8. Đời Sống Tâm Linh

Niềm Tín Thác – Chương XXI: TÌNH YÊU THIÊN CHÚA LÀM VIỆC KHÔNG MỆT MỎI CHO SỰ NÊN THÁNH CỦA TA

I. TÌNH THƯƠNG KẾT HIỆP CỦA THIÊN CHÚA DÀNH CHO TÔI.

–   TẤT CẢ CÁC HỒNG ÂN CỦA CHÚA ĐỀU CÓ TÍNH “KẾT HIỆP”.

–   THIÊN CHÚA HIỆN DIỆN TRONG CÁC HỒNG ÂN CỦA NGÀI.

–   NGÀI TỎ MÌNH RA PHẦN NÀO QUA CÁC HỒNG ÂN ĐÓ.

Tình thương kết hiệp của Thiên Chúa dành cho tôi. – Thiên Chúa bao la vô cùng, quyền năng vô cùng, cao xa vô cùng, mà chúng ta là những vật thọ tạo bé mọn, được Ngài đưa ra khỏi chốn hư vô, nhưng vẫn gần với hư vô, cho nên nhất là khi mới bước vào con đường thiêng liêng, chúng ta khó mà ý thức được phần nào tình thương vô cùng của Chúa, như chúng ta có thể hiểu biết phần nào về các vẻ tuyệt hảo khác của Ngài.

Chúng ta biết Ngài thương yêu chúng ta. Từng trăm ngàn lần người ta nhắc cho ta rằng Ngài thương yêu chúng ta lắm. Nhưng tình thương đó thế nào, đó là điều chúng ta chưa lấy gì làm rõ lắm, khi bước vào đời sống thiêng liêng. Các kitô hữu thường tưởng tượng Thiên Chúa thương yêu chúng ta bằng thứ tình thương mà Đấng vô cùng cao cả có thể thương đến một loài vật vô cùng bé mọn : đó là thứ tình thương hại và rộng lòng ban phát, mà một Đức Vua cao cả dành cho lũ ăn xin khốn khổ là chúng ta. Tốt lắm thì cũng là một thứ tình thương chung chung, Ngài dành cho tất cả mọi người, không phân biệt một ai. Cả những hồng ân lớn lao nhất của Thiên Chúa cũng được giải thích theo cách này. Chẳng hạn ơn Cứu chuộc của Chúa Giêsu, kỳ công vĩ đại nhất của tình yêu Thiên Chúa dành cho chúng ta, cũng chỉ được hiểu là lòng thương hại của Chúa muốn cứu vớt loài người khỏi án phạt muôn đời.

Phải sau một thời gian miệt mài trong đời sống thiêng liêng, người ta mới hiểu rằng tình thương của Chúa là một sự yêu thương Ngài dành cho tôi, cho riêng bản thân tôi, cũng như dành riêng cho mỗi người chúng ta. Phải đã nghe thấy tiếng nói của Chúa Giêsu trong tâm hồn mình, đã than thở và thưa chuyện thân mật với Ngài, đã sung sướng hưởng niềm vui của tình thân của Ngài, thì tôi mới thấy rõ Ngài thương yêu tôi, Chúa Giêsu đã chịu chết cho tôi, Ngài đặc biệt quan tâm đến tôi, Ngài luôn nghĩ đến tôi và muốn có được trọn lòng mến yêu của tôi.[1]

Rồi mãi sau này, chúng ta mới bắt đầu nhận thấy Chúa yêu thương từng người chúng ta, không phải chỉ bằng tình thương xót và tình thương giúp, cũng không phải chỉ là thứ tình bạn thường, nhưng là thứ tình tuyệt hảo nhất : tình yêu kết hiệp. Chúa thương yêu tôi bằng một tình thương bao la, Ngài say đắm linh hồn tôi, và điều Ngài muốn và không ngừng lo tính, là đi tới chỗ kết hiệp hoàn toàn giữa Ngài và linh hồn tôi trong hưởng kiến diễm phúc trên trời, và ở đời này, trong tình hiệp nhất của sự thánh thiện.

 Tình yêu kết hiệp giữa Thiên Chúa vô cùng cao cả và thánh thiện với vật thọ tạo bé nhỏ và rất khốn nạn của Ngài : đó là công việc mà Chúa không ngừng lo nghĩ và theo đuổi. Và đó là chân lý mầu nhiệm và vĩ đại của tất cả cuộc sống của ta. Vâng, đó là một mầu nhiệm. Một mầu nhiệm lạ lùng, vượt qúa xa sức hiểu biết của tâm trí thấp hèn của ta, cũng như ánh sáng mặt trời làm quáng mắt những loài chim sống về đêm. Vì lòng nhân hậu lớn lao của Ngài, Thiên Chúa để ý săn sóc cho các loại thọ tạo của Ngài, Ngài thương yêu công trình bàn tay Ngài đã tác tạo, Ngài ban phát nhiều hồng ân cho chúng, đó là những điều chúng ta còn có thể hiểu được. Còn như Ngài là Đấng vô cùng cao cả mà lại yêu thương chúng ta bằng tình yêu kết hiệp, là thứ tình yêu qúi trọng nhất và tuyệt hảo nhất, Ngài là vẻ đẹp vô cùng mà lại muốn kết hiệp với ta là loài xấu xa hèn hạ, Ngài là sự thánh thiện siêu việt mà lại muốn kết hiệp với ta là loài tội lỗi dơ nhớp…, đó là những điều chúng ta không thể nào hiểu được. Tình yêu luôn đòi hỏi phải có sự ngang bằng, ít là có phần nào ngang bằng, vậy mà giữa Thiên Chúa toàn năng và toàn thiện và chúng ta là loại thọ tạo hèn hạ và xấu xa, có gì giống nhau đâu ?

Thế mà điều lạ lùng này, điều khó tin và nghịch lý này lại là một sự thật : Thiên Chúa yêu thương tôi. Không những Ngài ban cho tôi muôn ngàn tặng phẩm, muôn vàn hồng ân như khi người ta yêu nhau, Ngài còn muốn ban chính mình Ngài cho tôi theo mức có thể làm được ở trần gian này, và cách tuyệt hảo sau này ở trên trời. “Tình yêu thì hiến thân cách quảng đại”. Thiên Chúa là tình yêu tuyệt đối, Ngài muốn thông ban mình cho ta, hiến thân Ngài cho ta, và nếu để thực hiện điều đó, Ngài phải thần linh hóa chúng ta thì Ngài sẽ làm. “Tình yêu hoặc gặp thấy những người giống nhau, hoặc làm cho họ trở thành giống nhau”. Vì thấy những sự bất cân xứng và những chướng ngại giữa Ngài và chúng ta, Thiên Chúa sẽ làm cho chúng ta trở nên giống Ngài để có thể thực hiện sự kết hiệp mong muốn.

Đó là cùng đích cao cả Chúa dành cho ta : sự thánh thiện ở đời này, và vinh phúc muôn đời ở trên trời. Nếu nói theo ngôn ngữ cụ thể và dễ hiểu thì phải nói : kết hiệp thân mật với Chúa ở đời này, và kết hiệp tuyệt hảo với Ngài ở trên trời. Kết hiệp giữa Đấng là Hữu Thể tối cao và loài thọ tạo hư vô, giữa Đấng vô cùng vĩ đại và hạt bụi vô cùng bé mọn: đó là điều kỳ diệu không thể tưởng được, nhưng đó lại là điều giúp ta cảm nghiệm thấy tính vô cùng của tình yêu Thiên Chúa.

Chúng ta đừng ngạc nhiên vì thấy tâm trí ta không thể hiểu được tình thương vô cùng bao la của Chúa. Tình thương vô cùng bao la của Chúa vượt qúa tầm hiểu biết của loài người hèn hạ là điều tất nhiên, bởi vì không có hình ảnh nào trong vũ trụ vạn vật có thể cho ta một ý niệm dầu rất sơ sài về tình thương của Ngài. Hơn nữa bản tính của Thiên Chúa là yêu thương. “Thiên Chúa là tình yêu” (1 Ga 4,8). Sách Thánh đã dạy như thế, Thiên Chúa là tình yêu bản thể từ ngàn đời. Đó là tình yêu giữa Chúa Cha và Chúa Con, và là bản thể của Chúa Thánh Thần. Nhưng Thiên Chúa muốn hiến thân ra ngoài bản thân mình, cho nên Ngài đã tạo thành con người, nâng con người lên bậc siêu nhiên. Với ân sủng, Thiên Chúa đã thần linh hóa con người, làm cho con người trở thành con của Ngài (Xem Gl 4,4-6).

Thiên Chúa đã tạo thành tôi, đổ đầy ân sủng vào linh hồn tôi, và muốn kết hiệp với linh hồn tôi. Ngài muốn tôi dâng trọn trái tim tôi, trọn lòng mến yêu của tôi cho Ngài : Ngài muốn ban mình Ngài cho tôi, nhưng Ngài chỉ có thể làm, nếu chính tôi cũng hiến dâng trọn linh hồn cho Ngài. Tất cả đời sống chúng ta là một trao đổi tình yêu. Tình yêu thần linh của Chúa muốn ban mình Ngài cho tôi, kết hiệp thân mật với tôi, và bằng muôn ngàn cách, Ngài tìm cách chiếm lấy lòng mến yêu của tạo vật bé nhỏ của Ngài. Đó là mục đích đời tôi. Đó là mục đích của Thiên Chúa khi tác tạo nên tôi.

Tất cả các hồng ân của Chúa đều có tính “kết hiệp”. – Đó cũng là mục đích của Chúa mỗi khi Ngài ban các hồng ân cho tôi. Trước đây tôi đã chỉ coi những hồng ân này là những ân huệ mà lòng quảng đại rất nhân hậu của Ngài không ngừng ban cho tôi: Ngài đã ban cho tôi có thân xác, có linh hồn cùng với những tài năng tốt lành. Nhất là Ngài đã ban cho tôi được ơn làm con Ngài trong lãnh vực siêu nhiên, đã ban cho tôi có cha mẹ đạo hạnh, được hưởng một nền giáo dục kitô giáo, được ơn gọi làm linh mục, làm tu sĩ. Tất  cả những hồng ân này được tôi nhìn nhận là những ân huệ của vị đại Ân nhân rất quảng đại là Thiên Chúa. Nay tôi phải thấy ý nghĩa đích thực và trọng đại của những hồng ân đó: đó là những tặng phẩm của tình yêu Thiên Chúa, một tình yêu kết hiệp.

Đó là những viên ngọc qúi có nạm kim cương Ngài tặng cho tôi để chiếm lấy trái tim tôi, không phải để xây dựng một tình bạn, nhưng là để chiếm trọn trái tim tôi, hướng đến một tình yêu kết hiệp, một tình yêu giống như tình yêu phu phụ, nhưng thật ra tình yêu phu phụ chỉ là một hình ảnh rất mờ nhạt. “Ta sẽ lập với ngươi một hôn ước vĩnh cửu” (Hs 2,20).

Thật không kể xiết những hồng ân Ngài đã ban tặng cho tôi ! Trước hết là trong lãnh vực tự nhiên : toàn thể vũ trụ là một qùa tặng Ngài ban cho tôi ! Ngài đã tạo thành trời đất vì tôi. Tất cả muôn vật muôn loài xung quanh tôi đã được Ngài nghĩ ra và tạo thành, để nói cho tôi nghe về tình thương của Ngài đối với tôi. Những bông hoa muôn mầu sắc và muôn ngàn hương thơm, những trái cây ngon ngọt làm vui sướng lòng con người, những con vật dễ thương đang ở xung quanh tôi và phục vụ tôi, tất cả đều nói lên lòng nhân hậu và tình thương của Chúa đối với tôi, và cũng là để nhắc nhở tôi phải yêu mến và cảm tạ Ngài. Cả mặt trời vĩ đại và huy hoàng, đang soi sáng và làm sống động mọi vật, cũng như ti tỉ mặt trời xa xăm, tức các tinh tú xa xăm kia, đều là công trình của bàn tay Thiên Chúa vô cùng quyền năng : Ngài là tác giả và là chủ muôn loài, nhưng ước ao của Ngài là chiếm được tình yêu của vật thọ tạo bé nhỏ này.

Ôi ! Tư tưởng làm ngây ngất hồn tôi, khi tôi nhận ra rằng : vì yêu thương tôi và vì muốn chiếm lấy trái tim bé nhỏ của tôi, Thiên Chúa đã tạo dựng từ hư vô tất cả vũ trụ vạn vật tốt đẹp này, mà trong đó tôi chỉ là một hạt bụi vô nghĩa !

Tuy nhiên, những hồng ân trong lãnh vực siêu nhiên còn qúi trọng hơn gấp triệu triệu lần ! Đó là những hồng ân khôn tả và khôn ví ! Để chuộc tội tôi, để cứu tôi khỏi hỏa ngục, Chúa đã giáng thế làm người như tôi. Là Đấng hằng hữu, Ngài đã vì tôi mà sống trong thời gian. Là Đấng linh thiêng và vô hình, Ngài đã vì tôi mặc lấy xác thịt con người. Là Đấng Toàn năng, Ngài đã sinh ra như một trẻ thơ trần trụi và khó nghèo. Vì tôi, Ngài đã sống một cuộc đời đầy gian lao và đau khổ. Rồi Ngài đã chết cách vô cùng đau đớn trên thập giá vì lòng thương tôi, và để thúc bách tôi phải yêu mến Ngài hơn hết mọi sự. Khổ hình thập giá là phương thế cuối cùng của Ngài để nài ép tôi phải tin vào tình thương vô cùng của Ngài, và đáp lại tình thương đó.

Chúng ta nghĩ Ngài đã làm hết cách rồi. Nhưng không phải thế đâu. Ngài đã sống lại và vẫn ở giữa chúng ta trong mầu nhiệm Thánh Thể, và ở đó vì thương yêu ta và để nhận tình yêu đáp lại của ta. Tình yêu lạ lùng của Ngài đã tạo ra cách thế vô cùng lạ lùng này, để vượt qua thời gian hai ngàn năm từ đó đến nay, hầu ở lại với ta. Trong bí tích Thánh Thể, Ngài lại trở xuống với tôi hôm nay, Ngài dâng mình làm của lễ đền tội cho tôi và cho cả thế giới. Ngài là Đấng giảng dạy dân chúng, chữa lành bệnh tật cho họ tại Galilê xưa, nay Ngài đang ở trong linh hồn tôi, Ngài đang ôm lấy tôi cách âu yếm. Vâng, Thánh Thể là cuộc thăm viếng hằng ngày Chúa Giêsu dành cho những linh hồn Ngài yêu thương.

Xem ra Chúa Giêsu không còn có thể làm gì hơn nữa. Là Thiên Chúa làm người, Ngài đã đến ở trong linh hồn tôi. Đó là sự hoà hợp khăng khít giữa linh hồn và Chúa Giêsu Thánh Thể. Đây không còn là sự hai người bạn thân ôm hôn nhau, hai vợ chồng ôm hôn nhau, vì hai người vẫn là hai người. Còn đây thì linh hồn đã trở nên một với Chúa Giêsu Thánh Thể.

Nhưng Chúa Giêsu chưa lấy thế làm đủ. Ngài chưa thỏa tình yêu thương ta. Ngài muốn có sự đồng nhất hóa giữa hai tâm hồn, giữa hai cuộc đời. Ngài muốn có sự hiệp nhất mầu nhiệm giữa Ngài và linh hồn Ngài thương yêu. Ngài muốn một sự hiệp nhất trọn vẹn, một sự đồng hóa hoàn toàn. Một sự đồng hóa mà loài người không bao giờ dám nghĩ tới. Vẻ đẹp thần linh không thể nào đồng hóa với sự xấu xí và xấu xa. Ngài tha hồ yêu thương, tha hồ ước ao một sự kết hiệp, điều đó không thể nào thành sự được, trừ phi Ngài biến đổi tôi, thần thánh hóa tôi.

Thì Ngài đã làm công việc đó. Trước hết Ngài đã thần linh hóa con người tôi, Ngài cho tôi thông phần vào bản tính thần linh của Ngài bằng ân sủng thánh hóa (ta thường gọi là ơn thánh hóa). Ngài đã tắm gội tôi trong máu thánh của Con Ngài, để rửa tôi sạch mọi dơ nhớp và bệnh cùi của tội lỗi. Ngài đã nâng tôi lên cao, rất cao hơn mọi loài thọ tạo trong vũ trụ, trên cả thân phận tự nhiên của một vật thọ tạo. Ngài đặt tôi vào thế giới siêu nhiên. Ngài trang điểm linh hồn tôi bằng các nhân đức siêu nhiên, khiến tôi trở nên xinh đẹp và đáng yêu trước mặt Ngài.

Ngài còn muốn nhiều hơn thế. Ngài đã làm cho tôi nhiều hơn nữa, bởi vì tôi còn qúa xa mức độ thần linh hóa buộc phải có để được hiệp nhất muôn đời với Ngài. Vậy Ngài sẽ làm việc mỗi ngày, dùng trăm ngàn ân sủng hành động, cũng gọi là hiện sủng, để giúp linh hồn tôi thực thi mọi hành vi cách tốt lành thánh thiện, để linh hồn ngày thêm xinh đẹp và đáng được Chúa yêu thương hơn. Ngài làm việc không ngơi để thanh tẩy tôi khỏi mọi vết nhơ của tính tự  ái, và mọi vết nhơ của tính cậy mình. Mọi sự, mọi ơn, đều được Ngài xếp đặt theo sự khôn ngoan và tình thương của Ngài để dần dần biến đổi linh hồn tôi nên giống hệt như Ngài. Những an ủi thiêng liêng, những buồn tủi thiêng liêng kế tiếp nhau. Lúc thì Ngài cho linh hồn tôi vô cùng vui sướng vì sự hiện diện nồng nàn của Ngài. Lúc Ngài lại ẩn mặt đi, để tôi âu sầu, lo lắng, nhưng cũng là để tôi càng thèm ước sự hiện diện và tình thương của Ngài.

Cũng có thể Ngài đã dắt tôi qua “Đêm tối tăm của các giác quan”, để trong đêm thần bí đó, Ngài làm nảy nở trong tôi những hồng ân của Chúa Thánh Thần. Rồi sau đó, nếu tôi tỏ ra quảng đại, Ngài sẽ thử thách lòng trung tín của tôi trong “Đêm tối tăm của tâm trí”, sự thử thách cuối cùng để làm cho tôi nên giống Ngài mọi bề, và đáng được Ngài yêu thương trọn vẹn. Lúc đó Ngài sẽ đưa tôi vào kho rượu tình yêu thần linh của Ngài, sẽ cho tôi được no say rượu tình yêu của sự kết hiệp trọn vẹn.

Đó là một phác họa rất mờ nhạt về những hồng ân lạ lùng Chúa Giêsu thường dùng để tẩy rửa và thánh hóa linh hồn, chiếm trọn tình mến yêu của linh hồn và dẫn đưa nó tới chỗ kết hiệp trọn vẹn với Ngài.

Thiên Chúa hiện diện nơi mỗi hồng ân của Ngài. – Nhưng còn một chi tiết rất cảm động, cần được nêu rõ hơn ở đây. Các vua chúa muốn khen thưởng ai, hoặc tỏ lòng thương ai, các ngài chỉ gởi cho họ những qùa tặng qúi giá, rồi không còn nghĩ gì nữa. Còn Chúa Giêsu đối với ta thì khác, Ngài ban tặng cho ta các hồng ân là để chiếm lấy tình mến yêu của ta. Cho nên Ngài hiện diện trong các hồng ân của Ngài, Ngài muốn ta nhìn thấy tình thương của Ngài, hơn là thấy các hồng ân, khi đón nhận các hồng ân đó. Đó là cách Ngài vẫn làm : từ những hồng ân bé nhỏ, đến hồng ân vô cùng trọng đại là bí tích Thánh Thể, Ngài luôn là một với hồng ân Ngài ban. Ngài hiến thân mình cùng với hồng ân Ngài ban cho ta.

Trước hết, toàn thể vũ trụ, tất cả thiên nhiên đầy sự hiện diện của Chúa, đúng như thánh nữ Angela thành Fôlignô đã thốt lên. Bằng quyền năng của Ngài, qua hoạt động thần linh của Ngài, Ngài làm cho vạn vật hiện hữu, và tăng trưởng. Ngài dùng vạn vật để nuôi sống tôi. Ngài hiện diện nơi từng ngọn cỏ, nơi từng giọt sương mai. Ngài hiện diện nơi mỗi loài rau cỏ nuôi sống tôi, nơi mỗi thứ trái cây ngon ngọt mang lại vui sướng cho tôi. Mỗi bông hoa xinh tươi và thơm ngát, mỗi ánh sao huyền diệu trên trời cao thẳm, mỗi cơn gió chiều mang lại sự mát mẻ dịu dàng, tất cả đều nhắc nhở cho tôi rằng : Thiên Chúa ban tất cả những thứ ấy cho tôi vì yêu thương tôi, và muốn tôi yêu mến Ngài hết lòng.

Bởi vậy các thánh thường yêu mến thiên nhiên, yêu mến núi rừng và đại dương hùng vĩ, ca tụng uy quyền của Chúa. Các ngài yêu qúi các đồng cỏ hoa, những đàn chim líu lo ca hát, tôn vinh sự tốt lành và dịu dàng khôn tả của Chúa. Tất cả muôn vật nói với các Ngài về Chúa, vì Chúa hiện diện ở trong chúng vì tình thương loài người. Chúng ta ai cũng biết sự thương mến của Ông Thánh Khó Nghèo thành Assisi dành cho những con chim. Còn thánh Inhaxiô, một hôm đã nồng nàn yêu mến Chúa, khi suy niệm về tình thương của Thiên Chúa dành cho ta nơi một bông hoa xinh tươi : thánh nhân ngồi trên một bờ sông, nhờ nhìn ngắm một bông hoa mà được Chúa cho đi sâu vào một giờ chiêm niệm cao siêu lạ lùng. Ngài nhận được những ánh sáng chói lọi và phi thường đến nỗi “tất cả mọi ơn trợ lực ngài nhận được do Chúa ban và tất cả những gì ngài học được trong suốt cuộc đời, cho tới tuổi sáu mươi hai gồm lại, cũng không thể sánh với những gì ngài đã nhận được vào lúc đó”[2]. Chúng ta cũng biết thánh Phaolô Thánh Giá, khi đi qua một cánh đồng đầy cỏ hoa, đã nồng nàn yêu mến Chúa đến nỗi phải đưa tay vuốt nhẹ trên các bông hoa và nói : “Thôi im đi ! Tôi không sao chịu nổi nữa ngọn lửa mến yêu đang bừng lên trong tôi”.

Ước gì tôi được như các thánh ! Nếu đôi mắt linh hồn tôi mở rộng và được ánh sáng đức tin và đức mến soi cho, chắc tôi cũng nhìn thấy vũ trụ như các thánh. Tôi sẽ thấy trời đất đầy những sự kỳ diệu của Chúa và mọi sự đều nói lên tình thương của Ngài. Tất cả các sự vật bao quanh tôi đều cho tôi cảm thấy hương thơm của Ngài. Mọi vật đều như đang nói với tôi rằng : Hãy yêu mến và cảm tạ Chúa ! Và tất những tiếng rì rào của muôn vật sẽ là như một lời kinh mênh mông của trời đất dâng lên Chúa, để tôn vinh và mến yêu Chúa. Tóm lại, muôn vật muôn loài bao quanh tôi, tất cả những biến cố và những sự kiện dệt lên cuộc đời tôi, tất cả đều là những biểu hiệu của tình Chúa thương tôi, đồng thời là những lời nhắc nhở tôi phải mến yêu Chúa hết lòng.

Tả làm sao được hạnh phúc của những lúc linh hồn được đức tin soi sáng, và được đức mến thiêu đốt, đã ngắm nhìn trời đất với tâm tình của thánh Phanxicô Assisi ! Nó sẽ thấy trời đất có hào quang của Thiên Chúa, còn mang dấu vết của bàn tay Thiên Chúa sáng tạo. Đó, Thiên Chúa đã tạo thành trời đất tốt đẹp như thế vì thương yêu tôi, và để tôi vui sướng trong tình yêu Ngài. Tôi thấy mình được bao bọc trong tình thương của Chúa, Đấng tôi yêu mến và được mến thương.

Tôi thấy mình như một miếng xốp được chìm trong đại dương của tình yêu Chúa. Nếu một miếng xốp, một miếng bọt biển biết sướng khi thấy mình no nê và đắm chìm trong nước mênh mông của đại dương, được sóng gió nhè nhẹ đưa đi khắp đây đó trong đại dương,  thì tôi càng phải thấy mình diễm phúc vì được no thỏa và tràn ngập tình yêu của Chúa ! Mỗi đợt sóng là một sự vuốt ve của ơn Chúa và một lời thì thầm của muôn vật nhắc cho tôi rằng Thiên Chúa yêu thương tôi. Đúng thế ! “Nếu tôi mượn đôi cánh của tình yêu và bay đến tận chân trời góc biển, thì vẫn là bàn tay Chúa dẫn đưa tôi đi với đầy yêu thương” (Tv 138,9). Lời này của vị tiên tri vẫn còn đó. Vâng, tôi thấy Chúa luôn bao bọc tôi, tình thương của Ngài ấp ủ tôi, Ngài yêu thương tôi và muốn chiếm trọn tình mến yêu của tôi. Tôi hít thở trong Ngài, tôi sống trong Ngài, tôi lớn lên trong Ngài : “Chúng ta sống, động và hiện hữu ở trong Ngài” (Cv 17,18).

