8. Đời Sống Tâm Linh

Hạnh Phúc – Chương 5: Tuổi Trẻ - TÌNH YÊU CỦA GIỚI TRẺ

Bất cứ người thanh thiếu niên nào cũng lưỡng lự và xao xuyến. Bởi lẽ cuộc sống không hề đơn giản và thống nhất. Các em chỉ quan tâm dồn sức cho những cái hiện tại trước mắt mà ít khi để ý đến mục đích toàn cục. Để che đậy tình huống khó chịu này, giới trẻ thường tưởng tượng ra hình ảnh của cái mà nhà tâm lý gọi là siêu ngã. Đây không phải là một hình ảnh khác của các em, đúng hơn là hình ảnh của một ai đó hoàn thiện các em cũng như sẽ đem lại cho các em sự nhất quán. Cái siêu ngã này chính là cái ta khát khao được trở thành, hầu hoàn thành trọn vẹn nhân vị của ta và nhiều khi ta cũng e ngại rằng ta chẳng bao giờ đạt tới được. Nó cũng từa tựa như thể nhìn hạt thì hình dung ra được cây, nhìn nụ thì mường tượng được hoa, hay từ nền nhà hình tượng ra được nóc nhà. Đó chính là sự hoàn tất những khát vọng, mơ ước của ta. “Giới trẻ thì mơ mộng còn người già cả thì hồi tưởng”. Giới trẻ nhìn về đàng trước, còn kẻ già lại nhìn lui. Tuổi trẻ là giòng suối nhỏ chảy về biển cả đầy vui thú, còn tuổi già như thể biển cả lặng lẽ quay nhìn lại các giòng suối.

Do đó tình yêu nơi giới trẻ vẫn bao hàm một chiều hướng ngưỡng phục những ai hoàn thành được sự thiếu sót gặp thấy nơi chính họ. Đây không gì khác hơn là tình yêu của Thiên Chúa, Đấng duy nhất thoả mãn được mọi khát vọng tâm hồn. Bởi thế những ai tự cho mình là đã thoả mãn rồi, chẳng cần tìm sự hoàn thiện bên ngoài nữa, kẻ ấy không thể yêu được. Bất kỳ người thanh thiếu niên nào cũng yêu cái hình ảnh khả dĩ đạt tới được, nghĩa là sao cho giấc mơ của mình vẫn tiếp tục, và bù đắp được sự trống trải, cũng như thực thi được các khát vọng của mình. Gustave Thibon có lần đã nói rằng: “Mỗi phụ nữ đều hứa hẹn điều mà chỉ có Chúa mới có mà thôi”. Ý ông muốn nói rằng tình yêu mọi người mong muốn là sự vô định; tưởng chừng phụ nữ có thể đem tình yêu đến cho người đàn ông, nhưng thực ra điều người nam muốn không phải là cái khả ái, mà là chính tình yêu, mang tính Thần Thánh. Trong văn chương, ta thường gặp thấy những phụ nữ được mô tả là hình ảnh của sự khả dĩ ví như nàng Beatrice đối với Dante chẳng hạn. Không ai thực sự biết được có nàng Beatrice hay không. Nhưng cầm chắc là hình ảnh của nàng gây ra nhiều ảnh hưởng bởi lẽ nàng vẫn là hình tượng tuyệt vời. Ai cũng mang trong tâm khảm mình một hình bóng lý tưởng nào đó. Rồi sẽ có ngày họ gặp thấy, và dù ta có cho rằng đó chỉ là “tình yêu chớp nhoáng” nhưng vẫn phải công nhận rằng đó chính là hình ảnh ấp ủ từ lâu mà trước đây họ chưa từng gặp thấy. Lý tưởng của ta, còn gọi là siêu ngã, có thể khiến ta tự đặt mình vào những tình huống thuận lợi hầu thực hiện lý tưởng đó, tựa như trường hợp những kẻ thích thách đấu ra sức đi tìm đối thủ để cùng mình quyết đấu. Tuổi trẻ tìm kiếm cho được kẻ hoàn thành nội tâm của mình, kẻ khiến họ thoả mãn khát vọng hướng về Thiên Chúa, đồng thời lại có thể thay cho Thiên Chúa, ít ra là trong một khoảng thời gian nào đó. Ai cũng yêu cái toàn thể hơn là cái riêng lẻ. Bởi vậy, mọi người yêu mến Thiên Chúa hơn là người yêu phàm trần của mình, dù rằng họ được phản ánh theo hình bóng của tình yêu Thiên Chúa. Tuy nhiên các tình yêu này đa số đều có tính vô thức hơn là ý thức.

Mầu nhiệm vĩ đại của cuộc đời nằm ở chỗ thực ra chúng ta không muốn được yêu, mà là phải được yêu. Ta cần tình yêu bởi lẽ chúng ta bất toàn, nhưng tại sao có kẻ lại yêu mến sự bất toàn thì thật khó mà lý giải được. Chính vì vậy mà hết thảy những kẻ đang yêu đều cho mình là bất xứng. Người được yêu ngự trên bệ cao, và tình nhân của nàng quì mọp tỏ bày rằng chàng bất xứng. Tình yêu luôn luôn xảy đến như một món quà mà ta bất xứng với nó. Từ chối, hoặc bất trung với tình yêu đó là làm thương tổn đến toàn bộ nhân cách bởi lẽ nó huỷ diệt hình ảnh nguyên tuyền của nhân cách. Sự huỷ diệt hình ảnh tuyệt vời này chính là tự mình kết án tương tự, như những lời tàn nhẫn của Ovid đã nói: “Ta chẳng thể nào sống được dù có nàng hay không còn nàng đi nữa”.

Cái siêu ngã, lý tưởng, hình bóng tuyệt vời được biểu lộ ra nhiều kiểu nhiều dạng nơi các thanh niên thanh nữ. Nơi người thanh niên, chàng cảm thấy thích chí tìm ra những lý lẽ để xác quyết nàng là người tình lý tưởng. Và như thế chàng cố sức chứng tỏ cho chính mình và kẻ khác hiểu rằng lý tưởng của chàng đã thực sự hiện hữu trên cõi đời này. Còn đối với nàng, nàng lại quyết tâm cường điệu ý tưởng cho rằng nàng chính là người tình lý tưởng, bởi thế nàng giả vờ tránh mặt chàng. Nàng giả bộ chạy trốn để chàng đuổi theo và như thế nàng lại sáng giá hơn. Nhưng trong hai trường hợp trên, cả hai đều không tìm gặp được hình ảnh lý tưởng thực sự và tuyệt đối. Đó chính là Thiên Chúa. Nhưng cho mãi đến lúc già dặn với cuộc đời, họ mới nhận ra rằng những gì họ đã từng mong muốn chỉ là “tình yêu vắn vỏi, hụt hẫng sánh với tình yêu vô biên”. Họ đến với tình yêu vô biên này bằng sự đam mê tột cùng và cũng bình thản vô vàn.

Gm. Fulton Sheen

Hạnh Phúc – Chương 5: Tuổi Trẻ - THIẾU NIÊN

Thời niên thiếu là khoảnh khắc ngắn ngủi giữa mùa xuân và mùa hè của đời người. Trước khi bước vào thời kỳ này, em bé rất ít khi ý thức được nhân vị của nó, nhưng khi vừa bước vào tuổi niên thiếu, đời sống tình cảm của em sẽ thích ứng ngay theo môi trường, giống như nước sẽ có hình dạng của bình chứa nó. Em thiếu niên bắt đầu ý thức về mình và về tha nhân, và chính vì thế mà em bắt đầu cảm thấy cô đơn. Tuổi trẻ cảm thấy cô đơn nhiều hơn các bậc cha mẹ và thầy cô tưởng; có lẽ tâm hồn của người thiếu niên bị cô đơn dằn vặt hơn bất cứ giai đoạn nào khác trong cuộc đời. Thời kỳ này kéo dài mãi cho tới lúc trưởng thành khi ý thức về tội lỗi bắt đầu đè nặng lên tâm hồn con người.

Khi người thiếu niên biểu lộ nhân vị mình cho thế giới chung quanh, thì một trật em cũng muốn rút nó lại. Có vẻ giữa tâm hồn em và thế giới là một bức tường dựng đứng, và chẳng bao giờ tự lý giải đầy đủ được cả. Một em bé sơ sinh phải vất vả khá lâu mới điều phối được hoạt động của đôi mắt với đôi tay, cũng vậy em thiếu niên phải mất khá nhiều thời gian để tự điều chỉnh mình cho thành thạo với thế giới bao la, lạ lẫm đối với em. Em chưa thể làm chủ được những điều mới lạ, các kinh nghiệm tình cảm mới mẻ, những giấc mơ và hy vọng vĩ đại tràn ngập tâm hồn em. Tất cả đều khiến em phải chú ý và thoả mãn. Em không dám thổ lộ tình cảm cho kẻ khác, em chỉ biết sống thôi. Người lớn khó mà xâm nhập được lớp vỏ bọc này để bước vào thế giới mò mẫm của em. Giống như Adam sau khi sa ngã, em luôn luôn tìm cách lẩn trốn.

Cùng với tâm trạng cô đơn, em lại khao khát được mọi người để ý tới, bởi lẽ tính ích kỷ là một thói xấu mà người ta phải thắng lướt được ngay từ buổi thiếu thời. Nỗi khát khao được chú ý đến có thể là nguyên nhân của tính hiếu động nơi em. Nó không chỉ nhằm lôi kéo sự chú ý của kẻ khác, mà còn cho thấy một ý thức tiềm tàng muốn nổi loạn chống đối kẻ khác, và khẳng định rằng em đang sống cho chính mình, theo cách của mình, theo ý của mình.

Cùng với ý thức tự khẳng định này, em lại trở nên hay bắt chước. Ngoài việc nổi loạn chống đối lại những gì đã được công nhận, người thiếu niên còn bị các ám ảnh đào tẩu thống trị, nên em trở nên như một con tắc kè thay đổi màu da cho phù hợp với môi trường xung quanh. Em trở nên một vị anh hùng hoặc một tên tướng cướp, một vị thánh hoặc là một tên đạo tặc tuỳ theo môi trường xung quanh, theo những gì em đọc hoặc bạn bè của em. Tinh thần thích bắt chước này thể hiện qua cách ăn mặc của em. Ăn mặc nhếch nhác áo bỏ ngoài quần như đám tàn quân, tóc tai bù xù như bọn man di mọi rợ – đó là những hình ảnh phổ biến trong giới thiếu niên, họ rất ngại bị coi là “chống đối phong trào”.

Trong đám thiếu niên, hiếm có em nào có đầu óc lãnh tụ thực sự, bởi lẽ đa số đều hài lòng với việc theo đuôi người khác. Bắt chước người khác một cách vô ý thức như thế quả rất nguy hiểm về mặt luân lý, vì nhân cách phụ thuộc vào khả năng dám nói “không”. Nếu sự giáo dục không đào tạo được ý chí cho giới thiếu niên, thì lớn lên, đa số các em sẽ trở thành nô lệ cho sự tuyên truyền và công luận cho tới chết. Thay vì sáng tạo, các em chỉ biết hùa theo bắt chước. Sáng tạo, chính là nhận biết tinh thần trong mọi việc; bắt chước là hạ mình xuống mức thấp nhất trước mặt thiên hạ.

Người lớn không nên quá khắt khe với các em thiếu niên, nhất là khi các em chống đối. Đứng trên một phương diện nào đó, các em không phản kháng chống lại sự gò bó mà bởi vì người lớn không đem lại cho các em được một mục đích và ý nghĩa cuộc đời. Các em phản kháng một cách vô ý thức, hoàn toàn không biết tại sao mình lại căm ghét cha mẹ, tại sao lại cứ chống lại quyền bính, tại sao các bạn cùng trang lứa ngày càng trở nên sa đoạ. Nhưng nguyên nhân thực sự lại nằm ở mặt chìm, đó là một sự phản kháng vô thức nhằm chống lại một xã hội không đem đến cho các em một kiểu sống nào cả. Trường học chẳng khi nào lưu tâm đến việc tự chế hoặc kỷ luật cả. Nhiều thầy cô định nghĩa tự do và dân chủ là quyền được làm mọi sự mình thích cơ mà! Khi thời kỳ nổi loạn quá độ này qua đi, các em sẽ đi tìm một chính nghĩa cao cả hơn để theo đuổi. Các em phải có một lý tưởng. Ngày nay rất nhiều em chẳng có đối tượng cao cả nào để tôn thờ ngoài anh hùng trong phim ảnh, một minh tinh màn bạc hay một tay trùm anh chị nào đó. Dấu chỉ suy thoái này chỉ chấm dứt khi tai hoạ ụp đến. Rồi thì giới trẻ cũng sẽ tìm một mẫu người khác để bắt chước, có thể là các vị anh hùng hoặc các vị thánh.

Ở xã hội ta, người ta thường phàn nàn rằng giới thiếu niên chẳng hề mơ tưởng gì đến các bậc anh hùng thời chiến tranh cả. Bởi lẽ là các em chưa được chuẩn bị đủ để tiếp nhận lý tưởng cụ thể hơn. Nhưng rồi thế nào cũng đến lúc. Và khi đó, ta phải thật cẩn thận trong việc giáo dục, kẻo khi các em chống lại lối giáo dục “cấp tiến” không cần có kỷ luật thì lại rơi vào nguy cơ theo đuổi các thần thánh nguỵ tạo như đã xảy ra với giới trẻ Âu Châu, điên cuồng theo đuổi chủ nghĩa Quốc xã – Phát xít – Cộng sản. Năng lực ẩn tàng nơi mỗi thiếu niên hướng về việc thực hiện các hành động can đảm, anh hùng rồi sẽ có lúc tỏ hiện ra. Cầu Chúa lúc ấy các em hướng lòng mộ mến của mình về phía các vị anh hùng và các thánh. Lý tưởng khắc khổ đang dần dà tan biến ở thế hệ già nua, nhưng Thiên Chúa đã sai đến các thế hệ tươi trẻ hơn hầu khổi sự một sinh khí trẻ trung cho thế giới. Sẽ có một ngày các thiếu niên của chúng ta tìm gặp được lý tưởng thật sự cho mình, biết yêu quê hương và Thiên Chúa, nhất là họ sẽ mộ mến Thiên Chúa bởi lẽ tôn giáo có thể dạy con người dám hy sinh cho lương tri, hay nói cách khác tính ích kỷ sẽ không bao giờ xuất hiện được.

 

NÓI THÊM VỀ THIẾU NIÊN

Dân Mỹ gọi “thời niên thiếu” là quãng đời nằm giữa mùa xuân và mùa hè của cuộc đời con người. Vào tháng 3, cây cối đơm bông chuẩn bị kết trái thế nào thì những kinh nghiệm thời niên thiếu cũng sẽ tạo khuôn cho các em thể ấy. Một số em chín quá sớm, đang khi một số khác chẳng bao giờ chín được. Nhưng cũng có một số khác lại biết cách hấp thụ những tinh hoa của thế hệ đi trước.

Tâm lý tuổi hoa niên rất thú vị và cũng rất quan trọng. Ba tính chất nổi bật của nó là: hướng nội, bắt chước và tính hiếu động.

Tính hướng nội: người ta thường bỏ qua khía cạnh này bởi lẽ năng lượng dồi dào của tuổi trẻ chính là ý thức về sự cô độc và tâm trạng bất chấp thoát thai từ việc các em nhận thấy rằng thực sự giữa mình và thế giới có một hàng rào nào đó. Các em trai thỉnh thoảng cố vượt qua hàng rào này bằng cách thử cạo râu trước khi có râu, nghĩ rằng như thế là vượt qua được giai đoạn thiếu niên để thành người lớn. Các em gái thì cố vượt khoảng cách này bằng cách ăn mặc hoặc qua các điệu bộ. Các cử điệu của các em lúc này rất vụng về, lúng túng, vô duyên; tay chân dường như dài ngoẵng ra, lời lẽ thì ngọng ngịu, thiếu minh bạch, khiến người lớn nhiều lúc khó mà hiểu được ý các em muốn nói gì. Thế giới nội tâm các em chứa nhiều hình ảnh hơn là tư tưởng, bởi vậy điều này phần nào lý giải được việc các em thiếu khả năng tiếp xúc với người khác. Nhiều khi chính vì sự bất cập này mà các em lại càng hướng nội hơn, càng tự co mình hơn. Bởi vì không phải lúc nào các hoạt động bên ngoài cũng đều giải toả được thế giới nội tâm nên các em thường quay về với thế giới bên trong đầy hình ảnh, ở đó các em tha hồ phiêu lưu, tưởng tượng mình là một cầu thủ anh dũng trên sân, hoặc là một nàng công chúa tuyệt thế sánh duyên cùng một hoàng tử. Các em thường xem phim bởi vì phim ảnh cung cấp dồi dào cho các em những mộng mơ và hy vọng đại loại như vậy. Tuy nhiên, bức tranh tổng thể này chính là các em đã đắm mình với thế giới nội tâm quá ngỡ ngàng và do không hiểu hết được giá trị của thế giới này nên diễn đạt quá vụng về.

Tính bắt chước: có một nguyên nhân triết học sâu xa giải thích điều này. Bản ngã các em bị đè nén và cần được bừng nở; phải bộc lộ nội tâm mình ra để khẳng định nhân vị của mình. Sự bắt chước trở nên một hình thức thay thế cho sự độc đáo, chính sự độc đáo này khiến em thiếu niên phải nỗ lực, phấn đấu, chịu đựng kể cả các lời trách cứ của người khác; nhưng dù sao tính ưa bắt chước cũng là một tính cần thiết để các em có thể thích nghi với xã hội bên ngoài. Bị gò bó, các em phải bung ra. Sống lủi thủi một mình quả là điều khó chịu và vào tuổi đó các em chưa hiểu thấu đáo về chính mình, do đó đương nhiên các em trở thành những kẻ ngưỡng mộ các anh hùng, và chuyện kế tiếp là tạo bè kết đảng, điên cuồng với những trò chơi ồn ào và ngưỡng mộ các ngôi sao điện ảnh.

