hợp, con người không được phân ly, và kẻ nào ly dị vợ mình mà cưới người khác là phạm tội ngọai tình. (Mt 19, 6-7 và 9). 

 4- Bí tich Hôn nhân trọn vẹn : Hai người đã cử hành Bí tích với nhau trước Hội thánh có LM hay Ptế chủ trì nghi lễ và Cộng đoàn tham dự. Đã ăn ở với nhau đựoc coi là trọn vẹn. Nếu chưa ăn ở với nhau thì Hôn nhân kể như chưa trọn vẹn, dù hai người đó là Công giáo đã chịu phép Rửa tội, Hội thánh có thể giải tán. 

  5- Giá trị Bí tich Hôn nhân: Đối với người Công giáo đã Rửa tội chỉ có một bên thôi, Hôn nhân đó không phải là Bí tich, chưa có giá trị. Để có giá trị phải điều  chỉnh theo Luật Hội thánh quy định (GL 1099:1-2) 

  6- Giái tán Bí tich Hôn nhân : Giáo hội không có quyền giải tán Bí tich Hôn nhân trọn vẹn là đã Rửa tội, đã cử hành Bí tich Hôn nhân và đã ăn ở với nhau; nhưng có quyền giái tán Hôn nhân không trọn vẹn. (GL 1118). 

 7- Bí tich Hôn nhân không thành: Không có sự cam kết – giả vờ nhưng không muốn- không biết gì về Hôn nhân – Lấy lầm người – Đặt điều kiện như : có quyền li dị, không muốn sinh con. (GL 1081 – 1087) 

  8- Việc ly dị : Hội thánh không bao giờ ch phép ai ly dị, trừ trường hợp xét riêng. Có thể cho ly thân; nhưng không ai đựơc kết hôn. (GL 1129 – 1132) 

  9- Công Đồng Vatican II dạy : Sau khi học hỏi đầy đủ về các vấn đề thuộc phạm vi Gia đình, các Giáo sĩ có bỗn phận nâng đỡ ơn gọi của vợ chồng bằng những phương tiện khác nhau như : Rao giảng Lời Chúa, tĩnh tâm, chia sẻ kinh nghiệm sống đạo gia đình. Các ngài cũng nhẫn nại và quan tâm giúp đỡ họ trong lúc khó khăn và khích lệ họ trong việc chia sẻ Lời Chúa, thực hiện bác ái để Gia đình họ thực sự trở nên gương mẫu làm chứng nhân cho Chúa. (HN&GĐ # 52) 

  Thiên Chúa đến gặp gỡ dân Ngài bằng một Giao ước yêu thương trung thành. Ngày nay Đấng Cứu Thế bạn trăm năm của Giáo hội cũng đến với đôi vợ chồng qua Bí tich Hôn nhân. Ngài còn ở với họ để hai vợ chồng cùng mãi mãi trung thành yêu thương nhau. (HN&GĐ # 48) 

 

Ptế Định biên sọan

BÀI 1: THIÊN CHÚA ĐÃ THIẾT LẬP HÔN NHÂN

1 - Định nghĩa

a/ Hôn nhân là hình ảnh tình ỵêu Thiên Chúa:

 Kinh Thánh nói: “Chúng ta hãy yêu thương nhau, vì tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa. Phàm ai yêu thương thì đã được Thiên Chúa sinh ra và người ấy biết Thiên Chúa. Ai không yêu thương thì không biết Thiên Chúa, vì Thiên Chúa là tình yêu.” (1 Ga 4, 7-8) 

b/ Hôn nhân là cộng tác với Thiên Chúa:

Cộng tác vì trong công trình sáng tạo con người của Ngài, vì sinh sản, nuôi dữong và giáo dục: Lời Chúa nói “Hãy sinh sôi nẩy nở thật nhiều cho đầy mặt đất và thông trị mặt đất…con người ớ một mình không tốt, Ta sẽ dựng chó một người tương xứng với nó. Bởi thế, người đàn ông lìa bỏ cha mẹ mình và gắn bó với vợ và cả hai thành một xương một thịt. (St 1, 28; 2, 18 & 27) 

c/ Hôn nhân là sự hiệp nhất giữa Chúa Kitô và Hội thánh:

Nói lên sự khăng khít lâu dài : “Ngượi vợ hãy hợp ý với chồng như tuân phục Chúa. Người chồng hãy thương vợ như chính Đức Kitô và hy sinh mình vì Hội Thánh. Cũng thế, vợ phải yêu thương vợ như chính bản thân mình. (Êp 5, 22, 25 & 28)

 

2 - Những yếu tố căn bản của Hôn nhân :

Tình yêu Hôn nhân gồm 2 yếu tố là thể xác và tâm linh :

a/ Thể xác có sức thu hút nhau, muốn gần gũi nhau để tạo thành sự sống.

b/ Tâm linh : Tự do lựa chọn có ý thức, biến sự thu hút của thể xác thành tình yêu, hiệp thông sâu xa giữa vợ chồng.

 

3 - Những đặc tính của Hôn nhân :

a/ Sinh sản : Tình yêu vợ chống hướng về sinh sản là chính, sau là xây dựng Gia đình và giáo dục con cái. Đó là hạnh phúc mong đợi.

b/ Chung thủy : Muốn được hạnh phúc cho mình và con cái, vợ chồng cần chung thủy với nhau cho đến chết, không gián đọan và chia cắt.

c/ Trọn vẹn : Vợ chồng chia sẻ cho nhau tất cả cuộc đời, không tính tóan, ích kỷ, khi vui vũng như lúc buồn, luôn an ủi và nâng đỡ nhau.

 

4 - Công Đồng Vatican 2 về Hôn nhân :

a/ Công Đồng nói: “Đấng Tạo Hóa đã thiết lập và ban những định luật riêng cho đời sống thân mật và cho tình yêu vợ chồng. Nó được xây dựng trong Giao Ước Hôn nhân, nghĩa là sự ưng thuận cá nhân không thể rút lại. (HN &GĐ số 48) 

 b/ Hôn nhân tự bản tính quy hướng về sự sinh sản và giáo dục con cái là  ân huệ cao qúy nhất của Hôn nhân và Hạnh phúc của Cha Mẹ. (HN & GĐ số  50) 

c/ Gia đình là một trường học phát triển nhân tính, muốn trọn vẹn và chu tòan và chu tòan sứ mệnh, cần biết hòa hợp tâm hồn. Vợ chồng  cùng bàn định và ân cần cộng tác giáo dục cái. HN & GĐ số 52)

 

  Qua sự trình bày trên về bài này: “Thiên Chúa đã thiệt Hôn nhân và Gia đình”, tôi ước ao các khóa học về Hôn nhân hãy đào thật sâu, học thật sát bài này. Các anh chị em đã có gia đình rồi cũng năng đọc lại bài này xem mình có thi hành đúng không, các vị có trách nhiệm giảng cũng nên chia sẻ thật kỹ về bài này.

 

Ptế JB. Maria Định Nguyễn