Tôi đã nói Thiên Chúa bao bọc tôi. Ngài ở xung quanh tôi. Nhưng Ngài cũng ở trong tôi. Ngài hiện diện nơi mỗi thớ thịt và mỗi giọt máu của tôi. Chính Ngài làm cho trái tim tôi đập từ thuở trong lòng mẹ cho đến nay, và cho đến khi tôi chết. Nhất là một cách vô cùng thân thiết và kỳ diệu, Ngài ở trong tôi mỗi khi tôi rước lễ. Mình Thánh Chúa Giêsu đi vào trong tôi, Thiên Chúa làm người, cùng với Chúa Cha và Chúa Thánh Thần vào ở trong linh hồn tôi, biến linh hồn tôi thành thiên đàng của Chúa Ba Ngôi. Rồi Chúa còn ở lại mãi trong linh hồn tôi bằng ân sủng thánh hóa của Ngài. Ngài ban cho tôi nhiều hồng ân để thánh hóa các tài năng của tâm hồn tôi, nhất là ý chí của tôi. Ngài luôn luôn ban cho tôi những ơn soi sáng để hướng dẫn tôi trên đường trọn lành, và để tôi yêu mến Ngài.

Ôi ! Những sự lạ lùng của tình yêu Thiên Chúa ! Ngài yêu thương các linh hồn, yêu thương vô cùng. Và Ngài ban cho chúng những niềm vui khôn tả khi chúng đáp lại tình thương của Ngài. Ôi nói sao cho xiết những điều kỳ lạ Ngài đã làm để dứt tôi ra khỏi mọi quyến luyến thế tục, để tôi chỉ yêu mến một mình Ngài thôi. Nhưng cũng rất kỳ lạ là sự hững hờ của tôi đối với Ngài ! Làm sao tôi, một kẻ khốn cùng, lại lãnh đạm như thế đối với Vua trời đất đã đoái thương đến mình như thế ? Làm sao tôi vẫn cứ để mình bị lừa dối bởi những quyến dũ giả trá của các vật thọ tạo và nhất là của cái tôi khốn nạn này ?

Thiên Chúa tỏ mình ra phần nào qua các hồng ân của Ngài. – Thật ra, đối với những linh hồn qúa quyến luyến các sự thế gian, những vui thú của giác quan, thì tình yêu của Thiên Chúa có khía cạnh yếu của nó. Ngài luôn tỏ tình thương yêu tôi, ban cho tôi nhiều hồng ân, đến thăm viếng tôi và ban cho tôi những an ủi thiêng liêng, nhưng Ngài không cho tôi thấy hết những sự tuyệt hảo thần linh của Ngài. Nếu Ngài tỏ cho tôi thấy những vẻ tuyệt hảo đó, Ngài sẽ chinh phục trọn vẹn trái tim tôi trong nháy mắt, vì Ngài vô cùng tốt lành và vô cùng đáng mến. Nhưng Ngài không muốn thế. Ngài muốn để cho tôi tự do đáp lại tình thương của Ngài, tự do và tự nguyện dâng ý chí và trái tim của tôi cho Ngài. Bởi vậy Ngài muốn để các linh hồn bước đi trong bóng tối của đức tin.

Tuy nhiên nếu tôi có đức tin mạnh mẽ và sống động, tôi có thể nhận thấy hình ảnh Ngài, cảm thấy hương thơm của Ngài nơi vạn vật. Tất cả mọi vẻ xinh đẹp trong thiên nhiên chẳng phải là một phản ảnh vẻ đẹp siêu phàm của Ngài đó sao ? Lòng nhân hậu của một trái tim con người nào đó chẳng gợi cho tôi thấy sự nhân hậu và tốt lành vô cùng của Ngài sao ? Tình thương của những bà mẹ âu yếm, của những người cha hy sinh vì con cái dấu yêu, lại không là hình ảnh gợi lên phần nào tình thương vô cùng của Thiên Chúa sao ? Thiên Chúa là tình yêu, là tình yêu tuyệt đối. Ngài là “Thiên Chúa ẩn mình”, nhưng cũng như mặt trời ẩn mình sau làn mây vẫn tỏa ra muôn vàn tia sáng và làm ánh lên vẻ đẹp của vạn vật trong vũ trụ, Thiên Chúa vẫn tỏ mình ra, vẫn tỏ bày những vẻ tuyệt hảo của Ngài nơi vạn vật. Mỗi vật thọ tạo đều nói lên Danh Thánh của Ngài và tỏ bày sự tốt lành của Ngài. Đúng như lời Thánh Vịnh : “Trời xanh tường thuật vinh quang của Chúa” (Tv 18,2).

Hơn nữa, dần dần và theo mức chúng ta từ bỏ mình để tận hiến cho Ngài, thì tấm màn ngăn cách Ngài với chúng ta trở nên mỏng hơn, thoáng hơn. Đôi khi, qua những hồng ân thần bí, có vẻ như Ngài vén một  góc tấm màn che này lên. Phần nào, Ngài cho linh hồn cảm thấy sự hiện diện của Ngài. “Thầy đang ở đó và Ngài gọi em” (Ga 11,28). Ngài cho ta nghe thấy tiếng nói của Ngài ở đáy tâm hồn ta. Ngài cho ta cảm nghiệm thấy những vẻ tuyệt hảo thần linh của Ngài qua một thứ ánh sáng thiên bẩm, đưa ta vào một tình yêu thụ động của sự chiêm niệm.

Ôi, lạy Chúa, những sự tuyệt hảo của Chúa vượt qúa xa mọi sự hiểu biết của chúng con. Tình thương của Chúa không trí nào hiểu được, không lưỡi nào nói được, tình thương đó vượt qúa xa mọi tình yêu của loài người chúng con. Và Chúa có lý để nói rằng : “Còn gì ta phải làm cho vườn nho của Ta mà Ta đã chẳng làm ?” (Is 5,4). Lạy Chúa Giêsu, Chúa đã làm tất cả rồi, Chúa đã làm qúa nhiều vì yêu thương con. “Ngài đã qúa yêu thương tôi”.

Ôi ! Tình thương cao vời của Chúa ! Không bao giờ tôi hiểu được tình thương vô cùng của Ngài. Vậy là tôi đã được Thiên Chúa tạo thành vì Ngài, để yêu mến Ngài. Tôi là một linh hồn bé mọn, được Chúa yêu thương tác thành để mến yêu Ngài, để trở thành hiền thê thần linh của Ngài, sống kết hiệp thân mật với Ngài trong tình yêu ở đời này, và được kết hiệp trọn vẹn với Ngài trong vinh phúc sau này trên thiên đàng.

Đó là cùng đích cao qúi Chúa dành cho tôi, đáng cho tôi say mê, và khiến tôi hết lòng mến yêu Ngài. Vậy tôi phải năng suy gẫm về điều này để xác tín về định mệnh cao qúi của mình. Nếu tôi hiểu được phần nào sự thật này, tôi sẽ không còn khó khăn hy sinh mọi sự vì yêu mến Chúa. Hy sinh những thú vui thế gian, những chuyện tầm phào của người đời yêu mến Thiên Chúa vô cùng tốt lành, sẽ là điều đương nhiên phải làm. Và tôi sẽ cảm thấy rất vui sướng, vì bỏ được những quyến luyến vô nghĩa đó, để trọn niềm mến yêu Chúa và được Ngài yêu thương.

Lạy Chúa, xin ban cho con một chút ánh sáng và ân sủng của Ngài, để con hiểu rõ hơn tất cả những gì Chúa đã làm vì thương yêu con, và để con mau mắn đáp lại tình thương bao la đó của Ngài. Khi đó con sẽ thấy tất cả mọi hy sinh và đau khổ đều êm dịu và ngọt ngào, vì đó là những phương tiện để con kết hiệp thân mật hơn với Ngài.

II.  TÔI CŨNG CÓ MỘT LÒNG MẾN YÊU SÂU XA VÀ BẨM SINH ĐỐI VỚI THIÊN CHÚA.

–   CẦN PHẢI KHÁM PHÁ RA LÒNG YÊU MẾN NÀY.

–   NHỮNG BÀI HỌC VỀ TÍN THÁC.

Tôi cũng có một lòng mến yêu sâu xa và bẩm sinh đối với Thiên Chúa. – Đáng buồn thay ! Tôi phải thú nhận rằng :  đối với bấy nhiêu bước đi trước của Chúa để chiếm lấy tình yêu của tôi, tôi đã chỉ đáp lại bằng một sự thờ ơ kỳ lạ và một sự vô ơn khó hiểu. Tất cả cuộc đời trước đây của tôi là một bằng chứng qúa rõ.

Tại sao thế ? Có phải Thiên Chúa đòi hỏi tôi một điều bất khả chăng ? Có phải yêu mến Chúa là điều trái với bản tính tự nhiên của con người chăng ? Tại sao Ngài là Đấng Chí Tôn Chí Thánh mà lại đi tìm tình mến yêu của một loài thọ tạo bé mọn và hèn hạ như tôi ? Có phải yêu mến Ngài là điều con người tự nhiên chối bỏ ?

Không, không phải thế đâu. Trái lại Thiên Chúa chỉ yêu cầu tôi buông lỏng cương cho lòng mến mà Ngài đã đặt sẵn trong đáy lòng mọi người, một lòng mến bẩm sinh mà Ngài đã chăm lo và vun trồng với bao nhiên ân sủng của Ngài. Để thực hiện những kế hoạch của lòng nhân hậu và yêu thương của Ngài, Ngài đã đặt một tình yêu siêu nghiệm và mãnh liệt, một tình yêu sâu thẳm trong trái tim tôi, ngay từ trong lòng mẹ, để tình yêu bẩm sinh đó nhảy lên vì mừng vui khi thấy Ngài đến với nó. Đúng thế, Thiên Chúa là Thiện tuyệt đối và là tình yêu, Ngài đã sáng tạo trái tim ta có bản tính mến yêu Chân, Thiện, Mỹ, khát khao mến yêu Đấng tốt lành vô cùng, nhân hậu vô cùng, tốt đẹp vô cùng. Kẻ tội lỗi độc ác nhất vẫn không thể không yêu mến Thiên Chúa tốt lành và nhân hậu. Cho nên khi kẻ tội lỗi bị án phạt đời đời, nó sẽ muôn đời oán ghét Đấng mà tự nhiên nó thấy đáng mến yêu vô cùng : hình phạt ghê sợ nhất của nó, là phải oán ghét và lìa xa Đấng mà trái tim nó không thể không mến yêu. Đúng như Augustinô, người tội lỗi hối cải đã nói: “Ngài đã tạo thành chúng con cho Ngài, và lòng các con sẽ không an vui cho tới khi nó nghỉ an trong Ngài”.

Linh hồn ta đói và khát Thiên Chúa. Linh hồn ta tự nó thèm muốn Thiên Chúa. Trí tuệ ta là sự ước muốn hữu thể, thèm muốn hữu thể, thèm muốn Thiên Chúa là nguồn mạch của hữu thể : Ngài là Hữu thể vô cùng. Ý muốn của ta thèm muốn sự thiện, thèm muốn Thiên Chúa, vì Ngài là sự thiên vô cùng. Chính sự đói khát thiện mỹ này, đói khát vô thức của ta về Thiên Chúa, một sự đói khát tàng ẩn và ta không nhận ra, chính sự đói khát Thiên Chúa khiến ta tìm kiếm hạnh phúc khắp nơi, nơi những vật thọ tạo, những hình ảnh quá thô kệch của Thiên Chúa. Chính sự đói khát thầm kín này là động lực mọi hành động của ta ở trần gian này.

Tất nhiên chúng ta thường không ý thức về sự mến yêu siêu việt và căn bản này. Tất cả chúng ta yêu mến Thiên Chúa, sự Thiện tối cao của mọi tâm hồn, nhưng rất nhiều khi người ta không ý thức gì hết. Chúng ta ham muốn hạnh phúc, và đam mê nung đốt lòng chúng ta trong cuộc đi tìm hạnh phúc mà chúng ta không nhận ra đó. Chúng ta luôn luôn mắc sai lầm. Chúng ta tưởng gặp được đối tượng của những ước vọng của mình nơi trăm ngàn vật  thọ tạo : tất cả chúng đều có vẻ mang lại hạnh phúc cho ta. Nhưng rồi lần lượt chúng đã làm chúng ta thất vọng, bởi vì chúng chỉ là những hình ảnh rất bất toàn của Chân Thiện Mỹ. Bị say mê vì chút ánh hào quang của Thiên Chúa được phản ánh nơi các vật thọ tạo đó, chúng ta đã dại dột trao gửi lòng mến yêu cho chúng, trong khi thật sự chúng chỉ là những sứ giả, những tiếng gọi nhắc nhở ta hướng lòng lên Đấng yêu thương ta vô cùng, đang chờ đợi chúng ta.

Đáng buồn thay ! Thiên Chúa có một địch thủ nguy hiểm : ngay từ khi ta có trí khôn, nó đã tìm cách chiếm lấy lòng mến yêu của ta. Đó là cái tôi, cái tôi kiêu căng, dơ bẩn, ích kỷ, luôn tìm cách chiếm đoạt mến yêu của ta thay vì dành chỗ cho lòng yêu mến Chúa. Đó là tính tự ái của ta. Những năm tháng của tuổi thơ ấu và của tuổi thiếu niên là thời gian diễn ra những chiến thắng và những thành công của tính tự ái xấu xa. Nó có vẻ đã tiếp tục lớn lên với năm tháng cho tới khi linh hồn bắt đầu biết chăm lo đời sống nội tâm. Cái tôi xấu xa này đã thành công trong việc lừa dối ta để chiếm lấy tất cả lòng yêu mến của ta. Dần dần nó đã trở thành chúa của ta, trung tâm mọi hoạt động của ta.

Một khám phá lớn : sự đam mê yêu mến này. – Tất cả cuộc sống nội tâm của ta là đạt tới việc nhận ra chân lý kép này : Thiên Chúa yêu thương linh hồn tôi, và linh hồn tôi được tạo thành để yêu mến Thiên Chúa. Phải khám phá sự ham mê thánh thiện này, một sự đam mê đang nung đốt tôi một cách bí ẩn. Phải nhờ kinh nghiệm để tập nhận ra Đấng yêu dấu của tôi. Nhờ những ân sủng, những an ủi và những thử thách, tôi phải tiến tới chỗ không những mến yêu Thiên Chúa một cách vô ý thức, vô tâm, những với đầy đủ ý thức của một tâm hồn đã nhận ra đối tượng lòng mến yêu của mình, và vì thấy Ngài vô cùng xinh đẹp và đáng mến, nên chỉ có một ước nguyện là tận hiến cho Ngài, và dầu có khó khăn cũng quyết tâm dứt đứt mọi xiềng xích của cái tôi, của lòng tự ái xấu xa.

Hãy nhìn vào quá khứ của mình, chúng ta sẽ thấy đó chính là đời sống tâm linh của mình từ trước đến nay, và đó cũng là chương trình của Chúa đối với mỗi người chúng ta. Có đúng là tuổi thơ ấu và tuổi thiếu niên của chúng ta đã bị nhiễm độc  bởi sự chiều chuộng cái tôi của mình không ? Thay vì dâng trái tim cho Chúa, tôi đã dâng tất cả tâm tình cho những sự vật quyến rũ nó. Tôi đã dành tất cả tâm tình cho cái tôi xấu xa : tôi đã tìm sở thích của mình trong mọi sự, cả trong những sự thánh thiện, trong việc tập tành các nhân đức. Tôi đã trải qua bao năm tháng để yêu cái tôi, để yêu mình, coi mình như trung tâm của vũ trụ, tưởng như mọi sự vật xung quanh tôi là để phục vụ tôi, để tôi được thỏa thích, được vui hưởng, được vinh dự : có phải thế không ?

Cho tới một hôm, ân sủng của Chúa đã thổi vào linh hồn tôi, và tôi đã thoáng nhìn thấy rằng, tuy là có nhân đức, nhưng linh hồn tôi còn đầy tự ái, còn quá yêu mình cách âm thầm. Khi đó tôi đã tỉnh ngộ, đã bắt đầu quay về với Chúa với một lòng mến yêu vô vị lợi hơn. Từ đó Chúa đã dành tất cả hoạt động của Ngài để làm cho tôi cảm thấy tình yêu thương nồng nàn của Ngài đối với tôi, và Ngài ước ao một tình yêu kết hiệp giữa Ngài và tôi. Ngài đã ban cho tôi rất nhiều ân sủng để đạt được mục tiêu, là làm cho tôi hiểu thấm thía rằng Ngài yêu thương tôi, Ngài mong ước thấy tôi yêu mến Ngài, Ngài ao ước kết hiệp với tôi, Ngài mong ước tôi nên thánh. Đồng thời Ngài dùng những thử thách, những lúc chán nản cũng như những an ủi thiêng liêng để giúp tôi cảm thấy rõ ràng tình yêu đó trong linh hồn tôi, giống như một dấu ấn tình thương của Ngài. Ngài đã cho tôi, cho trái tim tôi nhảy mừng cách sung sướng vì cảm thấy sự hiện diện vô cùng đáng mến của Ngài, nhưng rồi thường khi Ngài cũng đã làm cho tôi cảm thấy lo âu đau đớn vì thiếu vắng Ngài. Hành động rất đa dạng đó của Ngài đã nhắm một mục đích là giúp tôi có kinh nghiệm sống, như sờ thấy Ngài là sự Thiện vô cùng, sự Thiện duy nhất mà tâm hồn tôi thật sự khát khao. Dần dần tôi đã hiểu rằng mọi sự tốt lành của thế giới này đều giả trá, không thể thỏa mãn tâm hồn tôi. Trái tim tôi khao khát những gì tốt lành hơn, cao cả hơn “Tôi được sinh ra cho những gì cao trọng hơn”. Và Thiên Chúa sau cùng đã tỏ ra là kho báu của tôi, là tất cả cho tôi. “Ngài là Thiên Chúa của tôi và là mọi sự cho tôi”.

Trong khi Ngài làm cho tôi say mê Ngài, Ngài cũng giúp tôi tự  chán ghét mình. Ngài cho tôi nhận ra sự độc ác và xấu xa của cái tôi, kẻ đã làm tôi say mê yêu mến và cung phụng nó : nó đã lừa dối tôi bằng những thứ bùa dối trá được tôi ưa thích chỉ vì là của tôi. Vậy mà tôi đã hầu như luôn luôn “tôn thờ” nó. Hiện nay nó vẫn còn tìm cách tách rời tôi khỏi Thiên Chúa. Bởi vậy sự luân phiên giữa những lúc được an ủi và những khi bị mất an ủi là phương thế rất hữu hiệu Chúa dùng để dẫn đưa tôi đến với tình thương kết hiệp của Ngài. Ở mỗi bước của cuộc sống thiêng liêng của tôi, Ngài tỏ cho tôi thấy sự đối nghịch lớn lao giữa vẻ đẹp siêu phàm của Ngài và sự xấu xí ghê sợ của cái tôi. Ngài cho tôi nếm sự ngọt ngào của những vẻ tuyệt hảo thần linh của Ngài, đồng thời cũng để tôi nếm sự cay đắng của những tuyệt hảo giả tạo của cái tôi, để tôi có thể sáng suốt lựa chọn giữa hai tình địch đang tranh dành trái tim tôi.

Rồi một ngày sẽ đến, nếu nó chưa đến, đó là lúc Chúa đề nghị và thực hiện sự trao đổi tốt lành. Chúa sẽ nói với tôi : “Con hãy bỏ đi cái tôi của con, hãy bỏ đi những sự rách rưởi và những ghẻ lở của cái tôi ghê tởm của con. Hãy coi nó như kẻ xa lạ và như thù địch của con ! Thay vào đó, Cha tặng cho con những vẻ tuyệt hảo vô cùng tốt đẹp của Cha. Đó là của con, đó là như cái tôi mới của con. Con hãy yêu mến những sự tuyệt hảo này như của riêng con. Con hãy đặt hạnh phúc và vinh hiển của con nơi những sự tuyệt hảo này. “Tất cả những gì của Cha là của con”.

Hãy can đảm lên, hỡi linh hồn tôi ! Hãy nhảy mừng trong Chúa ! Tôi đã tìm thấy viên ngọc quý đáng giá bằng tất cả mọi kho báu. Viên ngọc quý này chính là sự hiểu biết rằng linh hồn tôi giống như một đứa  bé mồ côi, rách rưởi và xấu xí, nhưng tôi có một định mệnh vương giả : tôi đã khám phá ra rằng Vua cả trời đất yêu thương tôi với một tình yêu khôn tả, và Ngài muốn tôi yêu mến Ngài để đáp lại tình thương của Ngài. Tôi đã hiểu rằng hai chúng tôi đã được dành cho nhau : Thiên Chúa vô cùng xinh đẹp và đáng mến đã thương yêu tôi là vật thọ tạo hèn hạ và xấu xí của Ngài một cách kỳ diệu, và để chiếm được trái tim tôi, Ngài đã đặt trong trái tim tôi một tình yêu, một lòng mến tự nhiên hướng về Ngài, một đam mê căn bản và thầm kín mà trước đây tôi không nhận ra. Nay tôi thấy rõ Ngài yêu thương tôi và tuy không ý thức, tôi cũng yêu mến Ngài. Tôi biết hiện nay Ngài nỗ lực không ngừng, tìm mọi cách để giải thoát tôi khỏi xiềng xích đã trói buộc tôi với người tình cũ của tôi là cái tôi của tôi, là tính tự ái của tôi. Để làm việc này, Ngài vận dụng tất cả sự nồng nàn của tình thương của Ngài và quyền năng của các ân sủng của Ngài.

Hỡi linh hồn tôi, hãy mở ra đón nhận niềm vui và tình thương của Chúa, như bông hoa buổi sáng mở ra đón ánh dương của mùa xuân. Nay cuộc sống của mi đã xuất hiện dưới ánh sáng đích thực của nó : cuộc sống đó tốt đẹp, huy hoàng, tràn đầy hào quang của Chúa. Cuộc sống đang mỉm cười với mi. Số phận của mi là số phận tốt đẹp nhất mà một vật thọ tạo có quyền mơ ước : mi được dành cho Thiên Chúa, dành riêng cho Ngài, được ghi dấu ấn của Ngài. Mi là vị hôn thê diễm phúc được Vua các vua sủng ái. Mi hãy dâng hiến trái tim của mi cho Ngài, dâng trọn vẹn. Từ nay mi không còn phải làm gì nữa ở đời này. Mi hãy yêu mến hết lòng, yêu mến say mê Đấng mà mi đã yêu mến cách tự nhiên, Đấng vô cùng đáng mến, bên cạnh Ngài mọi sự khác đều là xấu xí, bởi vì một phản ảnh nhỏ mọn của Ngài nơi vạn vật cũng đã nhiều lần làm say mê trái tim mi. Đúng thế, bây giờ chỉ còn một việc, “Hãy yêu mến rồi làm gì tùy ý”.

Ôi tất cả những điều đó ngọt ngào và dễ dàng dường nào ! Miễn là tôi phải đi theo xu hướng của lòng mình là yêu mến Thiên Chúa, và miễn là tôi hết lòng tìm kiếm Ngài mọi nơi, thì tôi sẽ không gặp rủi ro bao giờ. Thiên Chúa hãy là kho báu tôi tìm kiếm, cuộc sống của tôi hãy là sự đói khát thánh nhan Ngài, luôn mê man tìm kiếm Ngài, luôn khát khao Ngài, thì Chúa sẽ hài lòng về tôi và Ngài sẽ đổ chan chứa ân sủng lớn lao và kỳ diệu xuống trên tôi, dẫn tôi tới chỗ kết hiệp hoàn toàn với Ngài. “Tất cả mọi sự đều sinh ích lợi cho kẻ yêu mến Chúa”. Tôi có thể còn nhiều sự khốn nạn, còn nhiều chuyện nhu nhược nho nhỏ, nhiều điều vô tâm và nhiều yếu đuối và những đêm tối và những lúc mất an ủi sẽ làm lộ ra những ung nhọt ghê sợ của linh hồn tôi, nhưng có sao đâu ? Tình thương đầy khoan dung của Chúa Giêsu nhân từ sẽ bỏ qua tất cả. Hơn thế nữa, Ngài sẽ sử dụng những sự yếu đuối đó của tôi cách linh diệu để giúp tôi gia tăng sự chê ghét mình, chê ghét cái tôi khốn nạn của tôi để gia tăng lòng mến yêu Ngài.

Bài học tín thác. – Hiểu thấu những chân lý lớn lao này, nghĩa là với ơn Chúa, với những ân sủng thần bí, hiểu các chân lý đó bằng kinh nghiệm sống, hiểu đó là kết quả của tất cả đời sống thiêng liêng của mình và cũng là thành quả của hành động không ngừng của Thiên Chúa. Hiểu được như thế, chúng ta sẽ yêu mến Thiên Chúa và yêu mến vô cùng, vì từ nay ta thấy Ngài là đối tượng duy nhất mà trái tim ta có thể mến yêu.

