8. Đời Sống Tâm Linh

Niềm Tín Thác – Chương XVI: TÍN THÁC TRONG BUỒN SẦU CHÁN NẢN

I.  TẦM QUAN TRỌNG CỦA NHỮNG CƠN BUỒN RẦU.

–   NHỮNG NHÂN ĐỨC MÀ CHÚNG LÀM TƯƠI NỞ.

–   NIỀM VUI CỦA LÒNG MẾN KHÔNG LUÔN CẢM THẤY: NHỮNG HÀNH VI “TRỰC TIẾP” CỦA LINH HỒN THÌ VÔ CÙNG QÚI GIÁ.

–   TỪ BỎ NIỀM VUI ĐƯỢC CẢM THẤY HOẠT ĐỘNG CỦA MÌNH.

Tầm quan trọng của những cơn buồn sầu.

– Đối với chúng ta, xấu hay tốt, thánh thiện hay tội lỗi, trái đất mà chúng ta ở một ít năm này, là một chốn lưu đầy, một thung lũng đầy nước mắt. Chúng ta gặp những đau khổ từng bước trên đường đời, dưới mọi hình thức. Nhưng có một thứ đau khổ dành riêng cho những linh hồn nội tâm, những người bạn của Chúa Giêsu. Đó là những lúc khô khan, những lúc chán nản mà chúng ta gọi bằng một tên chung là “những buồn sầu”. Chúng phát sinh do sự có vẻ vắng mặt của Chúa. Chỉ những người đã được hưởng những an ủi của Chúa mới hiểu thấu thế nào là buồn sầu thiêng liêng. Chỉ những tâm hồn đã cảm nghiệm sự ngọt ngào khôn tả của sự hiện diện của Chúa, mới hiểu được nỗi buồn sầu khi cảm thấy thiếu vắng Ngài. Tất cả chúng ta đều đã trải qua những thử thách thiêng liêng này, và đã khát khao mong chờ lúc Chúa trở lại.

Linh hồn vừa mới bước qua ngưỡng cửa của cuộc sống nội tâm, vừa mới cảm nghiệm ít lâu những sự an ủi ngọt ngào, và vừa mới tập dứt mình ra khỏi những sự vật thế gian, thì Chúa đã ẩn mình đi từng lúc. Ngài bắt linh hồn phải nếm vị thuốc cay đắng của sự buồn sầu chán nản, để linh hồn tự dứt ra khỏi bản thân mình và dứt bỏ những sự vui sướng thiêng liêng. Và chỉ mãi sau này, vào giai đoạn cuối cùng, khi linh hồn đã trải qua mây mù và giông tố để đạt tới đỉnh cao của sự thánh thiện, nghĩa là khi linh hồn đạt tới sự kết hợp trọn vẹn với Chúa, khi đó nó mới được hưởng niềm vui của một khung trời hoàn toàn trong sáng, không một đám mây mù.

Như vậy những buồn sầu chán nản chiếm một địa vị quan trọng trong đời sống thiêng liêng của ta, và chúng ta cần phải có những nhận định và những tâm tình đích đáng, để vâng theo thánh ý Chúa và bước đi theo sự hướng dẫn của Ngài.

Nhưng đáng buồn thay ! Chính trong những khi bị buồn sầu chán nản, niềm tín thác của ta thường bị suy sụp. Đúng thế, với những cơn thử thách khác, chúng ta còn có thể chịu đựng. Khi chúng ta được an ủi, chúng ta vẫn có thể vui chịu những đau khổ, vẫn sẵn lòng chấp nhận những thánh giá để làm vui lòng Chúa. Đúng như lời sách Gương Phúc : “Khi được ân sủng Chúa nâng niu, người ta phóng ngựa đi cách ngọt ngào”. Nhưng khi đức tin và đức mến xem như đã biến mất khỏi linh hồn ta, khi ta cảm thấy mình cô đơn trong tâm trạng buồn sầu và trầm cảm : khi đó thế giới trở nên lạnh lùng và tối tăm. Trong cảnh nhá nhem tối đó, mọi vật đều có bộ mặt ma quái và thù địch. Trái tim ta se lại và ta bị cám dỗ nghĩ rằng Chúa Giêsu đã bỏ rơi ta, hoặc ít ra tình thương của Ngài đối với ta đã giảm nhiều, đã trở nên lạnh nhạt.

Những cơn buồn sầu sẽ làm tươi nở các nhân đức.

– Thật ra, nếu ta biết sử dụng những cơn buồn sầu chán nản, chúng ta sẽ tiến mau lẹ trên đường trọn lành. Chúng ta sẽ được lợi ích nhờ những ân sủng qúi giá mà chúng mang lại cho ta. Có thể nói rằng, đối với những linh hồn quảng đại, những sự khô khan và những cơn buồn sầu là những mảnh vườn ươm cây nhân đức. Đó là nơi Thiên Chúa vun trồng các nhân đức khiêm nhường, tín thác, yêu mến thánh giá, chê ghét bản thân và yêu mến Chúa hết lòng.

Nếu không có sự luân phiên những lúc được an ủi và những lúc bị buồn sầu, sẽ không bao giờ ta thực sự có kinh nghiệm về sự bất lực căn bản của ta, và sự yếu đuối ghê sợ của ta. Một linh hồn phải cảm nghiệm trăm ngàn lần sự yếu đuối của mình, sự khốn khổ của mình, sự thiếu quảng đại của mình, rồi nó mới có một ý tưởng xác đáng về thân phận tội lỗi và yếu hèn của nó, và nó lệ thuộc vào ơn Chúa biết bao. Khi nó đã có kinh nghiệm về những giờ phút suy niệm nồng nàn yêu mến Chúa và như được nâng bổng lên bởi tâm tình mến yêu Chúa, rồi chỉ vài giờ sau đó, nó lại thấy mình quạu cọ, sợ đau khổ, chán nản…, thì nó sẽ có kinh nghiệm và thấy rõ sự yếu hèn của mình, hơn là nhờ những giờ phút suy niệm sâu xa…

Rồi phải nói gì về sự tương phản mà những linh hồn được ơn chiêm niệm cảm thấy trong một ngày ? Ban sáng là bình minh tươi sáng của ơn nguyện gẫm kết hiệp thắm thiết, linh hồn rạng ngời những ơn soi sáng, và khấp khởi vui mừng vì cảm thấy Chúa Giêsu hiện diện với những yêu thương tràn trề. Nhưng đến chiều, linh hồn có cảm tưởng như Chúa Giêsu đã bỏ ra đi. Sự hiện diện âu yếm và nồng thắm của Chúa đã nhường chỗ cho một sự trống vắng đau thương. Linh hồn có cảm tưởng như mình đã không yêu mến Chúa, và Chúa Giêsu cũng không thương yêu nó. – Nhưng điều này chẳng thấm vào đâu, nếu so với những sự buồn sầu ghê sợ, kéo dài nhiều năm, và đó là ngưỡng cửa mà các linh hồn Chúa kén chọn phải bước qua để đi vào cuộc sống thần bí. Các thánh gọi đó là “đêm tối của các giác quan”. Nhưng thử thách ghê sợ này vẫn chưa là gì so với những thử thách lâu dài mà Chúa dùng để thanh tẩy các linh hồn thần bí, trước khi dẫn đưa họ tới đỉnh cao của sự thánh thiện : những thử thách này có tên là “đêm tối của tâm trí”. Khi đó các linh hồn ở trong tình trạng của thánh Gióp, chìm ngập trong mật đắng của những đau khổ. Thật là như sống trong luyện ngục ở đời này.

Tất cả mọi thử thách này, buồn sầu đau khổ một giờ hay là chịu đau khổ chán nản nhiều năm, đều là việc làm của Thiên Chúa. Đó là phương tiện Chúa dùng để thực hiện nơi các linh hồn những điều mà ta không thể đạt được nhờ việc cầu nguyện, suy gẫm hoặc quyết chí. Chính Thiên Chúa làm công việc thanh tẩy này, để giúp ta có được đức khiêm nhường đích thực và sâu thẳm, giúp ta triệt để hết tin tưởng vào mình, hết muốn tự kiêu coi các hồng ân của Chúa là tài đức của mình. Nếu chúng ta thật lòng muốn sống khiêm nhường, chúng ta hãy qúi mến đón chào những cơn buồn sầu chán nản này, coi đó là chất bón rất tốt cho cây nhân đức khiêm nhường tăng trưởng tươi tốt.

Đức khiêm nhường là chị của nhân đức tín thác. Bởi vậy ta thường thấy đức tín thác tăng trưởng mau lẹ giữa những cơn khô khan và buồn sầu, nơi những linh hồn quảng đại. Còn nơi những linh hồn tầm thường, khi gặp buồn sầu chán nản, họ mất luôn chút ít tín thác mà họ đang có, vì lẽ đó, Thiên Chúa ít khi để cho họ phải buồn sầu chán nản. Trái lại, đối với những linh hồn quảng đại yêu mến Chúa, muốn chịu đau khổ để tỏ lòng mến yêu và tín thác, những buồn sầu lại được coi là những hồng ân, bởi vì chúng là cơ hội để họ chứng tỏ niềm tín thác nơi Chúa, khi mà mọi sự muốn làm cho họ mất tin tưởng.

Bản tính con người dễ nản, buồn sầu và ưa thích những niềm vui bên ngoài. Chúa Giêsu thì có vẻ như không tha thiết gì với ta nữa. Những khi đó, ta phải kêu lên với Chúa Giêsu rằng : “Ôi Chúa Giêsu, con yêu mến ! Con biết Chúa vẫn thương yêu con và thương yêu con mãi. Con tin vào tình thương của Chúa. Con tín thác nơi Chúa, dầu con hèn mọn và khốn khổ. Chúa muốn thử xem con tín thác đến đâu : vậy con xin thưa : “Lạy Chúa Giêsu, với ân sủng của Chúa giúp sức, con sẽ đi tới cùng. Con sẽ tin tưởng cho tới khi Chúa trở lại”. – Ôi, những tâm tình như thế của những linh hồn tận hiến, khi bị buồn rầu, sẽ an ủi Thánh Tâm Chúa Giêsu biết bao ! Đó là những bông hoa tím xinh tươi và thơm ngát, làm cho Chúa vui, bù lại sự thiếu tin tưởng của những linh hồn kém nhiệt thành.