Chính vì vậy, ở lứa tuổi trung học, ta hiếm thấy có em nào ăn mặc khác kiểu với những em khác. Ngay cả người lớn có tính sáng tạo cũng chỉ là thiểu số ít ỏi, như vậy ta đừng nên quan trọng hoá chuyện các em bắt chước. Chỉ khi nào đối tượng của các em bắt chước quá thấp hèn thì mới coi là nguy hiểm. Cũng lưu ý là một trong các ảnh hưởng cao quý tác động lên giới trẻ khi các em bắt chước các đối tượng tốt lành, cao trọng và yêu nước. Giới trẻ hay bắt chước bởi vì các em muốn sáng tạo và sự sáng tạo chính là điểm đánh dấu cho sự kết thúc tình trạng sống hướng nội, theo chiều hướng có tính xây dựng.

Tính hiếu động: có lẽ ta nên nói tính nhẹ dạ để chỉ tình trạng hiếu động thì hay hơn. Giới trẻ cực kỳ sinh động, vì tâm hồn các em tràn ngập các ấn tượng. Cuộc sống thì đa dạng nhưng lại ít hài hoà do thế giới ngoại cảnh đầy dẫy những lời mời gọi khác nhau. Do vậy, nhạc kích động lôi kéo một số em vì nó đem lại cho các em một lối xả bớt năng lượng cơ bắp chưa được điều chỉnh hợp lý nơi các em. Chính vì tính thích vận động này mà các em khó tập trung chú ý vào một đối tượng, và việc kiên trì ngồi yên một chỗ để học là cả một vấn đề đối với các em, các em phải la lối lên mới chịu được. Nếu các em không tìm ra được một mục tiêu nào cả để hoạt động, đương nhiên các em sẽ rơi vào vòng tội lỗi. Mặt khác, tính hiếu động cũng như các đặc tính khác, sẽ trợ giúp các em trong giai đoạn tìm tòi các kinh nghiệm sống hầu quyết định cho mình một chỗ đứng trong cuộc đời. Một khi nguồn năng lượng dồi dào này được khai thông, được qui tụ và được sử dụng hợp lý, người thiếu niên bắt đầu một cuộc đời lao động và trở nên một người trưởng thành theo như ý Thiên Chúa muốn, nghĩa là một người biết yêu: yêu đương, yêu bạn bè, yêu quê hương.

 

Gm. Fulton Sheen

Niềm Tín Thác – Chương XXI: TÌNH YÊU THIÊN CHÚA LÀM VIỆC KHÔNG MỆT MỎI CHO SỰ NÊN THÁNH CỦA TA

I. TÌNH THƯƠNG KẾT HIỆP CỦA THIÊN CHÚA DÀNH CHO TÔI.

–   TẤT CẢ CÁC HỒNG ÂN CỦA CHÚA ĐỀU CÓ TÍNH “KẾT HIỆP”.

–   THIÊN CHÚA HIỆN DIỆN TRONG CÁC HỒNG ÂN CỦA NGÀI.

–   NGÀI TỎ MÌNH RA PHẦN NÀO QUA CÁC HỒNG ÂN ĐÓ.

Tình thương kết hiệp của Thiên Chúa dành cho tôi. – Thiên Chúa bao la vô cùng, quyền năng vô cùng, cao xa vô cùng, mà chúng ta là những vật thọ tạo bé mọn, được Ngài đưa ra khỏi chốn hư vô, nhưng vẫn gần với hư vô, cho nên nhất là khi mới bước vào con đường thiêng liêng, chúng ta khó mà ý thức được phần nào tình thương vô cùng của Chúa, như chúng ta có thể hiểu biết phần nào về các vẻ tuyệt hảo khác của Ngài.

Chúng ta biết Ngài thương yêu chúng ta. Từng trăm ngàn lần người ta nhắc cho ta rằng Ngài thương yêu chúng ta lắm. Nhưng tình thương đó thế nào, đó là điều chúng ta chưa lấy gì làm rõ lắm, khi bước vào đời sống thiêng liêng. Các kitô hữu thường tưởng tượng Thiên Chúa thương yêu chúng ta bằng thứ tình thương mà Đấng vô cùng cao cả có thể thương đến một loài vật vô cùng bé mọn : đó là thứ tình thương hại và rộng lòng ban phát, mà một Đức Vua cao cả dành cho lũ ăn xin khốn khổ là chúng ta. Tốt lắm thì cũng là một thứ tình thương chung chung, Ngài dành cho tất cả mọi người, không phân biệt một ai. Cả những hồng ân lớn lao nhất của Thiên Chúa cũng được giải thích theo cách này. Chẳng hạn ơn Cứu chuộc của Chúa Giêsu, kỳ công vĩ đại nhất của tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta, cũng chỉ được hiểu là lòng thương hại của Chúa muốn cứu vớt loài người khỏi án phạt muôn đời.

Phải sau một thời gian miệt mài trong đời sống thiêng liêng, người ta mới hiểu rằng tình thương của Chúa là một sự yêu thương Ngài dành cho tôi, cho riêng bản thân tôi, cũng như dành riêng cho mỗi người chúng ta. Phải đã nghe thấy tiếng nói của Chúa Giêsu trong tâm hồn mình, đã than thở và thưa chuyện thân mật với Ngài, đã sung sướng hưởng niềm vui của tình thân của Ngài, thì tôi mới thấy rõ Ngài thương yêu tôi, Chúa Giêsu đã chịu chết cho tôi, Ngài đặc biệt quan tâm đến tôi, Ngài luôn nghĩ đến tôi và muốn có được trọn lòng mến yêu của tôi.[1]

Rồi mãi sau này, chúng ta mới bắt đầu nhận thấy Chúa yêu thương từng người chúng ta, không phải chỉ bằng tình thương xót và tình thương giúp, cũng không phải chỉ là thứ tình bạn thường, nhưng là thứ tình tuyệt hảo nhất : tình yêu kết hiệp. Chúa thương yêu tôi bằng một tình thương bao la, Ngài say đắm linh hồn tôi, và điều Ngài muốn và không ngừng lo tính, là đi tới chỗ kết hiệp hoàn toàn giữa Ngài và linh hồn tôi trong hưởng kiến diễm phúc trên trời, và ở đời này, trong tình hiệp nhất của sự thánh thiện.

 Tình yêu kết hiệp giữa Thiên Chúa vô cùng cao cả và thánh thiện với vật thọ tạo bé nhỏ và rất khốn nạn của Ngài : đó là công việc mà Chúa không ngừng lo nghĩ và theo đuổi. Và đó là chân lý mầu nhiệm và vĩ đại của tất cả cuộc sống của ta. Vâng, đó là một mầu nhiệm. Một mầu nhiệm lạ lùng, vượt qúa xa sức hiểu biết của tâm trí thấp hèn của ta, cũng như ánh sáng mặt trời làm quáng mắt những loài chim sống về đêm. Vì lòng nhân hậu lớn lao của Ngài, Thiên Chúa để ý săn sóc cho các loại thọ tạo của Ngài, Ngài thương yêu công trình bàn tay Ngài đã tác tạo, Ngài ban phát nhiều hồng ân cho chúng, đó là những điều chúng ta còn có thể hiểu được. Còn như Ngài là Đấng vô cùng cao cả mà lại yêu thương chúng ta bằng tình yêu kết hiệp, là thứ tình yêu qúi trọng nhất và tuyệt hảo nhất, Ngài là vẻ đẹp vô cùng mà lại muốn kết hiệp với ta là loài xấu xa hèn hạ, Ngài là sự thánh thiện siêu việt mà lại muốn kết hiệp với ta là loài tội lỗi dơ nhớp…, đó là những điều chúng ta không thể nào hiểu được. Tình yêu luôn đòi hỏi phải có sự ngang bằng, ít là có phần nào ngang bằng, vậy mà giữa Thiên Chúa toàn năng và toàn thiện và chúng ta là loại thọ tạo hèn hạ và xấu xa, có gì giống nhau đâu ?

Thế mà điều lạ lùng này, điều khó tin và nghịch lý này lại là một sự thật : Thiên Chúa yêu thương tôi. Không những Ngài ban cho tôi muôn ngàn tặng phẩm, muôn vàn hồng ân như khi người ta yêu nhau, Ngài còn muốn ban chính mình Ngài cho tôi theo mức có thể làm được ở trần gian này, và cách tuyệt hảo sau này ở trên trời. “Tình yêu thì hiến thân cách quảng đại”. Thiên Chúa là tình yêu tuyệt đối, Ngài muốn thông ban mình cho ta, hiến thân Ngài cho ta, và nếu để thực hiện điều đó, Ngài phải thần linh hóa chúng ta thì Ngài sẽ làm. “Tình yêu hoặc gặp thấy những người giống nhau, hoặc làm cho họ trở thành giống nhau”. Vì thấy những sự bất cân xứng và những chướng ngại giữa Ngài và chúng ta, Thiên Chúa sẽ làm cho chúng ta trở nên giống Ngài để có thể thực hiện sự kết hiệp mong muốn.

Đó là cùng đích cao cả Chúa dành cho ta : sự thánh thiện ở đời này, và vinh phúc muôn đời ở trên trời. Nếu nói theo ngôn ngữ cụ thể và dễ hiểu thì phải nói : kết hiệp thân mật với Chúa ở đời này, và kết hiệp tuyệt hảo với Ngài ở trên trời. Kết hiệp giữa Đấng là Hữu Thể tối cao và loài thọ tạo hư vô, giữa Đấng vô cùng vĩ đại và hạt bụi vô cùng bé mọn: đó là điều kỳ diệu không thể tưởng được, nhưng đó lại là điều giúp ta cảm nghiệm thấy tính vô cùng của tình yêu Thiên Chúa.

Chúng ta đừng ngạc nhiên vì thấy tâm trí ta không thể hiểu được tình thương vô cùng bao la của Chúa. Tình thương vô cùng bao la của Chúa vượt qúa tầm hiểu biết của loài người hèn hạ là điều tất nhiên, bởi vì không có hình ảnh nào trong vũ trụ vạn vật có thể cho ta một ý niệm dầu rất sơ sài về tình thương của Ngài. Hơn nữa bản tính của Thiên Chúa là yêu thương. “Thiên Chúa là tình yêu” (1 Ga 4,8). Sách Thánh đã dạy như thế, Thiên Chúa là tình yêu bản thể từ ngàn đời. Đó là tình yêu giữa Chúa Cha và Chúa Con, và là bản thể của Chúa Thánh Thần. Nhưng Thiên Chúa muốn hiến thân ra ngoài bản thân mình, cho nên Ngài đã tạo thành con người, nâng con người lên bậc siêu nhiên. Với ân sủng, Thiên Chúa đã thần linh hóa con người, làm cho con người trở thành con của Ngài (Xem Gl 4,4-6).

Thiên Chúa đã tạo thành tôi, đổ đầy ân sủng vào linh hồn tôi, và muốn kết hiệp với linh hồn tôi. Ngài muốn tôi dâng trọn trái tim tôi, trọn lòng mến yêu của tôi cho Ngài : Ngài muốn ban mình Ngài cho tôi, nhưng Ngài chỉ có thể làm, nếu chính tôi cũng hiến dâng trọn linh hồn cho Ngài. Tất cả đời sống chúng ta là một trao đổi tình yêu. Tình yêu thần linh của Chúa muốn ban mình Ngài cho tôi, kết hiệp thân mật với tôi, và bằng muôn ngàn cách, Ngài tìm cách chiếm lấy lòng mến yêu của tạo vật bé nhỏ của Ngài. Đó là mục đích đời tôi. Đó là mục đích của Thiên Chúa khi tác tạo nên tôi.

Tất cả các hồng ân của Chúa đều có tính “kết hiệp”. – Đó cũng là mục đích của Chúa mỗi khi Ngài ban các hồng ân cho tôi. Trước đây tôi đã chỉ coi những hồng ân này là những ân huệ mà lòng quảng đại rất nhân hậu của Ngài không ngừng ban cho tôi: Ngài đã ban cho tôi có thân xác, có linh hồn cùng với những tài năng tốt lành. Nhất là Ngài đã ban cho tôi được ơn làm con Ngài trong lãnh vực siêu nhiên, đã ban cho tôi có cha mẹ đạo hạnh, được hưởng một nền giáo dục kitô giáo, được ơn gọi làm linh mục, làm tu sĩ. Tất  cả những hồng ân này được tôi nhìn nhận là những ân huệ của vị đại Ân nhân rất quảng đại là Thiên Chúa. Nay tôi phải thấy ý nghĩa đích thực và trọng đại của những hồng ân đó: đó là những tặng phẩm của tình yêu Thiên Chúa, một tình yêu kết hiệp.

Đó là những viên ngọc qúi có nạm kim cương Ngài tặng cho tôi để chiếm lấy trái tim tôi, không phải để xây dựng một tình bạn, nhưng là để chiếm trọn trái tim tôi, hướng đến một tình yêu kết hiệp, một tình yêu giống như tình yêu phu phụ, nhưng thật ra tình yêu phu phụ chỉ là một hình ảnh rất mờ nhạt. “Ta sẽ lập với ngươi một hôn ước vĩnh cửu” (Hs 2,20).

Thật không kể xiết những hồng ân Ngài đã ban tặng cho tôi ! Trước hết là trong lãnh vực tự nhiên : toàn thể vũ trụ là một qùa tặng Ngài ban cho tôi ! Ngài đã tạo thành trời đất vì tôi. Tất cả muôn vật muôn loài xung quanh tôi đã được Ngài nghĩ ra và tạo thành, để nói cho tôi nghe về tình thương của Ngài đối với tôi. Những bông hoa muôn mầu sắc và muôn ngàn hương thơm, những trái cây ngon ngọt làm vui sướng lòng con người, những con vật dễ thương đang ở xung quanh tôi và phục vụ tôi, tất cả đều nói lên lòng nhân hậu và tình thương của Chúa đối với tôi, và cũng là để nhắc nhở tôi phải yêu mến và cảm tạ Ngài. Cả mặt trời vĩ đại và huy hoàng, đang soi sáng và làm sống động mọi vật, cũng như ti tỉ mặt trời xa xăm, tức các tinh tú xa xăm kia, đều là công trình của bàn tay Thiên Chúa vô cùng quyền năng : Ngài là tác giả và là chủ muôn loài, nhưng ước ao của Ngài là chiếm được tình yêu của vật thọ tạo bé nhỏ này.

Ôi ! Tư tưởng làm ngây ngất hồn tôi, khi tôi nhận ra rằng : vì yêu thương tôi và vì muốn chiếm lấy trái tim bé nhỏ của tôi, Thiên Chúa đã tạo dựng từ hư vô tất cả vũ trụ vạn vật tốt đẹp này, mà trong đó tôi chỉ là một hạt bụi vô nghĩa !

Tuy nhiên, những hồng ân trong lãnh vực siêu nhiên còn qúi trọng hơn gấp triệu triệu lần ! Đó là những hồng ân khôn tả và khôn ví ! Để chuộc tội tôi, để cứu tôi khỏi hỏa ngục, Chúa đã giáng thế làm người như tôi. Là Đấng hằng hữu, Ngài đã vì tôi mà sống trong thời gian. Là Đấng linh thiêng và vô hình, Ngài đã vì tôi mặc lấy xác thịt con người. Là Đấng Toàn năng, Ngài đã sinh ra như một trẻ thơ trần trụi và khó nghèo. Vì tôi, Ngài đã sống một cuộc đời đầy gian lao và đau khổ. Rồi Ngài đã chết cách vô cùng đau đớn trên thập giá vì lòng thương tôi, và để thúc bách tôi phải yêu mến Ngài hơn hết mọi sự. Khổ hình thập giá là phương thế cuối cùng của Ngài để nài ép tôi phải tin vào tình thương vô cùng của Ngài, và đáp lại tình thương đó.

Chúng ta nghĩ Ngài đã làm hết cách rồi. Nhưng không phải thế đâu. Ngài đã sống lại và vẫn ở giữa chúng ta trong mầu nhiệm Thánh Thể, và ở đó vì thương yêu ta và để nhận tình yêu đáp lại của ta. Tình yêu lạ lùng của Ngài đã tạo ra cách thế vô cùng lạ lùng này, để vượt qua thời gian hai ngàn năm từ đó đến nay, hầu ở lại với ta. Trong bí tích Thánh Thể, Ngài lại trở xuống với tôi hôm nay, Ngài dâng mình làm của lễ đền tội cho tôi và cho cả thế giới. Ngài là Đấng giảng dạy dân chúng, chữa lành bệnh tật cho họ tại Galilê xưa, nay Ngài đang ở trong linh hồn tôi, Ngài đang ôm lấy tôi cách âu yếm. Vâng, Thánh Thể là cuộc thăm viếng hằng ngày Chúa Giêsu dành cho những linh hồn Ngài yêu thương.

Xem ra Chúa Giêsu không còn có thể làm gì hơn nữa. Là Thiên Chúa làm người, Ngài đã đến ở trong linh hồn tôi. Đó là sự hoà hợp khăng khít giữa linh hồn và Chúa Giêsu Thánh Thể. Đây không còn là sự hai người bạn thân ôm hôn nhau, hai vợ chồng ôm hôn nhau, vì hai người vẫn là hai người. Còn đây thì linh hồn đã trở nên một với Chúa Giêsu Thánh Thể.

Nhưng Chúa Giêsu chưa lấy thế làm đủ. Ngài chưa thỏa tình yêu thương ta. Ngài muốn có sự đồng nhất hóa giữa hai tâm hồn, giữa hai cuộc đời. Ngài muốn có sự hiệp nhất mầu nhiệm giữa Ngài và linh hồn Ngài thương yêu. Ngài muốn một sự hiệp nhất trọn vẹn, một sự đồng hóa hoàn toàn. Một sự đồng hóa mà loài người không bao giờ dám nghĩ tới. Vẻ đẹp thần linh không thể nào đồng hóa với sự xấu xí và xấu xa. Ngài tha hồ yêu thương, tha hồ ước ao một sự kết hiệp, điều đó không thể nào thành sự được, trừ phi Ngài biến đổi tôi, thần thánh hóa tôi.

Thì Ngài đã làm công việc đó. Trước hết Ngài đã thần linh hóa con người tôi, Ngài cho tôi thông phần vào bản tính thần linh của Ngài bằng ân sủng thánh hóa (ta thường gọi là ơn thánh hóa). Ngài đã tắm gội tôi trong máu thánh của Con Ngài, để rửa tôi sạch mọi dơ nhớp và bệnh cùi của tội lỗi. Ngài đã nâng tôi lên cao, rất cao hơn mọi loài thọ tạo trong vũ trụ, trên cả thân phận tự nhiên của một vật thọ tạo. Ngài đặt tôi vào thế giới siêu nhiên. Ngài trang điểm linh hồn tôi bằng các nhân đức siêu nhiên, khiến tôi trở nên xinh đẹp và đáng yêu trước mặt Ngài.