Nhưng đồng thời chúng ta cũng hiểu được rằng : hiểu được như thế là chúng ta đã gia tăng gấp mười lần lòng tin tưởng tín thác của ta, một niềm tín thác vui tươi và vững vàng nơi tình thương của Chúa. Chúng ta đã đặt niềm tín thác trên những nền tảng tốt nhất và vững nhất : chúng ta tin chắc rằng, dưới sức tác động của ân sủng, có ngày chúng ta sẽ đạt tới sự thánh thiện đích thực.

Thiên Chúa muốn tôi kết hiệp với Ngài. Vua trời đất ước ao kết hiệp với kẻ khốn khổ bần cùng là tôi. Ngài muốn làm cho tôi bằng tình yêu ngay ở đời này, yêu mến Ngài, và Ngài muốn tôi nếm thử những sự ngọt ngào của sự kết hiệp thần bí, của sự thánh thiện. Sự ước ao mênh mông này của Thiên Chúa cũng hiện diện nơi đáy lòng tất cả các vật thọ tạo xung quanh tôi. Chúng luôn kêu lên để nhắc nhở tôi điều ấy. Toàn thể vũ trụ, từ những cỏ cây trên đường cho đến muôn vạn mặt trời trên không gian đều nói với tôi về tình thương của Thiên Chúa, và nhắc nhở tôi yêu mến Ngài. Tôi nghe như có tiếng Đấng tôi yêu mến phát ra từ muôn loài muôn vật : “Con hãy dâng trái tim con cho Cha. Cha muốn lòng yêu mến của con, Cha muốn kết hiệp với con và làm cho con nên thánh”.

Và mạnh hơn tiếng nói của muôn vật, tôi nghe thấy tiếng nói của Thiên Chúa tình yêu, Ngài đã nhập thể và sống trên trần gian này, để tỏ cho tôi thấy tình thương thần linh của Ngài. Tôi nghe tiếng nói của Đấng chịu đóng đinh trên thập giá, Ngài rao giảng cho tôi nghe về tình thương vô cùng của Thiên Chúa. Ngài nói : “Con hãy xem Cha đã yêu thương đến cùng, yêu con hết mức, để chiếm được lòng mến yêu của con và để làm cho con nên thánh. Tôi nghe tiếng nói của tấm bánh Thánh Thể, nơi mà Tình Yêu muôn đời trở thành tù nhân của tình yêu : Ngài luôn đòi hỏi tôi đáp lại tình thương khôn tả đó bằng tất cả lòng yêu mến của tôi. Sau cùng, tôi nghe tiếng nói rõ ràng của Thánh Tâm Chúa Giêsu, trái tim đã bị thương tích vì sự hờ hững của chúng ta. Thánh Tâm Chúa đang nói với tôi như đã nói với thánh nữ Margarita Maria : “Trái Tim Cha thương yêu loài người và đặc biệt thương yêu con quá sức, không chịu nổi nữa những ngọn lửa đức ái thần linh nung nấu, nên phải tràn ra qua con đây”.

Sau những bày tỏ tình thương như thế, và sau những lời đoan chắc của Thánh Tâm Chúa như thế, tôi vẫn không trọn vẹn tín thác nơi tình thương vô cùng của Chúa sao ? Tôi vẫn hoài nghi sự khôn ngoan đầy yêu thương của Ngài sao ? Tôi vẫn không trọn vẹn tin tưởng vào ân sủng thánh hóa của Ngài sao ? Tôi vẫn chỉ tín thác nơi sự trung tín của Ngài một cách dè dặt, vì tôi vẫn thấy mình yếu đuối, vẫn sa đi ngã lại trong những điều bất toàn của mình, có phải thế không ?

Ôi ! Điều thật sự tôi vẫn thiếu, căn nguyên của sự thiếu tin tưởng và thiếu can đảm, đó là vì tôi chưa bao giờ suy nghĩ sâu xa về những chân lý lớn lao và đầy an ủi kia, hoặc là tôi có suy gẫm chút ít, thì chưa suy nghĩ nhiều để các chân lý đó trở thành quen thuộc đối với tôi. Điều cần thiết là tất cả cuộc sống tôi phải dần dần thấm nhuần những tư tưởng đó. Nhờ suy gẫm đi suy gẫm lại trong khi cầu nguyện, và phải năng nhớ đến những tư tưởng đó trong sinh hoạt hằng ngày, tôi phải tiến tới chỗ luôn thấy mình được Chúa yêu thương và bao bọc, và thấy rằng Ngài làm mọi sự vì muốn kết hiệp với tôi và làm cho tôi nên thánh. Trong mọi niềm vui và trong mọi nỗi khổ, trong những lúc được an ủi cũng như trong những khi mất an ủi, tôi luôn luôn phải tin vào chân lý này và ý thức rằng tất cả mọi sự đều được Chúa dùng làm phương tiện để làm cho tôi nên thánh. Tất cả mọi sự xảy đến cho tôi đều chỉ là những phương tiện Chúa dùng, những phương tiện có thể nay tôi chưa hiểu, nhưng đúng là được Chúa dùng để thanh tẩy tôi, chuẩn bị cho tôi tiến tới sự kết hiệp với Ngài. Khi nào tôi biết nhìn tất cả thế giới này như một sân khấu mênh mông, nơi diễn ra màn kịch tình yêu giữa tôi và Thiên Chúa và màn kịch đó là cuộc sống của tôi, thì khi đó tôi sẽ thấy mọi sự đều được xắp xếp bởi bàn tay Đấng yêu thương tôi, và khi đó tôi sẽ có đức Ái chân thật, lòng mến yêu chân thật và niềm tín thác trọn vẹn. Không gì sẽ có thể ngăn cản tôi đạt được lý tưởng mơ ước.

Nhưng về phương diện đức tín thác, rất cần phải chú ý rằng trong vở kịch lớn lao này của cuộc đời chúng ta, kết thúc bằng sự Chúa chiếm trọn linh hồn ta và ta được kết hiệp trọn vẹn với Ngài, thường có hai hồi lớn. Trong hồi thứ nhất, Thiên Chúa theo đuổi linh hồn và tìm mọi cách để tỏ cho linh hồn thấy tình thương bao la của Ngài. Ngài tìm cách cắt đứt mọi quyến luyến giữa linh hồn và các vật thọ tạo, đồng thời tỏ mình ra như kho báu đầy những vẻ quyến rũ. Rồi một khi linh hồn đã bắt đầu say mê Đấng vô cùng tốt lành, thì hồi thứ hai bắt đầu. Và bây giờ đến lượt linh hồn chạy theo Thiên Chúa. Nhưng để làm cho linh hồn bị thương bằng những mũi tên lửa tình yêu của Ngài, Đấng mến yêu lại có vẻ như chạy trốn nó. Đúng như thánh Augustinô nói: “Lạy Chúa, Ngài đi tìm những kẻ chạy trốn Ngài, và Ngài trốn những kẻ đi tìm Ngài”.

Bởi vậy nhiều khi chúng ta chẳng hiểu gì việc Chúa làm. Những con đường của Thiên Chúa vượt xa những con đường của ta vô cùng. Có thể Ngài để tôi còn lâu trong cảnh âu sầu, chán ngán đối với các việc đạo đức. Ngài để tôi mất cả khả năng cầu nguyện. Tôi trở thành không còn khả năng hoạt động thiêng liêng nữa, nhưng đó lại là hiệu quả của hành động yêu thương của Ngài đối với linh hồn tôi, đưa nó tới chỗ kết hiệp với Ngài. Có thể Ngài sẽ lấy mất cha linh hướng mến yêu và quý giá của tôi, giữa lúc tôi đang rất cần đến ngài. Có thể Ngài sẽ lấy đi tất cả các vị hướng dẫn của tôi trên con đường nên thánh, vì Ngài muốn là vị hướng dẫn độc nhất của tôi, dầu tôi không thấy Ngài. Và Ngài còn có thể để cho tôi cảm thấy mình hoàn toàn bị bỏ rơi cô độc. Tôi có cảm tưởng như một mình lo lấy việc nên thánh của mình, vì tôi đã bị Ngài bỏ rơi do những sự khốn nạn và những điều hèn nhát của tôi. Tôi đưa hai tay lên, van nài Ngài, tôi âu sầu nói lên lòng mến của tôi đối với Ngài, nhưng Ngài làm thinh không nói một lời và có vẻ muốn lánh mặt tôi. Tôi sẽ nếm thử tất cả những buồn phiền cay đắng của một mối tình thiếu hạnh phúc, một tình yêu không được Đấng mình mến yêu đáp lại. Và có thể tôi sẽ thấy mình là kẻ bất hạnh nhất loài người.

Khi Thiên Chúa cư xử như thế với tôi[3] và lạ lùng thay ! Khi Ngài để cho tôi nếm những sự cay đắng của mối tình đau khổ bằng cách để cho tôi có cảm tưởng Ngài không còn yêu thương tôi nữa, thì đó chính là lúc tôi phải nhớ rằng Ngài vô cùng yêu thương tôi hơn là tôi yêu mến Ngài.

Chính đó là lúc tôi phải nhớ rằng Thiên Chúa luôn tìm đủ mọi cách để chiếm lấy trái tim tôi và Ngài có những đường lối để thiêu đốt lòng mến của tôi mà tôi không hiểu được. Đó chính là lúc tôi phải tin tưởng và hết lòng trông cậy vào Ngài, tin vào tình thương trung tín của Ngài, dầu với tâm tình chán nản, tin rằng Ngài vẫn thương tôi thắm thiết, như những giờ Ngài cho tôi cảm thấy sự ngọt ngào của sự hiện diện của Ngài. Sau cùng, đó là lúc tôi phải nhớ những lời đoan kết trung thành của Ngài, rằng Ngài sẽ yêu thương tôi mãi mãi, mặc dầu những sự khốn nạn và những yếu đuối của tôi, và sẽ dẫn đưa tôi tới sự thánh thiện.

Đây là giờ phút của tín thác, giờ phút để tôi ôm chặt lấy Chúa, ở yên trên lòng Ngài. Những hiểm nguy làm tôi hoảng sợ, vực sâu khiến tôi chóng mặt, nhưng tôi sẽ làm như  các trẻ nhỏ : tôi sẽ nhắm mắt để không nhìn thấy gì nữa và tôi sẽ ghì chặt lấy vòng tay của Chúa. Ôi, nếu tôi nhắm mắt dựa đầu vào lòng Chúa vô cùng yêu thương tôi hơn tất cả mọi tình yêu của các người mẹ dành cho con mình, thì sẽ không có gì có thể làm hại tôi, không gì có thể quấy phá sự bình an ngọt ngào của linh hồn tôi, và khiến tôi đánh mất niềm tín thác trọn vẹn nơi Chúa.

Paul De Jaegher S.J. 

[1] Nên đọc cuốn sách rất sâu xa và rất gợi hứng của Hồng y Newman, The friendship of Christ (Tình bạn của Chúa Kitô)

[2] Xem “Le Récit du Pèlerin” (Truyện người hành hương) bản dịch Pháp ngữ của E.Thibaut, S.J., Louvain, M.L.

[3] Thánh Alphongsô Rodriguez đã mô tả rất rõ cách hành xử của Thiên Chúa trong tác phẩm của Ngài : “L’union et la transformation de l’âme en Dieu. – Sự kết hiệp và biến đổi của linh hồn trong Thiên Chúa”.

Niềm Tín Thác – Chương XX: TÍN THÁC TRONG SỰ BẤT LỰC CỦA TA

I.  MÙA XUÂN VÀ MÙA HẠ CỦA ĐỜI SỐNG THIÊNG LIÊNG.

–   NÊN THÁNH LÀ MỘT CÔNG TRÌNH LÂU DÀI.

–   ĐỪNG NGẠC NHIÊN VỀ SỰ BẤT LỰC CỦA MÌNH.

–   CŨNG ĐỪNG NẢN CHÍ.

–   HÃY LUÔN GIỮ VỮNG NIỀM ƯỚC AO NÊN THÁNH: ĐÓ LÀ DẤU CHỈ CỦA TIẾN BỘ.

Mùa xuân và mùa hạ của đời sống thiêng liêng. – Nên thánh là một công trình lâu dài. – Đừng ngạc nhiên về sự bất lực của mình. – Những bước đầu của đời sống thiêng liêng của ta thường có vẻ một mùa xuân vui tươi. Mặt trời thần linh tỏa xuống linh hồn ta những tia nắng tươi sáng và ấm áp. Ân sủng Chúa thổi nhẹ nhàng trên ta làm nở rộ những bông hoa nhân đức. Ta thấy mọi sự đều tốt lành. Và chúng ta đầy nghị lực. Chúng ta tưởng như sẽ nên thánh sau một thời gian ngắn, nên thánh mau lẹ hơn những người xung quanh ta : ta không thấy rõ lắm sự thánh thiện của họ.

Những an ủi thiêng liêng có vẻ đang biến đổi tâm hồn ta. Ơn Chúa làm cho ta thấy vui sướng trong những sự hãm mình mà trước kia chúng ta rất sợ. Rồi những khi có dịp, chúng ta đã thực thi được những hành vi của đức khiêm nhường âm thầm và quảng đại : chúng ta đã có thể cảm thấy vui khi bị khinh chê.

Nhất là linh hồn ta tự cảm thấy như được bao bọc bởi không khí siêu nhiên. Ta có cảm tưởng như đã bỏ được mọi quyến luyến với những sự thế gian, vì ta đã nhận ra tính chất hư ảo của chúng. Ta cảm thấy hạnh phúc được ở lâu dưới chân Chúa Giêsu Thánh Thể, hoặc chuyện vãn với Chúa trong đáy lòng mình. Vâng, đó là mùa xuân, là thời gian của an vui, của những hoạt động hăng hái, của thời kỳ nở hoa của các nhân đức.

Dần dần Thiên Chúa gỡ linh hồn ra khỏi những quyến luyến của các vật thọ tạo. So với những niềm an ủi thiêng liêng Chúa ban, linh hồn thấy các sự vui sướng thế gian rất kém cỏi và giả dối. Nhưng khi Thiên Chúa đã đạt được thành qủa này rồi, Ngài liền toan tính một công việc khó khăn hơn, vì sâu xa hơn. Công việc phải thực hiện bây giờ là dứt bỏ chính bản thân ta. Trong những niềm vui thần linh, linh hồn dễ có ảo tưởng về mình : nó tưởng nó mạnh mẽ lắm và đã lớn lên trong đường nhân đức. Nó tưởng nó có đôi cánh. Một sự tự mãn âm thầm, một thứ cao vọng nguy hiểm đang nhập vào nó. Cho nên Chúa thấy nó cần phải kíp nhận biết tất cả sự yếu đuối của nó. Nó phải hiểu rằng nó vẫn chỉ là một con gà con bé nhỏ, không bao giờ nên xa rời đôi cánh ấp ủ của mẹ nó.

Thiên Chúa sẽ cất đi những niềm an ủi, sẽ để cho nó cảm thấy thấm thía sự bất lực của nó. Mùa xuân tươi mát đã qua rồi. Thay vì khí xuân đầm ấm, nay ánh nắng mặt trời sẽ thiêu đốt nó, làm cho nó khô héo. Các bông hoa lần lượt rụng xuống. Linh hồn cảm thấy mình cô đơn, một mình chống chọi với thời tiết khắc nghiệt. Nó không còn cảm thấy vui mừng khi gặp những thánh giá, những dịp phải hạ mình. Nó chán ngán khi cầu nguyện. Không khí siêu nhiên không còn nữa, và bị thay thế bằng những cái nhìn vật chất. Nó không còn cảm thấy mến yêu Chúa Giêsu. Ôi linh hồn đáng thương hại ! Mi hoàn toàn mất định hướng, không biết đi về đâu… Sự thánh thiện mà hôm qua nó nghĩ là gần kề, nay xem ra xa vời. Những khiếm khuyết nho nhỏ, có thời đã lặn đâu, nay lại xuất hiện.

Những quyết tâm quyết chí của nó giống như những ánh lửa mau qua, vừa loé lên đã vội tắt ngúm. Linh hồn đã bao lần quyết chí, rồi lại bấy nhiêu lần lỗi phạm. Một bầu không khí chán nản dần dần xâm chiếm linh hồn. Và linh hồn tự hỏi : “Tôi cứ tưởng mình được kêu gọi nên thánh. Và tôi đã cảm thấy mình được nhiều ơn Chúa. Có lúc tôi đã cảm thấy sự thánh thiện không còn bao xa. Nhưng nay tôi phải tự hỏi : phải chăng tất cả đều là ảo tưởng ? Và nay có lẽ tôi phải tự nhủ : tôi đã lầm. Tôi không có khả năng nên trọn lành. Con người của tôi không có tầm thước để nên thánh…”.

Hỡi linh hồn đáng thương hại ! Hãy an tâm và tín thác. Đúng là Chúa đã gọi mi nên thánh. Sự thánh thiện là phần đã được dành cho mi. Nếu không, Chúa đã không gợi lên những niềm ao ước nồng nàn mà mi đã có. Nếu Thiên Chúa không kêu gọi và muốn mi nên thánh, Ngài đã không gợi lên bấy nhiêu tâm tình và quyết chí tốt lành của mi. Ngài không đưa tay ra dắt mi để rồi bỏ rơi mi đâu. Nếu Ngài không yêu thương mi cách đặc biệt, nếu Ngài không muốn mi nên thánh, Ngài đã không kêu gọi mi làm linh mục, làm tu sĩ. Ơn kêu gọi này là một ơn kêu gọi nên thánh. Ngài đã muốn dành ơn đó cho mi ngay từ khi mi bắt đầu bước vào đường nhân đức. Nay Ngài vẫn muốn cách rất tha thiết, và Ngài muốn hơn mi muốn ngàn vạn lần.

Không, những ước muốn và quyết chí nên thánh của mi không phải là ảo tưởng. Nếu có ảo tưởng thì đó là tư tưởng sai lầm của mi về sự nên thánh. Mi đã ảo tưởng khi nghĩ rằng thánh thiện là công việc của mấy ngày, mấy tháng, và đường trọn lành là con đường đầy an vui. Mi đã lầm khi nghĩ mình đã từ bỏ mình trong lúc được an ủi, đã khiêm nhường khi được người ta qúi mến, đã yêu mến đau khổ khi đau khổ mang lại những an ủi thiêng liêng. Nay mi mới thấy sự thật về mình. Đấy, sự thật mi là thế đấy.

Vậy mi đừng ngạc nhiên khi thấy mình yếu đuối, cứng đầu, ích kỷ, nhất là khi ân sủng của an ủi bỏ rơi mi : “Sự yếu đuối, mà yếu đuối thì có lạ gì đâu, cũng như sự khốn nạn mà khốn nạn và sự đau yếu mà đau yếu ! Chúng ta phải nhẫn nhục với chính bản thân mình, bởi vì chúng ta là những con người, chứ không phải là thiên thần ! Chúng ta sẽ chỉ được hoàn toàn chữa lành khi ở trên thiên đàng”.

Những sự yếu đuối đó, những khuyết điểm đó thường gây buồn phiền cho ta, nhưng đó lại chính là những cửa sổ rất đáng qúi, để ánh sáng và ân sủng Chúa chiếu vào tâm hồn ta, giúp ta nhận ra sự khốn nạn và bản chất hư vô của mình. Chúng giúp ta dần dần chữa lành cái tật tự đại dại dột của mình. Chúng sẽ dần dần hủy diệt sự cậy mình rất tự nhiên của ta, và dạy ta đặt tất cả tin tưởng nơi một mình Thiên Chúa.

“Phải xác tín và tin chắc rằng sự khốn nạn của ta là căn nguyên mọi sự yếu đuối của ta, và Thiên Chúa để ta như thế vì thương xót ta. Nếu không, chúng ta sẽ không bao giờ hết thầm cậy mình và tự kiêu tự đại. Chúng ta sẽ không bao giờ hiểu rằng mọi điều ác đều do ta, và mọi điều thiện đều do Thiên Chúa. Cần phải có cả triệu kinh nghiệm bản thân mới đạt được tập quán nghĩ như  thế. Và những nết xấu càng lớn và càng ăn rễ sâu trong tâm hồn ta, thì càng phải có nhiều kinh nghiệm hơn”[1].

Vậy không nên ngạc nhiên vì thấy mình đầy những sự khốn nạn và những khiếm khuyết, nhất là vào thời kỳ mất ơn an ủi, và mặc dầu chúng ta quyết tâm, chúng ta gia tăng việc suy gẫm, và mặc dầu những buổi tĩnh tâm của chúng ta. Đừng quên rằng mùa xuân của đời sống thiêng liêng đã qua rồi. Ơn an ủi vẫn sưởi ấm linh hồn trước kia, nay chỉ thỉnh thoảng mới thổi vào tâm hồn ta. Những bông hoa mang lại niềm vui xưa kia, nay đã rụng xuống, còn các trái thì khuất dưới lá và còn lâu mới chín. Có thể chúng ta chỉ thấy và được nếm chúng vào cuối mùa hạ, hoặc vào mùa thu của cuộc đời. Từ đây đến đó, chúng ta phải lao động, phải cuốc xới, phải tưới nước mà không được hưởng thụ gì hết. Nhất là chúng ta phải để cho Chúa là chủ vườn được tùy ý vun xới, cắt tỉa theo ý định tốt lành của Ngài, không bao giờ nghi ngờ hoặc muốn làm khác ý của Ngài.

Nhưng tình trạng này sẽ kéo dài bao lâu nữa? Chúng ta sẽ cứ còn phải thấy mình sa phạm vào trăm ngàn nết xấu và cứ cảm thấy mình bất lực như thế này sao ? Đời sống hiện nay của ta có giá trị lớn cho cuộc sống vĩnh cửu, vậy mà nó cứ diễn ra như thế này, không có cải thiện rõ ràng gì hết sao ? Năm tháng qua đi mau qúa, chồng chất lên nhau, mà tiến bộ thì không thấy rõ. – Hỡi các bạn, hãy tin tưởng và tín thác ! Cần nhất hãy tín thác ! Các bạn hãy sống quảng đại, hãy luôn cố gắng làm mọi sự cách tốt hết sức, rồi mọi sư  hãy tín thác nơi Chúa. Hãy cố gắng luôn sống theo ý Chúa, thực hiện mọi ước muốn của Ngài, và tin rằng Ngài luôn làm những sự gì tốt nhất cho các bạn. Chúng ta hãy triệt để tin vào tình thương của Ngài. Ta không cảm thấy mình tấn tới, bởi vì có lẽ tốt hơn cho ta nếu ta không cảm thấy gì hết, và chỉ mình Chúa Giêsu thấy thôi.

Xét cho cùng, các bạn đang lo buồn về một điều lẽ ra phải là nguồn an vui cho bạn. Các bạn lo buồn vì thấy rõ những sự khốn nạn của mình, hơn là thấy những tiến bộ. Đó chính là dấu hiệu của những tiến bộ lớn lao trên đường trọn lành. Bạn lo buồn vì những sự yếu đuối và những sự khốn nạn của mình: điều này chứng tỏ bạn đang tiến bộ, bởi vì những linh hồn không được Chúa gọi lên bậc trọn lành sẽ không bao giờ biết đến những lo buồn như thế.

Bạn nên biết rằng có những linh hồn có vẻ bằng lòng vì mình lắm. Xem ra họ trung thành vâng theo ý Chúa và ý của các Bề trên. Họ tưởng mình luôn sống theo ý Chúa trong mọi sự. Nhưng họ không nhận ra trăm ngàn hình thức của tính tự ái, thường làm dơ bẩn những hành động thánh thiện nhất của chúng ta. Họ không ý thức về những cái nhìn qúa vật chất, thường làm hoen ố ý ngay lành của họ. Bởi vậy họ hài lòng vì bản thân họ. Những linh hồn như thế sẽ không bao giờ được Chúa gọi lên cao trên đường trọn lành. Chúa biết họ sẽ không bao giờ đủ quảng đại để trải qua những giai đoạn mất an ủi, những đêm tối, những sóng gió mà các linh hồn phải trải qua để tới bến thánh thiện. Chúa biết nếu được gọi, họ sẽ bị đắm tàu. Cho nên Ngài chỉ để họ sống nho nhỏ với đời sống thiêng liêng bình thường, với những an ủi thông thường và những thử thách không mấy đáng sợ.

Như vậy điều làm bạn lo sợ và ưu phiền lại chính là dấu hiệu của những tiến bộ và là lý do để bạn an tâm. Về vấn đề này, xin bạn hãy nghe lời của một vị tôn sư trong đường thiêng liêng, ngài viết cho một người con thiêng liêng đang đau khổ vì những nghi nan ghê sợ : “Những tâm tình thấm thía của con về sự khốn khó và những tối tăm của con làm cha vui mừng, vì đối với cha, đó là dấu hiệu chắc chắn về sự ánh sáng của Chúa đã lớn lên trong con, mà con không biết, và đã xây dựng cho con một nền tảng rất vững vàng của đức khiêm nhường nội tâm. Sẽ đến lúc sự nhìn thấy những khốn nạn đang làm cho con ghê sợ hôm nay, sẽ mang lại cho con niềm vui tràn trề và sự bình an khoái trá. Bởi vì chỉ khi nào chúng ta xuống tới đáy của sự hư vô của mình, và đứng vững ở đó, chúng ta mới có thể bước đi trước mặt Chúa, trong sự công chính và trong sự thật”[2].