Từ tâm tình tín thác đến sống tín thác chỉ có một bước. Thật không gì qúi báu bằng những thử thách thiêng liêng để tập cho ta biết sống trọn vẹn tín thác trong tay Chúa. Khi ta được an ủi, mọi sự có vẻ tiến bộ tốt đẹp. Chúng ta có cảm tưởng mình đang tiến bước trên đường trọn lành : mặt trời chiếu sáng, đường đi thì phẳng phiu và sáng sủa. Nhưng này ! Chúng ta bước vào con đường rừng. Không thấy lối đi nữa ! Cây cối um tùm che khuất hết. Thật là một thứ mê cung ! Và thế là ta rối trí, chán nản, buồn rầu. Chúng ta bị mất định hướng. Có cảm tưởng như dẫm chân tại chỗ. Chúng ta vẫn cứ muốn tự hướng dẫn mình. Nhưng đây là thời giờ của Chúa. Những linh hồn tận hiến phải biết đây là lúc phải trọn vẹn tín thác nơi Chúa, như những người mù hoàn toàn tín thác trong tay Đấng hướng dẫn thần linh : Ngài đã dẫn đưa họ vào rừng rậm, Ngài thừa biết cách dẫn dắt họ đi qua rừng để tiến lên.

Niềm vui ngọt ngào của những linh hồn sống tín thác : họ ước ao quên mình đi, và vì tin tưởng và yêu mến, họ sung sướng như người mù đưa tay cho Thầy Chí Thánh dẫn dắt tới sự kết hiệp. Để có thể trọn vẹn quên mình, họ không muốn biết gì về con đường họ đang đi, đã đi được bao nhiêu chặng, và còn bao nhiêu chặng trước mặt. Hiện nay họ đang ở đâu trên con đường nên thánh, đó là điều họ phải quyết tâm không được thắc mắc, không được tìm hiểu, để sống tín thác trọn vẹn. Nếu muốn vén màn của mầu nhiệm này, họ sẽ đánh mất niềm vui sâu xa họ có được, khi quên mình đi, để Chúa lo liệu.

Thánh nữ Têrêxa Hài đồng Giêsu, vị thánh gương mẫu của lối sống tín thác, thường nói rằng : “Tôi là đồ chơi, là trái banh nhỏ của Hài đồng Giêsu. Chúa muốn làm gì thì làm với trái banh nhỏ này. Ngài chơi với trái banh, hoặc thích lấy kim băng chọc lủng rồi liệng nó vào một góc nhà, thì trái banh nhỏ vẫn sung sướng, vì Chúa thích làm như vậy”. Thánh nữ còn ưa thích những lúc bị buồn rầu, bởi vì, hơn những khi được an ủi, đó là lúc chị thánh có được niềm vui sâu xa làm Chúa vui, dầu đây là niềm vui không cảm thấy. Không cảm thấy, nhưng chị thánh tin chắc Chúa vui và thương chị, vì chị đã chịu đau khổ, chịu mất vui để làm cho Chúa vui.

Để hoàn tất bó hoa những bông hoa tươi đẹp mà chúng ta đã hái được trên mảnh đất đầy gai góc của những đau khổ, chúng ta phải nói về đức ái là nữ hoàng các loài hoa, nữ hoàng các nhân đức. Đức ái cũng thường mọc lên và nở ra rất lớn và rất đẹp nơi có nhiều gai góc. Đó là hoa hồng, mà ta biết “không thể có bông hồng mà không có gai”. Có nhiều loại bông hồng, và thứ đẹp nhất là lòng mến đau khổ.

Không thể có lòng mến Chúa đích thực, nếu không biết yêu mến đau khổ. Điều này chúng ta đều biết và đều có kinh nghiệm. Nhưng có đau khổ nào lớn hơn và qúi trọng hơn đau khổ dứt chúng ta ra khỏi sự sung sướng vì cảm thấy mình được Chúa an ủi, được Chúa yêu thương ? Chúng ta có những đau khổ khác, khi mất tiền của, mất danh vọng, mất tình thương của những người thân, mất sức khoẻ. Còn những buồn sầu và những chán nản thiêng liêng, là vì chúng ta bị mất đi những của thiêng liêng vô cùng qúi trọng. Thật là đau khổ khi ta phải từ bỏ của cải, từ bỏ cha mẹ và bạn hữu, và từ bỏ mình vì Chúa. Nay ta lại “mất” Chúa thì còn gì đau đớn bằng. Sự buồn sầu thiêng liêng, sự mất những an ủi thiêng liêng không còn là cảnh lưu đày xa vắng cha mẹ, xa vắng quê hương, nhưng là xa vắng Thiên Chúa ! Những buồn sầu thiêng liêng, sự mất mọi an ủi thiêng liêng cho ta có cảm giác là ta sống xa Chúa, không còn có sự hiện diện đầy yêu thương của Ngài. Đó là cảnh lưu đày, lưu đày thiêng liêng. Nếu tình trạng lưu đày này kéo dài, nó sẽ thật sự là một cuộc tử đạo.

Vậy chúng ta hãy yêu mến những cơn thử thách này vì đó là những cơ hội để ta tỏ lòng mến yêu Chúa Giêsu và chịu đau khổ vì Ngài. Nếu chúng ta không có thể thực hành những việc hãm mình lớn lao, chúng ta vẫn có thể chịu những cơn buồn sầu thiêng liêng một cách quảng đại, và như thế để chứng tỏ lòng mến nồng nàn và tinh ròng của chúng ta. Điều này còn tốt cho việc nên thánh của ta hơn là nhiều thử thách khác.

Vẫn còn một loài hoa nữa của đức mến, rất được qúi chuộng : nó có tên là yêu mến sự bé nhỏ và sự nghèo khó của mình. Những linh hồn đã tiến xa trong tình yêu mến tinh ròng biết rõ loài hoa này, một loài hoa mà nhiều người không biết đến. Khi các linh hồn này thấy mình yếu đuối, bất lực, thiếu quảng đại, xấu xa, họ cảm thấy một thứ vui thú vì sự khốn khổ của mình. Họ cảm thấy vui vì những sự khốn nạn, cả vì những lỗi lầm của họ. Họ không những cam chịu mà còn vui mừng thấy mình là hư vô và xấu xa tội lỗi. Tại sao thế ? Bởi vì lòng mến Chúa tinh ròng đòi hỏi phải có sự chê ghét bản thân mình. Cái mặt tiêu cực của lòng mến tinh ròng chính là sự chê ghét bản thân mình. Bởi vậy hạnh phúc thánh thiện gồm hai yếu tố : một là vui sướng ngắm nhìn và yêu mến những vẻ tuyệt hảo của Thiên Chúa và của Chúa Giêsu, coi đó như là những nét tuyệt hảo của mình, – hai là niềm vui được gớm ghét những sự xấu xa của cái tôi, coi đó là những sự khốn nạn do kẻ thù để lại trong linh hồn ta.

Linh hồn yêu mến sẽ sung sướng vì niềm vui kép này. Nó vui sướng vì thấy mình xấu xa, tự bản thân nó rất bất toàn và tồi tệ, cái tôi mà xưa kia nó yêu chiều và qúi mến thì nay nó thấy rõ là đáng ghét. Và sự xấu xa của cái tôi càng nêu cao những vẻ đẹp vô cùng của Thiên Chúa. Nay chúng ta liệng thật xa cái tôi xấu xa đó, như một chiếc áo đầy chấy rận và hôi hám mà xưa kia chúng ta đã yêu chiều, và chúng ta đặt tất cả niềm vui và lòng mến yêu nơi vẻ đáng yêu vô cùng của Thiên Chúa mà chúng ta coi như cái tôi mới của mình. Bởi vậy chúng ta vui mừng khi thấy kẻ thù xưa kia bị vạch mặt và bị chê ghét. Lòng mến yêu Chúa khiến chúng ta vui mừng sung sướng vì kẻ thù chung của Chúa và của ta đã hiện nguyên hình trong sự xấu xa của nó, nó đã bị vạch mặt, và chúng ta không còn sợ bị dụ dỗ và lừa dối bởi những vẻ hấp dẫn dối trá của nó nữa.

Yêu mến sự yếu đuối và bé nhỏ của mình để càng gia tăng sự yêu mến Chúa vô cùng tốt đẹp là niềm vui mà chỉ một số linh hồn đã cảm nhận. Đó là những linh hồn bé nhỏ và khiêm nhường. “Cha đã mặc khải những điều đó cho những kẻ bé mọn”. Đó là một sự qúi mến và một niềm vui rất ít linh hồn biết cảm nhận. Qúi mến và vui vì sự xấu xa của mình ! Thường các linh hồn chỉ cảm thấy buồn và chán nản vì sự xấu xa của mình ! Thánh Phanxicô Salêsiô thích nói về niềm vui mầu nhiệm ta cảm thấy, khi nhận biết mình đáng chê ghét. Còn thánh nữ Têrêxa Hài đồng Giêsu đã viết những lời rất tốt lành về vấn đề này. Chị thánh thường nói : “Tôi đã có những sự yếu đuối, nhưng tôi vui mừng vì những chuyện đó. Cảm thấy mình yếu đuối và bé nhỏ là điều thật ngọt ngào.”

Đó là lòng mến yêu rất tinh ròng mà những buồn sầu  thiêng liêng cho ta có cơ hội thực tập. Nếu nó chỉ sinh ra có bông hoa này, bông hoa của lòng mến và của đức khiêm nhường, thì cũng đủ cho ta qúi mến những cơn mất an ủi đó. Bông hoa này rất đẹp lòng người làm vườn là Chúa Giêsu. Vậy chúng ta hãy xin ơn sủng mạnh mẽ này là ơn duy nhất có sức giúp ta cảm nghiệm được niềm vui thần bí khi chê ghét mình vì lòng mến Chúa. Hơn bất cứ ơn nào khác, ân sủng này sẽ giúp ta giết chết con người cũ ở trong ta.

Niềm vui của lòng mến không luôn luôn được cảm thấy. 

– Người ta sẽ vấn nạn rằng : Đúng, theo lý thuyết, sự mất an ủi có thể là dịp để ta thực tập nhiều nhân đức, nhưng trong thực tế, sự buồn sầu  không giúp ta thực hành các nhân đức đó, nhất là không thể vui khi thực hành các nhân đức đó. Vui vì sống tín thác, vui vì được đau khổ vì Chúa, vui vì đã quên mình vì Chúa Giêsu, vui vì chê ghét bản thân mình: Tất cả những niềm vui đó có thể có khi ta được an ủi, chớ không có khi ta bị buồn sầu  thiêng liêng.