Ngài còn muốn nhiều hơn thế. Ngài đã làm cho tôi nhiều hơn nữa, bởi vì tôi còn qúa xa mức độ thần linh hóa buộc phải có để được hiệp nhất muôn đời với Ngài. Vậy Ngài sẽ làm việc mỗi ngày, dùng trăm ngàn ân sủng hành động, cũng gọi là hiện sủng, để giúp linh hồn tôi thực thi mọi hành vi cách tốt lành thánh thiện, để linh hồn ngày thêm xinh đẹp và đáng được Chúa yêu thương hơn. Ngài làm việc không ngơi để thanh tẩy tôi khỏi mọi vết nhơ của tính tự  ái, và mọi vết nhơ của tính cậy mình. Mọi sự, mọi ơn, đều được Ngài xếp đặt theo sự khôn ngoan và tình thương của Ngài để dần dần biến đổi linh hồn tôi nên giống hệt như Ngài. Những an ủi thiêng liêng, những buồn tủi thiêng liêng kế tiếp nhau. Lúc thì Ngài cho linh hồn tôi vô cùng vui sướng vì sự hiện diện nồng nàn của Ngài. Lúc Ngài lại ẩn mặt đi, để tôi âu sầu, lo lắng, nhưng cũng là để tôi càng thèm ước sự hiện diện và tình thương của Ngài.

Cũng có thể Ngài đã dắt tôi qua “Đêm tối tăm của các giác quan”, để trong đêm thần bí đó, Ngài làm nảy nở trong tôi những hồng ân của Chúa Thánh Thần. Rồi sau đó, nếu tôi tỏ ra quảng đại, Ngài sẽ thử thách lòng trung tín của tôi trong “Đêm tối tăm của tâm trí”, sự thử thách cuối cùng để làm cho tôi nên giống Ngài mọi bề, và đáng được Ngài yêu thương trọn vẹn. Lúc đó Ngài sẽ đưa tôi vào kho rượu tình yêu thần linh của Ngài, sẽ cho tôi được no say rượu tình yêu của sự kết hiệp trọn vẹn.

Đó là một phác họa rất mờ nhạt về những hồng ân lạ lùng Chúa Giêsu thường dùng để tẩy rửa và thánh hóa linh hồn, chiếm trọn tình mến yêu của linh hồn và dẫn đưa nó tới chỗ kết hiệp trọn vẹn với Ngài.

Thiên Chúa hiện diện nơi mỗi hồng ân của Ngài. – Nhưng còn một chi tiết rất cảm động, cần được nêu rõ hơn ở đây. Các vua chúa muốn khen thưởng ai, hoặc tỏ lòng thương ai, các ngài chỉ gởi cho họ những qùa tặng qúi giá, rồi không còn nghĩ gì nữa. Còn Chúa Giêsu đối với ta thì khác, Ngài ban tặng cho ta các hồng ân là để chiếm lấy tình mến yêu của ta. Cho nên Ngài hiện diện trong các hồng ân của Ngài, Ngài muốn ta nhìn thấy tình thương của Ngài, hơn là thấy các hồng ân, khi đón nhận các hồng ân đó. Đó là cách Ngài vẫn làm : từ những hồng ân bé nhỏ, đến hồng ân vô cùng trọng đại là bí tích Thánh Thể, Ngài luôn là một với hồng ân Ngài ban. Ngài hiến thân mình cùng với hồng ân Ngài ban cho ta.

Trước hết, toàn thể vũ trụ, tất cả thiên nhiên đầy sự hiện diện của Chúa, đúng như thánh nữ Angela thành Fôlignô đã thốt lên. Bằng quyền năng của Ngài, qua hoạt động thần linh của Ngài, Ngài làm cho vạn vật hiện hữu, và tăng trưởng. Ngài dùng vạn vật để nuôi sống tôi. Ngài hiện diện nơi từng ngọn cỏ, nơi từng giọt sương mai. Ngài hiện diện nơi mỗi loài rau cỏ nuôi sống tôi, nơi mỗi thứ trái cây ngon ngọt mang lại vui sướng cho tôi. Mỗi bông hoa xinh tươi và thơm ngát, mỗi ánh sao huyền diệu trên trời cao thẳm, mỗi cơn gió chiều mang lại sự mát mẻ dịu dàng, tất cả đều nhắc nhở cho tôi rằng : Thiên Chúa ban tất cả những thứ ấy cho tôi vì yêu thương tôi, và muốn tôi yêu mến Ngài hết lòng.

Bởi vậy các thánh thường yêu mến thiên nhiên, yêu mến núi rừng và đại dương hùng vĩ, ca tụng uy quyền của Chúa. Các ngài yêu qúi các đồng cỏ hoa, những đàn chim líu lo ca hát, tôn vinh sự tốt lành và dịu dàng khôn tả của Chúa. Tất cả muôn vật nói với các Ngài về Chúa, vì Chúa hiện diện ở trong chúng vì tình thương loài người. Chúng ta ai cũng biết sự thương mến của Ông Thánh Khó Nghèo thành Assisi dành cho những con chim. Còn thánh Inhaxiô, một hôm đã nồng nàn yêu mến Chúa, khi suy niệm về tình thương của Thiên Chúa dành cho ta nơi một bông hoa xinh tươi : thánh nhân ngồi trên một bờ sông, nhờ nhìn ngắm một bông hoa mà được Chúa cho đi sâu vào một giờ chiêm niệm cao siêu lạ lùng. Ngài nhận được những ánh sáng chói lọi và phi thường đến nỗi “tất cả mọi ơn trợ lực ngài nhận được do Chúa ban và tất cả những gì ngài học được trong suốt cuộc đời, cho tới tuổi sáu mươi hai gồm lại, cũng không thể sánh với những gì ngài đã nhận được vào lúc đó”[2]. Chúng ta cũng biết thánh Phaolô Thánh Giá, khi đi qua một cánh đồng đầy cỏ hoa, đã nồng nàn yêu mến Chúa đến nỗi phải đưa tay vuốt nhẹ trên các bông hoa và nói : “Thôi im đi ! Tôi không sao chịu nổi nữa ngọn lửa mến yêu đang bừng lên trong tôi”.

Ước gì tôi được như các thánh ! Nếu đôi mắt linh hồn tôi mở rộng và được ánh sáng đức tin và đức mến soi cho, chắc tôi cũng nhìn thấy vũ trụ như các thánh. Tôi sẽ thấy trời đất đầy những sự kỳ diệu của Chúa và mọi sự đều nói lên tình thương của Ngài. Tất cả các sự vật bao quanh tôi đều cho tôi cảm thấy hương thơm của Ngài. Mọi vật đều như đang nói với tôi rằng : Hãy yêu mến và cảm tạ Chúa ! Và tất những tiếng rì rào của muôn vật sẽ là như một lời kinh mênh mông của trời đất dâng lên Chúa, để tôn vinh và mến yêu Chúa. Tóm lại, muôn vật muôn loài bao quanh tôi, tất cả những biến cố và những sự kiện dệt lên cuộc đời tôi, tất cả đều là những biểu hiệu của tình Chúa thương tôi, đồng thời là những lời nhắc nhở tôi phải mến yêu Chúa hết lòng.

Tả làm sao được hạnh phúc của những lúc linh hồn được đức tin soi sáng, và được đức mến thiêu đốt, đã ngắm nhìn trời đất với tâm tình của thánh Phanxicô Assisi ! Nó sẽ thấy trời đất có hào quang của Thiên Chúa, còn mang dấu vết của bàn tay Thiên Chúa sáng tạo. Đó, Thiên Chúa đã tạo thành trời đất tốt đẹp như thế vì thương yêu tôi, và để tôi vui sướng trong tình yêu Ngài. Tôi thấy mình được bao bọc trong tình thương của Chúa, Đấng tôi yêu mến và được mến thương.

Tôi thấy mình như một miếng xốp được chìm trong đại dương của tình yêu Chúa. Nếu một miếng xốp, một miếng bọt biển biết sướng khi thấy mình no nê và đắm chìm trong nước mênh mông của đại dương, được sóng gió nhè nhẹ đưa đi khắp đây đó trong đại dương,  thì tôi càng phải thấy mình diễm phúc vì được no thỏa và tràn ngập tình yêu của Chúa ! Mỗi đợt sóng là một sự vuốt ve của ơn Chúa và một lời thì thầm của muôn vật nhắc cho tôi rằng Thiên Chúa yêu thương tôi. Đúng thế ! “Nếu tôi mượn đôi cánh của tình yêu và bay đến tận chân trời góc biển, thì vẫn là bàn tay Chúa dẫn đưa tôi đi với đầy yêu thương” (Tv 138,9). Lời này của vị tiên tri vẫn còn đó. Vâng, tôi thấy Chúa luôn bao bọc tôi, tình thương của Ngài ấp ủ tôi, Ngài yêu thương tôi và muốn chiếm trọn tình mến yêu của tôi. Tôi hít thở trong Ngài, tôi sống trong Ngài, tôi lớn lên trong Ngài : “Chúng ta sống, động và hiện hữu ở trong Ngài” (Cv 17,18).

Tôi đã nói Thiên Chúa bao bọc tôi. Ngài ở xung quanh tôi. Nhưng Ngài cũng ở trong tôi. Ngài hiện diện nơi mỗi thớ thịt và mỗi giọt máu của tôi. Chính Ngài làm cho trái tim tôi đập từ thuở trong lòng mẹ cho đến nay, và cho đến khi tôi chết. Nhất là một cách vô cùng thân thiết và kỳ diệu, Ngài ở trong tôi mỗi khi tôi rước lễ. Mình Thánh Chúa Giêsu đi vào trong tôi, Thiên Chúa làm người, cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần vào ở trong linh hồn tôi, biến linh hồn tôi thành thiên đàng của Chúa Ba Ngôi. Rồi Chúa còn ở lại mãi trong linh hồn tôi bằng ân sủng thánh hóa của Ngài. Ngài ban cho tôi nhiều hồng ân để thánh hóa các tài năng của tâm hồn tôi, nhất là ý chí của tôi. Ngài luôn luôn ban cho tôi những ơn soi sáng để hướng dẫn tôi trên đường trọn lành, và để tôi yêu mến Ngài.

Ôi ! Những sự lạ lùng của tình yêu Thiên Chúa ! Ngài yêu thương các linh hồn, yêu thương vô cùng. Và Ngài ban cho chúng những niềm vui khôn tả khi chúng đáp lại tình thương của Ngài. Ôi nói sao cho xiết những điều kỳ lạ Ngài đã làm để dứt tôi ra khỏi mọi quyến luyến thế tục, để tôi chỉ yêu mến một mình Ngài thôi. Nhưng cũng rất kỳ lạ là sự hững hờ của tôi đối với Ngài ! Làm sao tôi, một kẻ khốn cùng, lại lãnh đạm như thế đối với Vua trời đất đã đoái thương đến mình như thế ? Làm sao tôi vẫn cứ để mình bị lừa dối bởi những quyến dũ giả trá của các vật thọ tạo và nhất là của cái tôi khốn nạn này ?

Thiên Chúa tỏ mình ra phần nào qua các hồng ân của Ngài. – Thật ra, đối với những linh hồn qúa quyến luyến các sự thế gian, những vui thú của giác quan, thì tình yêu của Thiên Chúa có khía cạnh yếu của nó. Ngài luôn tỏ tình thương yêu tôi, ban cho tôi nhiều hồng ân, đến thăm viếng tôi và ban cho tôi những an ủi thiêng liêng, nhưng Ngài không cho tôi thấy hết những sự tuyệt hảo thần linh của Ngài. Nếu Ngài tỏ cho tôi thấy những vẻ tuyệt hảo đó, Ngài sẽ chinh phục trọn vẹn trái tim tôi trong nháy mắt, vì Ngài vô cùng tốt lành và vô cùng đáng mến. Nhưng Ngài không muốn thế. Ngài muốn để cho tôi tự do đáp lại tình thương của Ngài, tự do và tự nguyện dâng ý chí và trái tim của tôi cho Ngài. Bởi vậy Ngài muốn để các linh hồn bước đi trong bóng tối của đức tin.

Tuy nhiên nếu tôi có đức tin mạnh mẽ và sống động, tôi có thể nhận thấy hình ảnh Ngài, cảm thấy hương thơm của Ngài nơi vạn vật. Tất cả mọi vẻ xinh đẹp trong thiên nhiên chẳng phải là một phản ảnh vẻ đẹp siêu phàm của Ngài đó sao ? Lòng nhân hậu của một trái tim con người nào đó chẳng gợi cho tôi thấy sự nhân hậu và tốt lành vô cùng của Ngài sao ? Tình thương của những bà mẹ âu yếm, của những người cha hy sinh vì con cái dấu yêu, lại không là hình ảnh gợi lên phần nào tình thương vô cùng của Thiên Chúa sao ? Thiên Chúa là tình yêu, là tình yêu tuyệt đối. Ngài là “Thiên Chúa ẩn mình”, nhưng cũng như mặt trời ẩn mình sau làn mây vẫn tỏa ra muôn vàn tia sáng và làm ánh lên vẻ đẹp của vạn vật trong vũ trụ, Thiên Chúa vẫn tỏ mình ra, vẫn tỏ bày những vẻ tuyệt hảo của Ngài nơi vạn vật. Mỗi vật thọ tạo đều nói lên Danh Thánh của Ngài và tỏ bày sự tốt lành của Ngài. Đúng như lời Thánh Vịnh : “Trời xanh tường thuật vinh quang của Chúa” (Tv 18,2).

Hơn nữa, dần dần và theo mức chúng ta từ bỏ mình để tận hiến cho Ngài, thì tấm màn ngăn cách Ngài với chúng ta trở nên mỏng hơn, thoáng hơn. Đôi khi, qua những hồng ân thần bí, có vẻ như Ngài vén một  góc tấm màn che này lên. Phần nào, Ngài cho linh hồn cảm thấy sự hiện diện của Ngài. “Thầy đang ở đó và Ngài gọi em” (Ga 11,28). Ngài cho ta nghe thấy tiếng nói của Ngài ở đáy tâm hồn ta. Ngài cho ta cảm nghiệm thấy những vẻ tuyệt hảo thần linh của Ngài qua một thứ ánh sáng thiên bẩm, đưa ta vào một tình yêu thụ động của sự chiêm niệm.

Ôi, lạy Chúa, những sự tuyệt hảo của Chúa vượt qúa xa mọi sự hiểu biết của chúng con. Tình thương của Chúa không trí nào hiểu được, không lưỡi nào nói được, tình thương đó vượt qúa xa mọi tình yêu của loài người chúng con. Và Chúa có lý để nói rằng : “Còn gì ta phải làm cho vườn nho của Ta mà Ta đã chẳng làm ?” (Is 5,4). Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã làm tất cả rồi, Chúa đã làm qúa nhiều vì yêu thương con. “Ngài đã qúa yêu thương tôi”.

Ôi ! Tình thương cao vời của Chúa ! Không bao giờ tôi hiểu được tình thương vô cùng của Ngài. Vậy là tôi đã được Thiên Chúa tạo thành vì Ngài, để yêu mến Ngài. Tôi là một linh hồn bé mọn, được Chúa yêu thương tác thành để mến yêu Ngài, để trở thành hiền thê thần linh của Ngài, sống kết hiệp thân mật với Ngài trong tình yêu ở đời này, và được kết hiệp trọn vẹn với Ngài trong vinh phúc sau này trên thiên đàng.

Đó là cùng đích cao qúi Chúa dành cho tôi, đáng cho tôi say mê, và khiến tôi hết lòng mến yêu Ngài. Vậy tôi phải năng suy gẫm về điều này để xác tín về định mệnh cao qúi của mình. Nếu tôi hiểu được phần nào sự thật này, tôi sẽ không còn khó khăn hy sinh mọi sự vì yêu mến Chúa. Hy sinh những thú vui thế gian, những chuyện tầm phào của người đời yêu mến Thiên Chúa vô cùng tốt lành, sẽ là điều đương nhiên phải làm. Và tôi sẽ cảm thấy rất vui sướng, vì bỏ được những quyến luyến vô nghĩa đó, để trọn niềm mến yêu Chúa và được Ngài yêu thương.

Lạy Chúa, xin ban cho con một chút ánh sáng và ân sủng của Ngài, để con hiểu rõ hơn tất cả những gì Chúa đã làm vì thương yêu con, và để con mau mắn đáp lại tình thương bao la đó của Ngài. Khi đó con sẽ thấy tất cả mọi hy sinh và đau khổ đều êm dịu và ngọt ngào, vì đó là những phương tiện để con kết hiệp thân mật hơn với Ngài.

II.  TÔI CŨNG CÓ MỘT LÒNG MẾN YÊU SÂU XA VÀ BẨM SINH ĐỐI VỚI THIÊN CHÚA.

–   CẦN PHẢI KHÁM PHÁ RA LÒNG YÊU MẾN NÀY.

–   NHỮNG BÀI HỌC VỀ TÍN THÁC.

Tôi cũng có một lòng mến yêu sâu xa và bẩm sinh đối với Thiên Chúa. – Đáng buồn thay ! Tôi phải thú nhận rằng :  đối với bấy nhiêu bước đi trước của Chúa để chiếm lấy tình yêu của tôi, tôi đã chỉ đáp lại bằng một sự thờ ơ kỳ lạ và một sự vô ơn khó hiểu. Tất cả cuộc đời trước đây của tôi là một bằng chứng qúa rõ.

Tại sao thế ? Có phải Thiên Chúa đòi hỏi tôi một điều bất khả chăng ? Có phải yêu mến Chúa là điều trái với bản tính tự nhiên của con người chăng ? Tại sao Ngài là Đấng Chí Tôn Chí Thánh mà lại đi tìm tình mến yêu của một loài thọ tạo bé mọn và hèn hạ như tôi ? Có phải yêu mến Ngài là điều con người tự nhiên chối bỏ ?