Đừng bao giờ nản chí. – Đừng bao giờ ngạc nhiên vì thấy mình sa ngã hoài, thấy mình bất lực, thấy tính tự ái sống dai dẳng, và thấy mình tiến bộ qúa chậm. Bởi vậy đừng bao giờ mất kiên nhẫn với bản thân mình và đừng bao giờ nản chí.

Luôn giữ được nhẫn nhục giữa những khó khăn của cuộc đời, giữa những người xô lấn ta và đụng chạm đến ta, là điều khó khăn lắm. Nhưng giữ được toàn vẹn sự nhẫn nhục đối với bản thân mình, với bản tính của mình là cái luôn ở trong mình để làm phiền và làm khổ mình, lại còn là chuyện khó khăn hơn nhiều và thường khi là anh hùng. Ôi ! Thật là họa hiếm và qúi giá khi có một linh hồn biết cầm mình, biết giữ được bình an, vẫn khiêm nhường và hiền lành chấp nhận những cau có, những xỉ nhục do kẻ thù lớn nhất và tai hại nhất của ta là cái tôi của chúng ta, với tất cả những xu hướng xấu của nó. Điều này đòi hỏi rất nhiều hiền lành và khiêm nhường, rất nhiều nhẫn nhục và can trường. Nhưng điều này cũng mang lại cho ta những tiến bộ lớn lao trên đường trọn lành.

Một hôm, Chúa Giêsu đã nói những lời đầy khích lệ như sau với một linh hồn tốt lành đã trách mắng nặng lời bản tính xấu xa của mình : “Bởi vì Cha rất nhẫn nại đối với con, cho nên con cũng phải nhẫn nại đối với bản thân mình”[3]. Tất cả các linh hồn quảng đại hãy áp dụng lời này cho mình, vì sẽ rất ích lợi cho họ.

Vậy không bao giờ nên mất nhẫn nại đối với bản thân mình. Nhất là không bao giờ được nản chí.

Một hôm, một chị tập sinh đến than thở với thánh nữ Têrêxa Hài đồng Giêsu vì không thấy mình tiến bộ. Và chị ấy tỏ vẻ ngã lòng. Thánh nữ liền trả lời chị : “Cho đến mười bốn tuổi, tôi đã tập nhân đức mà không cảm thấy gì là ngọt ngào. Tôi đã ước ao chịu đau khổ mà không nghĩ đến vui mừng. Ơn này đã chỉ được ban cho tôi sau đó thôi. Lúc đó linh hồn tôi giống như một cây mà bao nhiêu bông hoa đều nở ra là rụng hết. Chúng ta hãy dâng Chúa lễ hy sinh, là không bao giờ được hái trái, nghĩa là suốt đời cảm thấy ngại chịu đau khổ, ngại chịu xấu hổ, nhìn những bông hoa của ước nguyện chân thành và của thiện chí rụng xuống mà không kết qủa. Thế rồi, trong nháy mắt, vào giờ chết của ta, Chúa sẽ cho thấy tất cả những trái xinh đẹp đã chín trên cây linh hồn ta”[4].

Một linh hồn đầy thiện chí đã than thở với Chúa Giêsu vì những ước ao không thành và những nỗ lực không hiệu qủa của mình. Thầy chí thánh rất nhân hậu đã an ủi linh hồn đó bằng ví dụ dễ thương sau đây : “Trong khu vườn của linh hồn con, Cha trồng cả những cây hoa và những cây ăn trái. Những bông hoa là những niềm ước ao quảng đại của con mà con không thực hiện được. Đó là những khát vọng nồng nàn mà ân sủng của Cha làm nảy sinh trong tâm hồn con : chúng làm Cha vui thích vì vẻ đẹp và hương thơm của chúng. Còn những trái ngon ngọt là những hành động mà ân sủng Cha giúp cho con thực hiện trong lòng mến. Cha yêu thích thứ nào hơn ? Những bông hoa thơm ngát, hay những trái ngon ngọt ? Cha yêu thích và chăm bón cả hai thứ. Những cây hoa xinh đẹp và những cây có trái ngon ngọt, cả hai thứ làm Cha vui thích và hạnh phúc”. Những linh hồn quảng đại, hay than phiền vì thấy mình vẫn cứ xa lý tưởng mong ước, có thể áp dụng cho mình những lời đầy an ủi này của Chúa Giêsu. Và chúng ta cũng nên nhớ câu nói thời danh của thánh nữ Catarina thành Siêna : “Thiên Chúa mong ước nơi chúng ta những công trình hoàn hảo cũng như những ước nguyện lớn lao”.

Vậy chúng ta đừng bao giờ nản chí, nhưng sau mỗi sa ngã nho nhỏ, sau mỗi lỗi phạm lời thề ước, chúng ta hãy can đảm chỗi dậy ngay, lại tiếp tục bước đi cách quảng đại, mặc cho vết thương chảy máu ở chân. Ôi, điều này đòi hỏi nhiều can đảm lắm. Không nên hoài nghi điều này. Nó rất có lợi cho đức khiêm nhường của ta. Chúa Giêsu và các thánh chứng kiến những sự chỗi dậy tiếp tục như thế với nhiều thương mến và vui mừng, vì dầu sao đó cũng là dịp để thực tập nhiều nhân đức.

Một chị nữ tu nản chí vì thấy mình cứ mãi vướng vào những sai lỗi. Thánh nữ Têrêxa Hài đồng Giêsu nói với chị : “Em làm tôi nghĩ đến đứa bé mới đứng vững và mới tập bước đi. Nó nhất định muốn lên cầu thang để gặp mẹ nó ở trên lầu. Nó giơ bàn chân bé nhỏ của nó, để bước lên bậc thang thứ nhất. Cố gắng vô ích ! Nó luôn luôn té nhào, không tiến bộ chút nào. Vậy em hãy nhìn xem em bé này và hãy là đứa bé này ! Em hãy thành tâm tập các nhân đức, hãy nâng bàn chân nhỏ bé của em lên, để bước lên cầu thang của sự thánh thiện, và em đừng tưởng có thể lên được bậc thứ nhất. Không, em không lên được đâu, nhưng Thiên Chúa cũng chỉ đòi em phải có quyết chí. Từ trên cao, Ngài nhìn xem em cách rất âu yếm : một hôm, bị chinh phục bởi những cố gắng vô ích của em, Ngài sẽ đích thân đi xuống để bồng em trên cánh tay Ngài, mang em lên trời với Ngài, nơi đó em sẽ không bao giờ rời xa Ngài nữa”.[5]

Và ta hãy xem Chúa Giêsu đã âu yếm ngăn ngừa một linh hồn Ngài rất yêu thương để đừng rơi vào chỗ nản chí. “Bêninha yêu dấu của Cha, con hãy giữ mình đừng rơi vào nản chí, vì đó sẽ là điều tệ hại chỉ đứng sau tội lỗi thôi. Khi cỏ dại mọc lên tràn lan ở một thửa đất, đó là dấu mảnh đất này tốt : vậy chỉ cần nhặt hết cỏ dại đi và gieo hạt giống tốt vào đó. Con có tình yêu mạnh mẽ và nồng nàn : chỉ cần lấy đi khỏi trái tim con tình yêu mình, và đặt vào đó tình yêu các linh hồn”.

Vậy chúng ta đừng chán nản vì cứ phải chống lại các tính xấu mãi. Hãy lại quyết chí, luôn giữ được niềm tín thác nơi Chúa, và đừng bao giờ cậy mình. Sự kiên trì không mệt mỏi này, sự chê bỏ mình để luôn luôn trông cậy vào sức mạnh của Chúa, sẽ kéo xuống trên ta những ân sủng rất trọng đại : và trong một thời gian ngắn, ơn Chúa sẽ thực hiện được những điều mà bao nhiêu nỗ lực của ta không làm được trong một thời gian dài.

Thỉnh thoảng cũng nên nhớ lại câu truyện mẻ lưới lạ lùng của mấy tông đồ, sau khi Chúa sống lại. Mấy ông tông đồ, đứng đầu là Phêrô rất hùng dũng, đã cùng nhau đi thả lưới. Họ vất vả suốt đêm mà không bắt được con cá nào. Lúc tảng sáng, một người lạ mặt xuất hiện và hỏi các ông có bắt được gì không. Các ông thưa không, một cách chán nản. Khi đó người khách lạ bảo các ông : “Hãy thả lưới bên hữu sẽ có cá”. Và chúng ta biết các tông đồ đã có mẻ lưới rất lạ lùng (xem Ga 21,6).

Đó là cách Chúa Giêsu xử sự với ta. Chúa thường đợi đến lúc chúng ta cảm nghiệm thấy mình thất bại và hoàn toàn mất tin tưởng vào mình, thì Ngài mới tỏ cho thấy quyền năng vô cùng lớn lao và kỳ diệu của Ngài. Vì lòng mến Ngài, chúng ta đã nỗ lực, chống lại nết xấu nọ, tính xấu kia. Và chúng ta nỗ lực hoài công cho tới ngày Chúa can thiệp vào, và đã có đổi thay rất tốt lành và lạ lùng.

Thánh nữ Têrêxa thành Avila, một vị đại thánh của đường trọn lành, đã kể lại chuyện bà đã uổng công đấu tranh nhiều năm để diệt trừ một thói xấu. Một hôm, vì thương Chúa Giêsu đã ban cho bà ơn hiệp nhất, và lập tức bà thấy mình thoát khỏi nết xấu đáng ngã lòng này.

Hãy luôn giữ vững niềm ước ao nên thánh: đó là dấu hiệu chắc chắn của tiến bộ. – Dầu bề ngoài xem ra thế nào đi nữa, dầu mọi sự coi như hỏng hết rồi, chúng ta vẫn phải giữ vững sự can đảm. Đừng để cho sự nản chí tới gần ta, vì nó là kẻ thù nguy hiểm hơn hết. Và nhất là phải giữ vững niềm nhiệt thành ước ao nên thánh.

Những khát vọng nồng nàn mà trước kia ta nuôi dưỡng khi bước vào đường nhân đức, ta không nên để chúng yếu đi, nhưng phải lo cho chúng mạnh thêm và sâu sắc thêm. Nhất là đức cậy trông là yếu tố chủ chốt của đời sống thiêng liêng, phải lớn lên và mạnh mẽ thêm.[6]

Và để được an ủi, chúng ta nên biết rằng, nơi những linh hồn quảng đại, những sự ước ao nên thánh như thế vẫn thường lớn lên theo ngày tháng. Còn nơi những tâm hồn tầm thường, những khát vọng và những ước ao này thường rụng xuống như lá mùa thu khi bị gió lay. Trái lại nơi những tâm hồn nhiệt thành, những niềm ước ao này vẫn được giữ vững, và họ luôn đói khát tình thương của Chúa, cả trong những khi gặp gian truân chán nản.

Họ bị ám ảnh bởi hình ảnh Thiên Chúa. Họ cảm thấy nhu cầu được ở gần Chúa, và nhu cầu này sẽ càng trở nên khổ sở, khi có vẻ như Chúa xa họ. Vâng, họ ước ao Chúa, và chính vì họ ước ao Ngài, mến yêu Ngài, cho nên họ rất đau khổ vì thấy mình còn ở xa Ngài, chưa được kết hiệp với Ngài. Họ sợ trì trệ, hoặc tiến bộ qúa ít trên đường nên thánh. Sự ưu phiền này là hoa trái của những ước ao thánh thiện, cũng như những ước ao thánh thiện này là hoa trái của lòng yêu mến. Những linh hồn nguội lạnh và tầm thường không bao giờ biết đến những lo buồn thánh thiện này. Đó là viên đá thử vàng, giúp ta biết mình có tiến bộ trên đường nhân đức chăng. Nếu có những lúc ta cảm thấy những lo buồn này, thì thật là có phúc cho ta. Ta hãy can đảm và cảm tạ Chúa vì những hồng ân của Ngài.

Vâng, chúng ta hãy có những ước vọng nồng nhiệt, hãy để cho tâm hồn ta bốc cháy bởi những khát khao yêu mến Chúa và kết hiệp với Ngài. Những khát vọng này rất đẹp lòng Ngài, và sẽ đưa ta tới đỉnh cao của sự thánh thiện. “Hạnh phúc thay người có nhiều ước nguyện thánh thiện !”.

II.  SỰ THÁNH THIỆN CỦA TA, TRƯỚC HẾT LÀ CÔNG TRÌNH CỦA CHÚA. – NHỮNG KẾ HOẠCH NÊN THÁNH CỦA TA VÀ CỦA THIÊN CHÚA.

Sự thánh thiện của ta, trước hết là công trình của Chúa. – Những kế hoạch nên thánh của ta và của Thiên Chúa. – Có một chân lý rất quan trọng cho đời sống thiêng liêng và người ta thường quên đi trong những giờ phút bất lực, cho nên mới sinh ra bối rối và ngã lòng. Chân lý đó là : trong công cuộc nên thánh của ta, Thiên Chúa giữ vai trò rất lớn, còn vai trò của chúng ta thì rất nhỏ, tuy rằng rất cần thiết.

Và định luật của cuộc sống thiêng liêng là càng lên cao, chúng ta càng lệ thuộc vào ơn Chúa. Ở trên đồng bằng, nơi những linh hồn tầm thường sát cánh bên nhau, người ta cũng lệ thuộc vào Chúa, nhưng điều này không khẩn trương và không rõ lắm. Nhưng khi chúng ta bắt đầu lên cao, và càng lên thì càng cần nhiều nỗ lực, và những hiểm nguy càng xuất hiện, với những vực thẳm trước mặt và hai bên đường, chân ta có thể bị trượt, đầu bị chóng mặt: Khi đó, ta càng rất cần đến sự hướng đạo và sức nâng đỡ của Chúa. Khi đó chúng ta cảm thấy rất cần đến ánh sáng của Chúa để soi đường cho ta, và ơn phù trợ của Chúa để nâng đỡ sự yếu đuối của ta.

Chỗ sai lầm của chúng ta là chúng ta dự thảo ra những chương trình nên thánh thường không phù hợp với những ý định của Chúa quan phòng, rồi khi những chương trình đó không thành công như ý của ta, ta đâm ra chán nản. Chúng ta có thể áp dụng cho mình những lời một vị thánh nhân thần bí đã ghi lại trong cuốn nhật ký của mình : “Mỗi lần tôi muốn phác ra những kế hoạch nên thánh, tôi đều sớm nhận ra là mình chẳng hiểu biết gì hết”. Đúng thế, trên con đường nhiệm mầu của sự thánh thiện, đầy những bất ngờ và cũng đầy những vực thẳm, con đường mà chỉ mình Chúa biết, vì mỗi định mệnh của một người là một thực tại riêng biệt, cho nên cũng chỉ mình Chúa có thể dẫn dắt ta tới đích là sự trọn lành.

Nhiều khi Chúa phải tỏ uy quyền toàn năng của Ngài cho ta thấy bằng cách để ta cảm nghiệm thấm thía sự bất lực của mình. Có thể nói Ngài để mặc chúng ta, tha hồ nỗ lực và cố gắng sửa nết xấu này, tập nhân đức kia. Nhưng vô ích hoàn toàn vô ích, chúng ta quyết chí và cố gắng sống khiêm nhường hơn trong cách cư xử với anh em, chấp nhận những chống đối cách vui lòng… Nhưng nỗ lực vô ích, chúng ta thấy mình cố gắng uổng công, hoặc gần như thế. Chúng ta đã nỗ lực nhiều mà không thấy có tiến bộ gì.

Còn Thiên Chúa, Ngài đã làm việc một cách khác hẳn và theo một hướng khác, có vẻ như không có nhiều nỗ lực về phía chúng ta, nhưng Ngài đã thực hiện được một sự thay đổi lạ lùng ở trong ta. Thiên Chúa đã làm việc theo đường lối của Ngài : trong khi chúng ta không ý thức, Ngài đã thực hiện ở trong ta đức khiêm nhường nội tâm, qúi giá hơn sự khiêm nhường rất nhiều, và nếu thiếu nó thì nhân đức khiêm nhường bên ngoài của ta không thể đứng vững.

Hoặc chúng ta cố gắng trở nên bác ái hơn đối với anh em, tránh mọi cử chỉ bất nhẫn và bực tức. Đáng buồn thay ! Thiện chí của ta luôn vướng vào những hoàn cảnh bên ngoài bất lợi. Cố gắng thật nhiều, mà vẫn thấy mình sai phạm, khi nhiều khi ít. Nhưng khi Chúa làm việc, thì Ngài nhẹ nhàng thắp lên ngọn lửa yêu mến nồng nàn của ta đối với Ngài, và lửa mến này đã dần dần cảm hóa chúng ta, thay đổi lối sống của ta, thay đổi tâm tư  và cái nhìn của ta, làm chúng ta có thể nhận ra Chúa Giêsu trong con người của anh chị em mình, và như thế có thể dẫn chúng ta tới những hành vi anh hùng của đức ái huynh đệ.

Tôi đã chẳng thấy những gì tương tự như thế ở trong tôi đó sao ? Những sự bất lực khiến tôi nản chí đều nằm trong phạm vi hoạt động của bản thân tôi, và ngay bên cạnh những nỗ lực của tôi là lãnh vực hoạt động của Chúa, và Ngài đang thu hoạch những mùa lúa rất phấn khởi.

Khi tôi nhìn vào linh hồn tôi và nhớ lại bao nhiêu năm tháng sống trong tình thân mật với Chúa Giêsu, tôi không khỏi cảm thấy nghẹn ngào và đau đớn. Lạy Chúa Giêsu, phải chăng đó là sự thật ? Sau bao năm và sau bao nhiêu nỗ lực, chân thành, con vẫn còn khác Chúa qúa như thế sao ? Những ham muốn của con khác những ham muốn của Chúa và những khát vọng sâu xa của con cũng khác những ước nguyện của Chúa ! Lòng mến yêu thập giá của Chúa đối lập hẳn với tâm tình sợ đau khổ của con… Lòng khát khao sống khiêm hạ của Chúa khác xa sự thèm muốn được bạn bè và các Bề trên qúi mến mà con thấy ở trong con…. Đức ái quên mình của Chúa khác hẳn với tính ích kỷ của con, luôn tìm những tiện nghi và những lợi ích cho mình…. Và đức hiền lành vô tận của Chúa khác xa tính quạu cọ và thiếu nhẫn nhục của con. Tất cả những đức tính thánh thiện và cao qúi của Trái Tim Chúa xem ra vẫn vắng bóng trong tâm hồn con, hoặc được thay thế bằng những đam mê nghịch lại… !

Lạy Chúa Giêsu, con ngạc nhiên và rất buồn về sự thật đó. Vâng, bao nhiêu năm con đã sống trong tình thân của Chúa, ăn cùng một bàn, uống cùng một chén với Chúa…. Hơn nữa, hằng ngày Chúa đã nuôi dưỡng con bằng Thịt và Máu châu báu Chúa, để con được kết hiệp và đồng hóa với Chúa. Chúa đã là trung tâm cuộc sống của con, là linh hồn của linh hồn con. Sự vắng mặt của Chúa đã khiến con buồn rầu, và khi cảm thấy Chúa ở bên con, con đã sống những giờ phút an vui và hạnh phúc. Vậy tại sao, lạy Chúa con mến yêu, tại sao vẫn tồn tại những sự khác biệt này ? Sau bao nhiêu suy gẫm, sau bao nhiêu quyết tâm, sau bao nhiêu thống hối, làm sao những gì làm cho bản tính con khiếp sợ vẫn cứ làm con ngại ngùng, và từ đáy lòng con, con vẫn cứ tìm cách tránh lánh các thập giá mà con biết Chúa yêu mến ?

Và Chúa Giêsu đã trả lời tôi bằng tiếng nói vô cùng hiền từ và đầy yêu thương của Ngài, khiến tôi vừa vui mừng vừa xấu hổ : “Hỡi linh hồn yêu dấu, các nỗ lực của con đã không uổng công đâu. Không, không uổng công đâu. Cha đã không muốn để con đi lạc đường. Những năm tháng phục vụ rất quảng đại của con đã không phải là một thất bại đâu. Con hãy an tâm và con hãy tin chắc rằng con đã sống đẹp lòng Cha, rất đẹp lòng Cha, như Cha đã nhiều lần nói cho con biết. Con đã yêu mến Cha cách chân thành và hết lòng.

“Những điểm còn dở dang, con chưa hoàn thành được và thường làm con lo âu, tuy có quan trọng nhưng không quan trọng bằng những điểm khác mà Cha không ngớt lo cho con. Mà con biết : điều Cha muốn thực hiện hơn hết ở nơi con, là hủy diệt sự tự tin vào mình, một điều qúa tự nhiên đối với con người, mà sự tự tin, sự cậy mình đó, có khuynh hướng coi những hồng ân Cha ban là của riêng nó. Sự hủy diệt này càng tỏ ra cần thiết, vì Cha muốn dẫn con lên cao hơn. Nhất thiết con phải gột sạch tính tự cao tự đại này, bởi vì làm sao Cha có thể rót những hồng ân cao qúi của Cha vào trong một cái bình còn đầy tự tin ?

“Cha cũng muốn con phải chán ghét mình, cho nên Cha để con thấy mình rất xấu xa, đầy những sự khốn nạn, như thế con sẽ chán ngán và chê ghét bản thân mình và quay sang yêu mến Cha hết lòng, vì Cha là sự tốt lành tuyệt đối và Cha là của con”.

“Cha cũng đã muốn con cảm nghiệm thấm thía sự bất lực của con, để con tuyệt đối thất vọng về mình, đừng bao giờ còn nghĩ đến chuyện cậy dựa vào mình, vì con là cây sậy mỏng manh, sẽ gẫy ngay nếu không dựa vào ân sủng của Cha. Thất vọng về mình như thế, bỏ được tính cậy vào sức mình như thế là điều khó khăn hơn là chịu một vài sự xỉ nhục và đau khổ”.

“Sau cùng, Cha muốn con giữ luôn ý thức sâu xa về chân lý này : mọi sự tốt lành ở trong con đều do Cha, cho nên con sẽ luôn tôn vinh và chúc tụng Cha, và con chỉ nhận là của riêng con những sự khốn nạn và tội lỗi của con. Tất cả con người của con là sản phẩm của ân sủng Cha, và Cha đã vất vả chiến thắng những chống đối của con. Không một phần nhỏ nào của các nhân đức của con mà không tốn bao công trình và ân sủng của Cha. Vậy con phải hiểu cách dứt khoát rằng con chỉ có quyền nói : Ôi ! Nếu tôi đã quảng đại và trung thành hơn, chắc tôi đã trọn lành hơn vào lúc này”.

Ôi ! Những lời ngọt ngào của Chúa Giêsu nhân từ ! Những lời này thấm sâu vào linh hồn tôi, như một thứ dầu nóng linh nghiệm và qúi báu ! Tôi sẽ đau khổ dường nào nếu Chúa bảo rằng tôi đã đi lạc đường, tôi đã nỗ lực vô ích, tôi đã không sống đẹp lòng Ngài ! Ôi, lời Chúa đã an ủi tôi vô cùng và khích lệ tôi. Đồng thời lời Chúa đã khiến tôi phải xấu hổ, xấu hổ một cách dịu dàng, đầy mến yêu, đến nỗi tôi yêu thích sự xấu hổ này. Vâng, bây giờ tôi, vì những sự khốn nạn của mình, chúng giúp tôi chê ghét cái tôi kinh khủng của tôi, để càng yêu mến Chúa hơn vì Chúa tốt lành vô cùng. Những lời của Chúa giêsu làm tôi thấy rằng tôi là đứa bé của tình thương đầy thương xót của Chúa, đứa bé đã được chọn vì sự nghèo hèn cùng cực của nó, để nó trở thành kỳ công của lòng thương xót vô biên của Chúa.

Chúng ta hãy để Chúa Giêsu làm việc theo ý Ngài trong việc thánh hóa chúng ta. Chúng ta hãy tin tưởng và để Ngài làm việc theo kế hoạch của Ngài. Rất có thể ta thấy Ngài làm theo cách rất khác chúng ta. Như chúng tôi đã trình bày trên kia, Chúa làm việc một cách giống như người thợ dệt thảm cao cấp ngày xưa : người thợ kiên nhẫn thêm vào từng cụm sợi, có những mẫu khác nhau và theo kế hoạch ở trong đầu người đó. Người thợ dệt thảm này dệt theo sợi dọc và làm việc như vậy ở mặt trái của tấm thảm, cho nên phải đợi khi tấm thảm đã hoàn thành và được cắt ra khỏi khung cửi, người ta mới được ngắm tất cả những hoa văn và nghệ thuật tài tình mà trước đó người thợ có vẻ như  đã làm việc mò !

Bởi vậy chúng ta không được cộng tác vào việc nên thánh của mình theo những tư tưởng của mình nhưng phải hoàn toàn theo ơn soi sáng của Chúa Giêsu, vì Ngài là nghệ sĩ thần linh. Chính Ngài nắm giữ kế hoạch mà ta phải tuân theo. Công việc của ta, tài nghệ của ta là phải vô cùng mềm dẻo dưới sự uốn nắn của Chúa. Phải vâng theo các ước muốn và các sự thúc đẩy của Chúa. Chúng ta phải bước đi như người mù dưới sự dẫn dắt của Chúa Giêsu, hoàn toàn tin tuởng vào sự khôn ngoan thần linh của Ngài, ngày qua ngày, từng sợi một theo dòng ngày tháng, dưới bàn tay của Người thợ Dệt thần linh là Chúa Giêsu. Rồi sẽ đến ngày, sau khi chết, Chúa Giêsu sẽ chỉ cho ta thấy những chỗ đầy nghệ thuật mà Ngài đã thực hiện trên tấm vải cuộc đời của ta, với sự cộng tác của ta, và chúng ta sẽ vô cùng vui sướng tạ ơn Ngài về công trình nghệ thuật mà chúng ta đã nhẫn nại hoàn thành trong đêm tối của đức tin.