Trước hết, ta đừng lộn, và phải phân biệt niềm vui cảm giác và niềm hạnh phúc sâu xa, rất hiện thực mặc dầu không nếm được bằng giác quan. Trong những lúc khô khan chán nản, chắc chắn chúng ta không cảm thấy niềm vui cảm giác vì đã sống tín thác, vì chịu đau khổ vì Chúa, vì đã sống quên mình, nhưng rõ ràng chúng ta thấy an vui nơi đáy lòng mình, và thỏa lòng vì đã biết hy sinh vì Chúa. Rồi chúng ta càng tấn tới trên đường thiêng liêng, càng dứt mình ra khỏi những vật hữu hình, chúng ta sẽ càng cảm thấy nơi sâu xa của tâm hồn mình sự bình an và hạnh phúc của lòng mến yêu tinh ròng.

Nhưng còn một điều khó khăn hơn và quan trọng hơn, đó là, khi không có niềm vui cảm giác, chúng ta không biết thực hiện những hành vi nhẫn nhục vâng theo ý Chúa, yêu mến Chúa. Đầu óc chúng ta nặng nề, và trái tim chúng ta mê mẩn : nói lên lời yêu mến Chúa, nói lên lời nhẫn nhục vâng ý Ngài, tỏ lòng tín thác nơi Ngài trong những giờ phút đó, xem ra qúa khó khăn, qúa đau lòng đối với ta. Có thể ví như muốn nâng lên một cái gì nặng ngàn cân ! Nhưng ta cũng biết một hành vi yêu mến và tín thác như thế sẽ rất đẹp lòng Chúa, làm Chúa vui vô cùng. Chúng ta có thể dâng lên Chúa những hành vi như thế cách đơn sơ, chỉ bằng một tâm tình, bằng một cái nhìn mến yêu, bằng một lời than thở.

Những hành vi “trực tiếp” của linh hồn thì vô cùng qúi giá. 

– Nếu những hành vi như thế được coi là qúa khó khăn, không thể thực hiện nhiều lần được, thì cũng nên biết có một loại hành vi khác, những hành vi “trực tiếp” của tâm hồn, nghĩa là những hành vi không phản tỉnh, không ý thức. Đó là những hành vi ta không ý thức, hoặc không hoàn toàn có ý thức. Thiên Chúa thấu suốt tâm can ta, chỉ mình Ngài thấy rõ những hành vi đó, và Ngài rất vui lòng. Đó là những tâm tình rất thầm kín và tự phát của tâm hồn ta. Những lời nói không cần được nói lên của tâm hồn ta, và được tâm hồn ta không ngừng nói lên để tỏ lòng yêu mến Chúa.

Một người mẹ hiền ân cần chăm lo cho đứa con đau yếu, phải chăng bà chỉ yêu dấu con bà khi bà vỗ về hôn hít con bà ? Không, tình thương nồng nàn của bà đối với đứa con đau yếu của bà đã luôn luôn nồng nàn đêm ngày. Từng phút, tâm hồn bà nghĩ đến đứa con với biết bao lo lắng và yêu thương. Nỗi buồn sầu, sự lo âu của bà là những biểu lộ của tình thương người hiền mẫu. Nhìn đứa con yêu với niềm lo âu là một hành vi yêu thương, một hành vi “trực tiếp”, không phản tỉnh.

Đối với chúng ta khi buồn sầu, mất an ủi thiêng liêng, cũng vậy : buồn sầu  vì thiếu vắng Chúa cũng là một hành vi yêu mến Chúa. Và hành vi này không ngừng phát ra từ tâm hồn yêu mến của ta, như một mạch phát ra từ một nguồn nước sâu thẳm và tràn đầy. Tất nhiên nước này chỉ làm mát cho Chúa Giêsu, chỉ Ngài được vui, còn chúng ta vẫn cảm thấy buồn. Nhưng điều đó có hệ chi đối với tâm hồn nồng nàn yêu mến Chúa ?

Hoặc là chúng ta sống tín thác trong tay Chúa, trọn vẹn tin tưởng vào tình thương của Ngài, mặc dầu cảm thấy mình như bị bỏ rơi. Nép mình vào Chúa, làm như muốn ngủ yên trong vòng tay Chúa, phải chăng đó không phải là những hành vi tín thác “trực tiếp”, không phản tỉnh, của lòng mến yêu ? Rồi, nếu đôi khi chúng ta có những hành vi mến yêu tỏ tường, có ý thức, thì đó là hành vi của đứa bé ôm hôm mẹ nó, để tỏ lòng mến yêu mẹ nó, trong khi vẫn được ngủ yên trong lòng của mẹ nó.

Những con đường mà Chúa dắt chúng ta đi qua là thế nào đi nữa, dầu là những an ủi, dầu là Chúa cất đi những an ủi, chúng ta hãy tin chắc rằng những ngày tháng chúng ta sống đều tràn đầy những hành vi có công trước mặt Chúa. Chúng ta hãy nhìn những cánh đồng lúa với từng ngàn cây lúa mang nặng những hạt lúa vàng : những cây lúa tốt lành đó đang đu đưa những bông lúa vàng nặng trĩu, mỗi khi gió thổi nhẹ. Chính Thiên Chúa săn sóc từng cây lúa đó, từng bông lúa và từng hạt lúa đó. Thiên Chúa đã vì thương yêu ta, làm cho những cây lúa này sinh ra những hạt lúa để nuôi sống ta. Vậy Thiên Chúa yêu thương linh hồn ta muôn ngàn lần hơn thế, lẽ nào Ngài không chăm lo cho linh hồn ta, để nó sinh những hoa trái tốt lành là các nhân đức ?

Nếu chúng ta yêu mến Chúa thì những ngày có vẻ trống rỗng nhất, những ngày linh hồn ta mất an ủi và sống buồn sầu, những ngày ta đau yếu, cũng vẫn là những cây lúa với những bông lúa đầy những hạt lúa vàng : đó là những hành vi nhân đức “trực tiếp”, không phản tỉnh, không ý thức rõ rệt. Điều duy nhất chúng ta phải lo giữ, là đừng cố tình chiều theo lòng tự ái. Bởi vì trong cánh đồng thiêng liêng của linh hồn, bên cạnh những hành vi “trực tiếp” của lòng mến Chúa, cũng có những hành vi “trực tiếp” của lòng tự ái : đó là những hạt lúa lép của lòng tự ái.

Nếu chúng ta hiểu được giá trị của những hành vi yêu mến “trực tiếp”, những tâm tình không nói lên đó, chắc chúng ta sẽ giữ được bình an những khi bị buồn sầu, những khi bị Chúa rút đi những an ủi. Và bây giờ chúng ta biết rằng những hành vi mến yêu tỏ tường, có ý thức, có phản tỉnh, chỉ là cách bày tỏ rõ ràng tâm tình của ta đối với Chúa, nhưng không vì thế mà đẹp lòng Chúa hơn và có công phúc hơn. Điều cần phải nhớ là phải từ bỏ niềm vui vì mình đã có những hành vi yêu mến đó. Phải từ bỏ niềm vui cảm giác của các hành vi nhân đức mà Chúa đã giúp ta thực hiện, và dành tất cả niềm vui cho Chúa Giêsu. Chắc chắc điều này không dễ, vì nó đòi hỏi phải từ bỏ mình, phải quên mình đi, và yêu mến Chúa nhiều.

Từ bỏ niềm vui vì hoạt động của mình. 

– Bởi vậy mà buồn sầu, mất an ủi thiêng liêng, là ơn rất qúi trọng. Nó bắt ta thật sự chết cho bản thân mình. Tính tự ái của con người vẫn thích cảm thấy mình thực hiện được những hành vi đạo đức. Sự thầm hài lòng về mình như thế là thứ rượu làm say mê lòng con người, và con người rất khó bỏ được sự ưa thích này. Bởi vậy không phải một hai cơn buồn sầu, mà cần cả trăm lần bị khô khan và buồn sầu, để hủy diệt tính tự ái mà ta thấy nơi sự hài lòng về mình đó. Cái thứ cỏ gấu rất khó nhổ này, nó đâm rễ rất sâu trong linh hồn ta, cho nên phải rất nhiều lần, chúng ta phải cảm nghiệm đi cảm nghiệm lại sự hoàn toàn bất lực của ta trong đời sống thiêng liêng, cảm thấy mình nặng nề và yếu đuối, thì rồi chúng ta mới nhổ tận rễ được nó. Để nhổ thứ cỏ tai hại này, để giúp ta thật sự chết cho bản thân mình, Chúa Giêsu sẵn sàng để chúng ta vướng vào những nết xấu, để cho chúng ta có những sa ngã nho nhỏ cho biết thân, và để cho chúng ta phạm vào những điều bất trung bổ ích cho ta. Ngài không coi gì là qúa, nếu cần phải như thế để tiêu diệt tính tự ái rất nguy hại cho ta.

Bởi vậy Ngài thường dùng sự buồn sầu, mất an ủi thiêng liêng, để ta không còn cảm thấy niềm vui, không còn cảm thấy tiến bộ, không còn hứng thú khi thực hành các nhân đức. Vậy chúng ta phải an vui và vững tin rằng chính Ngài rút lấy niềm vui và niềm an ủi của ta, để mưu ích cho linh hồn ta. Và Ngài vui khi thấy ra vâng theo ý Ngài và tiếp tục sống tín thác. Chúa rất vui thỏa, vì những hành vi “trực tiếp” của niềm tín thác, của lòng khiêm nhường và lòng mến của ta, bởi vì tâm hồn ta không ngừng phát ra những tâm tình đó trong những cơn thử thách đau đớn của ta.

II.  TÔI VẪN CÓ THỂ LÀM VUI LÒNG CHÚA GIÊSU. CẢ KHI TÔI CẢM THẤY NHƯ NGƯỢC LẠI.

–   PHẢI PHÂN BIỆT NIỀM VUI VÌ LÀM ĐẸP LÒNG CHÚA, VỚI NIỀM VUI VÌ CẢM THẤY MÌNH ĐẸP LÒNG CHÚA.

–   YÊU MẾN THIÊN CHÚA CỦA NIỀM AN ỦI, CHỚ KHÔNG YÊU MẾN NHỮNG AN ỦI CỦA CHÚA.