Không, không phải thế đâu. Trái lại Thiên Chúa chỉ yêu cầu tôi buông lỏng cương cho lòng mến mà Ngài đã đặt sẵn trong đáy lòng mọi người, một lòng mến bẩm sinh mà Ngài đã chăm lo và vun trồng với bao nhiên ân sủng của Ngài. Để thực hiện những kế hoạch của lòng nhân hậu và yêu thương của Ngài, Ngài đã đặt một tình yêu siêu nghiệm và mãnh liệt, một tình yêu sâu thẳm trong trái tim tôi, ngay từ trong lòng mẹ, để tình yêu bẩm sinh đó nhảy lên vì mừng vui khi thấy Ngài đến với nó. Đúng thế, Thiên Chúa là Thiện tuyệt đối và là tình yêu, Ngài đã sáng tạo trái tim ta có bản tính mến yêu Chân, Thiện, Mỹ, khát khao mến yêu Đấng tốt lành vô cùng, nhân hậu vô cùng, tốt đẹp vô cùng. Kẻ tội lỗi độc ác nhất vẫn không thể không yêu mến Thiên Chúa tốt lành và nhân hậu. Cho nên khi kẻ tội lỗi bị án phạt đời đời, nó sẽ muôn đời oán ghét Đấng mà tự nhiên nó thấy đáng mến yêu vô cùng : hình phạt ghê sợ nhất của nó, là phải oán ghét và lìa xa Đấng mà trái tim nó không thể không mến yêu. Đúng như Augustinô, người tội lỗi hối cải đã nói: “Ngài đã tạo thành chúng con cho Ngài, và lòng các con sẽ không an vui cho tới khi nó nghỉ an trong Ngài”.

Linh hồn ta đói và khát Thiên Chúa. Linh hồn ta tự nó thèm muốn Thiên Chúa. Trí tuệ ta là sự ước muốn hữu thể, thèm muốn hữu thể, thèm muốn Thiên Chúa là nguồn mạch của hữu thể : Ngài là Hữu thể vô cùng. Ý muốn của ta thèm muốn sự thiện, thèm muốn Thiên Chúa, vì Ngài là sự thiên vô cùng. Chính sự đói khát thiện mỹ này, đói khát vô thức của ta về Thiên Chúa, một sự đói khát tàng ẩn và ta không nhận ra, chính sự đói khát Thiên Chúa khiến ta tìm kiếm hạnh phúc khắp nơi, nơi những vật thọ tạo, những hình ảnh quá thô kệch của Thiên Chúa. Chính sự đói khát thầm kín này là động lực mọi hành động của ta ở trần gian này.

Tất nhiên chúng ta thường không ý thức về sự mến yêu siêu việt và căn bản này. Tất cả chúng ta yêu mến Thiên Chúa, sự Thiện tối cao của mọi tâm hồn, nhưng rất nhiều khi người ta không ý thức gì hết. Chúng ta ham muốn hạnh phúc, và đam mê nung đốt lòng chúng ta trong cuộc đi tìm hạnh phúc mà chúng ta không nhận ra đó. Chúng ta luôn luôn mắc sai lầm. Chúng ta tưởng gặp được đối tượng của những ước vọng của mình nơi trăm ngàn vật  thọ tạo : tất cả chúng đều có vẻ mang lại hạnh phúc cho ta. Nhưng rồi lần lượt chúng đã làm chúng ta thất vọng, bởi vì chúng chỉ là những hình ảnh rất bất toàn của Chân Thiện Mỹ. Bị say mê vì chút ánh hào quang của Thiên Chúa được phản ánh nơi các vật thọ tạo đó, chúng ta đã dại dột trao gửi lòng mến yêu cho chúng, trong khi thật sự chúng chỉ là những sứ giả, những tiếng gọi nhắc nhở ta hướng lòng lên Đấng yêu thương ta vô cùng, đang chờ đợi chúng ta.

Đáng buồn thay ! Thiên Chúa có một địch thủ nguy hiểm : ngay từ khi ta có trí khôn, nó đã tìm cách chiếm lấy lòng mến yêu của ta. Đó là cái tôi, cái tôi kiêu căng, dơ bẩn, ích kỷ, luôn tìm cách chiếm đoạt mến yêu của ta thay vì dành chỗ cho lòng yêu mến Chúa. Đó là tính tự ái của ta. Những năm tháng của tuổi thơ ấu và của tuổi thiếu niên là thời gian diễn ra những chiến thắng và những thành công của tính tự ái xấu xa. Nó có vẻ đã tiếp tục lớn lên với năm tháng cho tới khi linh hồn bắt đầu biết chăm lo đời sống nội tâm. Cái tôi xấu xa này đã thành công trong việc lừa dối ta để chiếm lấy tất cả lòng yêu mến của ta. Dần dần nó đã trở thành chúa của ta, trung tâm mọi hoạt động của ta.

Một khám phá lớn : sự đam mê yêu mến này. – Tất cả cuộc sống nội tâm của ta là đạt tới việc nhận ra chân lý kép này : Thiên Chúa yêu thương linh hồn tôi, và linh hồn tôi được tạo thành để yêu mến Thiên Chúa. Phải khám phá sự ham mê thánh thiện này, một sự đam mê đang nung đốt tôi một cách bí ẩn. Phải nhờ kinh nghiệm để tập nhận ra Đấng yêu dấu của tôi. Nhờ những ân sủng, những an ủi và những thử thách, tôi phải tiến tới chỗ không những mến yêu Thiên Chúa một cách vô ý thức, vô tâm, những với đầy đủ ý thức của một tâm hồn đã nhận ra đối tượng lòng mến yêu của mình, và vì thấy Ngài vô cùng xinh đẹp và đáng mến, nên chỉ có một ước nguyện là tận hiến cho Ngài, và dầu có khó khăn cũng quyết tâm dứt đứt mọi xiềng xích của cái tôi, của lòng tự ái xấu xa.

Hãy nhìn vào quá khứ của mình, chúng ta sẽ thấy đó chính là đời sống tâm linh của mình từ trước đến nay, và đó cũng là chương trình của Chúa đối với mỗi người chúng ta. Có đúng là tuổi thơ ấu và tuổi thiếu niên của chúng ta đã bị nhiễm độc  bởi sự chiều chuộng cái tôi của mình không ? Thay vì dâng trái tim cho Chúa, tôi đã dâng tất cả tâm tình cho những sự vật quyến rũ nó. Tôi đã dành tất cả tâm tình cho cái tôi xấu xa : tôi đã tìm sở thích của mình trong mọi sự, cả trong những sự thánh thiện, trong việc tập tành các nhân đức. Tôi đã trải qua bao năm tháng để yêu cái tôi, để yêu mình, coi mình như trung tâm của vũ trụ, tưởng như mọi sự vật xung quanh tôi là để phục vụ tôi, để tôi được thỏa thích, được vui hưởng, được vinh dự : có phải thế không ?

Cho tới một hôm, ân sủng của Chúa đã thổi vào linh hồn tôi, và tôi đã thoáng nhìn thấy rằng, tuy là có nhân đức, nhưng linh hồn tôi còn đầy tự ái, còn quá yêu mình cách âm thầm. Khi đó tôi đã tỉnh ngộ, đã bắt đầu quay về với Chúa với một lòng mến yêu vô vị lợi hơn. Từ đó Chúa đã dành tất cả hoạt động của Ngài để làm cho tôi cảm thấy tình yêu thương nồng nàn của Ngài đối với tôi, và Ngài ước ao một tình yêu kết hiệp giữa Ngài và tôi. Ngài đã ban cho tôi rất nhiều ân sủng để đạt được mục tiêu, là làm cho tôi hiểu thấm thía rằng Ngài yêu thương tôi, Ngài mong ước thấy tôi yêu mến Ngài, Ngài ao ước kết hiệp với tôi, Ngài mong ước tôi nên thánh. Đồng thời Ngài dùng những thử thách, những lúc chán nản cũng như những an ủi thiêng liêng để giúp tôi cảm thấy rõ ràng tình yêu đó trong linh hồn tôi, giống như một dấu ấn tình thương của Ngài. Ngài đã cho tôi, cho trái tim tôi nhảy mừng cách sung sướng vì cảm thấy sự hiện diện vô cùng đáng mến của Ngài, nhưng rồi thường khi Ngài cũng đã làm cho tôi cảm thấy lo âu đau đớn vì thiếu vắng Ngài. Hành động rất đa dạng đó của Ngài đã nhắm một mục đích là giúp tôi có kinh nghiệm sống, như sờ thấy Ngài là sự Thiện vô cùng, sự Thiện duy nhất mà tâm hồn tôi thật sự khát khao. Dần dần tôi đã hiểu rằng mọi sự tốt lành của thế giới này đều giả trá, không thể thỏa mãn tâm hồn tôi. Trái tim tôi khao khát những gì tốt lành hơn, cao cả hơn “Tôi được sinh ra cho những gì cao trọng hơn”. Và Thiên Chúa sau cùng đã tỏ ra là kho báu của tôi, là tất cả cho tôi. “Ngài là Thiên Chúa của tôi và là mọi sự cho tôi”.

Trong khi Ngài làm cho tôi say mê Ngài, Ngài cũng giúp tôi tự  chán ghét mình. Ngài cho tôi nhận ra sự độc ác và xấu xa của cái tôi, kẻ đã làm tôi say mê yêu mến và cung phụng nó : nó đã lừa dối tôi bằng những thứ bùa dối trá được tôi ưa thích chỉ vì là của tôi. Vậy mà tôi đã hầu như luôn luôn “tôn thờ” nó. Hiện nay nó vẫn còn tìm cách tách rời tôi khỏi Thiên Chúa. Bởi vậy sự luân phiên giữa những lúc được an ủi và những khi bị mất an ủi là phương thế rất hữu hiệu Chúa dùng để dẫn đưa tôi đến với tình thương kết hiệp của Ngài. Ở mỗi bước của cuộc sống thiêng liêng của tôi, Ngài tỏ cho tôi thấy sự đối nghịch lớn lao giữa vẻ đẹp siêu phàm của Ngài và sự xấu xí ghê sợ của cái tôi. Ngài cho tôi nếm sự ngọt ngào của những vẻ tuyệt hảo thần linh của Ngài, đồng thời cũng để tôi nếm sự cay đắng của những tuyệt hảo giả tạo của cái tôi, để tôi có thể sáng suốt lựa chọn giữa hai tình địch đang tranh dành trái tim tôi.

Rồi một ngày sẽ đến, nếu nó chưa đến, đó là lúc Chúa đề nghị và thực hiện sự trao đổi tốt lành. Chúa sẽ nói với tôi : “Con hãy bỏ đi cái tôi của con, hãy bỏ đi những sự rách rưởi và những ghẻ lở của cái tôi ghê tởm của con. Hãy coi nó như kẻ xa lạ và như thù địch của con ! Thay vào đó, Cha tặng cho con những vẻ tuyệt hảo vô cùng tốt đẹp của Cha. Đó là của con, đó là như cái tôi mới của con. Con hãy yêu mến những sự tuyệt hảo này như của riêng con. Con hãy đặt hạnh phúc và vinh hiển của con nơi những sự tuyệt hảo này. “Tất cả những gì của Cha là của con”.

Hãy can đảm lên, hỡi linh hồn tôi ! Hãy nhảy mừng trong Chúa ! Tôi đã tìm thấy viên ngọc quý đáng giá bằng tất cả mọi kho báu. Viên ngọc quý này chính là sự hiểu biết rằng linh hồn tôi giống như một đứa  bé mồ côi, rách rưởi và xấu xí, nhưng tôi có một định mệnh vương giả : tôi đã khám phá ra rằng Vua cả trời đất yêu thương tôi với một tình yêu khôn tả, và Ngài muốn tôi yêu mến Ngài để đáp lại tình thương của Ngài. Tôi đã hiểu rằng hai chúng tôi đã được dành cho nhau : Thiên Chúa vô cùng xinh đẹp và đáng mến đã thương yêu tôi là vật thọ tạo hèn hạ và xấu xí của Ngài một cách kỳ diệu, và để chiếm được trái tim tôi, Ngài đã đặt trong trái tim tôi một tình yêu, một lòng mến tự nhiên hướng về Ngài, một đam mê căn bản và thầm kín mà trước đây tôi không nhận ra. Nay tôi thấy rõ Ngài yêu thương tôi và tuy không ý thức, tôi cũng yêu mến Ngài. Tôi biết hiện nay Ngài nỗ lực không ngừng, tìm mọi cách để giải thoát tôi khỏi xiềng xích đã trói buộc tôi với người tình cũ của tôi là cái tôi của tôi, là tính tự ái của tôi. Để làm việc này, Ngài vận dụng tất cả sự nồng nàn của tình thương của Ngài và quyền năng của các ân sủng của Ngài.

Hỡi linh hồn tôi, hãy mở ra đón nhận niềm vui và tình thương của Chúa, như bông hoa buổi sáng mở ra đón ánh dương của mùa xuân. Nay cuộc sống của mi đã xuất hiện dưới ánh sáng đích thực của nó : cuộc sống đó tốt đẹp, huy hoàng, tràn đầy hào quang của Chúa. Cuộc sống đang mỉm cười với mi. Số phận của mi là số phận tốt đẹp nhất mà một vật thọ tạo có quyền mơ ước : mi được dành cho Thiên Chúa, dành riêng cho Ngài, được ghi dấu ấn của Ngài. Mi là vị hôn thê diễm phúc được Vua các vua sủng ái. Mi hãy dâng hiến trái tim của mi cho Ngài, dâng trọn vẹn. Từ nay mi không còn phải làm gì nữa ở đời này. Mi hãy yêu mến hết lòng, yêu mến say mê Đấng mà mi đã yêu mến cách tự nhiên, Đấng vô cùng đáng mến, bên cạnh Ngài mọi sự khác đều là xấu xí, bởi vì một phản ảnh nhỏ mọn của Ngài nơi vạn vật cũng đã nhiều lần làm say mê trái tim mi. Đúng thế, bây giờ chỉ còn một việc, “Hãy yêu mến rồi làm gì tùy ý”.

Ôi tất cả những điều đó ngọt ngào và dễ dàng dường nào ! Miễn là tôi phải đi theo xu hướng của lòng mình là yêu mến Thiên Chúa, và miễn là tôi hết lòng tìm kiếm Ngài mọi nơi, thì tôi sẽ không gặp rủi ro bao giờ. Thiên Chúa hãy là kho báu tôi tìm kiếm, cuộc sống của tôi hãy là sự đói khát thánh nhan Ngài, luôn mê man tìm kiếm Ngài, luôn khát khao Ngài, thì Chúa sẽ hài lòng về tôi và Ngài sẽ đổ chan chứa ân sủng lớn lao và kỳ diệu xuống trên tôi, dẫn tôi tới chỗ kết hiệp hoàn toàn với Ngài. “Tất cả mọi sự đều sinh ích lợi cho kẻ yêu mến Chúa”. Tôi có thể còn nhiều sự khốn nạn, còn nhiều chuyện nhu nhược nho nhỏ, nhiều điều vô tâm và nhiều yếu đuối và những đêm tối và những lúc mất an ủi sẽ làm lộ ra những ung nhọt ghê sợ của linh hồn tôi, nhưng có sao đâu ? Tình thương đầy khoan dung của Chúa Giêsu nhân từ sẽ bỏ qua tất cả. Hơn thế nữa, Ngài sẽ sử dụng những sự yếu đuối đó của tôi cách linh diệu để giúp tôi gia tăng sự chê ghét mình, chê ghét cái tôi khốn nạn của tôi để gia tăng lòng mến yêu Ngài.

Bài học tín thác. – Hiểu thấu những chân lý lớn lao này, nghĩa là với ơn Chúa, với những ân sủng thần bí, hiểu các chân lý đó bằng kinh nghiệm sống, hiểu đó là kết quả của tất cả đời sống thiêng liêng của mình và cũng là thành quả của hành động không ngừng của Thiên Chúa. Hiểu được như thế, chúng ta sẽ yêu mến Thiên Chúa và yêu mến vô cùng, vì từ nay ta thấy Ngài là đối tượng duy nhất mà trái tim ta có thể mến yêu.

Nhưng đồng thời chúng ta cũng hiểu được rằng : hiểu được như thế là chúng ta đã gia tăng gấp mười lần lòng tin tưởng tín thác của ta, một niềm tín thác vui tươi và vững vàng nơi tình thương của Chúa. Chúng ta đã đặt niềm tín thác trên những nền tảng tốt nhất và vững nhất : chúng ta tin chắc rằng, dưới sức tác động của ân sủng, có ngày chúng ta sẽ đạt tới sự thánh thiện đích thực.

Thiên Chúa muốn tôi kết hiệp với Ngài. Vua trời đất ước ao kết hiệp với kẻ khốn khổ bần cùng là tôi. Ngài muốn làm cho tôi bằng tình yêu ngay ở đời này, yêu mến Ngài, và Ngài muốn tôi nếm thử những sự ngọt ngào của sự kết hiệp thần bí, của sự thánh thiện. Sự ước ao mênh mông này của Thiên Chúa cũng hiện diện nơi đáy lòng tất cả các vật thọ tạo xung quanh tôi. Chúng luôn kêu lên để nhắc nhở tôi điều ấy. Toàn thể vũ trụ, từ những cỏ cây trên đường cho đến muôn vạn mặt trời trên không gian đều nói với tôi về tình thương của Thiên Chúa, và nhắc nhở tôi yêu mến Ngài. Tôi nghe như có tiếng Đấng tôi yêu mến phát ra từ muôn loài muôn vật : “Con hãy dâng trái tim con cho Cha. Cha muốn lòng yêu mến của con, Cha muốn kết hiệp với con và làm cho con nên thánh”.

Và mạnh hơn tiếng nói của muôn vật, tôi nghe thấy tiếng nói của Thiên Chúa tình yêu, Ngài đã nhập thể và sống trên trần gian này, để tỏ cho tôi thấy tình thương thần linh của Ngài. Tôi nghe tiếng nói của Đấng chịu đóng đinh trên thập giá, Ngài rao giảng cho tôi nghe về tình thương vô cùng của Thiên Chúa. Ngài nói : “Con hãy xem Cha đã yêu thương đến cùng, yêu con hết mức, để chiếm được lòng mến yêu của con và để làm cho con nên thánh. Tôi nghe tiếng nói của tấm bánh Thánh Thể, nơi mà Tình Yêu muôn đời trở thành tù nhân của tình yêu : Ngài luôn đòi hỏi tôi đáp lại tình thương khôn tả đó bằng tất cả lòng yêu mến của tôi. Sau cùng, tôi nghe tiếng nói rõ ràng của Thánh Tâm Chúa Giêsu, trái tim đã bị thương tích vì sự hờ hững của chúng ta. Thánh Tâm Chúa đang nói với tôi như đã nói với thánh nữ Margarita Maria : “Trái Tim Cha thương yêu loài người và đặc biệt thương yêu con quá sức, không chịu nổi nữa những ngọn lửa đức ái thần linh nung nấu, nên phải tràn ra qua con đây”.