Chúng tôi thích nhắc lại đây mấy lời Đức cha Chasles Gay đã nói với một con thiêng liêng của ngài, khi cô này tỏ ra thiếu kiên nhẫn trong những tiến bộ thiêng liêng : “Con ngạc nhiên về hai điều, một là về những sự khốn nạn cứ tồn tại ở trong con, mặc dầu lòng mến Chúa đã gia tăng trong tâm hồn con, hai là về những tiến bộ có vẻ chậm chạp trong tình mến yêu Chúa. Con phải nhớ hiền thê của Chúa Giêsu là một bông huệ giữa bụi gai : gai góc sẽ giữ cho con mãi khiêm nhường, vì đức khiêm nhường rất cần thiết và rất có ích cho lòng mến của con. Cho đến hết đời mình, chúng ta phải biết rằng nhân đức của ta cần đến những yếu đuối của mình để cải thiện mình. Vậy cũng như thánh tông đồ mà Chúa Giêsu đã dạy cho biết giáo lý này, chúng ta phải vui mừng và hãnh diện trong những sự yếu đuối của mình, để sức mạnh của Chúa Giêsu được tràn lan và tỏ rõ hơn trong ta. Còn về chuyện con thấy mình tiến bộ chậm qúa, con chỉ cần tiến bộ theo nhịp Chúa muốn… Thiên Chúa có những đường lối khiến tâm trí ta không hiểu được. Con hãy tín thác nơi Chúa về sự mau chậm này, cũng như trong mọi sự. Điều con viết cho cha đó, đã nhắc cha nhớ một lời đầy thương xót mà Chúa mới nói gần đây với một linh hồn về một linh hồn khác : “Điều nó còn thiếu, chính là điều Cha chưa làm cho nó”. Và linh hồn đó đã được an ủi vô cùng. Cha nghĩ điều này cũng đúng cho con. Và con có thể chia sẻ phần bánh an ủi này. Ôi ! Sự bình an ! Chúng ta phải cảm tạ Chúa dường nào ! Vì bình an là điều rất bổ ích cho ta”[7].

III.  TỪ VỰC SÂU CỦA SỰ BẤT LỰC, CHÚNG TA HÃY KÊU CẦU CHÚA. GIỜ ÂN PHÚC ĐÃ GẦN.

– HOÀN TOÀN QUÊN MÌNH LÀ CÁCH THẾ DUY NHẤT ĐỂ TÌM THẤY BÌNH AN TRONG MỘT SỐ GIỜ PHÚT.

Từ vực sâu của sự bất lực, chúng ta hãy kêu cầu Chúa. Giờ ân phúc đã gần. – Như đã được trình bày trên đây, cảm tưởng sâu xắc về sự bất lực của mình là một ơn trọng đại của Chúa. Đó là điều Thiên Chúa tìm trăm ngàn cách để thực hiện ở nơi ta. Chúng không ngừng đào sâu vực thẳm của sự bất lực và cảm tưởng về hư vô ở trong ta. Nhưng công việc nên thánh của ta không dừng lại ở đó. Để nên thánh, ta phải có đủ hai điều: phải hoàn toàn thất vọng về mình, và phải trọn vẹn tin tưởng nơi Chúa. Vậy cùng với cảm thức sâu xa về sự bất lực của mình, ta phải có tâm tình tín thác tuyệt đối nơi Thiên Chúa. Mỗi ngày tôi đào sâu thêm vực thẳm của sự bất lực của tôi, nhưng với ơn Chúa, tôi cũng phải hằng ngày xây đắp niềm cậy trông nơi Chúa. Ý thức đau đớn về sự bất lực và về những sự khốn nạn của tôi sẽ phải là sự khởi đầu cho việc xây dựng niềm cậy trông vô biên nơi Chúa. Với ơn trợ lực của Chúa, sự thất vọng về mình phải được biến thành sự cậy trông trọn vẹn nơi Chúa.

Không gì có thể mang lại cho ta ý tưởng đầy đủ về hai tâm tình này bằng hình ảnh đứa trẻ thơ. “Bé nhỏ, yếu đuối, không có khả năng nào hết, đứa trẻ thơ tự nó không thể làm gì hết. Nhưng nếu có người cha âu yếm ở cạnh nó để lo lắng cho nó, thì sự bất lực của nó sẽ là nguyên lý của sức mạnh. Chúng ta biết tại sao thế. Đứa trẻ thơ muốn bước đi, nhưng nó không có khả năng : hai chân nó qúa yếu, không thể mang nổi nó. Cũng có thể một nguy hiểm đe dọa nó, và nó tìm cách tự bảo vệ. Nhưng cánh tay yếu ớt của nó hoàn toàn bất lực. Hạnh phúc thay cho nó ! Cha nó đang đứng đó. Nó ngẩng mặt nhìn cha nó. Cha nó đã hiểu : ông cúi xuống, bồng nó lên, ôm ghì nó trên trái tim mình. Ông sung sướng bồng ẵm nó. Ông âu yếu bảo vệ nó. Thế là đứa trẻ thơ trở thành mạnh sức bằng tất cả sức mạnh của cha nó.

“Đó là đặc ân diễm phúc của tuổi thơ ấu, làm cho đứa trẻ thơ được mau mắn và mạnh mẽ cứu giúp trong sự bất lực của nó. Sức mạnh vô song của cái nhìn van lơn của đứa trẻ thơ, không một lòng cha nào ở trần gian này có thể cưỡng lại. Và Thiên Chúa là người Cha tốt lành hơn mọi người cha muôn ngàn lần, Đấng đã tạo thành trái tim của các người cha theo khuôn mẫu Trái Tim Ngài, Ngài có thể cưỡng lại sao ?”[8].

Đứa trẻ thơ có ý thức bẩm sinh và mạnh mẽ về sự bất lực của nó và sức mạnh đầy yêu thương của cha và mẹ nó. Đó là điều chúng ta cần phải có. Như vậy, thay vì để mình bủn rủn trước những khó khăn lớn lao, niềm tín thác của ta sẽ càng phấn khởi đến mức anh hùng, vì biết rằng những gì chúng ta không làm được do sức của chúng ta, thì Cha chúng ta ở trên trời sẽ làm cho chúng ta. Và như vậy, vào đúng lúc, chúng ta sẽ nhớ rằng Chúa luôn ở bên cạnh chúng ta, và Ngài đã cúi xuống để giúp đỡ chúng ta.

Khi Chúa nhân từ nhìn thấy con cái Ngài ở trong cảnh bất lực, đã chán ngán và không cậy vào sức mình nữa, thì Ngài đưa hai cánh tay uy hùng và thương xót của Ngài ra để đón chúng ta. Chúng ta hãy đáp lại bằng cách gieo mình vào lòng Ngài, với niềm tín thác mến yêu. Giờ phút của niềm tín thác trọn vẹn đã điểm. Giờ phút của những ơn phúc lạ lùng đã gần. Thiên Chúa sắp tôn vinh thánh Danh Ngài, bày tỏ uy quyền và tình thương của Ngài. Chỉ trong một thời gian rất ngắn, Ngài có thể hoàn thành những điều kỳ diệu. Đối với Ngài, thời gian không thành vấn đề. Ngài có thể giúp linh hồn thực hiện những tiến bộ phi thường. Ngài sẵn sàng ban cho ta những hồng ân lớn lao, miễn là niềm tín thác kém cỏi của ta không giới hạn lòng quảng đại của Ngài.

Louis de Grenade đã nói rất chí lý như sau về những hoàn cảnh ta cảm thấy mình bất lực nhất : “Chúa quan phòng dành quyền đích thân giải cứu những khó khăn đặc biệt lớn lao trong đời sống thiêng liêng của ta, còn những khó khăn thông thường thì Ngài để cho những nguyên nhân đệ nhị giải quyết”.

Các thánh luôn vững tin vào chân lý này, cho nên đó là bí quyết giữ cho các ngài luôn trọn vẹn tín thác. Ta hãy cố gắng bắt chước các ngài. Vậy nếu chúng ta có cảm nghĩ sâu sắc về sự hoàn toàn bất lực của mình, nếu chúng ta thấy các sự khó khăn xảy đến dồn dập một cách khác thường, khiến chúng ta tin rằng không bao giờ mình có thể nên thánh, thì chúng ta hãy tin rằng giờ phút để Chúa can thiệp vào đã gần, miễn là chúng ta hết lòng tín thác chạy đến với Chúa. Chúng ta hãy cậy trông, mạnh mẽ cậy trông nơi Chúa, bởi vì chúng ta không còn có thể cậy vào sức mình nữa.

Mới cách đây vài năm, Chúa Giêsu đã nói những lời đầy an ủi sau đây với một linh hồn Ngài chọn làm “thư ký của tình yêu” của Ngài, để nói cho thiên hạ biết lòng nhân hậu bao la của Ngài : “Bêninha của Cha, Cha không thể làm cho con nên thánh, nếu con không trao cho Cha chìa khóa của ý chí con. Nhưng nếu con trao cho Cha, không những Cha sẽ làm cho con nên thánh, mà còn nên một vị đại thánh. Chỉ trong một lúc, Cha có thể sửa chữa tất cả dĩ vãng của một linh hồn, miễn là linh hồn đó đối xử với Cha như với một Thiên Chúa nghĩa là nó đừng giới hạn lòng nhân hậu của Cha bằng sự nghi ngại của nó, đừng hạn hẹp lòng thương xót của Cha bằng những lo âu của nó, và đừng đo lường tình thương của Cha bằng tình thương của nó”.[9]

Rồi để tỏ cho biết Ngài rất ước ao ban cho ta những ơn trọng đại để thánh hóa  ta, Chúa Giêsu đã nói với chị Bêninha như sau : “Cha rất khổ tâm nhận lại những ân sủng Cha ban cho các linh hồn mà họ không muốn nhận. Bởi khi gặp được một linh hồn để Cha được tự do đổ đầy ân sủng xuống cho nó, tâm hồn Cha rất vui thỏa” [10].

Đâu là những linh hồn làm cho Thánh Tâm Chúa vui  thỏa vì để Ngài được tự do hoạt động ở trong họ ? Đó là những linh hồn quảng đại, hết lòng ước ao nên thánh, và vì cảm thấy mình bất lực, nên đã đặt trọn vẹn niềm tín thác nơi Thánh Tâm Chúa.

Ước gì tôi được đứng vào số những linh hồn này ! Cảm nghiệm về sự bất lực của mình không phải là điều tôi thiếu. Nhưng tôi sẽ phải xin Chúa Giêsu ban thêm ơn tin tưởng và tín thác cho tôi, một niềm tín thác trọn vẹn, bởi vì cũng như đức khiêm nhường, niềm tín thác không do nỗ lực của ta mà có cho bằng do ơn Chúa ban. Tất cả những lý lẽ có sức thuyết phục nhất,  tất cả những cách chứng minh mạnh mẽ nhất về lòng thương xót của Chúa cũng sẽ không phát sinh niềm tín thác ở trong tôi, nếu Chúa không ban cho tôi nhân đức này, vì tín thác là một nhân đức siêu nhiên. Vậy tôi phải năng cầu  xin Chúa ơn này và phải tha thiết cầu xin. Khi đó, tôi sẽ trở thành một trong những linh hồn diễm phúc, vì Chúa Giêsu nói về họ rằng : “Những linh hồn tín thác nơi Cha là những linh hồn lấy được tất cả mọi ân sủng của Cha”.

Hoàn toàn quên mình là cách thức duy nhất để tìm thấy bình an trong một số giờ phút.– Sẽ có những lúc, vào những giờ phút chúng ta cảm thấy mình khốn khổ, không làm sao tìm lại được sự bình an vui tươi và trong sáng rất cần thiết cho tâm hồn. Chúng ta uổng công nại đến tất cả những lý do để tin tưởng vào Chúa, chúng ta đã lý sự với mình hồi lâu, chúng ta đã nài xin Chúa, nhưng xem ra Ngài giả điếc làm thinh và để mặc cho chúng ta vật lộn với những cơn buồn sầu. Chúng ta vẫn thật sự tín thác, nhưng có vẻ như niềm tín thác đã rút xuống nơi thẳm sâu của tâm hồn, để mặc cho ta chịu sóng gió.

Trong trường hợp đó, nên thêm vài niềm tín thác mà ta không cảm thấy nữa một tâm tình khác rất qúi trọng. Khi đó phải quay mặt đi khỏi cái hạt bụi bé nhỏ là thân phận chúng ta : hãy quên mình đi, hãy nhìn đi phía khác, hãy nhìn lên Chúa Giêsu vô cùng mến yêu, hãy dành tất cả mọi sự chú ý cho Ngài. Thân phận thọ tạo của chúng ta có là gì đâu ? Tất nhiên những ước nguyện của chúng ta là những ước nguyện thánh : chúng ta mong ước trở nên tốt lành hơn, thánh thiện hơn, để làm vui lòng Chúa hơn. Nhưng trong vũ trụ bao la này, vật thể bé nhỏ của thân ta có đáng gì đâu ? Thiên Chúa không cần đến những lời chúc tụng của chúng ta để được tôn vinh và hạnh phúc. Dầu chúng ta làm gì, Ngài vẫn tuyệt đối hạnh phúc. Vậy tôi phải vui mừng và vui sướng vì Thiên Chúa tôi yêu mến luôn tuyệt đối hạnh phúc như thế trong Ba Ngôi Chí Thánh. Ngoài ra, không có gì là quan trọng hết. Phần tôi, nếu tôi chưa yêu mến Chúa như tôi ước ao, ít ra tôi yêu mến Ngài hết lòng, với tất cả lòng mến yêu bé nhỏ của tôi. Tôi chỉ muốn yêu mến một mình Ngài, chỉ nhìn ngắm Ngài, và đặt tất cả vui sướng và hạnh phúc của tôi ở nơi Ngài.

Ôi ! Linh hồn sẽ ngàn lần diễm phúc, nếu nó quên mình đi, biến mất đi trong Chúa bằng cách say mê chiêm ngưỡng vẻ tốt lành vô cùng của Ngài. Như vậy, sau cùng nó đã tìm thấy sự bình an tuyệt vời dầu nó đầy những thiếu thốn và khốn nạn. Nó đã làm đúng như lời Chúa Giêsu khuyên một linh hồn Ngài rất thương yêu là chị Bêninha Consolata : “Con đừng mất thời giờ, dầu một phút, để nghĩ về mình, dầu nghĩ về linh hồn con hay thân xác con. Con có một phu quân, Ngài lo tất cả những chuyện đó cho con. Còn con, con hãy lo yêu mến Ngài hết sức con”[11]. Đúng thế, linh hồn đó đã quên mình đi, nhưng Thiên Chúa lo cho nó. Nó không nghĩ gì đến bản thân nó nữa, nhưng Thiên Chúa lo nghĩ cho nó với tất cả tình thương đặc biệt của Ngài. Thiên Chúa là tình yêu vô cùng, Ngài không để mình phải thua vật thọ tạo nhỏ bé của Ngài về lòng quảng đại.

Một linh hồn rất quảng đại, quen sống hoàn toàn quên mình vì Chúa, đã viết những dòng đầy ý nghĩa sâu đây : “Không phải tôi không đau khổ, ồ, không phải thế đâu. Nhưng tôi biết Chúa lo cho tôi, công việc của Ngài là nhìn xem để biết tôi đau khổ đến đâu, cho nên tôi không nghĩ đến bản thân mình nữa, công việc của tôi là lo cho Ngài. Quên đi tất cả mọi sự, tôi cố gắng để hết lòng lo cho Ngài, lo cho một mình Ngài. Tôi phải là con người bé nhỏ, luôn luôn lo cho Ngài là Đấng bị bỏ quên qúa rồi… Khi những cảm nghĩ nặng nề xâm chiếm hồn tôi, đe dọa làm hồn tôi bối rối và buồn phiền, tôi vội chạy vào ẩn náu nơi Chúa, và luôn luôn tôi tìm thấy bình an… Nhiều khi tôi cảm thấy tâm hồn trống vắng, cuộc sống trở nên vô vị, và trái đất trở nên hoang vắng. Khi đó tôi nghĩ : Thiên Chúa là Cha tôi, Ngài ở đó, Ngài dẫn dắt tôi. Chúa Giêsu yêu thương tôi. Và tôi thấy con đường tôi đi rất chắc chắn : đó là thánh ý của Chúa Cha, được hướng dẫn bởi sự khôn ngoan vô cùng của Ngài, quyền năng và tình thương vô cùng của Ngài. Thế là cuộc đời không còn vô vị nữa, và trái đất không còn hoang vắng nữa, bởi vì tôi có thể dùng cả cuộc đời để lo cho Chúa là Đấng đổ đầy ơn xuống trái đất, và bởi vì tôi luôn luôn lo cho Thầy chí thánh của tôi, Đấng luôn hiện diện, luôn sống và thương yêu”[12].

Paul De Jaegher S.J.

 

[1]     Caussade, op. cit., t.II, p.181 : Thư gởi nữ tu Rosen.

[2] Caussade, tr.196 : Thư gửi nữ tu Vioménil.

[3] Nhật ký của Lucie – Christine, do Cha Poulain S.J. xuất bản, trong tủ sách “Adoration Perpétuelle”. Paris.

[4] Autobiographie. Conseils et Souvenirs, p.263

[5] Tiểu sử một linh hồn, tr.261.

[6] Xem lại chương I cuốn sách này : Bản chất của niềm tín thác.

[7] Các thư linh hướng của Đức Cha Gay, trích dẫn bởi Cha De Smedt, S.J. trong cuốn Notre vie surnaturelle, t.II, p.496-497.

[8] R.P. Martin, La petite voie d’enfance spirituelle (con đường nhỏ của tuổi thơ ấu thiêng liêng) Ch. IV.

[9] Nữ tu Bêninha Consolata Ferrerô. Cơ sở truyền bá Thánh Tâm Chúa. Lyon, tr. 161.

[10] Cũng trong sách đó, tr. 167

[11] Nữ tu Bêninha Consolata, p.157

[12] Roaul Plus S.J., Marie-Antoinette de Geuser (Vie de “Consummata”) p.172

Niềm Tín Thác – Chương XIX: TÍN THÁC TRONG LỖI LẦM

I.  NHỮNG LỖI LẦM KHÔNG NÊN LÀM GIẢM NIỀM TÍN THÁC CỦA TA, VÌ THIÊN CHÚA LÀ ĐẤNG VÔ CÙNG THƯƠNG XÓT : NGÀI CẦN PHẢI CÓ NHỮNG SỰ KHỐN NẠN CỦA TA ĐỂ THỰC THI LÒNG THƯƠNG XÓT CỦA NGÀI : FELIX CULPA !

– THÁI ĐỘ PHẢI GIỮ : SAU NHỮNG LỖI LẦM, HÃY GIEO MÌNH VÀO VÒNG TAY CHÚA VỚI MỘT NIỀM TÍN THÁC TRÌU MẾN, VÀ TỎ RA CỞI MỞ VÀ TỰ NHIÊN VỚI NGÀI NHƯ TRƯỚC KIA.

Những lỗi lầm không được làm giảm niềm tín thác của ta, vì Thiên Chúa là Đấng vô cùng thương xót : Ngài cần có những sự khốn nạn của ta để thực thi lòng thương xót của Ngài : Felix culpa ! – Cản trở lớn nhất của niềm tín thác của ta là những lỗi phạm, những tội lỗi nhất là những lỗi phạm cố tình. Người ta có thể cứ vững lòng trông cậy giữa những khó khăn của cuộc đời, như những khô khan, buồn rầu, những cơn cám dỗ, vì dầu sao đó cũng là những thử thách của Chúa. Đó chẳng phải là những phương tiện Chúa quan phòng dùng để đo lường niềm tín thác của ta, và để hoàn thiện nó sao ? Nhưng khi chúng ta sa ngã do lỗi của mình, khi chúng ta xúc phạm đến Chúa, nhất là cố tình xúc phạm đến Ngài, thì tự nhiên chúng ta tự cảm thấy mình không xứng đáng với những ơn Ngài đã ban cho ta. Tự nhiên chúng ta cảm thấy không còn thân mật như trước kia với Đấng mà ta đã xúc phạm, đã làm phiền lòng. Và tất nhiên niềm tín thác của tạ bị dội lại.

Thật ra, các lỗi lầm chỉ là cản trở cho niềm tín thác của ta, vì đó chưa phải là niềm tín thác tinh ròng : sự tín thác của ta đã dựa vào bản thân ta, dựa vào công phúc và các nhân đức của ta hơn là dựa vào lòng nhân hậu và lòng thương xót vô cùng của Chúa.

Niềm tín thác đích thực và tinh ròng không có gì phải sợ những lỗi lầm, cả những lỗi lầm cố tình của ta, bởi vì ta là loài yếu đuối, có thể sa ngã. Bởi vì, đáng buồn thay ! Cả những tâm hồn quảng đại cũng vẫn phải chịu những sự yếu đuối đó của bản tính loài người. Đôi khi Thiên Chúa cho phép xảy ra những sự sa ngã nặng nề để sinh ra một lợi ích lớn lao cho linh hồn. Đó là trường hợp của tông đồ Phêrô, vị tông đồ rất được Chúa yêu thương.

Người ta tỏ ra chưa hiểu biết gì lắm về lòng nhân hậu, tình yêu thương và sự thánh thiện của Chúa, nếu người ta để cho niềm tín thác bị ảnh hưởng bởi những sa ngã, nếu người ta giảm bớt lòng trông cậy. Đúng thế, nếu chúng ta có một ý tưởng xác đáng về tình thương và lòng thương xót của Chúa, các tội lỗi của ta sẽ chỉ tác động đến niềm tín thác của ta, bằng cách gia tăng và thanh tẩy lòng trông cậy đó. Các tội lỗi sẽ gia tăng niềm tín thác, theo mức chúng khiến ta dứt bỏ được sự tin tưởng vào mình là cái hợp chất vẫn làm mất chất tinh ròng của một niềm tín thác đích thực.

Các thánh và các bậc tôn sư dạy đường trọn lành đã nói rất nhiều về vấn đề này. Chỉ cần mở bất cứ cuốn sách nào trong kho tàng qúi giá này.

Thánh Phanxicô Salêsiô, vị thánh hiền hậu và tốt lành đã thao thao bất tận, khi nói về vấn đề này. Chẳng hạn ngài viết : “Chúng ta càng thấy mình khốn nạn, chúng ta càng tin tưởng nơi lòng nhân hậu và lòng thương xót của Thiên Chúa. Bởi vì giữa lòng thương xót và sự khốn nạn, luôn có một mối liên hệ lớn lao, đến nỗi cái này không thể tác động khi không có cái kia. Nếu Thiên Chúa không tạo thành con người, Ngài có thể thật sự rất tốt lành, nhưng Ngài không thể có lòng thương xót, bởi vì lòng thương xót chỉ thực thi đối với những kẻ khốn nạn”.

Đức Cha Gay thì nói rất rõ : “Tội lỗi đụng tới Thiên Chúa theo nghĩa nó xúc phạm đến Ngài,  nhưng không bao giờ nó đụng tới Ngài theo nghĩa nó biến đổi con người của Ngài. Nó biến đổi các hành vi của Ngài, nhưng không thay đổi chút nào thái độ căn bản của Ngài đối với chúng ta, nghĩa là nó không thay đổi tình thương của Ngài đối với chúng ta. Đối với bản chất hư vô của ta, lòng nhân hậu của Ngài trở thành tình thương, và đối với tội lỗi của ta thì tình thương của Ngài trở thành lòng thương xót. Đó là tất cả sự thật. Vâng, đó là tất cả sự thật, với điều kiện là kẻ tội lỗi giữ lòng trông cậy”.[1]

Một tiếng nói khác, rất hùng hồn của thế kỷ vừa qua, cũng đã để lại những lời vô cùng an ủi như sau : “Hạnh phúc thay ! Những ai có lòng thương xót !”. Khi tuyên bố những lời này, Con Thiên Chúa làm người đã tỏ cho ta thấy chính niềm hạnh phúc của Ngài và của Cha Ngài ở trên trời. Bởi vì nếu đối với một người phàm như chúng ta, lòng thương xót còn là nguồn mạch của hạnh phúc, thì phương chi đối với Thiên Chúa là Đấng có lòng thương xót rộng lớn vô cùng, hạnh phúc ấy ai có thể tưởng tượng được ? Hạnh phúc thay những ai có lòng thương xót, vậy diễm phúc vô cùng là Đấng mà chỉ mình Ngài được gọi là Đấng nhân hậu (“Chỉ mình Thiên Chúa là nhân hậu” : Mt 19,17), và Đấng mà lòng nhân hậu và lòng thương xót được chúc tụng đến muôn đời : “Hãy chúc tụng Chúa vì Ngài nhân hậu, vì lòng thương xót của Ngài đến muôn đời !” (Tv 99,5)[2]. Khi nghe những lời này, người ta tưởng như được nghe âm vang chính những lời giảng dạy của Chúa Giêsu, và nhờ đó chúng ta mới hiểu tại sao trên trời lại vui mừng đến thế, khi có một người tội lỗi ăn năn hối cải.