–   CÓ THỂ KHÁT KHAO MONG CHỜ CHÚA TRỞ LẠI.

Tôi vẫn có thể làm vui lòng Chúa Giêsu. 

– Nếu chúng ta khát khao yêu mến Chúa, khát khao quên mình đi để tận hiến cho Ngài, thì chúng ta còn cần điều gì nữa để sống an vui khi bị buồn sầumất an ủi ? Ước nguyện của ta ở đời này là gì ? Là làm vui lòng Chúa Giêsu, và kết hiệp với Chúa Giêsu để làm vui lòng Chúa Cha. Đó là ước nguyện tuyệt đối và vô điều kiện của chúng ta, và đó là ước nguyện mà Chúa Giêsu sẽ không đòi hỏi ta phải hy sinh cho Ngài. Ngoài ra, bất cứ ước vọng nào Ngài cũng có thể đòi hỏi ta phải hy sinh. Ngài có thể xin ta hy sinh một lối sống nào đó, hy sinh một ân sủng thần bí, hy sinh một cha linh hướng ta yêu qúi, hy sinh một công việc tông đồ, hy sinh những việc có vẻ thành công trong đời sống thiêng liêng của ta. Ngài có thể xin ta hy sinh một niềm an ủi thiêng liêng, một chương trình nên thánh v.v…. Nhưng không bao giờ Ngài đòi ta hy sinh niềm vui cao cả của linh hồn, là vui vì làm đẹp lòng Ngài. Niềm vui đó cũng là niềm vui lớn nhất của Thánh Tâm Ngài, Ngài chỉ ước ao ban cho ta thôi. Làm sao Ngài có thể từ chối ta ? Làm sao Ngài có thể cất lấy khỏi ta ?

Hỡi linh hồn yêu mến và chỉ ước ao một điều là làm vui lòng Chúa Giêsu, bạn hãy vui mừng ! Dầu chương trình của Chúa về bạn là thế nào đi nữa, dầu Ngài dẫn đưa bạn đi bất cứ con đường nào, trong an vui cũng như trong buồn sầu, bạn luôn có thể làm vui lòng Chúa và Chúa vui nhiều vì bạn. Làm vui lòng Chúa là lẽ sống của bạn. Không làm được như thế, bạn sẽ không có thể sống. Chúa Giêsu biết rõ điều này. Để làm vui lòng Chúa, chỉ có một điều phải làm : đó là làm hết sức để sống theo ý Chúa, sống tín thác trong tay Ngài. Và điều này thì bạn luôn có thể làm được. Cả trong những lúc buồn sầu tối tăm, bạn vẫn có thể làm được điều đó, làm theo sự có thể của bạn. Trong một niềm tin trần trụi, bạn có thể nhắm mắt tín thác cho tình thương của Chúa. Chúa Giêsu không đòi hỏi gì hơn. Chúa không bao giờ đòi hỏi bạn một việc gì qúa sức mình. Như vậy, vững tin như vậy bạn sẽ ở trong đại dương của bình an, vì biết rằng mình có thể mãi mãi làm vui lòng Chúa. Niềm xác tín này sẽ mang lại sự trong sáng và sự đơn sơ tốt lành cho đời sống thiêng liêng của bạn. Bởi vì bạn vững tin rằng, mặc dầu trăm ngàn dao động ở bên mặt, nhưng nơi sâu thẳm của tâm hồn, một niềm an vui rất phẳng lặng sẽ luôn luôn được giữ vững, vì bạn luôn luôn có thể làm vui lòng Chúa Giêsu vô cùng yêu mến.

Cả khi ta cảm thấy ngược lại. 

– Nói thế không có nghĩa là chúng ta cảm thấy niềm an vui đó, vì đây là một niềm vui mà linh hồn không cảm thấy khoái trá. Không, một niềm an vui cảm giác sẽ chỉ nuôi dưỡng tính tự ái của ta do được vui hưởng. Niềm an vui này thường chỉ là niềm vui thiêng liêng, hoàn toàn thiêng liêng, không cảm thấy, một niềm an vui ở tận đáy linh hồn và chúng ta không cảm thấy, không có ý thức, nhưng không phải vì thế mà không phải là một niềm vui hiện thực. Nên nhớ : trên kia chúng ta đã nói rằng Chúa Giêsu không bao giờ đòi hỏi chúng ta hy sinh niềm an vui cao cả là được làm vui lòng Ngài. Nhưng nhiều khi thoạt trông như chúng ta lầm rồi. Đúng thế, có những cơn thử thách ghê sợ và lâu dài, khi mà không những chúng ta không cảm thấy vui vì làm vui lòng Chúa và được Chúa yêu thương, mà còn cảm thấy mình không còn đẹp lòng Chúa nữa. Mình đang làm Chúa phiền lòng. Và Chúa Giêsu có vẻ đã ngoảnh mặt đi khỏi ta. Ôi ! Sự đau khổ lớn lao ! Ôi sự hoài nghi ghê sợ ! Tôi còn sống làm gì nữa, nếu Chúa Giêsu không còn sống ở trong tôi ? Những hy sinh của tôi, những sự hãm mình của tôi còn có ý nghĩa gì nữa, nếu chúng không làm vui lòng Chúa Giêsu ? Trầm hương của lời cầu nguyện của tôi và của lòng mến của tôi không bay lên tòa Chúa nữa sao ?

Hỡi linh hồn bị khủng hoảng và rất đáng thương, bạn hãy cứ tín thác, cứ sống tín thác luôn ! Dầu xác thịt nặng nề, dầu tâm hồn bạn chán nản, bạn hãy vững tin vào Chúa Giêsu, hãy tin rằng bạn vẫn sống đẹp lòng Ngài. Chúa Giêsu vẫn thương yêu bạn như trước, Chúa vẫn yêu thương bạn như những lúc thân yêu nhất trước đây. Hãy tin tưởng vào tâm tình sâu xa của bạn, rằng bạn chỉ sống chết vì Chúa. Có bao giờ niềm tín thác làm bạn thất vọng đâu ! Và giờ đây, niềm tín thác đó cũng sẽ không lừa dối bạn. Khi cơn giông tố này sẽ qua đi và bình an trở lại trong linh hồn bạn, bạn sẽ lại nghe thấy tiếng nói dịu hiền của Chúa Giêsu. Ngài sẽ nói cho bạn biết Ngài vẫn luôn ở trong tâm hồn bạn, Ngài đã rất vui lòng thấy bạn can đảm và đầy tin tưởng trong cơn thử thách. Và niềm tín thác trọn vẹn, nhắm mắt tín thác của bạn, đã làm Chúa hết sức vui lòng.

Đừng lẫn lộn niềm vui vì sống đẹp lòng Chúa với niềm vui vì cảm thấy mình đẹp lòng Chúa.

– Bởi vậy đừng lộn niềm vui vì sống đẹp lòng Chúa, làm Chúa vui lòng, với niềm vui vì cảm thấy mình sống đẹp lòng Chúa. Chúng ta có thể sống rất đẹp lòng Chúa, làm Chúa vui lòng, nhưng không có ý thức và cảm giác nào về việc đó. Đôi khi có thể chúng ta còn có cảm giác ngược lại, cảm thấy những nghi nan ghê sợ : đó là trường hợp “những đêm tối của các giác quan” và nhất là “những đêm tối của tâm trí”. Nhưng nếu lòng mến của ta chân thành và tinh ròng, chúng ta vẫn tin rằng mình sống đẹp lòng Chúa, đồng thời chúng ta hy sinh dâng cho Chúa niềm vui vì không cảm thấy. Thật ra, nếu ta chỉ quan tâm đến niềm vui của Chúa, chỉ chú ý làm vui lòng Ngài, thì cảm thấy hay không cảm thấy mình làm vui lòng Chúa có hệ gì lắm ! Miễn là Chúa vui, miễn là tôi làm vui lòng Ngài. Thế là đủ, và thế là tất cả đối với tôi. Tôi muốn có niềm vui của Ngài, chớ không phải niềm vui của tôi, và tôi sẵn sàng hy sinh cho Ngài niềm vui cao cả vì biết mình làm vui lòng Ngài, nếu Ngài đòi hỏi tôi điều đó.

Đó là điều thánh nữ Têrêxa Hài đồng Giêsu đã bày tỏ một cách rất dễ thương như sau. Lúc còn ở nhà Tập, chị thánh đã viết cho Mẹ Agnès : “Mẹ hãy xin Chúa Giêsu cho con lòng mến yêu vô tư. Con không ước ao có lòng mến cảm động. Chỉ cần Chúa Giêsu cảm thấy con mến Ngài là đủ”[1]. Chị Thánh còn viết cho chị Maria của mình như sau : “Con gái bé nhỏ của chị chẳng nghe thấy thiên thần ca hát gì hết, cuộc du ngoạn hôn lễ của nó rất khô khan. Chị sẽ tưởng nó buồn lắm phải không ? Không đâu, trái lại nó hân hoan bước theo Chàng chỉ vì yêu mến Chàng, chớ không phải vì các hồng ân của Chàng. Chàng tuyệt vời ! Cả khi Chàng im lặng, cả khi Chàng ẩn mình đi”[2].

Yêu mến Chúa của những an ủi, chớ không yêu mến những an ủi của Chúa. 

– Chúng ta có cảm tưởng mình không còn làm vui lòng Chúa, khi mình rơi vào những lúc bị khô khan, mất an ủi. Đó là một cảm tưởng sai lầm. Trên kia chúng ta đã chứng minh rằng chính những cơn buồn sầu, những lúc bị khô khan, là những cơ hội rất tốt lành để ta thực hiện những hành vi khiêm nhường sâu thẳm, nhắm mắt tín thác trong tay Chúa, và yêu mến thập giá Chúa Kitô. Đó là những cơ hội giúp ta chết hẳn cho bản thân mình. Cho nên đó là những cơ hội để ta làm vui lòng Chúa Giêsu.