Sau những bày tỏ tình thương như thế, và sau những lời đoan chắc của Thánh Tâm Chúa như thế, tôi vẫn không trọn vẹn tín thác nơi tình thương vô cùng của Chúa sao ? Tôi vẫn hoài nghi sự khôn ngoan đầy yêu thương của Ngài sao ? Tôi vẫn không trọn vẹn tin tưởng vào ân sủng thánh hóa của Ngài sao ? Tôi vẫn chỉ tín thác nơi sự trung tín của Ngài một cách dè dặt, vì tôi vẫn thấy mình yếu đuối, vẫn sa đi ngã lại trong những điều bất toàn của mình, có phải thế không ?

Ôi ! Điều thật sự tôi vẫn thiếu, căn nguyên của sự thiếu tin tưởng và thiếu can đảm, đó là vì tôi chưa bao giờ suy nghĩ sâu xa về những chân lý lớn lao và đầy an ủi kia, hoặc là tôi có suy gẫm chút ít, thì chưa suy nghĩ nhiều để các chân lý đó trở thành quen thuộc đối với tôi. Điều cần thiết là tất cả cuộc sống tôi phải dần dần thấm nhuần những tư tưởng đó. Nhờ suy gẫm đi suy gẫm lại trong khi cầu nguyện, và phải năng nhớ đến những tư tưởng đó trong sinh hoạt hằng ngày, tôi phải tiến tới chỗ luôn thấy mình được Chúa yêu thương và bao bọc, và thấy rằng Ngài làm mọi sự vì muốn kết hiệp với tôi và làm cho tôi nên thánh. Trong mọi niềm vui và trong mọi nỗi khổ, trong những lúc được an ủi cũng như trong những khi mất an ủi, tôi luôn luôn phải tin vào chân lý này và ý thức rằng tất cả mọi sự đều được Chúa dùng làm phương tiện để làm cho tôi nên thánh. Tất cả mọi sự xảy đến cho tôi đều chỉ là những phương tiện Chúa dùng, những phương tiện có thể nay tôi chưa hiểu, nhưng đúng là được Chúa dùng để thanh tẩy tôi, chuẩn bị cho tôi tiến tới sự kết hiệp với Ngài. Khi nào tôi biết nhìn tất cả thế giới này như một sân khấu mênh mông, nơi diễn ra màn kịch tình yêu giữa tôi và Thiên Chúa và màn kịch đó là cuộc sống của tôi, thì khi đó tôi sẽ thấy mọi sự đều được xắp xếp bởi bàn tay Đấng yêu thương tôi, và khi đó tôi sẽ có đức Ái chân thật, lòng mến yêu chân thật và niềm tín thác trọn vẹn. Không gì sẽ có thể ngăn cản tôi đạt được lý tưởng mơ ước.

Nhưng về phương diện đức tín thác, rất cần phải chú ý rằng trong vở kịch lớn lao này của cuộc đời chúng ta, kết thúc bằng sự Chúa chiếm trọn linh hồn ta và ta được kết hiệp trọn vẹn với Ngài, thường có hai hồi lớn. Trong hồi thứ nhất, Thiên Chúa theo đuổi linh hồn và tìm mọi cách để tỏ cho linh hồn thấy tình thương bao la của Ngài. Ngài tìm cách cắt đứt mọi quyến luyến giữa linh hồn và các vật thọ tạo, đồng thời tỏ mình ra như kho báu đầy những vẻ quyến rũ. Rồi một khi linh hồn đã bắt đầu say mê Đấng vô cùng tốt lành, thì hồi thứ hai bắt đầu. Và bây giờ đến lượt linh hồn chạy theo Thiên Chúa. Nhưng để làm cho linh hồn bị thương bằng những mũi tên lửa tình yêu của Ngài, Đấng mến yêu lại có vẻ như chạy trốn nó. Đúng như thánh Augustinô nói: “Lạy Chúa, Ngài đi tìm những kẻ chạy trốn Ngài, và Ngài trốn những kẻ đi tìm Ngài”.

Bởi vậy nhiều khi chúng ta chẳng hiểu gì việc Chúa làm. Những con đường của Thiên Chúa vượt xa những con đường của ta vô cùng. Có thể Ngài để tôi còn lâu trong cảnh âu sầu, chán ngán đối với các việc đạo đức. Ngài để tôi mất cả khả năng cầu nguyện. Tôi trở thành không còn khả năng hoạt động thiêng liêng nữa, nhưng đó lại là hiệu quả của hành động yêu thương của Ngài đối với linh hồn tôi, đưa nó tới chỗ kết hiệp với Ngài. Có thể Ngài sẽ lấy mất cha linh hướng mến yêu và quý giá của tôi, giữa lúc tôi đang rất cần đến ngài. Có thể Ngài sẽ lấy đi tất cả các vị hướng dẫn của tôi trên con đường nên thánh, vì Ngài muốn là vị hướng dẫn độc nhất của tôi, dầu tôi không thấy Ngài. Và Ngài còn có thể để cho tôi cảm thấy mình hoàn toàn bị bỏ rơi cô độc. Tôi có cảm tưởng như một mình lo lấy việc nên thánh của mình, vì tôi đã bị Ngài bỏ rơi do những sự khốn nạn và những điều hèn nhát của tôi. Tôi đưa hai tay lên, van nài Ngài, tôi âu sầu nói lên lòng mến của tôi đối với Ngài, nhưng Ngài làm thinh không nói một lời và có vẻ muốn lánh mặt tôi. Tôi sẽ nếm thử tất cả những buồn phiền cay đắng của một mối tình thiếu hạnh phúc, một tình yêu không được Đấng mình mến yêu đáp lại. Và có thể tôi sẽ thấy mình là kẻ bất hạnh nhất loài người.

Khi Thiên Chúa cư xử như thế với tôi[3] và lạ lùng thay ! Khi Ngài để cho tôi nếm những sự cay đắng của mối tình đau khổ bằng cách để cho tôi có cảm tưởng Ngài không còn yêu thương tôi nữa, thì đó chính là lúc tôi phải nhớ rằng Ngài vô cùng yêu thương tôi hơn là tôi yêu mến Ngài.

Chính đó là lúc tôi phải nhớ rằng Thiên Chúa luôn tìm đủ mọi cách để chiếm lấy trái tim tôi và Ngài có những đường lối để thiêu đốt lòng mến của tôi mà tôi không hiểu được. Đó chính là lúc tôi phải tin tưởng và hết lòng trông cậy vào Ngài, tin vào tình thương trung tín của Ngài, dầu với tâm tình chán nản, tin rằng Ngài vẫn thương tôi thắm thiết, như những giờ Ngài cho tôi cảm thấy sự ngọt ngào của sự hiện diện của Ngài. Sau cùng, đó là lúc tôi phải nhớ những lời đoan kết trung thành của Ngài, rằng Ngài sẽ yêu thương tôi mãi mãi, mặc dầu những sự khốn nạn và những yếu đuối của tôi, và sẽ dẫn đưa tôi tới sự thánh thiện.

Đây là giờ phút của tín thác, giờ phút để tôi ôm chặt lấy Chúa, ở yên trên lòng Ngài. Những hiểm nguy làm tôi hoảng sợ, vực sâu khiến tôi chóng mặt, nhưng tôi sẽ làm như  các trẻ nhỏ : tôi sẽ nhắm mắt để không nhìn thấy gì nữa và tôi sẽ ghì chặt lấy vòng tay của Chúa. Ôi, nếu tôi nhắm mắt dựa đầu vào lòng Chúa vô cùng yêu thương tôi hơn tất cả mọi tình yêu của các người mẹ dành cho con mình, thì sẽ không có gì có thể làm hại tôi, không gì có thể quấy phá sự bình an ngọt ngào của linh hồn tôi, và khiến tôi đánh mất niềm tín thác trọn vẹn nơi Chúa.

Paul De Jaegher S.J. 

[1] Nên đọc cuốn sách rất sâu xa và rất gợi hứng của Hồng y Newman, The friendship of Christ (Tình bạn của Chúa Kitô)

[2] Xem “Le Récit du Pèlerin” (Truyện người hành hương) bản dịch Pháp ngữ của E.Thibaut, S.J., Louvain, M.L.

[3] Thánh Alphongsô Rodriguez đã mô tả rất rõ cách hành xử của Thiên Chúa trong tác phẩm của Ngài : “L’union et la transformation de l’âme en Dieu. – Sự kết hiệp và biến đổi của linh hồn trong Thiên Chúa”.

Hạnh Phúc – Chương 5: Tuổi Trẻ - MÁU – MỒ HÔI – VÀ NƯỚC MẮT

Mới đây trong một hội nghị có một phụ nữ đã chất vấn một chính khách tiếng tăm như sau: “Tại sao các lãnh tụ chính trị chúng ta chẳng khi nào nói đến máu, mồ hôi, nước mắt và hy sinh, mà chỉ nói về chuyện tiền nong họ sẽ mang lại cho giới nông dân, giới sản xuất và các công đoàn khi họ đắc cử thôi vậy? Vị chính khác trả lời bằng cách trích dẫn một chính khách khác, nhưng dường như ông ta đã không hiểu được ý nghĩa sâu xa của câu hỏi do người phụ nữ đặt ra. Thực vậy, bà là phát ngôn nhân cho đại bộ phận dân Mỹ. Họ hiểu biết khá rõ về lịch sử và tâm lý, và biết rằng không một dân tộc hay một cá nhân nào có thể hoàn thành được công trạng gì nếu không biết hy sinh và từ bỏ mình.

Toynbee đã cho thấy: trong số 19 nền văn minh từ khởi thuỷ lịch sử đến nay, có đến 16 nền văn minh bị suy sụp là do bên trong, chỉ còn lại 3 nền văn minh bị suy sụp là do bên ngoài tấn công. Thường tình thì khi bị ngoại xâm, dân tộc nào cũng đoàn kết lại và tự củng cố tinh thần. Lincoln có lần tuyên bố: ông không lo sợ nước Mỹ bị kẻ thù bên ngoài đánh bại, mà sợ suy sụp từ bên trong. Lênin cũng có lần cho rằng nước Mỹ sẽ suy vong do sự tiêu xài phung phí, và điều này không hẳn là còn rất lâu nữa mới xảy đến, khi mà số tiền nợ của quốc gia đã lên đến gần 300 tỷ đô la.

Walter Whitman cũng nói về thời đại của chúng ta (cũng là thời đại của ông). Ông viết: “Xã hội ngày nay đã bị suy đồi, thô lận, đầy mê muội và thối nát… Dường như chúng ta không còn niềm tin đích thực nữa. Các đô thị lớn đầy dẫy nạn cướp bóc và trấn lột. Lối sống thời thượng là thói suồng sã, yêu đương qua quít, thiếu chung thuỷ, sống với mục đích nhỏ nhen hoặc không có mục đích, sống cho qua ngày. Dường như chúng ta sống trong một thân xác dư dật nhưng lại vô hồn”.

Nỗi ưu tư của Whitman hẳn cũng là tâm tư của người phụ nữ trên đây, bởi lẽ bà đã khắc khoải vì chúng ta dửng dưng, hững hờ và vô cảm. Điều đang ngày càng hiển nhiên xảy ra trong đất nước chúng ta là nền giáo dục được coi là tiến bộ thực ra lại cực kỳ lạc hậu. Sự băng hoại nơi giới trẻ, tội phạm, sự ăn chơi truỵ lạc, các “xì căng đan” chính trị – tất cả các hiện tượng này đều là con hoang của một nền thuyết lý giáo dục không chịu phân định đâu là chân đâu là giả, cho việc tự chế là đồng nghĩa với huỷ diệt nhân cách. Mọi bản năng và xung động dù của người lớn hay trẻ em không nhất thiết là phải sản sinh ra hậu quả tốt đẹp. Bản năng săn bắn của con người khi họ đi săn nai là điều tốt đẹp, nhưng khi họ nhắm bắn cảnh sát thì thật là tệ hại. Tình trạng thiếu lòng tôn trọng quyền bính nghĩa là điên rồ cho rằng mỗi cá nhân đều có thể tự quyết định lấy thật – giả, ngày nay đã biến thành tình trạng vô luật pháp ngày càng phổ biến.

Rồi sẽ có lúc các nhà giáo dục sẽ thức tỉnh và nhận ra các yếu tố nền tảng này của giới trẻ.

1. Giới trẻ có tri thức và ý chí. Tri thức là nguồn mạch kiến thức, ý chí là cội nguồn các quyết định. Nếu sai lầm khi lựa chọn, giới trẻ đương nhiên sai lạc dù cho họ có tri thức nhiều tới đâu đi nữa.

2. Sự giáo dục qua việc truyền đạt kiến thức không nhất thiết làm cho người ta thành kẻ thiện hảo; nó có thể mang đến những sự dữ “đầy trí tuệ” thay vì những sự dữ “ngu ngốc”.

3. Sự giáo dục chỉ thành công khi biết cách huấn luyện trí óc nhìn ra được các mục tiêu chính đáng, và bắt ý chí phải chọn chúng thay vì chọn các mục tiêu sai lạc.

Ngày nay trong lối sống Mỹ có xuất hiện hai chiều hướng: một theo chiều phát triển tính cách luân lý trong mỗi cá nhân và trong cả dân tộc; một theo hướng giao phó luân lý và trách nhiệm cho một quốc gia xã hội chủ nghĩa, và sẽ không còn luân lý nào ngoài nền luân lý – nhà – nước, không còn lương tâm nào ngoài lương tâm nhà nước. Trong hai chiều hướng thì chiều hướng đầu vẫn mạnh thế hơn mặc dù không nhận ra được điều này trong đời sống chính trị kinh tế. Một số nhà giáo dục chúng ta đã quay lưng lại với môn tâm lý học về trẻ em hư hỏng. Trước kia họ nhận định rằng một đứa trẻ được coi là tiến bộ nếu nó thực hiện tất cả những gì nó muốn; nay họ trở lại chuyện là phải suy tư một chút, hành động một chút gì đó để lôi ta ra khỏi tình trạng băng hoại trong giới trẻ, cũng như tình trạng luân lý kiệt quệ.

Giới trẻ rất mong muốn một cái gì cứng rắn. Họ không còn tin vào các thầy cô khi các thầy cô bảo quan điểm này tốt, quan điểm kia xấu, còn chuyện họ tin vào điều gì thì chẳng quan hệ. Họ muốn xác định việc này xấu xa do đó phải chống lại, còn việc kia thì tốt do đó phải tuân theo và thậm chí dám chết để bênh vực nó. Năng lực tiềm tàng máu – mồ hôi – nước mắt trong giới trẻ Mỹ trong thế hệ tới sẽ bị lạm dụng do một trong các lực lượng sau: hoặc bởi một chính khách quái gở nào đó hướng những khát vọng muốn được hy sinh này vào chủ nghĩa Quốc xã, Phát xít hay Cộng sản; hoặc bởi những nhà lãnh đạo trong các lãnh vực chính trị, giáo dục, luân lý, họ muốn làm gương cho kẻ khác noi theo bằng một lối sống có kỷ cương can trường.

Trách nhiệm nặng nề nhất nằm trên vai các vị lãnh đạo tôn giáo. Sứ điệp của họ phải là sứ điệp mà người phụ nữ đã đòi hỏi ở giới chính khách – họ đang kêu gọi chính quyền trấn áp ảnh hưởng của sự ác, và mời gọi mọi người sống vị tha trong tình yêu mến Thiên Chúa.

 Gm. Fulton Sheen

Niềm Tín Thác – Chương XX: TÍN THÁC TRONG SỰ BẤT LỰC CỦA TA

I.  MÙA XUÂN VÀ MÙA HẠ CỦA ĐỜI SỐNG THIÊNG LIÊNG.

–   NÊN THÁNH LÀ MỘT CÔNG TRÌNH LÂU DÀI.

–   ĐỪNG NGẠC NHIÊN VỀ SỰ BẤT LỰC CỦA MÌNH.

–   CŨNG ĐỪNG NẢN CHÍ.

–   HÃY LUÔN GIỮ VỮNG NIỀM ƯỚC AO NÊN THÁNH: ĐÓ LÀ DẤU CHỈ CỦA TIẾN BỘ.

Mùa xuân và mùa hạ của đời sống thiêng liêng. – Nên thánh là một công trình lâu dài. – Đừng ngạc nhiên về sự bất lực của mình. – Những bước đầu của đời sống thiêng liêng của ta thường có vẻ một mùa xuân vui tươi. Mặt trời thần linh tỏa xuống linh hồn ta những tia nắng tươi sáng và ấm áp. Ân sủng Chúa thổi nhẹ nhàng trên ta làm nở rộ những bông hoa nhân đức. Ta thấy mọi sự đều tốt lành. Và chúng ta đầy nghị lực. Chúng ta tưởng như sẽ nên thánh sau một thời gian ngắn, nên thánh mau lẹ hơn những người xung quanh ta : ta không thấy rõ lắm sự thánh thiện của họ.

Những an ủi thiêng liêng có vẻ đang biến đổi tâm hồn ta. Ơn Chúa làm cho ta thấy vui sướng trong những sự hãm mình mà trước kia chúng ta rất sợ. Rồi những khi có dịp, chúng ta đã thực thi được những hành vi của đức khiêm nhường âm thầm và quảng đại : chúng ta đã có thể cảm thấy vui khi bị khinh chê.

Nhất là linh hồn ta tự cảm thấy như được bao bọc bởi không khí siêu nhiên. Ta có cảm tưởng như đã bỏ được mọi quyến luyến với những sự thế gian, vì ta đã nhận ra tính chất hư ảo của chúng. Ta cảm thấy hạnh phúc được ở lâu dưới chân Chúa Giêsu Thánh Thể, hoặc chuyện vãn với Chúa trong đáy lòng mình. Vâng, đó là mùa xuân, là thời gian của an vui, của những hoạt động hăng hái, của thời kỳ nở hoa của các nhân đức.