Có thể nói : khi tôi phạm tội, tôi có thể mang lại cho Chúa một nguồn vui lớn lao, miễn là tôi giữ lòng cậy trông và chạy đến với Ngài, để Ngài có thể thực thi lòng thương xót vô cùng của Ngài đối với tôi là kẻ rất khốn nạn. Tôi có thể làm Chúa vui mừng lắm, nhiều lắm, nhất là vì chỉ mình Ngài thấy rõ tội lỗi là điều khốn nạn hơn hết, đáng thương hại hơn hết, cho nên khi cứu tôi khỏi sự khốn nạn lớn lao này, Ngài sẽ vô cùng vui sướng. Nghĩ đến đó, tôi cảm thấy an vui dường nào ! Phải chăng đây là lúc để kêu lên một cách cảm động : Ôi tội lỗi có phúc ! Bởi vì chính trong tội lỗi đã có mang thần dược để chữa tôi khỏi nọc độc và tai hại của nó ! Sự sa ngã của tôi đã làm hại lòng mến yêu của tôi, vì tôi đã làm phiền lòng Chúa ; nhưng sự sa ngã của tôi có thể là nguồn vui mừng cho tôi, vì khi gieo mình vào lòng Chúa với niềm tín thác mến yêu, tôi làm cho Chúa vui mừng khôn tả.

Nếu nhờ một ơn trọng đại của Chúa, mà tôi rất nên xin Chúa ơn này ; vâng, nếu nhờ ơn Chúa tôi hiểu thấu những chân lý đầy sức an ủi trên đây, tôi sẽ rút ra biết bao lợi ích cho đời sống của tôi ! Niềm tin đó sẽ tôi luyện đức can đảm của tôi, sẽ giúp tôi giữ vững niềm tín thác trọn vẹn nơi lòng thương xót vô hạn của Chúa : vì thiếu hiểu biết, đã bao lần niềm tín thác này bị rạn nứt vì những lỗi lầm của tôi. Bây giờ tôi mới hiểu được tiếng kêu siêu phàm của thánh nữ Têrêxa Hài đồng Giêsu : “Nếu như phạm tội trọng, tôi cũng không mất niềm tín thác. Không, không phải vì tôi được giữ gìn không mắc tội trọng mà tôi tín thác và yêu mến Chúa như thế đâu. Ôi, tôi cảm thấy rõ điều này, nếu lương tâm tôi bị đè nặng bởi tất cả mọi tội ác người ta có thể phạm, thì tôi cũng sẽ không mất đi chút nào niềm tín thác của tôi”[3].

Như vậy chúng ta thấy : những lỗi lầm của ta có thể là nguyên nhân mang lại niềm vui cho Chúa. Nhưng phải làm gì để có thể biến đổi những xúc phạm của ta thành những niềm vui cho Cha chúng ta ở trên trời ? Chỉ có một điều, và điều này là tất cả : đó là chúng ta hãy ăn năn cách khiêm nhường, rồi hãy gieo mình vào vòng tay nhân từ và thương xót của Chúa với tất cả lòng mến yêu và tín thác. Đó là điều chúng ta cần phải hiểu cho rõ và ghi nhớ từ này về sau.

Thái độ phải giữ : sau những lỗi lầm hãy gieo mình vào vòng tay Chúa với niềm tín thác trìu mến, tỏ ra cởi mở và tự nhiên với Ngài
như trước kia.
 – Tất nhiên những linh hồn thật sự quảng đại sẽ sẵn sàng chịu mọi sự còn hơn phạm một tội cố tình, dầu rất nhỏ mọn. Đối với họ, không một đau khổ nào, không một nỗi cực lòng nào có thể so sánh với nỗi buồn của họ, khi họ làm phiền lòng Chúa Giêsu. Tuy nhiên con người thì yếu đuối, mà ma qủi thì độc ác, cho nên nếu chẳng may chúng ta sa ngã và phạm tội, chúng ta hãy mau mau hạ mình xuống, hãy ăn năn sám hối vài phút dưới chân Chúa Giêsu lân ái. Rồi, đầy lòng tín thác, hãy gieo mình vào vòng tay của Ngài ! Hãy thưa Chúa rằng chúng ta hối hận và mến yêu Ngài, chúng ta sẽ thấy các vai trò sẽ thay đổi. Chúng ta đến an ủi Chúa Giêsu, nhưng chính Chúa sẽ an ủi chúng ta : Ngài sẽ bảo chúng ta đừng buồn nữa, bởi vì Ngài đã quên nỗi buồn mà chúng ta làm cho Ngài.

Hãy xem Mađalêna : chị ấy đã hiểu rõ trái tim của Chúa Giêsu vô cùng dịu hiền của chúng ta. Chị đã sa ngã rất mực nặng nề, như một con người có thể sa ngã. Sánh với tội lỗi của chị, các tội của chúng ta chẳng là gì hết. Nhưng tâm tình hối hận và niềm tín thác trọn vẹn của chị vượt qúa xa tâm tình của chúng ta. Một cha linh hướng rất khôn ngoan đã nói về chị như sau : “Mađalêna đã biết rõ cách phải làm thế nào để chiếm được lòng Chúa Giêsu : chị đã có sự táo bạo hiếu thảo. Những tội lỗi xưa, những tội lỗi đã được tha, không cản trở chút nào cho sự kết hiệp mật thiết với Chúa. Có thể nói tội lỗi là lý do để chị yêu mến Chúa hơn. Từ hôm Chúa nói với Mađalêna : “Chị hãy đi bằng yên, các tội của chị đã được tha rồi”, từ ngày đó không khi nào Chúa nhắc đến các tội lỗi đó nữa. Và chị cũng không bận tâm chút nào về những điều đó nữa. Chị không bao giờ rời xa Chúa, không bao giờ chị nghĩ rằng những người khác có quyền gần gũi Chúa hơn chị. Chị luôn ở bên cạnh Chúa, và Chúa Giêsu tốt lành không bao giờ xua đuổi chị. Chị luôn nghĩ đến Chúa, quên cả nghĩ đến bản thân mình, và đó là bí quyết của bình an cho tâm hồn, và bí quyết nên thánh. – Phần chúng ta cũng vậy, một khi đã thấm thía rằng mình chỉ là hư vô, đầy những xu hướng xấu xa, những yếu đuối và những sự khốn nạn, thì tất cả công việc phải làm là : hãy gieo mình vào trong Trái Tim yêu thương của Chúa Giêsu. Ngài sẽ không chê bỏ ta đâu, sẽ không bao giờ xua đuổi ta. Khi đó chúng ta sẽ có thể quên mình đi, và chỉ nghĩ đến việc làm vui lòng Ngài. Không có nguy hiểm, không sợ suy đoán sai đâu. Chúa Giêsu, Chúa chúng ta vô cùng thương xót, vô cùng quảng đại, hơn tất cả những gì chúng ta có thể tưởng tượng. Nếu có cản trở, thì cản trở đó là do chúng ta vẫn nghĩ về mình, vẫn ngầm tin tưởng vào mình, chứ không phải sự khốn nạn của ta. Chúng ta không bao giờ tin tưởng và tín thác qúa vào Ngài”[4].

Sự nhớ lại những tội lỗi hiện nay hoặc xưa kia của ta không nên làm cho ta khép tâm hồn lại, hoặc làm mất sự phấn khởi vui tươi rất cần cho việc phụng sự Chúa. Không bao giờ tội lỗi của ta, dầu nặng nề đến đâu, có thể gây nên, vâng, không được để nó gây nên một bầu không khí hoài nghi, hoặc thiếu tin tưởng giữa ta và Chúa Giêsu. Không bao giờ được để cho tội lỗi làm giảm vẻ tự nhiên thoải mái giữa ta và Chúa Giêsu nhân từ.

Nếu những điều này đúng cho những lỗi phạm cố tình, ít khi xảy ra nơi những tâm hồn thật sự nội tâm, thì tất nhiên càng đúng cho những lỗi lầm phần nào cố ý, hoặc chỉ vì yếu đuối, hoặc sơ ý.

Đáng buồn thay ! Sau khi sa ngã, chúng ta thường bị cám dỗ ở lỳ trong tình trạng trầm cảm, chán nản, quạu cọ. Cả sau khi đã khiêm nhường nhận lỗi và xin lỗi Chúa, chúng ta vẫn tự cảm thấy ngượng ngùng, không được thoải mái với Chúa. Hình như chúng ta không thể xử sự như thể đã không có gì xảy ra, và chúng ta phải mang cái bộ mặt buồn thảm của kẻ đã lỗi phạm. Chúng ta làm thế với người ta thì còn có thể hiểu được, chứ đối với Chúa Giêsu ! Chúng ta hãy nhớ lại những gì đã được nói với ta trên đây : nếu chúng ta muốn, tội lỗi của ta mang lại cho Chúa cơ hội để Ngài thực thi lòng thương xót vô cùng của Ngài. Và như vậy, đó sẽ là căn nguyên sinh ra niềm vui ngọt ngào cho Ngài.

Thiết tưởng không có minh họa nào rõ hơn cho chân lý này bằng câu chuyện vui của thánh Giêrônimô. Một hôm vào tuần lễ Giáng Sinh, Hài Nhi của Bethlêem mà Giêrônimô rất yêu mến nói với ông rằng : “Giêrônimô, cho Ta cái gì đi ! – Nhưng lạy Chúa, Giêrônimô thưa, con đã cho Chúa tất cả rồi mà, cuộc sống của con, các sách vở của con, mấy nhân đức bé nhỏ của con, việc tông đồ của con… Đó, tất cả là của Chúa. Chúa hãy nhận lấy đi ! – Giêrônimô, cho Ta cái gì đi ! – Ồ, lạy Chúa, có còn gì trong trái tim con đâu ! – Giêrônimô à, còn, Ta thấy con còn giữ cái gì đó…, con không muốn cho Ta. – Vậy Chúa muốn gì ạ ? – Giêrônimô, con hãy cho Ta những tội lỗi của con.”

Ôi, đúng thế, Chúa Giêsu cần có những sự khốn nạn và tội lỗi của ta, để tình thương đầy thương xót của Ngài có dịp chan hòa với vật thọ tạo bé mọn của Ngài. Chính Chúa Giêsu đã nói ra lời tuyệt vời đó với chị Benigna – Consolata : “Con ơi, con hãy bán những sự khốn nạn của con cho lòng thương xót của Cha”.

Sau bấy nhiêu nhận xét, làm sao ta còn nghi ngại và thiếu tin tưởng vì thấy mình khốn nạn ? Lỗi lầm của ta có thể đã làm Chúa buồn phiền, ồ Chúa không buồn lắm đâu, nếu ta tỏ ra quảng đại. Lòng mến yêu và sự hối lỗi chân thành của ta đã đền bù cho Chúa qúa đủ, và làm Ngài vui sướng, hơn là đã buồn vì lỗi phạm của ta.

Một chị tập sinh tỏ ra đau đớn hối hận vì một lỗi đã phạm. Thánh nữ Têrêxa Hài đồng Giêsu bảo chị ấy : “Em hãy ôm hôn tượng Chúa chịu đóng đinh”. Chị ấy hôn chân Chúa. Thánh nữ liền bảo : “Đứa con chỉ hôn cha mình như thế sao ? Chị thánh nói : Em hãy quàng tay lên cổ Cha và hôn mặt Ngài.” Chị tập sinh vâng theo. “Như thế chưa đủ, phải để Cha con hôn lại con.” Và chị tập sinh đã đặt tượng Chúa lên cả hai má của mình. Khi đó thánh nữ nói : “Tốt lắm, bây giờ thì mọi sự đã được tha thứ !”.

Đó, các thánh đã hiểu thế nào về tình thương và lòng thương xót của Chúa. Trong cuốn ghi những lời khuyên và những kỷ niệm của thánh nữ Têrêxa rất yêu qúi của chúng ta, người ta đọc được câu chuyện cảm động này. “Một trong những nữ tu bạn của chị  thánh đã làm phiền lòng chị thánh, và đã đến xin lỗi. Têrêxa tỏ ra rất xúc động và nói : “Chị có biết tôi đang cảm thấy điều gì không. Tôi chưa bao giờ hiểu rõ bằng lúc này về tình thương mà Chúa Giêsu dành cho ta, khi ta xin lỗi Ngài vì đã lầm lỗi. Nếu tôi, một vật thọ tạo bé mọn, tôi đã cảm thấy rất âu yếm chị, khi chị đến xin lỗi tôi, thì Trái Tim Chúa sẽ rung động đến đâu khi người ta trở lại xin lỗi Ngài. Vâng, chắc chắn còn mau lẹ hơn là tôi vừa làm với chị, Ngài sẽ quên tất cả mọi sai lỗi của ta, Ngài không bao giờ nhớ tới nữa… Ngài còn làm hơn thế nữa : Ngài sẽ yêu thương ta hơn cả trước khi ta lỗi lầm…”.

Những lời này tự nhiên làm ta nhớ lại bài dụ ngôn về đứa con hoang đàng, trong đó Chúa Giêsu đã tự mô tả về Ngài : với những lời nồng nàn và những nét mạnh mẽ, Ngài đã nói lên niềm vui rất lớn lao của Ngài, khi thấy ta ăn năn trở lại sau những lỗi lầm. Các tác giả viết về dụ ngôn này đều chú ý đến sự kiện người cha không chờ cho đứa con lại với mình, nhưng ông đã chạy đi đón nó, đã không đợi cho nó nói lời thú tội, nhưng đã vội ôm lấy nó một cách rất âu yếm. Lúc đó đứa con hoang đàng coi thật là thảm hại, áo quần rách rưới, con người thì bẩn thỉu hôi hám. Nhưng người cha nhân từ đã không chút để ý đến cảnh rách rưới và hôi hám đó, ông đã ôm ngay lấy đứa con trở về, và ông đã khóc vì vui sướng thấy con trở về. Mau lấy áo mới cho cậu thay ! Hãy xỏ nhẫn vào tay cậu, để cậu được đàng hoàng làm con ta như trước ! Người cha nhân từ không nói với đứa con trở về : “Để xem nó cải tạo ra sao. Nếu nó giữ vững quyết tâm và hối cải, cha sẽ quên mọi lỗi lầm của nó, và sẽ yêu thương nó như xưa”. Không, người cha trong bài dụ ngôn không có thái độ trông chừng đó, không có thái độ ơ hờ đó. Người cha đã lập tức tha thứ, đã đón nhận và yêu thương đứa con trở về, ngay trước khi nó có giờ để nói lời xin tha. Thiên Chúa còn nhân từ và tốt lành hơn người cha trong dụ ngôn muôn ngàn lần. Kẻ có tội bắt đầu hối hận và quyết chí hối cải, thì Chúa đã yêu thương nó rồi.

Ôi ! Ước chi tôi học thuộc được nghệ thuật, cái nghệ thuật diễm phúc dạy tôi cách cư xử với Chúa, để sau khi phạm lỗi, nhờ có niềm tín thác trọn vẹn, tôi tìm lại được tình thương của Chúa, và thấy Chúa thương tôi còn hơn cả trước đó. Đó thật là một ơn rất trọng của Chúa, vì nhờ ơn Chúa, chúng ta lại vẫn tin tưởng và cởi mở với Ngài như trước. Điều này chứng tỏ ta đã tiến xa trên đường nhân đức.

Cha Considine khẳng định rằng : “Khi một người thường phạm một lỗi lầm, phải qua một thời gian, rồi người đó mới cảm thấy tự nhiên với Chúa như trước. Đó là vì người đó chưa hiểu đủ về lòng nhân từ và quảng đại của Chúa. Còn khi một thánh nhân phạm sai lỗi, ngài lập tức chạy đến với Chúa, như đứa bé chạy lại với mẹ nó, thú nhận điều sai lỗi cách khiêm nhường và thật thà, không chữa mình, không giải thích, như một đứa bé chân thành và tin tưởng. Và chỉ một lúc sau, Ngài đã cảm thấy hạnh phúc bên cạnh Chúa như trước. Lỗi của Ngài đã không gây nên một sự khác biệt nào hết. Thánh nhân không kém hiểu biết về tội lỗi, so với những người khác. Các ngài còn hiểu hơn họ nhiều. Nhưng điều quan trọng và là điều khác biệt, là các ngài hiểu biết Chúa hơn chúng ta nhiều. Một dấu hiệu chắc chắn về tiến bộ trên đường trọn lành, là mau chóng trở lại và lấy lại được sự bình an, sau mỗi khi phạm sai lỗi”.[5]

Lạy Chúa Giêsu, xin cũng ban cho con ơn hiểu biết sự dịu hiền của Trái Tim Chúa. Xin đừng để con làm cho Chúa buồn phiền lâu, và có lẽ đó là nỗi cực lòng lớn lao người ta thường làm cho Chúa, khi không tin tưởng vào ơn tha thứ và tình thương của Ngài sau khi người ta sa ngã. Ước chi, nhờ ơn Chúa sau mỗi lần sai lỗi, con càng yêu mến Chúa cách nồng nàn hơn và tin tưởng vào lòng thương xót Chúa hơn ! Nay con đã hiểu rằng : vẫn tín thác vào Chúa như trước khi sai lỗi sẽ làm Chúa vui hơn, tỏ rõ lòng mến và sự thống hối của con hơn. Nếu con lỡ sa ngã, con sẽ không nói như thánh Phêrô khi mới đi theo làm tông đồ : “Lạy Chúa, xin Ngài xa con ra, vì con là một kẻ tội lỗi”. Trái lại, với một niềm tín thác bao la, con sẽ thưa Chúa rằng : “Lạy Chúa Giêsu, xin Chúa đến với con, vì Chúa biết những sự khốn nạn và những tội lỗi của con, và Chúa biết con rất cần đến lòng thương xót của Chúa”.

II.  THIÊN CHÚA ĐỂ CHO TA SAI LỖI, VÌ NHỮNG LỢI ÍCH LỚN LAO MÀ NHỮNG LỖI PHẠM SẼ MANG LẠI CHO TA : CHÚNG GIÚP TA YÊU MẾN CHÚA, KHIÊM NHƯỜNG, CHÊ GHÉT MÌNH, MẾN YÊU SỰ HÈN HẠ CỦA MÌNH, YÊU MẾN CHÚA CÁCH TINH RÒNG VÌ NGÀI LÀ BẢN NGÃ MỚI CỦA TÔI.

–   HÃY NHỚ ĐẾN MỤC ĐÍCH ĐÓ CỦA CHÚA, THÌ NHỮNG LỖI PHẠM SẼ TRỞ NÊN NGỌT NGÀO CHO TA.

Thiên Chúa để ta sai lỗi, vì những lợi ích lớn lao mà những sai phạm sẽ mang lại cho ta.– Chúng ta đã hiểu được phần nào rằng các sai lỗi của ta không nên làm ta mất tín thác và kém tự nhiên thân mật với Chúa. Thật ra, nếu biết lợi dụng những lỗi lầm đó, để sống khiêm nhường hơn, tín thác và yêu mến Chúa hơn, chúng ta sẽ không mất chút nào những ân sủng mà Chúa dành cho ta.

Để hiểu rõ hơn nữa, chúng ta nên suy xét kỹ hơn về những lợi ích lớn lao mà các lỗi lầm mang lại cho những ai nắm được nghệ thuật đền bù những sai lỗi đó.

Trước hết, đây là một tư tưởng có thể an ủi rất nhiều đối với những linh hồn quảng đại, luôn yêu mến Chúa và lo làm vui lòng Chúa trong mọi sự. Đó là : đối với những linh hồn thật lòng yêu mến Chúa và không bao giờ muốn cố ý làm phiền lòng Ngài, thì những lỗi lầm và những sai phạm vì yếu đuối, vì sơ ý chưa kịp suy nghĩ, không làm phiền lòng Chúa đâu. Chúa Giêsu nhân từ là Thiên Chúa, Chúa thấy rõ ràng sự yếu đuối và những bất toàn của bản tính loài người chúng ta. Ngài thấy rõ sự khác biệt giữa những sai lỗi cố ý hoặc phần nào cố ý, và những sai lỗi do yếu đuối hoặc do sơ ý.

Thánh nữ Têrêxa Hài đồng Giêsu thường nhấn mạnh lên sự khác biệt này, để giúp các linh hồn yêu mến giữ được niềm vui và sự bình an trong tâm hồn. Thánh nữ nhắc đi nhắc lại rằng : những sai lỗi do yếu đuối đó không làm phiền lòng Chúa, không làm mất lòng Ngài. Áp dụng vào bản thân, thánh nữ nói một cách dễ thương : “Tôi có quyền làm những chuyện dại dột nho nhỏ cho đến chết, mà không xúc phạm đến Chúa, nếu tôi cứ khiêm nhường và cứ bé nhỏ trước mặt Ngài. Hãy xem những trẻ nhỏ, chúng cứ tiếp tục làm đổ vỡ đồ đạc, làm rách áo quần và đồ dùng, chúng bị té, nhưng chúng vẫn yêu mến cha mẹ rất nhiều, và vẫn được cha mẹ thương yêu rất nhiều”.

Thánh nữ có lý lắm. Có nhiều lỗi lầm của ta có thể đi đôi với một lòng yêu mến lớn lao và một ước muốn chân thành làm vui lòng Chúa. Những lỗi lầm đó không xúc phạm và không làm Chúa phiền lòng. Có chăng, chúng làm phiền cái lòng tự ái của ta. Và đó là một điều tốt. Nếu hạnh phúc độc nhất của ta ở đời này là làm vui lòng Chúa Giêsu, thì sung sướng biết bao, khi biết rằng chúng ta vẫn làm vui lòng Chúa, mặc dầu có những sai lỗi nho nhỏ ! Thật không còn gì mang lại an ủi lớn hơn cho những linh hồn quảng đại ?

Sau khi đã biết phân biệt như thế, giữa những lỗi lầm không làm phiền lòng Chúa và những sai lỗi làm mất lòng Ngài, bây giờ chúng ta phải tìm hiểu vì những lý do nào Chúa để chúng ta sa ngã, đôi khi nhiều lần và lâu ngày lâu tháng, và sa ngã vào những lỗi phạm cố ý. Nếu Chúa muốn, Ngài có thể giúp ta giảm bớt rất nhiều những sai phạm đó. Vậy tại sao Chúa lại để ta sai phạm nhiều như thế ? Nếu Ngài để ta sai phạm, cả nơi những linh hồn hết lòng mến yêu Ngài, đó là vì Ngài thấy có những lợi ích lớn lao cho ta.

Thánh Phanxicô Salêsiô viết cho một nữ tu con thiêng liêng Ngài như sau : “Có thể con thấy một nữ tu hay vấp ngã và phạm nhiều sai lỗi, lại có nhân đức hơn và đẹp lòng Chúa hơn, hoặc vì chị ấy giữ được lòng can đảm hơn giữa những khiếm khuyết của mình, không lo lắng và rối trí vì thấy mình hay sa ngã như thế, hoặc vì chị ấy nhờ đó mà ở khiêm nhường hơn, hoặc vì chị ấy yêu mến sự hèn hạ của mình, còn như con thấy một chị nữ tu khác có cả tá nhân đức tự nhiên mà có, hoặc do tập tành, nhưng chị này không phải luyện tập nhiều và không vất vả, bởi vậy chị này có thể ít can đảm hơn chị kia là người dễ bị sa ngã”. Và thánh nhân áp dụng điều này vào trường hợp thánh Phêrô : tuy có nhiều nết xấu và những sa ngã, vị tông đồ này “đã được Chúa ưu tiên kén chọn hơn thánh Gioan và các tông đồ khác”.

Mẹ đáng kính Marie de Sales Chappuis, được đào tạo trong trường học của thánh Phanxicô Salêsiô là cha mình, cũng đã viết rằng : “Nếu mỗi hơi thở, chúng ta sa phạm một lỗi lầm, nhưng cũng bằng ấy lần, chúng ta lại chạy đến với Chúa, và lại tiếp tục sống tốt lành, thì những sa ngã không gây thiệt hại gì hết. Chúa Giêsu không nhìn vào những sai lỗi của ta, cho bằng nhìn vào lợi ích mà ta rút ra từ đó, nếu nhân đó mà ta hạ mình xuống, trở nên bé nhỏ, khiêm nhường và hiền lành. Khi đó, những sai lỗi không làm hại ta, không làm cho ý chí yếu đi. Biết nhận lỗi là một ơn rất trọng Chúa ban cho các linh hồn. Sự nhận biết này giúp ta khám phá lòng nhân hậu của Thiên Chúa và công ơn cứu chuộc của Chúa Cứu Thế”.

Những lỗi lầm giúp ta yêu mến Chúa, sống khiêm nhường, chê ghét mình, yêu mến sự hèn hạ của mình và mến yêu Chúa là bản ngã mới của ta. – Đâu là những lợi ích lớn lao mà những lỗi lầm có thể mang lại cho ta ? Kể ra hết thì sẽ dài lắm. Chúng ta chỉ nên dừng lại ở ba bốn lợi ích đáng kể nhất.[6]

Một trong những lợi ích rõ ràng nhất là những lỗi lầm thường là dịp để ta tỏ bày lòng yêu mến Chúa. Chúng làm nảy sinh trong tâm hồn ta những tâm tình sám hối trìu mến, mang lại cho Chúa nhiều an ủi, và đền bù rộng rãi cho Thánh Tâm Ngài. Mađalêna đã vì lỗi phạm nhiều mà yêu mến Chúa rất nhiều. Phải chăng vì luôn nhớ đến các tội lỗi mình, nên lò lửa yêu mến trong tâm hồn chị đã luôn bừng bừng cháy ? Rất có thể nếu không có những sa ngã nặng nề kia, Mađalêna đã chẳng trở thành người mến yêu Chúa rất mực như thế, và đã không trở thành một vị thánh tuyệt vời như thế.