Lợi ích lớn nhất của những cơ hội này là chúng cho ta có dịp yêu mến Chúa Giêsu bằng một lòng mến tinh ròng và vô tư. Đúng thế, những khi ta được an ủi, ta dễ bị cám dỗ yêu mình và tin cậy nơi bản thân mình. Chúng ta tưởng như có cánh để bay bổng, và chúng ta dễ tưởng đó là do sức của mình. Hơn nữa chúng ta cảm thấy niềm vui của lòng mến, cho nên ta dễ đi đến chỗ niềm vui của Chúa, những an ủi của Chúa, hơn là yêu mến Chúa của niềm vui và của những an ủi. Trái lại, khi ta bị buồn sầu, bị khô khan, mất an ủi, không thể xảy ra chuyện đó. Nếu ta tiếp tục yêu mến Chúa, thì sẽ là lòng mến tinh ròng : ta yêu mến Chúa vì Ngài mà thôi, không phải vì những hồng ân Ngài ban, không phải vì được an ủi. Khi đó, ta dứt mình ra khỏi những niềm an ủi, để chỉ yêu mến bản thân Thiên Chúa mà thôi.

Nguyên tư tưởng này cũng đủ thuyết phục chúng ta phải qúi mến những sự khô khan và những khi chán nản, bị mất an ủi. Nếu chúng ta ước ao yêu mến Chúa bằng một lòng mến tinh ròng, chúng ta phải vui vẻ đón chào những cơ hội để yêu mến Chúa như thế, những cơ hội mà Chúa gửi đến cho ta vì thương yêu ta. Tất nhiên, điều này không dễ chút nào. Nhưng không sao ! Chúng ta càng yêu mến Chúa, càng tấn tới trong lòng mến tinh ròng, chúng ta sẽ càng biết qúi mến những cơ hội đó. Thánh nữ Têrêxa thường nói : “Chúng ta hãy yêu mến Chúa Giêsu tới mức chấp nhận mọi sự Ngài muốn cho ta, cả những sự khô khan và những tâm tình có vẻ lạnh lùng. Yêu mến Chúa mà không cảm thấy sự ngọt ngào của lòng mến, đó mới là yêu mến nhiều. Nhưng đó là một thứ tử đạo… Vậy chúng ta hãy sẵn sàng tử đạo !”[3]. Như vậy chắc chắn chúng ta sẽ làm Chúa vui nhiều, nếu chúng ta vững lòng mến yêu và tín thác khi bị chán nản.

Bạn muốn là người bạn thân tín của Chúa Giêsu ? Bạn muốn an ủi Ngài thay cho biết bao người vô ân bạc nghĩa đối với Ngài ? Vậy bạn hãy quyết tâm yêu mến Ngài trong lúc chán nản cũng như khi được an ủi. Hãy yêu mến Ngài trên Núi Sọ cũng như trên núi Tabor ! Hãy yêu mến Chúa Giêsu bằng một lòng mến tinh ròng, thay cho những linh hồn chỉ yêu mến Ngài vì được an ủi, vì nhận được những hồng ân, và như vậy là họ tự yêu mình hơn là yêu mến Chúa.

“Thiện chí ! Yêu mến Chúa luôn, mọi nơi và mọi lúc ! Đó là tất cả chương trình của tôi từ lúc này. Chúa Giêsu sẽ lo mọi chuyện khác cho tôi. Tôi sẽ yêu mến Chúa luôn, yêu mến Ngài dầu có phải chịu đau khổ, chịu thiệt thòi, yêu mến Chúa mà không cảm thấy vui gì hết, yêu mến khi đau khổ, yêu mến trong chán nản, trong khô khan, trong tối tăm, trong nghi nan, trong những cơn cám dỗ, trong những viễn ảnh đen tối về tương lai : đó là phần dành cho tôi, bao lâu Thầy Chí Thánh muốn như thế. Tôi biết Ngài nhân lành, tôi biết Ngài thương yêu tôi. Tôi tin vào tình thương của Ngài. – Lạy Chúa Giêsu, được yêu mến Chúa như thế này, con vui sướng lắm. Để vui hưởng Chúa, con có cả một sự đời đời, nhưng để làm Chúa vui vì lòng mến của con, lòng mến được tỏ bày bằng đau khổ và hy sinh, con chỉ có cuộc đời ngắn ngủi này. Vậy Chúa hãy dùng đau khổ của con để làm vinh danh Chúa ! Hãy tận dụng khả năng chịu đựng của con, để khi chết, tất cả con người con biến thành mến yêu”[4].

Có thể khát khao trông đợi Chúa trở lại.

– Như thế có nghĩa là chúng ta không được khát khao mong ước Chúa trở lại chăng ? Không phải thế, những ước ao khát vọng đó là dấu hiệu của lòng mến thiết tha, và rất đẹp lòng Chúa. Tất cả các thánh đều đã cảm nghiệm những niềm ước ao nồng nàn đó, và các thánh đã khóc trong những khi bị buồn sầu, mất an ủi. Thánh Bênađô đã có những vần thơ rất đẹp như sau : “Ôi Giêsu rất dịu hiền của con, là hy vọng của linh hồn than vãn, những nước mắt sùng mộ của con tìm kiếm Chúa, từ đáy lòng tiếng kêu của con kêu gọi Chúa !”. Trong vấn đề này, chúng ta hãy theo sự thúc đẩy của ân sủng. Có những lúc, hãy sống tín thác và an bình ngủ đi trên chiếc gối êm dịu của niềm tín thác mến yêu. Có những lúc, ta thức dậy khỏi giấc ngủ, và mến yêu giơ hai tay lên với Đấng mà lòng ta nồng nàn yêu mến.

III.  SỰ BUỒN SẦU KHIẾN CHÚNG TA CHẠY ĐẾN CÁC KHO TÀNG CỦA CHÚA GIÊSU, ĐẤNG ĐẦY ĐỦ CHO TA, ĐANG SỐNG TRONG TA.

– Ý TƯỞNG ĐÚNG VỀ SỰ BUỒN SẦU : ĐÓ LÀ MÙA ĐÔNG, CŨNG CẦN THIẾT CHO ĐỜI SỐNG THIÊNG LIÊNG NHƯ SỰ AN ỦI LÀ MÙA XUÂN.

–   SỰ KHOAN DUNG CỦA CHÚA GIÊSU ĐỐI VỚI NHỮNG SỰ YẾU ĐUỐI CỦA TA TRONG NHỮNG LÚC BỊ BUỒN SẦU.

Sự buồn sầu khiến ta chạy đến các kho tàng của Chúa Giêsu. Đấng đầy đủ của ta, Ngài đang sống trong ta. 

– Nay chúng ta đã thấy : có nhiều lý do khiến ta phải qúi mến và yêu mến những cơn thử thách, những lúc bị buồn sầu. Nếu chúng ta xác tín điều đó khi còn được bình an và an vui, thì nó sẽ giúp ta rất nhiều khi bị buồn sầu, mất an ủi. Nhưng phải thú thật rằng : nhiều khi, rất nhiều khi, niềm xác tín đó cũng như những tư tưởng khác chẳng giúp gì cho ta, khi lâm vào đau khổ và bị thử thách. Đó là vì Chúa Giêsu muốn chúng ta chạy lại nương náu trong Thánh Tâm Ngài, vì đó là nơi nương náu an toàn duy nhất.

Khi chúng ta cảm thấy mình nghèo khổ, buồn phiền, lạnh lẽo, không có lòng mến ; Khi chúng ta thấy mình không có gì để dâng tiến Chúa…, cho nên quá mệt mỏi, chúng ta chỉ còn cách chạy lại Chúa Giêsu. Điều này đúng cho tất cả mọi người, nhất là đúng cho những linh hồn đã quen sống kết hiệp với Chúa Giêsu. Những khi bị khô khan, và thấy mình nghèo nàn, đầy những sự xấu xa khốn nạn, tự nhiên họ chạy lại cầu cứu nơi Chúa Giêsu, Đấng rất đầy đủ cho họ, để tìm thấy nơi Ngài những tâm tình thờ lạy, đền tạ và yêu mến. Họ nhớ lại rằng họ không sống một mình và yêu mến Chúa một mình, nhưng có Chúa Giêsu sống trong họ và với họ. Họ tin rằng đời sống của họ chỉ là sự sống của Chúa Giêsu ở trong họ: Chúa Giêsu dùng họ để tôn thờ và mến yêu Chúa Cha.

Đôi khi trong những lúc được an ủi, họ đã thấy Chúa tỏ sự hiện diện của Ngài cách tỏ tường. Một tàn lửa mến yêu thần linh của Thánh Tâm Chúa Giêsu thiêu đốt con tim họ, gây nên một lòng mến nồng nàn và êm dịu khôn tả. Những khi khác, những khi mất an ủi, họ không cảm thấy lửa mến của Chúa nữa, nhưng họ biết Trái Tim Chúa vẫn đập và vẫn yêu mến Chúa Cha ở trong họ. Chúa Giêsu vẫn ở đó, Ngài không bỏ đi đâu hết. Bây giờ cũng như trước đó, linh hồn họ không một mình yêu mến và tôn thờ Thiên Chúa. Chúa Giêsu chỉ ẩn mình đi nơi đáy linh hồn họ, cho nên từ trái tim họ, trầm hương của lòng mến thần linh của Chúa Giêsu vẫn không ngừng bay lên trước tòa Chúa Cha hằng hữu.

Bạn không còn cảm thấy rằng lòng mến yêu của Chúa Giêsu thấm nhập vào tâm trí và tâm hồn bạn để yêu mến Chúa Cha ? Thì có quan hệ gì đâu ! Chúa Giêsu vẫn ở đó, nơi đáy tâm hồn bạn thay vì quảng đại, khát khao hy sinh, và thay vì cảm thấy tín thác và mến yêu, bạn chỉ cảm thấy khô khan và chán nản. Nhưng có sao đâu ? Bạn vẫn có nơi đáy lòng mình những điều qúi giá gấp trăm ngàn lần những tâm tình mà bạn có khi được an ủi, bởi vì  bạn dễ bị cám dỗ tin tưởng vào bản thân mình. Còn bây giờ bạn vẫn có những sự toàn hảo khôn sánh của Chúa Giêsu đang sống ở trong bạn.

Đúng thế, thay vì những viên ngọc kém cỏi, những hạt kim cương giả, tức các nhân đức của bạn, bạn vẫn có thể dâng lên Thiên Chúa những viên ngọc và kim cương vô giá là các nhân đức thần linh của Chúa Giêsu. Bạn có thể dâng lên Thiên Chúa đức khiêm nhường vô cùng sâu thẳm, niềm tín thác trọn vẹn, sự quên mình hoàn toàn và đức mến vô cùng nồng nàn của Chúa Giêsu. Đó là niềm vui đích thực của bạn, dầu là một niềm vui không cảm thấy. Và đó cũng là cách thế để bạn làm đẹp lòng Chúa và dâng lên Ngài một hy lễ vẹn toàn thánh thiện, và đáng được Ngài chấp nhận. Sự buồn sầu sẽ trở thành những giây phút ơn phúc cho bạn, nếu trong cảnh bần cùng và khốn khó của mình, bạn biết nghĩ đến kho tàng vô cùng qúi giá của bạn là những nhân đức và công nghiệp của Chúa Giêsu đang sống ở trong bạn.