Dần dần Thiên Chúa gỡ linh hồn ra khỏi những quyến luyến của các vật thọ tạo. So với những niềm an ủi thiêng liêng Chúa ban, linh hồn thấy các sự vui sướng thế gian rất kém cỏi và giả dối. Nhưng khi Thiên Chúa đã đạt được thành qủa này rồi, Ngài liền toan tính một công việc khó khăn hơn, vì sâu xa hơn. Công việc phải thực hiện bây giờ là dứt bỏ chính bản thân ta. Trong những niềm vui thần linh, linh hồn dễ có ảo tưởng về mình : nó tưởng nó mạnh mẽ lắm và đã lớn lên trong đường nhân đức. Nó tưởng nó có đôi cánh. Một sự tự mãn âm thầm, một thứ cao vọng nguy hiểm đang nhập vào nó. Cho nên Chúa thấy nó cần phải kíp nhận biết tất cả sự yếu đuối của nó. Nó phải hiểu rằng nó vẫn chỉ là một con gà con bé nhỏ, không bao giờ nên xa rời đôi cánh ấp ủ của mẹ nó.

Thiên Chúa sẽ cất đi những niềm an ủi, sẽ để cho nó cảm thấy thấm thía sự bất lực của nó. Mùa xuân tươi mát đã qua rồi. Thay vì khí xuân đầm ấm, nay ánh nắng mặt trời sẽ thiêu đốt nó, làm cho nó khô héo. Các bông hoa lần lượt rụng xuống. Linh hồn cảm thấy mình cô đơn, một mình chống chọi với thời tiết khắc nghiệt. Nó không còn cảm thấy vui mừng khi gặp những thánh giá, những dịp phải hạ mình. Nó chán ngán khi cầu nguyện. Không khí siêu nhiên không còn nữa, và bị thay thế bằng những cái nhìn vật chất. Nó không còn cảm thấy mến yêu Chúa Giêsu. Ôi linh hồn đáng thương hại ! Mi hoàn toàn mất định hướng, không biết đi về đâu… Sự thánh thiện mà hôm qua nó nghĩ là gần kề, nay xem ra xa vời. Những khiếm khuyết nho nhỏ, có thời đã lặn đâu, nay lại xuất hiện.

Những quyết tâm quyết chí của nó giống như những ánh lửa mau qua, vừa loé lên đã vội tắt ngúm. Linh hồn đã bao lần quyết chí, rồi lại bấy nhiêu lần lỗi phạm. Một bầu không khí chán nản dần dần xâm chiếm linh hồn. Và linh hồn tự hỏi : “Tôi cứ tưởng mình được kêu gọi nên thánh. Và tôi đã cảm thấy mình được nhiều ơn Chúa. Có lúc tôi đã cảm thấy sự thánh thiện không còn bao xa. Nhưng nay tôi phải tự hỏi : phải chăng tất cả đều là ảo tưởng ? Và nay có lẽ tôi phải tự nhủ : tôi đã lầm. Tôi không có khả năng nên trọn lành. Con người của tôi không có tầm thước để nên thánh…”.

Hỡi linh hồn đáng thương hại ! Hãy an tâm và tín thác. Đúng là Chúa đã gọi mi nên thánh. Sự thánh thiện là phần đã được dành cho mi. Nếu không, Chúa đã không gợi lên những niềm ao ước nồng nàn mà mi đã có. Nếu Thiên Chúa không kêu gọi và muốn mi nên thánh, Ngài đã không gợi lên bấy nhiêu tâm tình và quyết chí tốt lành của mi. Ngài không đưa tay ra dắt mi để rồi bỏ rơi mi đâu. Nếu Ngài không yêu thương mi cách đặc biệt, nếu Ngài không muốn mi nên thánh, Ngài đã không kêu gọi mi làm linh mục, làm tu sĩ. Ơn kêu gọi này là một ơn kêu gọi nên thánh. Ngài đã muốn dành ơn đó cho mi ngay từ khi mi bắt đầu bước vào đường nhân đức. Nay Ngài vẫn muốn cách rất tha thiết, và Ngài muốn hơn mi muốn ngàn vạn lần.

Không, những ước muốn và quyết chí nên thánh của mi không phải là ảo tưởng. Nếu có ảo tưởng thì đó là tư tưởng sai lầm của mi về sự nên thánh. Mi đã ảo tưởng khi nghĩ rằng thánh thiện là công việc của mấy ngày, mấy tháng, và đường trọn lành là con đường đầy an vui. Mi đã lầm khi nghĩ mình đã từ bỏ mình trong lúc được an ủi, đã khiêm nhường khi được người ta qúi mến, đã yêu mến đau khổ khi đau khổ mang lại những an ủi thiêng liêng. Nay mi mới thấy sự thật về mình. Đấy, sự thật mi là thế đấy.

Vậy mi đừng ngạc nhiên khi thấy mình yếu đuối, cứng đầu, ích kỷ, nhất là khi ân sủng của an ủi bỏ rơi mi : “Sự yếu đuối, mà yếu đuối thì có lạ gì đâu, cũng như sự khốn nạn mà khốn nạn và sự đau yếu mà đau yếu ! Chúng ta phải nhẫn nhục với chính bản thân mình, bởi vì chúng ta là những con người, chứ không phải là thiên thần ! Chúng ta sẽ chỉ được hoàn toàn chữa lành khi ở trên thiên đàng”.

Những sự yếu đuối đó, những khuyết điểm đó thường gây buồn phiền cho ta, nhưng đó lại chính là những cửa sổ rất đáng qúi, để ánh sáng và ân sủng Chúa chiếu vào tâm hồn ta, giúp ta nhận ra sự khốn nạn và bản chất hư vô của mình. Chúng giúp ta dần dần chữa lành cái tật tự đại dại dột của mình. Chúng sẽ dần dần hủy diệt sự cậy mình rất tự nhiên của ta, và dạy ta đặt tất cả tin tưởng nơi một mình Thiên Chúa.

“Phải xác tín và tin chắc rằng sự khốn nạn của ta là căn nguyên mọi sự yếu đuối của ta, và Thiên Chúa để ta như thế vì thương xót ta. Nếu không, chúng ta sẽ không bao giờ hết thầm cậy mình và tự kiêu tự đại. Chúng ta sẽ không bao giờ hiểu rằng mọi điều ác đều do ta, và mọi điều thiện đều do Thiên Chúa. Cần phải có cả triệu kinh nghiệm bản thân mới đạt được tập quán nghĩ như  thế. Và những nết xấu càng lớn và càng ăn rễ sâu trong tâm hồn ta, thì càng phải có nhiều kinh nghiệm hơn”[1].

Vậy không nên ngạc nhiên vì thấy mình đầy những sự khốn nạn và những khiếm khuyết, nhất là vào thời kỳ mất ơn an ủi, và mặc dầu chúng ta quyết tâm, chúng ta gia tăng việc suy gẫm, và mặc dầu những buổi tĩnh tâm của chúng ta. Đừng quên rằng mùa xuân của đời sống thiêng liêng đã qua rồi. Ơn an ủi vẫn sưởi ấm linh hồn trước kia, nay chỉ thỉnh thoảng mới thổi vào tâm hồn ta. Những bông hoa mang lại niềm vui xưa kia, nay đã rụng xuống, còn các trái thì khuất dưới lá và còn lâu mới chín. Có thể chúng ta chỉ thấy và được nếm chúng vào cuối mùa hạ, hoặc vào mùa thu của cuộc đời. Từ đây đến đó, chúng ta phải lao động, phải cuốc xới, phải tưới nước mà không được hưởng thụ gì hết. Nhất là chúng ta phải để cho Chúa là chủ vườn được tùy ý vun xới, cắt tỉa theo ý định tốt lành của Ngài, không bao giờ nghi ngờ hoặc muốn làm khác ý của Ngài.

Nhưng tình trạng này sẽ kéo dài bao lâu nữa? Chúng ta sẽ cứ còn phải thấy mình sa phạm vào trăm ngàn nết xấu và cứ cảm thấy mình bất lực như thế này sao ? Đời sống hiện nay của ta có giá trị lớn cho cuộc sống vĩnh cửu, vậy mà nó cứ diễn ra như thế này, không có cải thiện rõ ràng gì hết sao ? Năm tháng qua đi mau qúa, chồng chất lên nhau, mà tiến bộ thì không thấy rõ. – Hỡi các bạn, hãy tin tưởng và tín thác ! Cần nhất hãy tín thác ! Các bạn hãy sống quảng đại, hãy luôn cố gắng làm mọi sự cách tốt hết sức, rồi mọi sư  hãy tín thác nơi Chúa. Hãy cố gắng luôn sống theo ý Chúa, thực hiện mọi ước muốn của Ngài, và tin rằng Ngài luôn làm những sự gì tốt nhất cho các bạn. Chúng ta hãy triệt để tin vào tình thương của Ngài. Ta không cảm thấy mình tấn tới, bởi vì có lẽ tốt hơn cho ta nếu ta không cảm thấy gì hết, và chỉ mình Chúa Giêsu thấy thôi.

Xét cho cùng, các bạn đang lo buồn về một điều lẽ ra phải là nguồn an vui cho bạn. Các bạn lo buồn vì thấy rõ những sự khốn nạn của mình, hơn là thấy những tiến bộ. Đó chính là dấu hiệu của những tiến bộ lớn lao trên đường trọn lành. Bạn lo buồn vì những sự yếu đuối và những sự khốn nạn của mình: điều này chứng tỏ bạn đang tiến bộ, bởi vì những linh hồn không được Chúa gọi lên bậc trọn lành sẽ không bao giờ biết đến những lo buồn như thế.

Bạn nên biết rằng có những linh hồn có vẻ bằng lòng vì mình lắm. Xem ra họ trung thành vâng theo ý Chúa và ý của các Bề trên. Họ tưởng mình luôn sống theo ý Chúa trong mọi sự. Nhưng họ không nhận ra trăm ngàn hình thức của tính tự ái, thường làm dơ bẩn những hành động thánh thiện nhất của chúng ta. Họ không ý thức về những cái nhìn qúa vật chất, thường làm hoen ố ý ngay lành của họ. Bởi vậy họ hài lòng vì bản thân họ. Những linh hồn như thế sẽ không bao giờ được Chúa gọi lên cao trên đường trọn lành. Chúa biết họ sẽ không bao giờ đủ quảng đại để trải qua những giai đoạn mất an ủi, những đêm tối, những sóng gió mà các linh hồn phải trải qua để tới bến thánh thiện. Chúa biết nếu được gọi, họ sẽ bị đắm tàu. Cho nên Ngài chỉ để họ sống nho nhỏ với đời sống thiêng liêng bình thường, với những an ủi thông thường và những thử thách không mấy đáng sợ.

Như vậy điều làm bạn lo sợ và ưu phiền lại chính là dấu hiệu của những tiến bộ và là lý do để bạn an tâm. Về vấn đề này, xin bạn hãy nghe lời của một vị tôn sư trong đường thiêng liêng, ngài viết cho một người con thiêng liêng đang đau khổ vì những nghi nan ghê sợ : “Những tâm tình thấm thía của con về sự khốn khó và những tối tăm của con làm cha vui mừng, vì đối với cha, đó là dấu hiệu chắc chắn về sự ánh sáng của Chúa đã lớn lên trong con, mà con không biết, và đã xây dựng cho con một nền tảng rất vững vàng của đức khiêm nhường nội tâm. Sẽ đến lúc sự nhìn thấy những khốn nạn đang làm cho con ghê sợ hôm nay, sẽ mang lại cho con niềm vui tràn trề và sự bình an khoái trá. Bởi vì chỉ khi nào chúng ta xuống tới đáy của sự hư vô của mình, và đứng vững ở đó, chúng ta mới có thể bước đi trước mặt Chúa, trong sự công chính và trong sự thật”[2].

Đừng bao giờ nản chí. – Đừng bao giờ ngạc nhiên vì thấy mình sa ngã hoài, thấy mình bất lực, thấy tính tự ái sống dai dẳng, và thấy mình tiến bộ qúa chậm. Bởi vậy đừng bao giờ mất kiên nhẫn với bản thân mình và đừng bao giờ nản chí.

Luôn giữ được nhẫn nhục giữa những khó khăn của cuộc đời, giữa những người xô lấn ta và đụng chạm đến ta, là điều khó khăn lắm. Nhưng giữ được toàn vẹn sự nhẫn nhục đối với bản thân mình, với bản tính của mình là cái luôn ở trong mình để làm phiền và làm khổ mình, lại còn là chuyện khó khăn hơn nhiều và thường khi là anh hùng. Ôi ! Thật là họa hiếm và qúi giá khi có một linh hồn biết cầm mình, biết giữ được bình an, vẫn khiêm nhường và hiền lành chấp nhận những cau có, những xỉ nhục do kẻ thù lớn nhất và tai hại nhất của ta là cái tôi của chúng ta, với tất cả những xu hướng xấu của nó. Điều này đòi hỏi rất nhiều hiền lành và khiêm nhường, rất nhiều nhẫn nhục và can trường. Nhưng điều này cũng mang lại cho ta những tiến bộ lớn lao trên đường trọn lành.

Một hôm, Chúa Giêsu đã nói những lời đầy khích lệ như sau với một linh hồn tốt lành đã trách mắng nặng lời bản tính xấu xa của mình : “Bởi vì Cha rất nhẫn nại đối với con, cho nên con cũng phải nhẫn nại đối với bản thân mình”[3]. Tất cả các linh hồn quảng đại hãy áp dụng lời này cho mình, vì sẽ rất ích lợi cho họ.

Vậy không bao giờ nên mất nhẫn nại đối với bản thân mình. Nhất là không bao giờ được nản chí.

Một hôm, một chị tập sinh đến than thở với thánh nữ Têrêxa Hài đồng Giêsu vì không thấy mình tiến bộ. Và chị ấy tỏ vẻ ngã lòng. Thánh nữ liền trả lời chị : “Cho đến mười bốn tuổi, tôi đã tập nhân đức mà không cảm thấy gì là ngọt ngào. Tôi đã ước ao chịu đau khổ mà không nghĩ đến vui mừng. Ơn này đã chỉ được ban cho tôi sau đó thôi. Lúc đó linh hồn tôi giống như một cây mà bao nhiêu bông hoa đều nở ra là rụng hết. Chúng ta hãy dâng Chúa lễ hy sinh, là không bao giờ được hái trái, nghĩa là suốt đời cảm thấy ngại chịu đau khổ, ngại chịu xấu hổ, nhìn những bông hoa của ước nguyện chân thành và của thiện chí rụng xuống mà không kết qủa. Thế rồi, trong nháy mắt, vào giờ chết của ta, Chúa sẽ cho thấy tất cả những trái xinh đẹp đã chín trên cây linh hồn ta”[4].

Một linh hồn đầy thiện chí đã than thở với Chúa Giêsu vì những ước ao không thành và những nỗ lực không hiệu qủa của mình. Thầy chí thánh rất nhân hậu đã an ủi linh hồn đó bằng ví dụ dễ thương sau đây : “Trong khu vườn của linh hồn con, Cha trồng cả những cây hoa và những cây ăn trái. Những bông hoa là những niềm ước ao quảng đại của con mà con không thực hiện được. Đó là những khát vọng nồng nàn mà ân sủng của Cha làm nảy sinh trong tâm hồn con : chúng làm Cha vui thích vì vẻ đẹp và hương thơm của chúng. Còn những trái ngon ngọt là những hành động mà ân sủng Cha giúp cho con thực hiện trong lòng mến. Cha yêu thích thứ nào hơn ? Những bông hoa thơm ngát, hay những trái ngon ngọt ? Cha yêu thích và chăm bón cả hai thứ. Những cây hoa xinh đẹp và những cây có trái ngon ngọt, cả hai thứ làm Cha vui thích và hạnh phúc”. Những linh hồn quảng đại, hay than phiền vì thấy mình vẫn cứ xa lý tưởng mong ước, có thể áp dụng cho mình những lời đầy an ủi này của Chúa Giêsu. Và chúng ta cũng nên nhớ câu nói thời danh của thánh nữ Catarina thành Siêna : “Thiên Chúa mong ước nơi chúng ta những công trình hoàn hảo cũng như những ước nguyện lớn lao”.

Vậy chúng ta đừng bao giờ nản chí, nhưng sau mỗi sa ngã nho nhỏ, sau mỗi lỗi phạm lời thề ước, chúng ta hãy can đảm chỗi dậy ngay, lại tiếp tục bước đi cách quảng đại, mặc cho vết thương chảy máu ở chân. Ôi, điều này đòi hỏi nhiều can đảm lắm. Không nên hoài nghi điều này. Nó rất có lợi cho đức khiêm nhường của ta. Chúa Giêsu và các thánh chứng kiến những sự chỗi dậy tiếp tục như thế với nhiều thương mến và vui mừng, vì dầu sao đó cũng là dịp để thực tập nhiều nhân đức.

Một chị nữ tu nản chí vì thấy mình cứ mãi vướng vào những sai lỗi. Thánh nữ Têrêxa Hài đồng Giêsu nói với chị : “Em làm tôi nghĩ đến đứa bé mới đứng vững và mới tập bước đi. Nó nhất định muốn lên cầu thang để gặp mẹ nó ở trên lầu. Nó giơ bàn chân bé nhỏ của nó, để bước lên bậc thang thứ nhất. Cố gắng vô ích ! Nó luôn luôn té nhào, không tiến bộ chút nào. Vậy em hãy nhìn xem em bé này và hãy là đứa bé này ! Em hãy thành tâm tập các nhân đức, hãy nâng bàn chân nhỏ bé của em lên, để bước lên cầu thang của sự thánh thiện, và em đừng tưởng có thể lên được bậc thứ nhất. Không, em không lên được đâu, nhưng Thiên Chúa cũng chỉ đòi em phải có quyết chí. Từ trên cao, Ngài nhìn xem em cách rất âu yếm : một hôm, bị chinh phục bởi những cố gắng vô ích của em, Ngài sẽ đích thân đi xuống để bồng em trên cánh tay Ngài, mang em lên trời với Ngài, nơi đó em sẽ không bao giờ rời xa Ngài nữa”.[5]

Và ta hãy xem Chúa Giêsu đã âu yếm ngăn ngừa một linh hồn Ngài rất yêu thương để đừng rơi vào chỗ nản chí. “Bêninha yêu dấu của Cha, con hãy giữ mình đừng rơi vào nản chí, vì đó sẽ là điều tệ hại chỉ đứng sau tội lỗi thôi. Khi cỏ dại mọc lên tràn lan ở một thửa đất, đó là dấu mảnh đất này tốt : vậy chỉ cần nhặt hết cỏ dại đi và gieo hạt giống tốt vào đó. Con có tình yêu mạnh mẽ và nồng nàn : chỉ cần lấy đi khỏi trái tim con tình yêu mình, và đặt vào đó tình yêu các linh hồn”.