Lợi ích này của các lỗi lầm thường tỏ ra đặc biệt đúng cho những linh hồn thành tâm tận hiến cho Chúa. Nơi họ, những sai lỗi thường chỉ là những biểu hiện vô ý, hoặc sơ ý, của tính tự ái. Những sai lỗi này vượt ra ngoài tầm cảnh giác của họ, nhưng làm họ hối hận và là dịp để họ than thở và mến yêu Chúa. Lỗi lầm của họ, một chút tự ái của họ, đã được đền bù gấp trăm lần bằng tình mến yêu và niềm hối hận tín thác của họ. Họ làm như một đứa bé đã quậy phá. Đứa bé đã không cố ý làm phiền lòng mẹ nó, nhưng nó thấy đã làm phiền lòng mẹ nó một chút. Nó liền gieo mình vào lòng mẹ nó, hôn lấy hôn để mẹ nó. Và mẹ nó tỏ ra sung sướng. Những linh hồn trìu mến cũng làm như thế với Chúa Giêsu. Họ thấy đã làm phiền lòng Chúa, và họ đau khổ vì đã làm phiền lòng Chúa như thế. Cho nên họ hết lời than thở và xin lỗi Chúa, rồi họ tìm đủ cách để tỏ lòng mến yêu Chúa. Và Chúa Giêsu đã rất vui sướng. Bởi vậy không lạ gì Ngài thường để cho các linh đó vướng vào những sa ngã nho nhỏ đó một thời gian lâu, để họ có dịp tỏ lòng mến yêu Ngài cách tha thiết như vậy.

Chị Bêninha Consolata kể lại rằng : “Một hôm tôi đặt tượng Chúa Hài Đồng nhỏ bên cạnh tờ giấy tôi đang biết. Tôi vô ý kéo tờ giấy, làm tượng Chúa Hài Đồng đổ lăn trên bàn. Tôi vội nhắc tượng Chúa lên và hôn kính, đồng thời nói với Chúa Hài đồng rằng : “Nếu không bị ngã lăn ra, Chúa đã không có cái hôn này”. Và Chúa đã trả lời tôi một cách rất nhân từ : “Thì cũng vậy, khi con phạm một sai lỗi sơ ý, Bênigna ạ, con không xúc phạm đến Cha, nhưng hành vi khiêm nhường và yêu mến của con sau đó, những hành vi đầy ý thức, là cái hôn con tặng Cha : cái hôn đó, Cha đã chẳng nhận được, nếu con không mắc sai phạm kia”.

Người ta tìm đâu được một biểu tượng dễ thương hơn, để nói lên cái phiền lòng rất nhỏ và niềm vui rất lớn mà những sai lỗi sơ ý của ta mang lại cho Chúa Giêsu ?

“Vậy các lỗi lầm của ta có vai trò chủ yếu là giúp ta kinh nghiệm, có thể nói là sờ thấy sự yếu hèn và nỗi khốn nạn của mình. Chúng phải phát sinh một sự khiêm nhường sâu xa trong tâm hồn ta, bởi vì nếu không thế, chúng ta sẽ không bao giờ chê ghét mình. Tất nhiên những khô khan, những khi mất an ủi, những cơn cám dỗ có thể giúp ta trong việc này ; nhưng do bản tính của chúng, những sa ngã thường làm cho ta cảm thấy sự khốn nạn của mình cách rõ ràng hơn và dễ dàng hơn. Không có những sa ngã đó, dầu chúng ta có suy gẫm rất nhiều về tính hư vô của mình, sự hư hỏng của mình, những nết xấu của mình, thì như thánh Phanxicô Salêsiô đã nói, “dưới trăm hình vạn trạng, tính tự ái vẫn ẩn nấp đâu đó, vẫn len lỏi khắp nơi và làm hư hỏng mọi sự”. Cả ngàn vạn bài suy gẫm cũng không mang lại cho ta sự khiêm nhường cụ thể và thấm thía mà, với ơn Chúa, chỉ có kinh nghiệm lặp đi lặp lại về sự khốn nạn của ta mới có thể dạy ta.

Đó là lý do tại sao Thiên Chúa để ta sa đi ngã lại mãi như thế, một điều chúng ta không muốn hiểu và thường gây khó chịu cho ta. Phải rất nhiều lần kề môi vào chén đắng này, nơi chúng ta nếm thử sự thiếu thốn và khốn nạn của mình, rồi chúng ta mới phần nào nhận ra cái tôi xấu xa, cay đắng và độc ác của mình.

Như vậy, dần dần với sự nhận ra cái tôi và tính tư kỷ của mình, tính tự ái của mình, chúng ta dần dần chán ngán và chê ghét mình. Lúc đầu, khi nhận ra những sự khốn nạn của mình như thế, tính tự ái của ta giẫy nảy lên : không gì làm nó khó chịu và khó chấp nhận bằng hình ảnh sự xấu xa của nó, hiện rõ trong tấm gương những sai lỗi của nó. Nhưng rồi dần dần những lỗi lầm của ta bớt làm ta khó chịu, và chúng ta cũng bớt tự ái, bớt yêu mình. Lâu dần, chúng ta bắt đầu quay về với Chúa, để tìm ở nơi Ngài vẻ xinh đẹp, sự tuyệt hảo và những nét đáng yêu mà ta vẫn mơ tìm thấy nơi bản thân mình. Đây là khởi đầu sự giải thoát và ơn cứu độ của ta. Cái tôi của ta không còn đáng yêu đáng qúi nữa. Và sau cùng, chúng ta nhận ra rằng mình phải yêu mến một đối tượng thật sự đáng mến yêu và tôn qúi : đó là Thiên Chúa.

Một hôm một tập sinh nói với thánh nữ Têrêxa: “Ồ, em còn qúa nhiều điều phải thủ đắc”. Và thánh nữ trả lời : “Em hãy nói còn qúa nhiều điều phải mất đi. Chính Chúa Giêsu sẽ lo đổ đầy linh hồn em theo mức mà em gột rửa linh hồn mình sạch hết những khiếm khuyết. Chị thấy em đi lầm đường rồi, như vậy em sẽ không bao giờ tới đích. Em muốn lên núi, còn Chúa Giêsu lại muốn em đi xuống : Ngài chờ em ở đáy thung lũng, chỗ phì nhiêu của đức khiêm nhường”.

Nhận định này của thánh nữ rất đúng và chứng tỏ một kinh nghiệm sâu sắc trên đường nên thánh. Chúng ta không thể nên thánh bằng cách chỉ lo cải thiện cái tôi của ta, vì nó có bản chất xấu xa, vô phương chữa trị. Chúng ta không thể nên thánh bằng cố gắng sửa tính xấu này, chừa tính xấu kia[7]. Cách làm đó không đi tới đâu hết. Cũng giống như câu ngạn ngữ : “Muốn làm trắng một người da đen, người ta chỉ uổng phí xà bông”. Chính tính tự ái của ta đã bảo ta quan niệm con đường nên thánh theo cách đó, để ta đừng dò xét nó. Chính tính tự ái dạy ta quan niệm sự thánh thiện như một vẻ đẹp, một vẻ cao qúi cho cái tôi của mình.

Quan niệm sự trọn lành theo cách đó sẽ chỉ tăng thêm sự yêu mình và tự tin vào mình. Chúng ta mơ tưởng một sự thánh thiện do bàn tay ta làm ra, do hành động của ta : đó là cái tôi được cải thiện. Đó là sự thánh thiện mà tôi có thể thầm tự thỏa mãn và gọi là : sự thánh thiện của tôi.

Không nên làm thế ! Ngàn lần không nên làm thế ! Làm như thế sẽ không phải là nên thánh. Trái lại, chính nhờ chỗ thấy mình yếu đuối và khốn nạn mà chúng ta đi tới chỗ hiểu dứt khoát rằng : cái tôi của tôi qúa xấu xa, qúa khốn nạn, tôi không thể tiếp tục công việc làm đẹp nó. Tôi phải quên mình đi, phải chê ghét mình, phải đi tìm đối tượng khác cho sự qúi mến của tôi. Và đối tượng đó phải là Thiên Chúa vô cùng tốt lành và thánh thiện. Nghĩa là tôi phải quên mình đi, bỏ mình đi, và Thiên Chúa phải trở thành kho báu độc nhất của tôi. Thay vì làm đẹp cho mình, thay vì đề cao mình, tôi phải cầu chúc vinh quang của Chúa, yêu mến Ngài và ước ao thấy mọi người mến yêu Ngài. Không nên muốn mình là gì hết, phải nhận ra mình là hư vô. Thiên Chúa phải là tất cả cho tôi, tôi phải tìm thấy nơi Ngài mọi niềm vui, mọi ước muốn, mọi tôn vinh. Tôi phải đắm chìm trong Chúa, biến mất đi trong Ngài, phải từ bỏ mọi sự tốt lành bản thân bên ngoài Ngài, bên cạnh Ngài. Tóm lại, tôi phải để Chúa chiếm đoạt trọn vẹn con người của tôi, để tôi thay sự yêu mình bằng lòng mến yêu một mình Chúa.

Khi đó tôi sẽ có tình mến yêu tinh ròng và cao cả, yêu mến Chúa cách tuyệt đối vô tư, yêu mến Ngài vì Ngài mà thôi. Khi đó tôi sẽ có lòng yêu mến tinh ròng, tức chính lòng yêu mến của Thiên Chúa đối với bản thân Ngài. Chính tình yêu của Thiên Chúa ở trong trái tim tôi : tình yêu trong trái tim tôi sẽ chính là đức ái thần linh mà Thiên Chúa tự yêu mến mình ở trong tôi. Đúng là nhờ đã mất đi tất cả mà tôi đã có được tất cả[8].

Nói tóm lại, điều quan trọng trên hết là nhờ thấy mình tội lỗi khốn nạn, chúng ta đi tới chỗ chán ghét mình, liệng cái bản ngã xấu xa đi thật xa như trút bỏ một cái khối nặng nề và tai hại. Khi đó linh hồn ta sẽ nhẹ nhàng bay lên miền đầy ánh sáng và đầy tình mến yêu tinh ròng. Khi tống khứ được cái tôi ra khỏi, linh hồn ta sẽ được đổ đầy Thiên Chúa.

Hãy nhớ mục đích của Thiên Chúa, thì các lỗi lầm sẽ trở nên ngọt ngào cho ta. – Tóm lại, đó là bí mật của Chúa khi để ta mắc vào những lỗi lầm kéo dài mãi, mặc dầu chúng ta nhiệt thành trong việc sửa mình. Đó là chiến thuật Ngài sử dụng trong việc thánh hóa chúng ta. Ngài muốn chúng ta chê ghét mình một cách triệt để, và chỉ khi Ngài thấy chúng ta dứt bỏ tính tự ái và dứt bỏ lòng quyến luyến các vật thọ tạo, Ngài mới dần dần tỏ cho thấy vẻ tốt đẹp khôn tả của Ngài để lôi kéo trái tim đã thoát tục của ta. Qua những ơn rất qúi trọng của việc chiêm niệm, Ngài dần dần tỏ mình ra cho ta như đối tượng vô cùng đáng mến yêu, và như sự Thiện tuyệt đối mà tất cả cuộc sống siêu nhiên của ta phải qui về. Dần dần linh hồn thực hiện cuộc khám phá vô cùng lớn lao : nó khám phá thấy Thiên Chúa là Thiên Chúa của nó, Ngài là sự thiện của nó, và nó phải yêu mến Ngài vô cùng, hơn là yêu mến bản thân nó. Trước đây, nó đã chỉ yêu mến Chúa vì Ngài tốt lành và đáng mến yêu, bây giờ nó yêu mến Ngài còn là vì Ngài là của nó. Nó cảm thấy Ngài là bản ngã mới của nó, cái tôi mới của nó: sau khi vứt bỏ được cái tôi xấu xa của nó, nay nó có được một cái tôi mới vô cùng đáng mến yêu là Thiên Chúa của nó. Sau cùng, nay nó yêu mến Thiên Chúa bằng tình mến yêu hiệp nhất : nó yêu mến Chúa như của riêng nó.

Nó thật hạnh phúc ! Như con chim thoát khỏi lưới, nay nó có thể hát mừng sự giải thoát của nó. Bây giờ nó có thể nhìn vào những ung nhọt của mình mà không bối rối, không cay đắng. Những ung nhọt của cái tôi, những lỗi lầm của nó, nay hiện ra khác hẳn trước mắt nó : nó thấy chúng dễ thương và còn có vẻ ngọt ngào. Và nó còn thấy qúi yêu cả sự khốn nạn của nó nữa ! Nó càng mến yêu Chúa vô cùng đáng mến, thì nó càng qúi mến những tật xấu và sự khốn nạn của mình. Vui mừng vì thấy mình xấu xa hèn hạ, và yêu mến Chúa vô cùng thánh thiện và tốt lành, cũng là một đối với nó từ nay. Lòng yêu mến của nó có hai mặt : nó yêu mến Thiên Chúa vô cùng đáng mến, và nó chê ghét cái tôi xấu xa và hèn hạ của nó. Nó vui mừng chiêm ngưỡng vẻ đẹp khôn tả của Chúa, đồng thời nó vui mừng vì thấy bản thân nó xấu xa và hèn hạ.

Bạn thật có phúc, hỡi linh hồn được chúc phúc, bởi vì chân lý của Chúa đã giải thoát bạn. Dưới ánh sáng của thần chân lý, bạn đã nhận rõ cái tôi đáng ghét của bạn, và bạn không còn buồn vì thấy nó xấu xa. Có thể nói bạn vui mừng vì thấy nó xấu xa và đáng chê ghét. Và bạn đã đổi cái tôi xấu xa đó để lấy cái tôi vô cùng đáng mến của Thiên Chúa. Bạn đã đổi cái sự xấu xa bẩm sinh của bạn để lấy vẻ đẹp thần linh của Chúa. Bạn đã đổi sự yếu hèn khốn nạn của bạn để lấy sức mạnh toàn năng của Chúa. Và bạn đã đổi những đau khổ của bạn để lấy hạnh phúc thần linh của Chúa. Ôi sự thay đổi và trao đổi lạ lùng ! Bạn thật hạnh phúc qúa ! Mọi mơ tưởng của bạn đã được thực hiện một cách qúa sự trông đợi.  Bạn đã trở nên tốt đẹp, trọn lành, thánh thiện và hạnh phúc như bạn mơ ước, và còn hơn bạn mơ ước nhiều. Bạn đã trở nên tốt lành và hạnh phúc không phải nơi bạn và do bạn, cũng không phải ở ngoài Thiên Chúa và nơi bản thân bạn, nhưng trong Chúa và vì Chúa là Đấng tốt lành vô cùng, và bạn được đắm chìm trong Ngài : “Chúa là vinh quang của con và là hoan lạc của lòng con. Chúa là phần gia nghiệp của con đến muôn đời”. (Tv 118,3 – Tv 72,26). Một cách bí ẩn mà bạn không hay biết, nhờ rất nhiều những lỗi lầm đã che khuất cái lối bạn đã thoát ra khỏi chính mình, bạn đã tìm thấy hạnh phúc thật và sự giầu có đích thực. Là kẻ ăn xin từ bản chất, bạn đã trở thành nữ hoàng của vũ hoàn, bạn đã trở thành hiền thê của Thiên Chúa vô cùng giầu sang và toàn thiện.

III.  TÍNH TỰ ÁI BỰC MÌNH VÌ NHỮNG LỖI PHẠM CỦA MÌNH. LINH HỒN NỘI TÂM LẠI TÌM THẤY Ở ĐÓ LÒNG YÊU MẾN NGỌT NGÀO ĐỐI VỚI SỰ HÈN HẠ CỦA MÌNH.

– CÁC THÀY DẠY ĐÀNG NHÂN ĐỨC NÓI GÌ VỀ SỰ YÊU QÚI SỰ HÈN HẠ CỦA MÌNH.

Tính tự ái bực mình vì những lỗi lầm của mình. Linh hồn nội tâm lại tìm thấy ở đó lòng yêu mến ngọt ngào đối với sự hèn hạ của mình.– Biết mình, chán ngán cái tôi của mình, yêu mến Thiên Chúa, yêu mến Chúa tới mức yêu qúi sự hèn hạ của mình đến bỏ mình đi vì Chúa : đó là những bước đường, mà nhờ ơn Chúa, các lỗi lầm của ta dẫn ta đến với Thiên Chúa. Và điều này được tóm lại trong hai từ : bỏ mình đi, và nhận được Thiên Chúa.

Không thể hồ nghi gì nữa, trong ý định của Thiên Chúa, những lỗi lầm của ta có một vai trò rất qúi giá của Chúa quan phòng. Nhưng các lỗi lầm có giá trị hay không là do chúng ta : chúng sinh ra những lợi ích mà chúng ta biết rút ra. Vai trò chủ yếu của chúng là làm giảm bớt và làm mất đi tính tự ái của ta, và nhân đó làm gia tăng lòng mến yêu Chúa. Nhưng cần phải hiểu rõ vai trò này, phải hiểu rõ đường lối của Thiên Chúa là dùng kỹ thuật này để sinh ích lợi cho linh hồn ta. Chỉ với điều kiện này, các lỗi lầm mới trở thành những lý do để ta càng tín thác trọn vẹn nơi Chúa.

Trên đây chúng ta đã chứng minh các lỗi lầm giúp ta hạ mình xuống, vì chúng cho thấy bản chất xấu xa của ta. Bởi vậy, tính tự ái buồn vì điều đó và bực tức đến điên người. Với sự khiêm nhường chân thành của ta, những mưu mẹo của nó để che giấu sự hèn hạ của ta đã bị phơi bày ra. Như vậy rõ ràng tính tự ái, sự yêu mình là một tâm tình gian dối. Bây giờ sự thật đã rõ như ánh sáng mặt trời : đó là khi yêu chuộng tính kiêu căng, lòng nhục dục và tính tự ái của mình, chúng ta đã có những tâm tình hết sức phi lý và dại dột. Nay chúng ta khám phá ra rằng cái tôi của chúng ta chỉ đáng chúng ta yêu qúi nó vì nó là của chúng ta. Chúng ta yêu cái tôi của mình, không phải vì nó tốt đẹp và dễ thương, trái lại nó rất không đáng ta yêu qúi, nhưng ta vẫn yêu qúi nó chỉ vì nó là chúng ta. Thật là điên rồ và phi lý. Vậy những lầm lỗi của ta đã giúp ta lột mặt nạ nó, nhận ra nó đáng chê cười, và nhờ đó mà giết được tính tự ái và thói tôn qúi bản thân mình cách khờ dại.

Chính vì thế mà tính tự ái của ta đã phát điên phát khùng lên khi thấy những lỗi lầm của mình. Và nó đã tìm đủ cách để chữa mình và chữa lỗi. Nó luôn tỏ ra cay đắng vì tội lỗi của mình, và không làm sao dập tắt được nỗi buồn bực. Bởi vậy chúng ta phải biết rằng : bực tức vì tội lỗi mình, lo âu xét mình, buồn bã thái qúa lấy cớ là đã làm phiền lòng Chúa, tất cả những thái độ đó đều là sa vào cạm bẫy của tính tự ái, là vô tình giúp cho tính tự ái đối diện với thực trạng của nó. Và như vậy chúng ta đánh mất tất cả những lợi ích mà các tội lỗi có thể mang lại cho ta.

Trái lại, nếu lòng mến yêu của ta đối với Chúa là một lòng mến tinh ròng, thì nhìn vào đống tội lỗi của mình, chúng ta không bối rối, không cay đắng mà còn có một niềm vui an bình. Lòng mến yêu Chúa khiến chúng ta quên mình, ra khỏi mình, làm như có hai người ở trong ta : khi tình yêu Chúa ngự trị trong ta, thì không phải ta nhưng là Chúa sống trong ta. Chính Thiên Chúa tự yêu mến Ngài ở trong ta. Dưới mắt của lòng mến này, cái tôi của tính tự ái và tính tư kỷ  không còn là tôi nữa. Cái tôi đó không còn là của tôi nữa, không còn là tôi nữa : nó đã trở thành kẻ xa lạ, một kẻ thù. Con người cũ này là người tình cũ xấu xa của linh hồn, đã mê hoặc linh hồn và làm cho linh hồn yêu mến những sự có hại và cay đắng cho linh hồn.

Làm sao linh hồn được Chúa yêu thương, đã đồng hóa với tình thương đó, lại không vui mừng khi nhìn lại các lầm lỗi và những sự khốn nạn của mình ? Đúng thế, tất cả những gì lột mặt nạ cái tôi xấu xa và độc địa, tất cả những gì đánh vào tính tự ái, tình nhân xấu xa trước kia và là bạo chúa của linh hồn, phải được linh hồn vui mừng đón nhận và là căn nguyên hạnh phúc của linh hồn.

Đàng khác, sự xấu xa và xấu xí của cái tôi độc ác, cũng như những đau khổ của nó, càng làm nổi bật vẻ tốt lành, xinh đẹp và đáng mến của Chúa nay đã trở thành niềm vui và hạnh phúc của tôi. Bởi vậy những lỗi lầm kia được ví như những ánh chớp trong đêm tối, làm cho ta thoáng nhìn thấy những vẻ tốt lành thần linh của Chúa, nay đã là của linh hồn và trước đây linh hồn nhận biết qúa ít. Mỗi một thoáng nhìn đó, mỗi một hướng lòng về cái sự tuyệt hảo thần linh vô cùng đáng mến đó sẽ là một sứ điệp tình thương và hạnh phúc Chúa gửi đến cho linh hồn.

Như vậy những linh hồn tiến xa trên đường trọn lành, những linh hồn đã biết chê ghét mình và bỏ mình đi để nhận lấy Thiên Chúa và tình thương tinh ròng của Ngài, sẽ tìm thấy hạnh phúc và khoái lạc ở chỗ mà những linh hồn còn tự ái chỉ thấy bực mình và buồn chán. Họ tìm thấy niềm vui trong những lỗi lầm, bởi vì những lỗi lầm giúp họ bỏ được tính tự ái và dần dần hủy diệt được nó. Như vậy họ an vui sống theo những ý định của Thiên Chúa, vì Ngài cho phép xảy ra những xa ngã đó để giúp họ diệt tính tự ái. Họ yêu qúi sự hèn hạ của mình, và mỗi sai lỗi mà họ lỡ mắc phải sẽ là dịp để họ thực tập sự chê bỏ mình, chê bỏ cái tôi của mình.

Khi nhìn lại những lỗi lầm của mình mà khinh chê mình, khi vui vì đã nhận ra sự xấu xa của con người cũ, và khi biết yêu qúi sự hèn hạ của mình vì lòng mến yêu Thiên Chúa vô cùng tốt lành, chúng ta sẽ giúp Chúa tận diệt tính tự ái của ta. Như vậy mỗi lỗi lầm sẽ có thể giúp ta thực hiện những bước khổng lồ đi tới sự hiệp nhất với Chúa và được tan biến trong tình thương thần linh của Ngài.

Những lời dạy của các bậc thầy trong đường nhân đức về sự ta phải yêu mến sự hèn hạ của mình. – Ôi điều đáng tiếc là qúa ít linh hồn khám phá ra viên kim cương qúi giá này mà mỗi mặt của nó đều ánh lên lòng mến yêu Chúa : viên kim cương đó có tên là sự mến yêu sự hèn hạ của mình. Qúa ít linh hồn tìm ra hạnh phúc của mình ở nơi mà những linh hồn kém đạo đức chỉ gặp thấy buồn bực và chán nản ! Thánh nữ Têrêxa Hài đồng Giêsu đã tìm thấy sự yêu mến hoạ hiếm đối với sự hèn hạ của ta và đã tìm thấy lòng mến yêu rất tinh ròng đối với Thiên Chúa. Nơi mỗi trang chị viết, chị thường hay trở lại với sự qúi mến sự bé nhỏ của mình và lòng qúi mến mà ta phải có đối với những sai lỗi của mình. Ngay khi mới bước vào đời sống tu trì của mình, chị thánh đã viết cho chị Céline của mình những dòng tốt lành này : “Chúng ta đừng tưởng tìm thấy lòng mến mà không gặp đau khổ. Bản tính loài người của ta ở đó, và nó có vai trò của nó. Nhưng chính nó giúp ta kiếm được những kho báu : nó là kế sinh nhai của ta đó. Nó qúi báu đến độ Chúa Giêsu đã xuống thế chỉ vì nó, để có nó. Chúng ta muốn có thể chịu đau khổ rất nhiều, rất quảng đại ! Chúng ta ước gì không bao giờ sa ngã ! Đó là ảo tưởng ! Phần em, em có sa ngã luôn mãi thì có sao đâu ! Nhờ đó em sẽ cảm thấy sự yếu đuối của mình và em gặp thấy ở đó một lợi ích lớn lao. Lạy Chúa, Chúa thấy khả năng của con, Chúa thấy con sẽ ra sao nếu Chúa không bồng con trên cánh tay Ngài. Cho nên nếu Chúa để con một mình, thì chắc là Chúa thích thấy con nằm xoài dưới đất. Vậy tại sao em phải lo lắng ?”.