Ý tưởng đúng về sự buồn sầu : đó là mùa đông, cũng cần thiết cho đời sống thiêng liêng như sự an ủi là mùa xuân. 

– Chúng ta phải có một ý tưởng đúng và chính xác về sự buồn sầu, mất an ủi, dưới mọi hình thức của nó : những lúc khô khan, buồn nản, tối tăm, chán ngán các việc đạo đức, không muốn cầu nguyện v.v… Chúng ta nên biết : Chúa là người làm vườn, Ngài cần phải có sự thay đổi 4 mùa để cho cây cối tăng trưởng và sinh hoa kết qủa. Ngài là người thợ kim hoàn, Ngài cần phải thanh tẩy linh hồn ta khỏi những chất dơ bẩn còn bám vào nó, để làm cho nó trở thành viên kim cương tốt đẹp trước mặt Cha trên trời.

Nhiều linh hồn thiếu kinh nghiệm đã hiểu lầm rằng mất an ủi là một hình phạt, cũng như niềm an ủi là một phần thưởng cho những hy sinh của họ. Một ảo tưởng tai hại ! Đôi khi điều này có thể đúng, nhất là đối với những linh hồn mới bước vào đường nhân đức. Nhưng đại đa số các trường hợp thì, trong chương trình của Chúa, những cơn buồn sầu, mất an ủi, lại là dấu Chúa yêu thương linh hồn cách riêng : buồn sầu là một ân sủng đặc biệt Chúa dùng để đưa linh hồn lên cao hơn, đi tới sự kết hợp với Ngài.

Nếu ta không ý thức về một lỗi phạm hoặc một sự bất trung nào của mình, thì không nên tự làm khổ mình bằng những sự xét mình đi, xét mình lại như thế. Những lo âu đó là không chính đáng. Tốt hơn, ta hãy hạ mình trước mặt Chúa, xin lỗi Chúa vì tất cả những lỗi lầm xưa kia, và những gì quên sót, rồi hãy giữ tâm hồn thư thái trong niềm tín thác đầy mến yêu. Trong lúc này, chúng ta rất cần phải có niềm tín thác để đứng vững trong những quyết tâm của mình. Đừng thay đổi gì trong cách sống của mình. Đừng đi tìm nơi những tạo vật một sự an ủi nào, để bù vào những an ủi mà Chúa đã rút đi. Chúng ta cần đến tất cả nghị lực của tâm hồn mình, để đứng vững và lợi dụng tốt những thời gian qúi báu này theo thánh ý Chúa[5].

Nói chung, tình trạng mất an ủi không phải là sự Chúa phạt ta vì đã bất trung hoặc đã sao lãng trong đời sống đạo đức. Đó chỉ là một phương tiện qúi báu và cần thiết Chúa dùng để thanh tẩy ta. Những khi được an ủi và những lúc mất an ủi cũng giống như mùa xuân và mùa đông của đời sống thiêng liêng. Những sự an ủi của Chúa cho ta thấy những sự tuyệt hảo và sự đáng mến vô cùng của Chúa, để đốt lửa yêu mến của ta, trái lại những buồn sầu, mất an ủi cho ta thấy sự khốn khổ của bản tính con người, vẻ xấu xa của những nết xấu, khiến ta thật lòng chê ghét mình và gớm ghét cái tôi của mình : đó là những mùa xuân và những mùa đông không thể thiếu trong đời sống thiêng liêng của chúng ta.

Những thay đổi kế tiếp nhau giữa các mùa như thế đã được Thiên Chúa xếp đặt cách khôn ngoan và đầy yêu thương, để dẫn đưa chúng ta trên con đường nên thánh và kết hiệp mật thiết với Chúa. Thiên Chúa thay đổi và kéo dài thời gian của mỗi mùa, tùy theo nhu cầu của mỗi linh hồn.

Vậy không có lý do gì để lo buồn, khi thời gian bị mất an ủi kéo dài. Chúng ta thường nghĩ lầm rằng như thế mình mất đi bao thời gian qúi báu. Ừ, mình đang tiến bước mau lẹ trên đường trọn lành, với sự đồng hành của Chúa Giêsu. Thế rồi, đùng một cái, Ngài biến mất. Chúng ta có cảm tưởng như Chúa Giêsu đã bỏ rơi chúng ta. Chúng ta không tiến bộ nữa. Nghĩ thế là sai lầm ! Không, không, Chúa Giêsu không bỏ rơi ta đâu. Ngài không quên ta đâu. Ngài ước ao sự trọn lành của ta hơn chúng ta nhiều. Ngài rất ước ao sự thánh thiện của chúng ta. Ngài làm ra vẻ bỏ quên chúng ta như thế là một ân sủng đặc biệt qúi trọng. Nay Ngài làm việc ở bề sâu, nơi đáy linh hồn ta, để loại bỏ những chướng ngại vật cuối cùng cho sự kết hiệp thần linh. Ngài làm việc không ngừng nghỉ, suốt ngày đêm, một cách vô cùng nhẫn nại và với một niềm mong ước lớn lao. Ngài tỉa những nhánh vô ích để cho cây thêm tươi tốt. Ngài để cho mùa đông tiếp theo sau mùa xuân. Ngài có ý để cho mấy bông hoa rụng xuống, và Ngài lặng lẽ hái mấy trái mà Ngài thấy đã chín. Ngài biết cây đang lớn lên và khi đến mùa hạ, Ngài sẽ có được những bông đẹp hơn và những trái ngon hơn trước, cho tới khi Ngài hái được những trái tuyệt vời của lòng mến yêu trọn vẹn.

Lòng khoan dung của Chúa Giêsu đối với những sự yếu đuối của ta trong khi bị buồn sầu.

– Sau cùng, đừng quên rằng Chúa Giêsu vô cùng nhân từ và khoan dung. Nếu trong những khi bị thử thách, bị mất an ủi, chúng ta có tỏ ra thiếu quảng đại cách nào, hoặc có sao lãng phần nào, chúng ta đừng nghĩ rằng Chúa Giêsu buồn giận ta và mọi sự đã hỏng hết. Chúa biết ta yếu đuối, ta gặp khó khăn, Chúa thấu hiểu tất cả, cho nên nếu chúng ta vẫn cố gắng giữ vững thiện chí và lòng trung thành, thì Chúa dễ dàng bỏ qua những sai lỗi nho nhỏ của ta.Vậy chúng ta đừng buồn và nghĩ rằng : “Tôi đã không quảng đại khi buồn sầu, mất an ủi. Tôi vác thập giá, nhưng đã không vác cách khẳng khái. Tôi đã vác cách nặng nhọc, gần như bị thập giá đè ngã qụy. Rồi tôi đã có những sai lỗi trong thời gian bị buồn sầu…. Tôi đã sống qúa tự nhiên, thiếu tinh thần siêu nhiên. Thật là khác xa với khi còn được an ủi !” – Chúa Giêsu biết rõ tất cả những chuyện đó. Ngài biết rõ hơn ta nhiều, vậy mà Ngài cứ gửi những thử thách đến cho ta, vì Ngài biết chúng sẽ mang lại nhiều lợi ích thiêng liêng cho ta. Ngài biết những lỗi lầm nho nhỏ đó của ta sẽ được đền bù cách rộng rãi bởi sự trung thành của ta, sự nhẫn nhục, lòng khiêm nhường và niềm tín thác của ta. “Diligentibus Deum omnia cooperantur in bonum. – Đối với những ai yêu mến Thiên Chúa, mọi sự đều mang lại những điều tốt lành” (Rm 8,28). Miễn là chúng ta trung thành yêu mến Chúa và ước ao ngày càng làm vui lòng Ngài hơn, thì dầu ta vẫn phạm phải những sai lỗi nho nhỏ, chúng ta hãy tin rằng những cơn thử thách thiêng liêng sẽ sinh ích cho ta và, chen kẽ với những khi được an ủi, sẽ dẫn ta tới đỉnh cao của con đường trọn lành. 

 Paul De Jaegher S.J.

[1] Esprit de Ste Thérèse de l’Enfant Jésus (Tinh thần của thánh nữ Têrêxa Hài đồng Giêsu). Ch.III Lòng mến vô tư, tr. 35

[2] Histoire d’une âme (Tiểu sử một linh hồn) : Các thư, tr. 349.

[3] Esprit de Sainte Thérèse de l’Enfant – Jésus, § III. Amour désintéressé, p.36

[4] Jos. Schryvers, La bonne volonté, p. 53

[5] Về vấn đề này, chúng ta phải ghi nhớ lời dạy của thánh Inhaxiô, vị thầy vĩ đại của khoa tu đức, về những qui luật để biện biệt các tinh thần (luật số 5). Luật này dạy rằng : Những giờ phút chán nản, mất an ủi không phải là giờ phút tốt để phán đoán cách lành mạnh về mọi sự, bởi vậy không nên thay đổi những quyết tâm của mình hoặc cách sống của mình trước đó.

Hạnh Phúc – Chương 3: Tình Yêu - 6. VÀI SUY NGHĨ VỀ TÌNH YÊU

Để nguỵ trang cho những lý do thực sự của lòng vị kỷ, cái tôi thường viện dẫn ra một phương cách đặc biệt nào đó. Nó có thể làm bộ như lo lắng cho việc an sinh của kẻ khác song thực sự nó đang tìm kiếm lạc thú cho riêng mình.

Có vài người thường thích khoác lác là mình bao dung nhưng thực sự chẳng qua họ bị cái tôi vị kỷ sai khiến. Họ muốn đừng ai rớ đến những gì họ đang nghĩ dù có sai trái mấy đi nữa, vì thế họ bênh vực cho lòng bao dung đối với tư tưởng của kẻ khác. Tuy nhiên bao dung kiểu đó rất là nguy hiểm bởi vì ngay khi cái tôi bị quấy rầy hay đe doạ thì người ta sẽ trở thành bất nhẫn ngay lập tức. Đó là lý do cắt nghĩa tại sao một nền văn minh khoan dung với các ý tưởng xấu mà cứ tưởng là bác ái với tha nhân, thì chắc hẳn không bao lâu sẽ khơi mào cho những cuộc bắt bớ tàn nhẫn.