Vậy chúng ta đừng chán nản vì cứ phải chống lại các tính xấu mãi. Hãy lại quyết chí, luôn giữ được niềm tín thác nơi Chúa, và đừng bao giờ cậy mình. Sự kiên trì không mệt mỏi này, sự chê bỏ mình để luôn luôn trông cậy vào sức mạnh của Chúa, sẽ kéo xuống trên ta những ân sủng rất trọng đại : và trong một thời gian ngắn, ơn Chúa sẽ thực hiện được những điều mà bao nhiêu nỗ lực của ta không làm được trong một thời gian dài.

Thỉnh thoảng cũng nên nhớ lại câu truyện mẻ lưới lạ lùng của mấy tông đồ, sau khi Chúa sống lại. Mấy ông tông đồ, đứng đầu là Phêrô rất hùng dũng, đã cùng nhau đi thả lưới. Họ vất vả suốt đêm mà không bắt được con cá nào. Lúc tảng sáng, một người lạ mặt xuất hiện và hỏi các ông có bắt được gì không. Các ông thưa không, một cách chán nản. Khi đó người khách lạ bảo các ông : “Hãy thả lưới bên hữu sẽ có cá”. Và chúng ta biết các tông đồ đã có mẻ lưới rất lạ lùng (xem Ga 21,6).

Đó là cách Chúa Giêsu xử sự với ta. Chúa thường đợi đến lúc chúng ta cảm nghiệm thấy mình thất bại và hoàn toàn mất tin tưởng vào mình, thì Ngài mới tỏ cho thấy quyền năng vô cùng lớn lao và kỳ diệu của Ngài. Vì lòng mến Ngài, chúng ta đã nỗ lực, chống lại nết xấu nọ, tính xấu kia. Và chúng ta nỗ lực hoài công cho tới ngày Chúa can thiệp vào, và đã có đổi thay rất tốt lành và lạ lùng.

Thánh nữ Têrêxa thành Avila, một vị đại thánh của đường trọn lành, đã kể lại chuyện bà đã uổng công đấu tranh nhiều năm để diệt trừ một thói xấu. Một hôm, vì thương Chúa Giêsu đã ban cho bà ơn hiệp nhất, và lập tức bà thấy mình thoát khỏi nết xấu đáng ngã lòng này.

Hãy luôn giữ vững niềm ước ao nên thánh: đó là dấu hiệu chắc chắn của tiến bộ. – Dầu bề ngoài xem ra thế nào đi nữa, dầu mọi sự coi như hỏng hết rồi, chúng ta vẫn phải giữ vững sự can đảm. Đừng để cho sự nản chí tới gần ta, vì nó là kẻ thù nguy hiểm hơn hết. Và nhất là phải giữ vững niềm nhiệt thành ước ao nên thánh.

Những khát vọng nồng nàn mà trước kia ta nuôi dưỡng khi bước vào đường nhân đức, ta không nên để chúng yếu đi, nhưng phải lo cho chúng mạnh thêm và sâu sắc thêm. Nhất là đức cậy trông là yếu tố chủ chốt của đời sống thiêng liêng, phải lớn lên và mạnh mẽ thêm.[6]

Và để được an ủi, chúng ta nên biết rằng, nơi những linh hồn quảng đại, những sự ước ao nên thánh như thế vẫn thường lớn lên theo ngày tháng. Còn nơi những tâm hồn tầm thường, những khát vọng và những ước ao này thường rụng xuống như lá mùa thu khi bị gió lay. Trái lại nơi những tâm hồn nhiệt thành, những niềm ước ao này vẫn được giữ vững, và họ luôn đói khát tình thương của Chúa, cả trong những khi gặp gian truân chán nản.

Họ bị ám ảnh bởi hình ảnh Thiên Chúa. Họ cảm thấy nhu cầu được ở gần Chúa, và nhu cầu này sẽ càng trở nên khổ sở, khi có vẻ như Chúa xa họ. Vâng, họ ước ao Chúa, và chính vì họ ước ao Ngài, mến yêu Ngài, cho nên họ rất đau khổ vì thấy mình còn ở xa Ngài, chưa được kết hiệp với Ngài. Họ sợ trì trệ, hoặc tiến bộ qúa ít trên đường nên thánh. Sự ưu phiền này là hoa trái của những ước ao thánh thiện, cũng như những ước ao thánh thiện này là hoa trái của lòng yêu mến. Những linh hồn nguội lạnh và tầm thường không bao giờ biết đến những lo buồn thánh thiện này. Đó là viên đá thử vàng, giúp ta biết mình có tiến bộ trên đường nhân đức chăng. Nếu có những lúc ta cảm thấy những lo buồn này, thì thật là có phúc cho ta. Ta hãy can đảm và cảm tạ Chúa vì những hồng ân của Ngài.

Vâng, chúng ta hãy có những ước vọng nồng nhiệt, hãy để cho tâm hồn ta bốc cháy bởi những khát khao yêu mến Chúa và kết hiệp với Ngài. Những khát vọng này rất đẹp lòng Ngài, và sẽ đưa ta tới đỉnh cao của sự thánh thiện. “Hạnh phúc thay người có nhiều ước nguyện thánh thiện !”.

II.  SỰ THÁNH THIỆN CỦA TA, TRƯỚC HẾT LÀ CÔNG TRÌNH CỦA CHÚA. – NHỮNG KẾ HOẠCH NÊN THÁNH CỦA TA VÀ CỦA THIÊN CHÚA.

Sự thánh thiện của ta, trước hết là công trình của Chúa. – Những kế hoạch nên thánh của ta và của Thiên Chúa. – Có một chân lý rất quan trọng cho đời sống thiêng liêng và người ta thường quên đi trong những giờ phút bất lực, cho nên mới sinh ra bối rối và ngã lòng. Chân lý đó là : trong công cuộc nên thánh của ta, Thiên Chúa giữ vai trò rất lớn, còn vai trò của chúng ta thì rất nhỏ, tuy rằng rất cần thiết.

Và định luật của cuộc sống thiêng liêng là càng lên cao, chúng ta càng lệ thuộc vào ơn Chúa. Ở trên đồng bằng, nơi những linh hồn tầm thường sát cánh bên nhau, người ta cũng lệ thuộc vào Chúa, nhưng điều này không khẩn trương và không rõ lắm. Nhưng khi chúng ta bắt đầu lên cao, và càng lên thì càng cần nhiều nỗ lực, và những hiểm nguy càng xuất hiện, với những vực thẳm trước mặt và hai bên đường, chân ta có thể bị trượt, đầu bị chóng mặt: Khi đó, ta càng rất cần đến sự hướng đạo và sức nâng đỡ của Chúa. Khi đó chúng ta cảm thấy rất cần đến ánh sáng của Chúa để soi đường cho ta, và ơn phù trợ của Chúa để nâng đỡ sự yếu đuối của ta.

Chỗ sai lầm của chúng ta là chúng ta dự thảo ra những chương trình nên thánh thường không phù hợp với những ý định của Chúa quan phòng, rồi khi những chương trình đó không thành công như ý của ta, ta đâm ra chán nản. Chúng ta có thể áp dụng cho mình những lời một vị thánh nhân thần bí đã ghi lại trong cuốn nhật ký của mình : “Mỗi lần tôi muốn phác ra những kế hoạch nên thánh, tôi đều sớm nhận ra là mình chẳng hiểu biết gì hết”. Đúng thế, trên con đường nhiệm mầu của sự thánh thiện, đầy những bất ngờ và cũng đầy những vực thẳm, con đường mà chỉ mình Chúa biết, vì mỗi định mệnh của một người là một thực tại riêng biệt, cho nên cũng chỉ mình Chúa có thể dẫn dắt ta tới đích là sự trọn lành.

Nhiều khi Chúa phải tỏ uy quyền toàn năng của Ngài cho ta thấy bằng cách để ta cảm nghiệm thấm thía sự bất lực của mình. Có thể nói Ngài để mặc chúng ta, tha hồ nỗ lực và cố gắng sửa nết xấu này, tập nhân đức kia. Nhưng vô ích hoàn toàn vô ích, chúng ta quyết chí và cố gắng sống khiêm nhường hơn trong cách cư xử với anh em, chấp nhận những chống đối cách vui lòng… Nhưng nỗ lực vô ích, chúng ta thấy mình cố gắng uổng công, hoặc gần như thế. Chúng ta đã nỗ lực nhiều mà không thấy có tiến bộ gì.

Còn Thiên Chúa, Ngài đã làm việc một cách khác hẳn và theo một hướng khác, có vẻ như không có nhiều nỗ lực về phía chúng ta, nhưng Ngài đã thực hiện được một sự thay đổi lạ lùng ở trong ta. Thiên Chúa đã làm việc theo đường lối của Ngài : trong khi chúng ta không ý thức, Ngài đã thực hiện ở trong ta đức khiêm nhường nội tâm, qúi giá hơn sự khiêm nhường rất nhiều, và nếu thiếu nó thì nhân đức khiêm nhường bên ngoài của ta không thể đứng vững.

Hoặc chúng ta cố gắng trở nên bác ái hơn đối với anh em, tránh mọi cử chỉ bất nhẫn và bực tức. Đáng buồn thay ! Thiện chí của ta luôn vướng vào những hoàn cảnh bên ngoài bất lợi. Cố gắng thật nhiều, mà vẫn thấy mình sai phạm, khi nhiều khi ít. Nhưng khi Chúa làm việc, thì Ngài nhẹ nhàng thắp lên ngọn lửa yêu mến nồng nàn của ta đối với Ngài, và lửa mến này đã dần dần cảm hóa chúng ta, thay đổi lối sống của ta, thay đổi tâm tư  và cái nhìn của ta, làm chúng ta có thể nhận ra Chúa Giêsu trong con người của anh chị em mình, và như thế có thể dẫn chúng ta tới những hành vi anh hùng của đức ái huynh đệ.

Tôi đã chẳng thấy những gì tương tự như thế ở trong tôi đó sao ? Những sự bất lực khiến tôi nản chí đều nằm trong phạm vi hoạt động của bản thân tôi, và ngay bên cạnh những nỗ lực của tôi là lãnh vực hoạt động của Chúa, và Ngài đang thu hoạch những mùa lúa rất phấn khởi.

Khi tôi nhìn vào linh hồn tôi và nhớ lại bao nhiêu năm tháng sống trong tình thân mật với Chúa Giêsu, tôi không khỏi cảm thấy nghẹn ngào và đau đớn. Lạy Chúa Giêsu, phải chăng đó là sự thật ? Sau bao năm và sau bao nhiêu nỗ lực, chân thành, con vẫn còn khác Chúa qúa như thế sao ? Những ham muốn của con khác những ham muốn của Chúa và những khát vọng sâu xa của con cũng khác những ước nguyện của Chúa ! Lòng mến yêu thập giá của Chúa đối lập hẳn với tâm tình sợ đau khổ của con… Lòng khát khao sống khiêm hạ của Chúa khác xa sự thèm muốn được bạn bè và các Bề trên qúi mến mà con thấy ở trong con…. Đức ái quên mình của Chúa khác hẳn với tính ích kỷ của con, luôn tìm những tiện nghi và những lợi ích cho mình…. Và đức hiền lành vô tận của Chúa khác xa tính quạu cọ và thiếu nhẫn nhục của con. Tất cả những đức tính thánh thiện và cao qúi của Trái Tim Chúa xem ra vẫn vắng bóng trong tâm hồn con, hoặc được thay thế bằng những đam mê nghịch lại… !

Lạy Chúa Giêsu, con ngạc nhiên và rất buồn về sự thật đó. Vâng, bao nhiêu năm con đã sống trong tình thân của Chúa, ăn cùng một bàn, uống cùng một chén với Chúa…. Hơn nữa, hằng ngày Chúa đã nuôi dưỡng con bằng Thịt và Máu châu báu Chúa, để con được kết hiệp và đồng hóa với Chúa. Chúa đã là trung tâm cuộc sống của con, là linh hồn của linh hồn con. Sự vắng mặt của Chúa đã khiến con buồn rầu, và khi cảm thấy Chúa ở bên con, con đã sống những giờ phút an vui và hạnh phúc. Vậy tại sao, lạy Chúa con mến yêu, tại sao vẫn tồn tại những sự khác biệt này ? Sau bao nhiêu suy gẫm, sau bao nhiêu quyết tâm, sau bao nhiêu thống hối, làm sao những gì làm cho bản tính con khiếp sợ vẫn cứ làm con ngại ngùng, và từ đáy lòng con, con vẫn cứ tìm cách tránh lánh các thập giá mà con biết Chúa yêu mến ?

Và Chúa Giêsu đã trả lời tôi bằng tiếng nói vô cùng hiền từ và đầy yêu thương của Ngài, khiến tôi vừa vui mừng vừa xấu hổ : “Hỡi linh hồn yêu dấu, các nỗ lực của con đã không uổng công đâu. Không, không uổng công đâu. Cha đã không muốn để con đi lạc đường. Những năm tháng phục vụ rất quảng đại của con đã không phải là một thất bại đâu. Con hãy an tâm và con hãy tin chắc rằng con đã sống đẹp lòng Cha, rất đẹp lòng Cha, như Cha đã nhiều lần nói cho con biết. Con đã yêu mến Cha cách chân thành và hết lòng.

“Những điểm còn dở dang, con chưa hoàn thành được và thường làm con lo âu, tuy có quan trọng nhưng không quan trọng bằng những điểm khác mà Cha không ngớt lo cho con. Mà con biết : điều Cha muốn thực hiện hơn hết ở nơi con, là hủy diệt sự tự tin vào mình, một điều qúa tự nhiên đối với con người, mà sự tự tin, sự cậy mình đó, có khuynh hướng coi những hồng ân Cha ban là của riêng nó. Sự hủy diệt này càng tỏ ra cần thiết, vì Cha muốn dẫn con lên cao hơn. Nhất thiết con phải gột sạch tính tự cao tự đại này, bởi vì làm sao Cha có thể rót những hồng ân cao qúi của Cha vào trong một cái bình còn đầy tự tin ?

“Cha cũng muốn con phải chán ghét mình, cho nên Cha để con thấy mình rất xấu xa, đầy những sự khốn nạn, như thế con sẽ chán ngán và chê ghét bản thân mình và quay sang yêu mến Cha hết lòng, vì Cha là sự tốt lành tuyệt đối và Cha là của con”.

“Cha cũng đã muốn con cảm nghiệm thấm thía sự bất lực của con, để con tuyệt đối thất vọng về mình, đừng bao giờ còn nghĩ đến chuyện cậy dựa vào mình, vì con là cây sậy mỏng manh, sẽ gẫy ngay nếu không dựa vào ân sủng của Cha. Thất vọng về mình như thế, bỏ được tính cậy vào sức mình như thế là điều khó khăn hơn là chịu một vài sự xỉ nhục và đau khổ”.

“Sau cùng, Cha muốn con giữ luôn ý thức sâu xa về chân lý này : mọi sự tốt lành ở trong con đều do Cha, cho nên con sẽ luôn tôn vinh và chúc tụng Cha, và con chỉ nhận là của riêng con những sự khốn nạn và tội lỗi của con. Tất cả con người của con là sản phẩm của ân sủng Cha, và Cha đã vất vả chiến thắng những chống đối của con. Không một phần nhỏ nào của các nhân đức của con mà không tốn bao công trình và ân sủng của Cha. Vậy con phải hiểu cách dứt khoát rằng con chỉ có quyền nói : Ôi ! Nếu tôi đã quảng đại và trung thành hơn, chắc tôi đã trọn lành hơn vào lúc này”.

Ôi ! Những lời ngọt ngào của Chúa Giêsu nhân từ ! Những lời này thấm sâu vào linh hồn tôi, như một thứ dầu nóng linh nghiệm và qúi báu ! Tôi sẽ đau khổ dường nào nếu Chúa bảo rằng tôi đã đi lạc đường, tôi đã nỗ lực vô ích, tôi đã không sống đẹp lòng Ngài ! Ôi, lời Chúa đã an ủi tôi vô cùng và khích lệ tôi. Đồng thời lời Chúa đã khiến tôi phải xấu hổ, xấu hổ một cách dịu dàng, đầy mến yêu, đến nỗi tôi yêu thích sự xấu hổ này. Vâng, bây giờ tôi, vì những sự khốn nạn của mình, chúng giúp tôi chê ghét cái tôi kinh khủng của tôi, để càng yêu mến Chúa hơn vì Chúa tốt lành vô cùng. Những lời của Chúa giêsu làm tôi thấy rằng tôi là đứa bé của tình thương đầy thương xót của Chúa, đứa bé đã được chọn vì sự nghèo hèn cùng cực của nó, để nó trở thành kỳ công của lòng thương xót vô biên của Chúa.

Chúng ta hãy để Chúa Giêsu làm việc theo ý Ngài trong việc thánh hóa chúng ta. Chúng ta hãy tin tưởng và để Ngài làm việc theo kế hoạch của Ngài. Rất có thể ta thấy Ngài làm theo cách rất khác chúng ta. Như chúng tôi đã trình bày trên kia, Chúa làm việc một cách giống như người thợ dệt thảm cao cấp ngày xưa : người thợ kiên nhẫn thêm vào từng cụm sợi, có những mẫu khác nhau và theo kế hoạch ở trong đầu người đó. Người thợ dệt thảm này dệt theo sợi dọc và làm việc như vậy ở mặt trái của tấm thảm, cho nên phải đợi khi tấm thảm đã hoàn thành và được cắt ra khỏi khung cửi, người ta mới được ngắm tất cả những hoa văn và nghệ thuật tài tình mà trước đó người thợ có vẻ như  đã làm việc mò !

Bởi vậy chúng ta không được cộng tác vào việc nên thánh của mình theo những tư tưởng của mình nhưng phải hoàn toàn theo ơn soi sáng của Chúa Giêsu, vì Ngài là nghệ sĩ thần linh. Chính Ngài nắm giữ kế hoạch mà ta phải tuân theo. Công việc của ta, tài nghệ của ta là phải vô cùng mềm dẻo dưới sự uốn nắn của Chúa. Phải vâng theo các ước muốn và các sự thúc đẩy của Chúa. Chúng ta phải bước đi như người mù dưới sự dẫn dắt của Chúa Giêsu, hoàn toàn tin tuởng vào sự khôn ngoan thần linh của Ngài, ngày qua ngày, từng sợi một theo dòng ngày tháng, dưới bàn tay của Người thợ Dệt thần linh là Chúa Giêsu. Rồi sẽ đến ngày, sau khi chết, Chúa Giêsu sẽ chỉ cho ta thấy những chỗ đầy nghệ thuật mà Ngài đã thực hiện trên tấm vải cuộc đời của ta, với sự cộng tác của ta, và chúng ta sẽ vô cùng vui sướng tạ ơn Ngài về công trình nghệ thuật mà chúng ta đã nhẫn nại hoàn thành trong đêm tối của đức tin.