Chúng ta hãy củng cố thêm những tư tưởng đầy ủi an này bằng một vài trích dẫn khác nữa. Cha Surin, một thầy dạy rất đáng kính của đường nên thánh đã để lại một trang rất cao siêu sau đây về sự ta phải biết qúi mến sự hèn hạ của mình : “Phương thế mau lẹ nhất để đạt được sự bình an cho tâm hồn là phải biết qúi mến sự hèn hạ và những sự khốn nạn của mình, dầu chúng là thế nào đi nữa, trừ ra đó là sự cố tình phạm đến Chúa, sự qúi mến đối với những sự khốn nạn của mình, kể luôn cả những sa ngã, sẽ luôn giúp ích cho ta, và không bao giờ sẽ làm cho ta ngã lòng. Một linh hồn yêu qúi sự hèn hạ của mình sẽ không biết những chán nản và ngã lòng. Nó luôn cố gắng làm mọi cách để chống lại sự nản lòng. Nó hài lòng vì bản thân nó chỉ là bất lực và khốn nạn, cho nên nó rất vui mừng thấy Chúa Giêsu có đầy đủ và dư thừa những sự tuyệt hảo mà nó mơ ước. Nhân đó nó biết mình không thể bỏ qua Ngài một giây phút nào. Nó nghĩ nếu nó có một chút sức lực nào, nó cũng không muốn cậy dựa vào mình, bởi vì nay nó đã hiểu rõ sự bất lực căn bản của mình, và nó lấy sự cậy trông và tín thác nơi Chúa làm sức mạnh và niềm vui của bản thân nó. Cách thế này sẽ giúp linh hồn tiến tới trong lòng mến yêu Chúa cách tinh ròng chỉ trong một tuần lễ mau lẹ hơn cả năm trời lo lắng tập tành. Người ta sẽ không khó gì để thấy rõ điều này, nếu người ta có ít nhiều kinh nghiệm bước theo con đường của Chúa”.

Một vị linh hướng rất thời danh khác, cha Caussade, cũng rất nhiều lần đề cao sự qúi mến những thấp hèn này. Sau đây là mấy lời ngài viết cho một con thiêng liêng của ngài : “Ôi, nếu người ta biết chấp nhận, yêu mến và qúi trọng sự hèn hạ nội tâm của mình, người ta sẽ muốn luôn cảm thấy nó và ở trong nó, vì như thế chúng ta sẽ ở gần Chúa hơn. Thiên Chúa vô cùng cao cả và thánh thiện đã tuyên bố rằng : chúng ta càng hạ mình xuống, thì Ngài sẽ càng đến gần chúng ta hơn. Nếu hạ mình xuống trước mặt người ta là điều có ích cho ta, thì tự hạ trước mặt mình, tự hạ trước mặt tính tự ái và tự kiêu của mình còn sinh ích cho ta hơn nhiều, bởi vì tính tự ái và tự kiêu thường điên lên vì sự hèn hạ của mình. Đó là cách thế làm cho tính tự ái chết đi dần dần ở trong ta. Đó là lý do để Thiên Chúa thường để cho ta mắc phải những chuyện đáng xấu hổ trong tâm hồn. Chúng ta cần phải biết lợi dụng chuyện này, bằng cách thực hành lời chỉ bảo của thánh Phanxicô Salêsiô, là hãy thực thi những hành vi của đức khiêm nhường dịu dàng và bình tĩnh, và hãy xua đuổi thứ khiêm nhường giả dối đầy lo buồn và bực tức. Khiêm nhường mà lo buồn và bực tức thì rõ ràng là dấu hiệu của kiêu căng, cũng như đau khổ mà lo buồn và bực tức là dấu hiệu của sự thiếu nhẫn nhục”.[9]

Và đúng như chúng ta mong chờ, thánh Phanxicô Salêsiô khiêm nhường và nhân từ rất hay nói đến vấn đề quan trọng này. Ngài nói : “Cao điểm của đức khiêm nhường không chỉ ở tại chỗ thành tâm nhận biết mình hèn hạ, nhưng còn phải yêu mến và vui vì sự hèn hạ của mình, mà như thế không phải vì thiếu can trường và quảng đại, nhưng là để càng tôn vinh sự cao cả của Chúa và yêu mến tha nhân hơn chính bản thân ta”. Như vậy thánh Phanxicô Salêsiô đã gặp thánh tiến sĩ vĩ đại thành Hippone, vì thánh Augustinô định nghĩa “Khiêm nhường là yêu mến Thiên Chúa đến mức khinh chê bản thân mình”.

Ở một chỗ khác, thánh nhân viết : “Giả thử ta có thể đẹp lòng Chúa, lúc trọn lành cũng như khi không trọn lành, thì chúng ta phải ước ao sống không trọn lành, hầu nuôi dưỡng như thế đức khiêm nhường rất thánh ở trong ta”.

Một kitô hữu rất đáng tôn trọng, ông Bernières, cũng nói y như thế : “Nhận biết và vui nhận sự hèn hạ của mình là một trong những ơn thương xót lớn lao Chúa dành cho ta, bởi vì Chúa để chúng ta rút lấy ơn cứu độ từ chỗ hư hỏng của chúng ta, cũng như Chúa rút lấy vinh quang từ những lỗi phạm của chúng ta. Dưới ánh sáng của Chúa, linh hồn vui thích ngồi trên đống phân của những sự khốn nạn của mình, bao quanh bởi những sự hèn hạ của những lỗi lầm mình đã sai phạm, cũng như ông Gióp ngồi trên đống tro của những đau khổ xưa. Thấy mình đầy những tật nguyền và những sự khốn nạn, linh hồn lấy thế làm vui, bởi vì nhân đó nó có thể tôn kính và chúc tụng sự tốt lành của Thiên Chúa. Khốn nạn cho linh hồn sa ngã, nhưng sự hèn hạ nó mang lấy do sự sa ngã lại là một kho báu cho nó. Điều này rất ít người nhận ra, vì họ không nhận thấy hạnh phúc này. Họ nghèo khó, nhưng họ có một kho báu trong chính sự nghèo khó này. Đáng buồn thay, họ đã không thật sự nắm được kho báu này, vì họ không biết tìm nó”.[10]

Hỡi linh hồn tôi ! Từ nay mi phải xác tín rằng các lỗi lầm của mi rất có ích cho mi, vì sự khôn ngoan vô cùng của Chúa Giêsu đáng mến đã để như thế, hầu sinh ích cho mi và mang lại niềm vui cho Ngài. Các lỗi lầm của ta là thứ phân bón giầu chất dinh dưỡng, nếu thiếu nó thì các cây nhân đức của ta sẽ còi cọc và không sinh hoa trái. Vậy khi mi sa ngã, mi đừng ngạc nhiên và nhất là đừng bực tức với mình. Làm thế là đi vào cạm bẫy của tính tự ái. Và cũng là cưỡng lại những ý định của Thiên Chúa, vì Ngài muốn dùng cách này, dùng những sa ngã của mi để diệt trừ tính tự ái của mi. Trái lại, với tâm tình hối cải, bình tĩnh và mến yêu, mi hãy gieo mình vào vòng tay của Chúa Giêsu, như một đứa bé rất ngoan ngoãn. Hãy yêu mến ôm lấy Ngài như một đứa bé trọn vẹn tín thác. Hãy thưa Chúa rằng mi vui nhận sự yếu hèn của mình, miễn là mi thấy Ngài tốt lành và dễ thương. Rồi mi hãy quên đi tất cả mọi lầm lỗi của mình, và có nhớ thì chỉ nhớ để chê ghét mình, yêu mến sự hèn hạ của mình, để nhân đó mà mến yêu Chúa cách trọn vẹn hơn.

Nghĩ đến những lầm lỗi và những thiếu sót của tôi, tôi thấy tôi đã không hiểu chúng, cho nên từ nay tôi sẽ qúi mến chúng hơn. Nếu tôi đã biết chê bỏ mình, đã chán ghét mình, đã ngước mắt lên nhìn Chúa và yêu mến Ngài hết lòng, thì cũng phần nào nhờ vào những sai lỗi của mình. Các lỗi lầm của tôi đã chỉ cho tôi con đường dẫn tới chỗ chê bỏ mình, quên mình đi, để một lòng đi theo Chúa, tha thiết gắn bó với Ngài. Từ nay tôi sẽ biết đón nhận cách bình tĩnh những sai lỗi của tôi. Tôi sẽ yêu qúi những lỗi lầm đó, cũng như tôi thiết tha trìu mến Thiên Chúa rất tốt lành của tôi, và chán ghét cái tôi xấu xa của tôi.

Lạy Chúa, xin cũng hãy ban cho con ơn trọng này là nhận biết và qúi mến sự bé mọn và hèn hạ của mình. Đó là bí quyết nên thánh mà Chúa đã chỉ mặc khải cho những người khiêm nhường và bé mọn: “Chúa đã mặc khải cho những kẻ bé mọn” (Lc 10,21). Ước chi mọi yếu đuối và sa ngã của con, dầu chúng là thế nào đi nữa, cũng đều mang lại cho con hiệu qủa tốt lành này là giúp con thấm thía và vui mừng vì sự hèn hạ của mình, khinh chê mình và coi mình là hư vô, để đáng Chúa thương và để con càng yêu mến Chúa hơn. Hạnh phúc này là một hạnh phúc bị giấu kín. Chỉ mình Chúa có thể ban cho con ơn nhận biết và yêu mến sự thật đó. Xin Chúa ban cho con ơn qúi trọng và mạnh sức này, như Chúa đã ban cho nhiều linh hồn, vì đây là con đường ngắn nhất để mau lẹ đạt tới những đỉnh cao của sự thánh thiện. Vậy, lạy Chúa, vì công nghiệp vô cùng của Chúa Giêsu Con chí  ái của Chúa, xin ban cho con niềm vui lớn lao của những linh hồn được hư vô hóa và tan biến trong Chúa : ở đó con sẽ mến yêu Chúa trong sự quên mình và chê ghét mọi vật thọ tạo.

 Paul De Jaegher S.J.

[1] Mgr Gay, De la vie et des vertus chrétiennes. De l’espérance. (Về đời sống và các nhân đức. Về đức trông cậy).

[2] Mgr Pie, Homélie au jour de la Toussaint (Bài diễn giảng Phúc âm lễ các thánh).

[3] Tiểu sử một linh hồn, ch. X, tr. 204.

[4] D. Considine S.J. Delight in the Lord (vui sướng trong Chúa), tr. 24

[5] Delight in the Lord, p. 18

[6]     Những lợi ích lớn lao cần được ta suy gẫm là : Các lỗi lầm của ta làm cho ta khoan dung hơn đối với người khác ; chúng bắt ta tập can đảm hơn và nhẫn nhục hơn ; chúng dạy ta phó thác nơi Chúa cách trọn vẹn hơn ; nhất là chúng khiến ta luôn luôn chạy lại với Chúa Giêsu vì Ngài là Đấng đầy đủ cho ta.

[7] Linh hồn thật sự nội tâm sẽ hăng hái diệt trừ các nết xấu của mình, không phải do tính tự ái thầm kín và tinh khôn, nhưng chỉ vì lòng mến yêu tinh ròng đối với Chúa.

[8] Nhà thần học thần bí Tauler đã viết : “Khi tôi tìm thấy mình, tôi đã đánh mất Thiên Chúa, còn khi tôi đánh mất bản thân, tôi đã tìm thấy Thiên Chúa”.

[9] Caussade, L’abandon à la Providence divine. Paris, Gabalda, t. II, thư thứ 17 (viết cho nữ tu Rosen).

[10] Le chrétien intérieur (người Kitô hữu nội tâm), liv. III, p.16.

 

Hạnh Phúc – Chương 4: CHA MẸ VÀ CON CÁI

Trẻ vị thành niên không bị kết án phạm pháp, mà chỉ có bố mẹ chúng mới bị khép tội phạm pháp. Ngày nay giới răn thứ tư “Hãy thảo kính cha mẹ” hiếm khi được trưng ra như phương tiện phục hồi nếp sống an bình trong gia đình. Nếu kỷ luật trong gia đình bị lơ là thì về sau khó mà phục hồi lại được. Như Coleridge từng nói: “Nếu bạn dạy dỗ con cái theo một đường lối khiến chúng ác cảm với các tình cảm tôn giáo của các dân tộc nơi mà chúng sinh sống, thì chúng sẽ dễ dàng trở nên những kẻ côn đồ hay là những kẻ cuồng tín và cả hai loại người này cũng chẳng khác gì nhau”. Cách cư xử của con cái đối với cha mẹ chúng đã để lại những hậu quả khác nhau. Các bà mẹ thường phải đau khổ vì bọn chúng sống bê bối nhiều hơn là các bậc làm cha vui mừng vì hạnh kiểm của chúng.

Bổn phận cha mẹ đối với con cái một đàng là phải tránh đối xử khắc nghiệt với chúng, một đàng không được buông thả chúng. Thiên Chúa ban cho cha mẹ đứa con như một chất liệu mềm dẻo để đúc thành tốt hoặc thành xấu. Giả như Thiên Chúa đặt vào tay bậc làm cha mẹ một viên kim cương quý giá và bảo họ khắc lên đó một câu mà ngày phán xét cuối cùng sẽ được đọc lên cho mọi người nghe và câu đó sẽ được kể như bản chỉ dẫn cho thấy tư tưởng và lý tưởng của họ thì sao nhỉ? Hẳn họ sẽ ghi khắc cẩn thận biết bao! Ấy thế mà chính cha mẹ sẽ bị phán xét vào ngày chung thẩm về tấm gương mà họ để lại cho con cái mình. Trách nhiệm kinh khủng này dĩ nhiên không bao giờ có nghĩa là nếu con cái phạm sai lầm, cha mẹ phải nổi cơn thịnh nộ lên, bởi vì như thế sẽ làm chúng nhụt chí. Cha mẹ phải đóng vai Thiên Chúa trong gia đình mình. Nếu họ tỏ ra như bạo chúa thì họ sẽ vô tình phát triển thứ tình cảm chống đối tôn giáo nơi con mình. Trẻ con thường yêu thích được chấp thuận, chúng rất dễ rơi vào tuyệt vọng nếu bị khiển trách quá mức. Sẽ khó dạy bảo về Tình yêu và lòng xót thương của Chúa cho con cái mình biết bao nếu các nhiếp chính của Ngài (tức bố mẹ) trong môi trường gia đình lại cư xử không hề biết thương xót hoặc khó khăn lắm mới làm được điều đó! Một khi thiện chí đã bị hạ thấp, lũ trẻ bị lăng mạ thì chắc chắn chúng sẽ tỏ ra cho cha mẹ thấy chúng cũng chẳng tốt hơn những gì bố mẹ đã nghĩ về chúng.

Trẻ con đến với Kitô giáo theo cách thức của chúng qua lời nói của Đấng Sáng Lập: “Hãy để trẻ nhỏ đến cùng Ta, đừng ngăn cản chúng vì nước trời thuộc về những kẻ giống như chúng”. Ngài đã thánh hiến tuổi thơ bằng cách trở nên một đứa bé, vui đùa trên vùng đồi núi xanh ngắt làng Nazaréth, ngắm nhìn chim mẹ đùa giỡn với bầy con. Từ ngày đó, điều này đã trở nên muôn đời đúng đắn: “Hãy dạy dỗ đứa bé con đường chân chính, và mãi đến già, nó sẽ không xa lìa khỏi con đường ấy”. Khi non cây nghiêng phía nào, thì khi lớn lên cây nghiêng phía ấy. Thật thú vị khi nhìn vào những đứa trẻ, chúng ta có thể đoán được đường lối hành động của chúng dựa theo gốc gác gia đình chúng. Cây tốt thì mới sinh trái ngọt, vì thế người ta có thể suy đoán tính tình bố mẹ qua đám con của họ. Người ta thấy rằng trong những gia đình nào mà cha hoặc mẹ chỉ cần liếc nhìn một cái là đứa trẻ cũng đã biết ý của cha mẹ để làm theo, thì những đứa trẻ trong gia đình đó không sợ bị hư thân, lầm lạc.

Ngày nay người ta có khuynh hướng trút trách nhiệm cho nhà trường. Tuy nhiên phải nhớ rằng giáo dục một đứa trẻ thì khác xa với việc lo chăm bón đất, lo đủ khí trời và ánh sáng. Một hạt giống sẽ lớn mau hơn tuỳ theo đất đai và khí hậu, tuy nhiên cây có lớn lên còn tuỳ nơi hạt được gieo nữa. Cũng thế, giáo dục không phải chỉ là giáo dục tâm trí mà phải giáo dục cả ý chí nữa. Tri thức nằm trong tâm trí còn tính tình nằm nơi ý chí. Chất đống tri thức vào tâm trí đứa bé mà chẳng rèn luyện ý chí nó yêu mến điều thiện thì khác nào đưa khẩu súng nhét vào tay nó. Không được giáo dục mặt tâm trí thì đứa trẻ có thể trở thành một con người đần độn. Chứ được giáo dục mặt tâm trí mà thiếu giáo dục lòng yêu mến điều thiện thì một đứa bé có thể trở thành một con quỉ ma mãnh.

Tuổi trẻ hôm nay là tương lai của đất nước. Những người trẻ là nguồn bảo đảm cho đất nước được tiến bộ, là mũi tên mạnh mẽ dẫn đất nước đến một tương lai sán lạn hơn, là đôi cánh cao bay chất chứa bao kỳ vọng. Ngay cả trong thời chiến, sức mạnh của một dân tộc không hệ tại đạn bom của nước đó mà hệ tại những người chiến sĩ bảo vệ nước. Trong thời bình, không phải là nền kinh tế hay chính trị cứu vớt đất nước mà chính là những kinh tế gia tài ba và những chính khách lỗi lạc, song muốn được như thế, trước đó họ phải là những đứa con gương mẫu. Muốn được thế, thứ nhất, phải có ơn Chúa, thứ hai phải được gia đình dạy cho bài học về tình yêu và chân lý và được nhà trường dạy cho kiến thức và lòng tự chủ. Ngay cả trong những thất bại đầu đời của đàn con, các bậc cha mẹ cũng chớ nên ngã lòng, mà hãy nhớ rằng cách đây mười lăm thế kỷ, khi nhìn thấy một bà mẹ nát lòng vì cậu con hoang đàng, thánh Ambrosiô đã nói với bà ta như sau: “Này bà Monica, bà đừng sợ, cậu bé mà bà đã tốn bao nhiêu nước mắt như thế thì không thể nào hư mất đâu”. Thật thế, cậu bé cao ngạo và lêu lổng đó về sau đã trở thành vị thánh Augustinô vĩ đại, uyên thâm. Mọi người trước khi qua đời đều nên đọc tập “Tự thú” của Ngài.

Gm. Fulton Sheen

Hạnh Phúc – Chương 4: Con Cái - TÌNH MẪU TỬ

Nơi con người, tình mẫu tử có hai mặt, và phức tạp hơn tình mẫu tử nơi các loài động vật khác. Thứ nhất, động tác sinh nở nơi con người không khác gì nơi muôn vật khác. Như cây sinh trái, gà ấp trứng, mọi bà mẹ cũng góp phần sinh sản ra cuộc sống mới. Và thật chí lý khi nói về người phụ nữ: “Phúc cho hoa trái của lòng bà!”

Tuy nhiên tình mẫu tử nơi con người còn mặt thứ hai siêu vời hơn tức là tinh thần. Linh hồn đứa bé không sinh ra từ linh hồn hay thân xác bà mẹ, mà được chính Chúa tạo ra một cách mới mẻ đoạn thổi vào thân xác của bào thai. Tình mẫu tử về mặt thể lý được ca ngợi do người mẹ đồng hợp tác với Chúa là Đấng phú cho đứa bé một linh hồn và cho phép người phụ nữ cưu mang linh hồn ấy trong xác thịt của bà. Không phải người phụ nữ này mang trong mình một con vật nhỏ nhoi mà chính là một con người được tạo dựng theo hình ảnh của vị Thiên Chúa, Đấng tạo dựng ra con người ấy.

Như thế mọi đứa trẻ do người phụ nữ sinh ra đều có hai người Cha: người cha trần thế truyền cho bé sự sống và người Cha thiên quốc ban cho bé một nhân vị, một linh hồn, một cái “ngã” không thể nào thay thế được. Người mẹ là tác nhân thiết yếu cộng tác vào công việc của hai người Cha này. Mối tương giao của riêng bà và đứa bé phát sinh hai khía cạnh: khía cạnh làm mẹ đứa bé theo đó về mặt thể lý hầu như đứa bé lệ thuộc hoàn toàn vào người mẹ. Tuy nhiên cũng còn mối tương quan của người mẹ – với một nhân vị (được biểu lộ nơi phép rửa, lúc mà đứa bé được đặt cho một tên thánh). Mối tương quan thứ hai này xác nhận phẩm giá và cái ngã tách biệt của đứa bé dù là nó chỉ bé tí xíu, đồng thời báo trước sau này nó có quyền hạn tự sống cuộc sống riêng mình, đồng thời có quyền lìa cha bỏ mẹ để sống với vợ của nó.

Cuộc sinh nở nào cũng đòi buộc phải có sự phục tùng và kỷ luật. Đất đai còn phải chịu cày xới trước khi thụ động đón nhận mầm gieo. Tuy nhiên, nơi người phụ nữ, nàng không phải thụ động phục tùng mà đây chính là hành vi hy sinh, sáng tạo đầy ý thức, và vì sự vô vị lợi này mà toàn bản thân nàng đã được nên hình nên dạng. Ai cũng đều rõ là phụ nữ có khả năng chịu đựng hy sinh hơn nam giới nhiều; một người đàn ông có thể là người anh hùng trong một cơn hứng khởi, nhưng sau đó lại trở về tình trạng tầm thường như trước. Đàn ông thường thiếu đức tính kiên trì là đức tính giúp người phụ nữ sống anh hùng hết năm này sang tháng khác và sống anh hùng từng giây phút trong cuộc sống của họ qua việc đón nhận đều đặn các phận vụ thường dễ làm tiêu hao tinh thần của họ; không phải chỉ ban ngày mà còn cả ban đêm, không phải chỉ tâm hồn mà còn cả thân xác, người phụ nữ cũng đến chia sẻ nỗi đớn đau của tình mẫu tử. Đó là lý do người nữ thường hiểu sâu sắc hơn người nam về học thuyết ơn cứu chuộc, bởi vì người phụ nữ tham dự vào sự liều chết trong lúc sinh con, và họ hiểu được thế nào là sự hy sinh thân mình cho kẻ khác suốt những tháng ngày trước khi sinh nở.

Hai qui luật thiêng liêng lớn lao kết liên thành một nơi một bà mẹ: yêu tha nhân và cùng hợp tác với ân sủng Chúa – và cả hai qui luật này lại được áp dụng trong một đường lối duy nhất. Trừ tình yêu của một bà mẹ ra thì tình yêu tha nhân luôn có nghĩa là tình yêu dành cho một cái ngã khác; còn tha nhân của bà mẹ trong thời mang thai thì lại trở thành một với bà ta, mặc dù hoàn toàn được yêu khác với cái ngã của bà ta. Giờ đây, đôi lúc sự hy sinh cho tình yêu tha nhân lại xảy ra ngay trong da thịt bà, tác nhân và đối tượng hành vi hy sinh của bà đều được chứa đựng bên trong người bà.

Còn việc cộng tác với ân sủng nơi một bà mẹ thì mặc dù bà không mấy ý thức được, nhưng bà vẫn là người cộng sự của Thiên Chúa: theo một nghĩa nào đó, mọi bà mẹ đều được “Chúa Thánh Linh phủ bóng”. Dù không là một linh mục, bà cũng được uỷ thác cho một thứ quyền dành riêng cho linh mục, tức là đem Chúa đến cho con người, và đem con người đến với Thiên Chúa. Qua việc chấp nhận vai trò làm mẹ, bà mang Chúa đến cho con người bằng cách cho phép Thiên Chúa thổi vào trong thân xác bà một linh hồn mới mẻ để bà cưu mang. Đồng thời bà cũng mang con người đến cho Thiên Chúa cũng qua hành vi sinh nở khi bà bằng lòng trở nên một dụng cụ qua đó một người con Chúa được sinh ra trong trần gian. Phải là loạn thị mới xem tình mẫu tử như là một vấn đề chỉ can hệ tới một người đàn ông và một người đàn bà: như thế là tước đoạt mất danh dự dành cho nó. Bởi vì để hiểu được ý nghĩa thực sự của tình mẫu tử, chúng ta còn phải thêm yếu tố linh thiêng vào việc tạo thành một đứa bé. Chúng ta phải nhìn ra đây là công việc của một người phụ nữ hợp tác với chồng, là người cha của đứa bé xét về mặt nhân loại, và với Chúa là người Cha ban cho đứa bé linh hồn vĩnh cửu, bất diệt khác hẳn mọi linh hồn khác từng được tạo ra suốt dòng lịch sử thế giới. Như thế, mọi tình mẫu tử nơi con người đều bao hàm việc hợp tác với Thiên Chúa.

Gm. Fulton Sheen