Kẻ vị kỷ luôn luôn cảm thấy cái tôi của mình thiếu một thứ gì đó. Hành vi chính yếu của hắn là luôn luôn phải lôi kéo về cho mình một cái gì đó, tương tự như cái họng lúc nào cũng muốn tọng thức ăn vào. Chẳng hề muốn cho ra, chẳng hề thích phục vụ, và chẳng bao giờ chấp nhận một hy sinh nào, bởi vì theo hắn hy sinh có nghĩa làm giảm đi chính mình.

Ngược lại, tình yêu đích thực luôn cảm thấy nhu cầu cho đi mãnh liệt thôi thúc mình hơn nhu cầu nhận lãnh. Khi tình yêu này khởi đầu, người ta luôn cảm thấy không bao giờ mình có thể cho đi cho đủ. Và dù tặng phẩm có quí giá ngần nào, nó vẫn xem ra chưa sánh được với lòng muốn cho thêm. Giá cả thì sá gì, bởi vì chúng ta nào muốn nhìn nhận một tỷ lệ tương xứng giữa quà tặng và nhu cầu trao ban. Thảm kịch sẽ xảy ra khi tình yêu bắt đầu tàn lụi, bởi vì lúc đó người ta sẽ không còn muốn cho ngay cả cái họ có sẵn. Lúc này không còn là vấn đề không thể cho người kia cho đủ nữa, mà đúng hơn là chẳng cho người kia cái gì ráo.

Trong tình yêu đích thực thì luôn bao hàm sự xót thương và sự cần thiết. Xót thương ở đây có nghĩa là người ta cảm thấy nhu cầu trải rộng và trao ban triệt để; còn cần thiết ở đây có nghĩa là bởi vì tình yêu hàm chứa một khoảng trống mà con người muốn thấy được lấp đầy. Tình yêu đích thực sẽ đón nhận mà chẳng bao giờ giải thích những gì được trao ban, chẳng bao giờ tìm kiếm một động lực nào khác ngoài chính tình yêu. Kẻ nào còn hỏi “tại sao” lại cho đi một vật gì đó thì chứng tỏ kẻ ấy chưa tin tưởng.

Một trong những bi kịch của thời đại chúng ta là người ta thường chỉ nghĩ rằng tự do là thoát khỏi một điều gì đó thay vì lẽ ra phải nghĩ rằng tự do là để phục vụ cho tình yêu. Kẻ nào yêu mến tất cả mọi người thì mới đúng là kẻ tự do, còn kẻ nào nuôi lòng căm giận thì thực sự đã nô lệ hoá chính mình. Kẻ căm ghét thì lệ thuộc cái mà hắn ta không thể yêu nổi và do đó, hắn ta chẳng thể có tự do. Thù ghét anh láng giềng là một hình thức hạn chế tự do của mình, bởi vì mình buộc phải đi vòng thêm một khu phố để tránh gặp mặt anh láng giềng đó, hoặc phải chờ cho anh ta ra khỏi nhà rồi mình mới rời khỏi nhà mình được.

Chính tình yêu và dục vọng của chúng ta qui định nỗi đau khổ của chúng ta. Chẳng hạn nếu chúng ta cực kỳ yêu thích lạc thú của thân xác thì niềm đau lớn nhất của chúng ta là mất sức khoẻ, nếu chúng ta cực kỳ ham mê của cải thì nỗi âu sầu lớn nhất của chúng ta là sự bất an toàn, còn nếu chúng ta cực kỳ yêu mến Chúa thì nỗi sợ lớn nhất của chúng ta chính là tội lỗi.

Mầu nhiệm vĩ đại không phải là ở chỗ tại sao chúng ta yêu, mà là tại sao chúng ta lại được yêu. Tại sao chúng ta yêu thì dễ hiểu thôi, bởi vì chúng ta khiếm khuyết và luôn bất mãn vì tình trạng chưa tốt đẹp của mình. Còn tại sao lại có kẻ nào đó yêu chúng ta thì mới là mầu nhiệm, bởi vì khi nhìn vào cái bản thể thực sự của mình, chúng ta biết được chúng ta rất ít đáng yêu. Tuy nhiên vấn đề các loài thụ tạo khác yêu mến chúng ta dầu sao cũng chưa phải là một mầu nhiệm quá lớn lao vì họ cũng bất toàn như chúng ta. Còn riêng đối với tình yêu Chúa dành cho chúng ta thì quả thật chúng ta sẽ không bao giờ hiểu nổi. Khi một linh hồn mới trở về với tình yêu mến Chúa thì thể nào cũng xốn xang trong lòng vì đã lỡ đánh mất quá nhiều thời gian. Như thánh Augustinô từng nói: “Ôi Thiên Chúa mỹ lệ tự ngàn xưa, con yêu Ngài quá trễ đi thôi”. Tuy nhiên, nỗi ân hận này được đền bù khi linh hồn ấy biết được rằng kế hoạch của Chúa luôn luôn là muốn cho chúng ta cuối cùng rồi cũng sẽ tìm đến nhận biết Ngài.

Chúng ta yêu thích được thấy kẻ khác lý tưởng hoá chúng ta trong tâm trí họ. Đó là một trong những niềm hoan lạc thú vị của tình yêu. Chúng ta trở thành tươi mát, ngây thơ, can đảm, mạnh mẽ trong tâm trí người mình yêu. Tình yêu khoả lấp đi sự hư hoại của linh hồn. Nụ xuân mới làm ta quên đi mùa đông ảm đạm. Không bao lâu, kẻ đang yêu sẽ thay thế những gì hiện đang có trong trí mình bằng những gì hiện đang nằm trong tâm trí người kia. Đây chính là điều mà trong tình yêu thương xảy ra sự lý tưởng hoá khiến người ta rất hài lòng. Đó là lý do tại sao tình yêu làm cho người ta nên tốt đẹp hơn. Khi kẻ kia nghĩ tốt về chúng ta thì thường là chúng ta sẽ cố gắng làm sao cho xứng đáng với ý nghĩ ấy. Những kẻ khác nghĩ rằng chúng ta tốt thì đó quả là nguồn khích lệ to tát giúp chúng ta trở nên tốt. Đó cũng là lý do tại sao mà một trong những nguyên tắc nền tảng của cuộc sống là phải nghĩ tốt cho kẻ khác, làm như thế chúng ta sẽ giúp họ trở nên tốt.

Gm. Fulton Sheen

Hạnh Phúc – Chương 3: Tình Yêu - 5. ĐẤNG VÔ BIÊN VÀ TÍNH DỤC

Trong số những thứ con người biết được thì điều mà họ biết ít nhất là chính bản thân họ. Con người luôn luôn tìm cách giải đáp bài toán đố về chính mình, tìm cách chứng minh ý nghĩa bản tính mình. Một số văn sĩ hiện đại cố gắng tìm ra một giải pháp vắn gọn bằng cách giản lược con người vào một trong những bản năng tức bản năng tính dục. Rối rắm vì khó mà hiểu cho hết được toàn bộ con người, các văn sĩ này liền khai trừ khỏi ý thức mọi thứ liên quan đến con người ngoại trừ địa hạt nhỏ nhoi này, và trong khi nghiên cứu địa hạt ấy, họ cho rằng họ đã đóng khung được hình ảnh về con người. “Lối trả lời” này được tìm thấy phổ biến nơi những kẻ đã đánh mất sự hiểu biết về mục đích thật của cuộc sống, họ chẳng hiểu gì đến cứu cánh riêng của mình nên đã bám víu vào các kinh nghiệm giác quan và sử dụng chúng như một thứ ma tuý hầu giúp họ may ra thoát khỏi nỗi âu lo về ý nghĩa tối hậu cuộc đời mình.

Thực ra, tình dục chỉ là một phần nhỏ trong sinh hoạt của con người, tuy nhiên nó luôn luôn là cầu nối dẫn đến vô biên, dẫn đến siêu nhiên, vì nếu tình dục không được tình yêu vô vị lợi thánh hoá thì nó sẽ trở thành xấu xa khủng khiếp. Con người không thể “chỉ là một con thú vật” như những loài thú vật khác. Lúc còn trẻ tình dục ở vào giai đoạn mạnh nhất, người ta thường có cảm giác mình là vô biên. Những người trẻ sống trong mộng mơ và hy vọng về tương lai, trong cái nhìn của họ mọi ước muốn đều gần như vô biên đến nỗi chủ nghĩa thần bí giả tạo rất gần gũi với sự cuồng nhiệt nơi tuổi trẻ; hễ người thanh niên cảm thấy điều gì thì cứ y như là điều ấy trở nên mãnh liệt đến mức y không cản ngăn nổi.

Trong số những nguyên nhân khiến con người từ chối Thiên Chúa, vấn đề tính dục vẫn chưa được xét đến một cách nghiêm chỉnh. Chính sự xấu hổ hay sự phủ nhận xấu hổ bao hàm rằng bản năng này là một bản năng có liên quan đến tinh thần, khác với những thứ bản năng khác. Chẳng ai đỏ mặt vì thèm ăn, dù là đang cực kỳ đói, thế mà ai cũng đỏ mặt khi bị tố cáo đã “chấm mút” lén lút trong tình yêu. Người ta trực giác thấy có một điều gì đó linh thánh và bí mật trong thứ đam mê này đến nỗi không thể đồn đại bừa bãi ra được; nó bao hàm những bí mật có trời mới biết nổi. Đó chính là lý do tại sao ngay cả nơi các dân tộc man sơ, hôn nhân luôn luôn được phủ trùm bằng các nghi thức mang tính cách tôn giáo.

Không thể nào khai trừ tinh thần ra khỏi tính dục. Con người thường ao ước tìm được thứ tín trung và tình yêu trường cửu, nhưng lòng trung thành và nhiệt tâm thực sự không phát sinh từ xác thịt mà là từ tinh thần của con người. Như thế, tính dục hoạt động như một mối liên kết giữa thế giới tinh thần và thế giới vật chất. Sở dĩ có sự xấu hổ là nhằm để bảo vệ khía cạnh tinh thần khỏi bị bàn tay ô uế của trần thế phanh phui. Và chính qua tinh thần mà con người trở thành đồng minh của vô biên.