Chúng tôi thích nhắc lại đây mấy lời Đức cha Chasles Gay đã nói với một con thiêng liêng của ngài, khi cô này tỏ ra thiếu kiên nhẫn trong những tiến bộ thiêng liêng : “Con ngạc nhiên về hai điều, một là về những sự khốn nạn cứ tồn tại ở trong con, mặc dầu lòng mến Chúa đã gia tăng trong tâm hồn con, hai là về những tiến bộ có vẻ chậm chạp trong tình mến yêu Chúa. Con phải nhớ hiền thê của Chúa Giêsu là một bông huệ giữa bụi gai : gai góc sẽ giữ cho con mãi khiêm nhường, vì đức khiêm nhường rất cần thiết và rất có ích cho lòng mến của con. Cho đến hết đời mình, chúng ta phải biết rằng nhân đức của ta cần đến những yếu đuối của mình để cải thiện mình. Vậy cũng như thánh tông đồ mà Chúa Giêsu đã dạy cho biết giáo lý này, chúng ta phải vui mừng và hãnh diện trong những sự yếu đuối của mình, để sức mạnh của Chúa Giêsu được tràn lan và tỏ rõ hơn trong ta. Còn về chuyện con thấy mình tiến bộ chậm qúa, con chỉ cần tiến bộ theo nhịp Chúa muốn… Thiên Chúa có những đường lối khiến tâm trí ta không hiểu được. Con hãy tín thác nơi Chúa về sự mau chậm này, cũng như trong mọi sự. Điều con viết cho cha đó, đã nhắc cha nhớ một lời đầy thương xót mà Chúa mới nói gần đây với một linh hồn về một linh hồn khác : “Điều nó còn thiếu, chính là điều Cha chưa làm cho nó”. Và linh hồn đó đã được an ủi vô cùng. Cha nghĩ điều này cũng đúng cho con. Và con có thể chia sẻ phần bánh an ủi này. Ôi ! Sự bình an ! Chúng ta phải cảm tạ Chúa dường nào ! Vì bình an là điều rất bổ ích cho ta”[7].

III.  TỪ VỰC SÂU CỦA SỰ BẤT LỰC, CHÚNG TA HÃY KÊU CẦU CHÚA. GIỜ ÂN PHÚC ĐÃ GẦN.

– HOÀN TOÀN QUÊN MÌNH LÀ CÁCH THẾ DUY NHẤT ĐỂ TÌM THẤY BÌNH AN TRONG MỘT SỐ GIỜ PHÚT.

Từ vực sâu của sự bất lực, chúng ta hãy kêu cầu Chúa. Giờ ân phúc đã gần. – Như đã được trình bày trên đây, cảm tưởng sâu xắc về sự bất lực của mình là một ơn trọng đại của Chúa. Đó là điều Thiên Chúa tìm trăm ngàn cách để thực hiện ở nơi ta. Chúng không ngừng đào sâu vực thẳm của sự bất lực và cảm tưởng về hư vô ở trong ta. Nhưng công việc nên thánh của ta không dừng lại ở đó. Để nên thánh, ta phải có đủ hai điều: phải hoàn toàn thất vọng về mình, và phải trọn vẹn tin tưởng nơi Chúa. Vậy cùng với cảm thức sâu xa về sự bất lực của mình, ta phải có tâm tình tín thác tuyệt đối nơi Thiên Chúa. Mỗi ngày tôi đào sâu thêm vực thẳm của sự bất lực của tôi, nhưng với ơn Chúa, tôi cũng phải hằng ngày xây đắp niềm cậy trông nơi Chúa. Ý thức đau đớn về sự bất lực và về những sự khốn nạn của tôi sẽ phải là sự khởi đầu cho việc xây dựng niềm cậy trông vô biên nơi Chúa. Với ơn trợ lực của Chúa, sự thất vọng về mình phải được biến thành sự cậy trông trọn vẹn nơi Chúa.

Không gì có thể mang lại cho ta ý tưởng đầy đủ về hai tâm tình này bằng hình ảnh đứa trẻ thơ. “Bé nhỏ, yếu đuối, không có khả năng nào hết, đứa trẻ thơ tự nó không thể làm gì hết. Nhưng nếu có người cha âu yếm ở cạnh nó để lo lắng cho nó, thì sự bất lực của nó sẽ là nguyên lý của sức mạnh. Chúng ta biết tại sao thế. Đứa trẻ thơ muốn bước đi, nhưng nó không có khả năng : hai chân nó qúa yếu, không thể mang nổi nó. Cũng có thể một nguy hiểm đe dọa nó, và nó tìm cách tự bảo vệ. Nhưng cánh tay yếu ớt của nó hoàn toàn bất lực. Hạnh phúc thay cho nó ! Cha nó đang đứng đó. Nó ngẩng mặt nhìn cha nó. Cha nó đã hiểu : ông cúi xuống, bồng nó lên, ôm ghì nó trên trái tim mình. Ông sung sướng bồng ẵm nó. Ông âu yếu bảo vệ nó. Thế là đứa trẻ thơ trở thành mạnh sức bằng tất cả sức mạnh của cha nó.

“Đó là đặc ân diễm phúc của tuổi thơ ấu, làm cho đứa trẻ thơ được mau mắn và mạnh mẽ cứu giúp trong sự bất lực của nó. Sức mạnh vô song của cái nhìn van lơn của đứa trẻ thơ, không một lòng cha nào ở trần gian này có thể cưỡng lại. Và Thiên Chúa là người Cha tốt lành hơn mọi người cha muôn ngàn lần, Đấng đã tạo thành trái tim của các người cha theo khuôn mẫu Trái Tim Ngài, Ngài có thể cưỡng lại sao ?”[8].

Đứa trẻ thơ có ý thức bẩm sinh và mạnh mẽ về sự bất lực của nó và sức mạnh đầy yêu thương của cha và mẹ nó. Đó là điều chúng ta cần phải có. Như vậy, thay vì để mình bủn rủn trước những khó khăn lớn lao, niềm tín thác của ta sẽ càng phấn khởi đến mức anh hùng, vì biết rằng những gì chúng ta không làm được do sức của chúng ta, thì Cha chúng ta ở trên trời sẽ làm cho chúng ta. Và như vậy, vào đúng lúc, chúng ta sẽ nhớ rằng Chúa luôn ở bên cạnh chúng ta, và Ngài đã cúi xuống để giúp đỡ chúng ta.

Khi Chúa nhân từ nhìn thấy con cái Ngài ở trong cảnh bất lực, đã chán ngán và không cậy vào sức mình nữa, thì Ngài đưa hai cánh tay uy hùng và thương xót của Ngài ra để đón chúng ta. Chúng ta hãy đáp lại bằng cách gieo mình vào lòng Ngài, với niềm tín thác mến yêu. Giờ phút của niềm tín thác trọn vẹn đã điểm. Giờ phút của những ơn phúc lạ lùng đã gần. Thiên Chúa sắp tôn vinh thánh Danh Ngài, bày tỏ uy quyền và tình thương của Ngài. Chỉ trong một thời gian rất ngắn, Ngài có thể hoàn thành những điều kỳ diệu. Đối với Ngài, thời gian không thành vấn đề. Ngài có thể giúp linh hồn thực hiện những tiến bộ phi thường. Ngài sẵn sàng ban cho ta những hồng ân lớn lao, miễn là niềm tín thác kém cỏi của ta không giới hạn lòng quảng đại của Ngài.

Louis de Grenade đã nói rất chí lý như sau về những hoàn cảnh ta cảm thấy mình bất lực nhất : “Chúa quan phòng dành quyền đích thân giải cứu những khó khăn đặc biệt lớn lao trong đời sống thiêng liêng của ta, còn những khó khăn thông thường thì Ngài để cho những nguyên nhân đệ nhị giải quyết”.

Các thánh luôn vững tin vào chân lý này, cho nên đó là bí quyết giữ cho các ngài luôn trọn vẹn tín thác. Ta hãy cố gắng bắt chước các ngài. Vậy nếu chúng ta có cảm nghĩ sâu sắc về sự hoàn toàn bất lực của mình, nếu chúng ta thấy các sự khó khăn xảy đến dồn dập một cách khác thường, khiến chúng ta tin rằng không bao giờ mình có thể nên thánh, thì chúng ta hãy tin rằng giờ phút để Chúa can thiệp vào đã gần, miễn là chúng ta hết lòng tín thác chạy đến với Chúa. Chúng ta hãy cậy trông, mạnh mẽ cậy trông nơi Chúa, bởi vì chúng ta không còn có thể cậy vào sức mình nữa.

Mới cách đây vài năm, Chúa Giêsu đã nói những lời đầy an ủi sau đây với một linh hồn Ngài chọn làm “thư ký của tình yêu” của Ngài, để nói cho thiên hạ biết lòng nhân hậu bao la của Ngài : “Bêninha của Cha, Cha không thể làm cho con nên thánh, nếu con không trao cho Cha chìa khóa của ý chí con. Nhưng nếu con trao cho Cha, không những Cha sẽ làm cho con nên thánh, mà còn nên một vị đại thánh. Chỉ trong một lúc, Cha có thể sửa chữa tất cả dĩ vãng của một linh hồn, miễn là linh hồn đó đối xử với Cha như với một Thiên Chúa nghĩa là nó đừng giới hạn lòng nhân hậu của Cha bằng sự nghi ngại của nó, đừng hạn hẹp lòng thương xót của Cha bằng những lo âu của nó, và đừng đo lường tình thương của Cha bằng tình thương của nó”.[9]

Rồi để tỏ cho biết Ngài rất ước ao ban cho ta những ơn trọng đại để thánh hóa  ta, Chúa Giêsu đã nói với chị Bêninha như sau : “Cha rất khổ tâm nhận lại những ân sủng Cha ban cho các linh hồn mà họ không muốn nhận. Bởi khi gặp được một linh hồn để Cha được tự do đổ đầy ân sủng xuống cho nó, tâm hồn Cha rất vui thỏa” [10].

Đâu là những linh hồn làm cho Thánh Tâm Chúa vui  thỏa vì để Ngài được tự do hoạt động ở trong họ ? Đó là những linh hồn quảng đại, hết lòng ước ao nên thánh, và vì cảm thấy mình bất lực, nên đã đặt trọn vẹn niềm tín thác nơi Thánh Tâm Chúa.

Ước gì tôi được đứng vào số những linh hồn này ! Cảm nghiệm về sự bất lực của mình không phải là điều tôi thiếu. Nhưng tôi sẽ phải xin Chúa Giêsu ban thêm ơn tin tưởng và tín thác cho tôi, một niềm tín thác trọn vẹn, bởi vì cũng như đức khiêm nhường, niềm tín thác không do nỗ lực của ta mà có cho bằng do ơn Chúa ban. Tất cả những lý lẽ có sức thuyết phục nhất,  tất cả những cách chứng minh mạnh mẽ nhất về lòng thương xót của Chúa cũng sẽ không phát sinh niềm tín thác ở trong tôi, nếu Chúa không ban cho tôi nhân đức này, vì tín thác là một nhân đức siêu nhiên. Vậy tôi phải năng cầu  xin Chúa ơn này và phải tha thiết cầu xin. Khi đó, tôi sẽ trở thành một trong những linh hồn diễm phúc, vì Chúa Giêsu nói về họ rằng : “Những linh hồn tín thác nơi Cha là những linh hồn lấy được tất cả mọi ân sủng của Cha”.

Hoàn toàn quên mình là cách thức duy nhất để tìm thấy bình an trong một số giờ phút.– Sẽ có những lúc, vào những giờ phút chúng ta cảm thấy mình khốn khổ, không làm sao tìm lại được sự bình an vui tươi và trong sáng rất cần thiết cho tâm hồn. Chúng ta uổng công nại đến tất cả những lý do để tin tưởng vào Chúa, chúng ta đã lý sự với mình hồi lâu, chúng ta đã nài xin Chúa, nhưng xem ra Ngài giả điếc làm thinh và để mặc cho chúng ta vật lộn với những cơn buồn sầu. Chúng ta vẫn thật sự tín thác, nhưng có vẻ như niềm tín thác đã rút xuống nơi thẳm sâu của tâm hồn, để mặc cho ta chịu sóng gió.

Trong trường hợp đó, nên thêm vài niềm tín thác mà ta không cảm thấy nữa một tâm tình khác rất qúi trọng. Khi đó phải quay mặt đi khỏi cái hạt bụi bé nhỏ là thân phận chúng ta : hãy quên mình đi, hãy nhìn đi phía khác, hãy nhìn lên Chúa Giêsu vô cùng mến yêu, hãy dành tất cả mọi sự chú ý cho Ngài. Thân phận thọ tạo của chúng ta có là gì đâu ? Tất nhiên những ước nguyện của chúng ta là những ước nguyện thánh : chúng ta mong ước trở nên tốt lành hơn, thánh thiện hơn, để làm vui lòng Chúa hơn. Nhưng trong vũ trụ bao la này, vật thể bé nhỏ của thân ta có đáng gì đâu ? Thiên Chúa không cần đến những lời chúc tụng của chúng ta để được tôn vinh và hạnh phúc. Dầu chúng ta làm gì, Ngài vẫn tuyệt đối hạnh phúc. Vậy tôi phải vui mừng và vui sướng vì Thiên Chúa tôi yêu mến luôn tuyệt đối hạnh phúc như thế trong Ba Ngôi Chí Thánh. Ngoài ra, không có gì là quan trọng hết. Phần tôi, nếu tôi chưa yêu mến Chúa như tôi ước ao, ít ra tôi yêu mến Ngài hết lòng, với tất cả lòng mến yêu bé nhỏ của tôi. Tôi chỉ muốn yêu mến một mình Ngài, chỉ nhìn ngắm Ngài, và đặt tất cả vui sướng và hạnh phúc của tôi ở nơi Ngài.

Ôi ! Linh hồn sẽ ngàn lần diễm phúc, nếu nó quên mình đi, biến mất đi trong Chúa bằng cách say mê chiêm ngưỡng vẻ tốt lành vô cùng của Ngài. Như vậy, sau cùng nó đã tìm thấy sự bình an tuyệt vời dầu nó đầy những thiếu thốn và khốn nạn. Nó đã làm đúng như lời Chúa Giêsu khuyên một linh hồn Ngài rất thương yêu là chị Bêninha Consolata : “Con đừng mất thời giờ, dầu một phút, để nghĩ về mình, dầu nghĩ về linh hồn con hay thân xác con. Con có một phu quân, Ngài lo tất cả những chuyện đó cho con. Còn con, con hãy lo yêu mến Ngài hết sức con”[11]. Đúng thế, linh hồn đó đã quên mình đi, nhưng Thiên Chúa lo cho nó. Nó không nghĩ gì đến bản thân nó nữa, nhưng Thiên Chúa lo nghĩ cho nó với tất cả tình thương đặc biệt của Ngài. Thiên Chúa là tình yêu vô cùng, Ngài không để mình phải thua vật thọ tạo nhỏ bé của Ngài về lòng quảng đại.

Một linh hồn rất quảng đại, quen sống hoàn toàn quên mình vì Chúa, đã viết những dòng đầy ý nghĩa sâu đây : “Không phải tôi không đau khổ, ồ, không phải thế đâu. Nhưng tôi biết Chúa lo cho tôi, công việc của Ngài là nhìn xem để biết tôi đau khổ đến đâu, cho nên tôi không nghĩ đến bản thân mình nữa, công việc của tôi là lo cho Ngài. Quên đi tất cả mọi sự, tôi cố gắng để hết lòng lo cho Ngài, lo cho một mình Ngài. Tôi phải là con người bé nhỏ, luôn luôn lo cho Ngài là Đấng bị bỏ quên qúa rồi… Khi những cảm nghĩ nặng nề xâm chiếm hồn tôi, đe dọa làm hồn tôi bối rối và buồn phiền, tôi vội chạy vào ẩn náu nơi Chúa, và luôn luôn tôi tìm thấy bình an… Nhiều khi tôi cảm thấy tâm hồn trống vắng, cuộc sống trở nên vô vị, và trái đất trở nên hoang vắng. Khi đó tôi nghĩ : Thiên Chúa là Cha tôi, Ngài ở đó, Ngài dẫn dắt tôi. Chúa Giêsu yêu thương tôi. Và tôi thấy con đường tôi đi rất chắc chắn : đó là thánh ý của Chúa Cha, được hướng dẫn bởi sự khôn ngoan vô cùng của Ngài, quyền năng và tình thương vô cùng của Ngài. Thế là cuộc đời không còn vô vị nữa, và trái đất không còn hoang vắng nữa, bởi vì tôi có thể dùng cả cuộc đời để lo cho Chúa là Đấng đổ đầy ơn xuống trái đất, và bởi vì tôi luôn luôn lo cho Thầy chí thánh của tôi, Đấng luôn hiện diện, luôn sống và thương yêu”[12].

Paul De Jaegher S.J.

 

[1]     Caussade, op. cit., t.II, p.181 : Thư gởi nữ tu Rosen.

[2] Caussade, tr.196 : Thư gửi nữ tu Vioménil.

[3] Nhật ký của Lucie – Christine, do Cha Poulain S.J. xuất bản, trong tủ sách “Adoration Perpétuelle”. Paris.

[4] Autobiographie. Conseils et Souvenirs, p.263

[5] Tiểu sử một linh hồn, tr.261.

[6] Xem lại chương I cuốn sách này : Bản chất của niềm tín thác.

[7] Các thư linh hướng của Đức Cha Gay, trích dẫn bởi Cha De Smedt, S.J. trong cuốn Notre vie surnaturelle, t.II, p.496-497.

[8] R.P. Martin, La petite voie d’enfance spirituelle (con đường nhỏ của tuổi thơ ấu thiêng liêng) Ch. IV.

[9] Nữ tu Bêninha Consolata Ferrerô. Cơ sở truyền bá Thánh Tâm Chúa. Lyon, tr. 161.

[10] Cũng trong sách đó, tr. 167

[11] Nữ tu Bêninha Consolata, p.157

[12] Roaul Plus S.J., Marie-Antoinette de Geuser (Vie de “Consummata”) p.172