Thực tế, tình yêu vừa là nguồn gốc vừa là mục đích của tính dục, nên xét về một khía cạnh khác, có thể nói rằng tình yêu là vô biên: nghĩa là là nó luôn tuôn trào, toả sáng ra từ trung tâm nhỏ bé của bản ngã đến những khoảng rộng bao la không biên giới. Tình yêu mang đặc tính ly tâm, nó rời bỏ cái tôi để tìm kiếm đối tượng của mình nơi Thiên Chúa và nơi đám con cái Ngài mà chúng ta gặp thấy trên đường đi. Tình yêu là thứ mà chúng ta không bao giờ có thể tàng trữ, nó phải là thứ mà chúng ta cần phải tiêu pha đi nếu chúng ta muốn chiếm hữu được nó. Trong gia đình tình yêu quả là một tấm gương mỹ lệ bởi vì ở đây đầu tiên chỉ có tình yêu giữa hai vợ chồng, sau đó dần dà tình yêu ấy lớn lên trải lan đến con cái họ và rồi người này lan sang kẻ khác.

Một khi tình yêu đã cho đi thì chớ nên bao giờ lấy lại, đúng như kế hoạch của Thiên Chúa. Điều này có nghĩa là càng lúc chúng ta càng vươn ra khỏi chính mình để đi tới lòng vô biên của Chúa cho đến khi chúng ta yêu mến tất cả mọi sự bởi vì chúng ta thấy được là chúng thuộc về riêng Ngài. Tuy nhiên nếu tính dục tách lìa khỏi tình yêu và trở nên một phương tiện tự làm thoả mãn mình thì bấy giờ tiến trình ấy lại trở thành không lành mạnh. Bấy giờ tha nhân chỉ còn là một phương tiện thoả mãn lạc thú cho chúng ta chứ không còn là một cá nhân đòi hỏi chúng ta phải yêu mến. Cuộc hợp hoan sẽ trở thành một thứ trao đổi lạc thú ích kỷ. Và bởi vì tình yêu không bao giờ được phép co rúm lại nên một khi rút nó về lại cái ngã như thế chúng ta đã biến nó thành độc dược, thành gánh nặng chất chứa lên tâm hồn, biến năng lực của nó thành niềm căm ghét. Cử động hướng tâm của tình yêu… hướng người láng giềng và Thiên Chúa về cho cái ngã của mình… sẽ chỉ mang lại thất vọng, căm ghét và âu lo. Thiên Chúa có thể đến với chúng ta ngang qua bất cứ kẻ nào chúng ta yêu mến miễn là tình yêu chúng ta dành cho kẻ ấy là thứ tình yêu trao ban, vì lợi ích của riêng chúng ta. Còn thứ hành vi tính dục ích kỷ thì sẽ tiêu huỷ mối tương giao của chúng ta với Chúa và với tha nhân. Đấng Vô Biên luôn đi vào qua cánh cửa của những ai biết yêu thương quên mình; còn nếu cứ bo bo về lại với cái ngã của mình tức là trở về lại với nỗi bất bình vô hạn. Nỗi bất bình này luôn đi kèm theo mọi nỗ lực mưu tìm hạnh phúc bằng cách buông thả chính mình.

Tính dục là một trong những hành vi có liên hệ đến “thần kinh” nhất của con người: không một hành vi nào mà xác thể và linh hồn, hữu hạn và vô biên, xác thịt và tinh thần đan quyện vào nhau như thế. Khi nào tính dục giúp hai người nối kết với nhau thì an bình và hoan lạc sẽ nảy sinh. Còn khi xác thịt và tinh thần phân cách nhau và tính dục được tìm kiếm một cách đơn lẻ thì người ta lập tức sẽ cảm thấy phiền muộn. Nhiệm vụ lâu dài của cuộc sống là gìn giữ mối tương giao linh hồn thể xác trong trật tự thích hợp của chúng. Thứ triết lý tính dục phớt lờ yếu tính này sẽ khuyến khích người này chỉ yêu thân xác kẻ nọ và như thế sẽ làm tiêu mất tình yêu, bởi vì đối tượng của tình yêu phải là cả thân xác –kèm theo – linh hồn, như thế tình yêu mới có thể bền vững được. Phải có Đấng Vô Biên vượt bên trên mới giúp cho hai người nam nữ bền vững trong tình yêu.

Nếu hai người cố gắng bỏ tinh thần qua một bên… và giới hạn vấn đề “yêu đương” chỉ riêng cho “anh” và “em”… thì chẳng còn gì là tình yêu nữa. Bởi vì hoặc là “em” sẽ đắm chìm trong “anh” (do quyền lực và sự cám dỗ) hoặc là “anh” sẽ đầu hàng “em” (tức là tôn thờ ngẫu tượng). Như thế hai nhân vị chỉ có thể viên mãn và thương yêu nhau nếu biết mời Thiên Chúa vô biên đến chúc phúc cho họ.

Gm. Fulton Sheen

Niềm Tín Thác – Chương XV: TÍN THÁC TRONG ĐAU KHỔ

I.  ĐAU KHỔ LÀ GÌ ?

– NHÌN ĐAU KHỔ TỪ QUAN ĐIỂM SIÊU NHIÊN, VỚI CON MẮT ĐỨC TIN.

– TÍN THÁC NƠI LÒNG NHÂN HẬU CỦA CHA CHÚNG TA Ở TRÊN TRỜI.

Đau khổ là gì ? 

– Những gì đã trình bày trên đây đã đủ chứng tỏ rằng tín thác là một nhân đức vừa quí trọng vừa cần thiết. Và nhân đức này rất cần thiết và mang lại nhiều lợi ích cho ta, nhất là trong đau khổ dưới mọi hình thức. Bởi vì nếu người ta dễ dàng sống tín thác, dễ dàng tin vào tình thương của Chúa, khi mọi sự diễn ra trong an vui, khi Ngài ban nhiều phước lành cho ta, và nhất là khi Ngài ban cho ta những niềm an ủi thiêng liêng, thì sẽ không dễ dàng khi ta gặp gian nan. Vẫn nhìn thấy bàn tay đầy yêu thương của Cha trên trời, khi Chúa gửi bệnh tật đến cho ta, hoặc cho những người thân yêu của ta, khi các hoạt động và việc tông đồ của ta gặp thất bại, khi những nỗi chán nản làm cho đời sống tâm linh của ta trở nên khổ sở : đó là việc không dễ chút nào, và nhiều khi đòi hỏi phải có một niềm tín thác lớn lao.

Trong chương này, chúng tôi muốn bàn về niềm tín thác trong đau khổ nói chung, dành những chương sau để nói về những hình thức đặc biệt của đau khổ như : sự chán nản, những đêm tối thần bí, những cơn cám dỗ, sự bất lực v.v.

Trước hết phải hiểu đau khổ là gì, vì đau khổ có nhiều hình thức rất đa dạng. Đau khổ không chỉ là bệnh tật hoặc rủi ro, nhưng nó là tất cả những gì gây thương tổn cho bản tính con người yếu đuối của ta, tất cả những gì gây đau đớn, làm cho phiền lòng, trong lãnh vực thể lý cũng như về phương diện tâm linh.

Đau khổ là sống một cuộc đời như nhiều người đang sống, một cuộc sống đơn điệu và buồn tẻ, là phải nhận một công việc không hợp với mình tí nào. Đau khổ là hằng ngày phải sống với những người có tính nết xung khắc với tính nết của mình. Đau khổ còn là thấy mình vẫn xa với lý tưởng mình mơ ước. Đau khổ là chưa yêu mến Thiên Chúa cách nồng nàn như lòng sở nguyện. Tóm lại, có thể nói cuộc đời chúng ta được dệt bằng những đau khổ có pha ít niềm vui, những đau khổ đôi khi lớn lao, nhưng thường là bé nhỏ mà Thiên Chúa gửi đến cho chúng ta. Vì yêu mến Chúa, chúng ta yêu mến mọi đau khổ mà thánh ý Chúa dành cho ta, và nếu ta có lòng mến lớn lao, chúng ta có thể còn sẵn sàng đón nhận những đau khổ khác nữa.

Nếu chúng ta biết đón nhận và sử dụng những đau khổ hằng ngày này, những đau khổ đa dạng này, chúng ta sẽ có thể nói về đau khổ một lời mà Vua Salômon nói về đức khôn ngoan : “Mọi phúc lộc đã đến với tôi cùng với nó” (Kn 7,11). Đa số người ta sợ đau khổ. Biết bao người tìm cách tránh đau khổ như tránh một kẻ thù. Thật ra đau khổ rất qúi giá, và ta phải đón nhận đau khổ như đón nhận một người bạn.

Hãy nhìn đau khổ từ quan điểm siêu nhiên, với con mắt của đức tin.

– Nhiều người chạy trốn và cưỡng lại Thánh Giá, bởi vì họ không nhìn cây thập giá từ quan điểm siêu nhiên, để thấy giá trị đích thực của cây thập giá. Nếu chúng ta biết nhìn cây thập giá với con mắt đức tin, như các thánh quen nhìn, chúng ta sẽ thấy thập giá ánh ngời hào quang và là nguồn mọi ân phúc. Chúng ta sẽ nhận ra thập giá là một kho tàng qúi giá, chứa đầy những vàng bạc và kim cương là các hồng ân của ơn Cứu chuộc, và như vậy chúng ta sẽ hăm hở chạy lại đón nhận thập giá, thay vì chạy trốn và khinh chê.

Con mắt đức tin cho ta thấy rằng mỗi đau khổ, mỗi thử thách Chúa gửi đến cho ta đều có một ý định của Chúa quan phòng, một ý định đầy tình thương : đó là để chuẩn bị cho ta một hạnh phúc khôn tả ở trên trời. Thiên Chúa gieo những thập giá trong đời sống chúng ta, là để chúng mọc lên và sinh hoa kết qủa cho mai sau. “Đau khổ một ngày trên mặt đất, để hưởng hạnh phúc muôn đời ở trên trời”, đó là tiếng nói âm thầm mà các đau khổ luôn muốn nhắc nhở cho ta. Nếu ta lắng nghe, chúng ta có thể nghe thấy các thánh nói với chúng ta rằng : “Các bạn hạnh phúc lắm, vì còn có thể chịu đau khổ. Hãy đón nhận và hãy chúc tụng Chúa vì các đau khổ này : chẳng bao lâu nữa chúng sẽ biến thành những niềm vui muôn đời”.

Con người gặp đủ thứ đau khổ. Có thể tôi rơi vào cảnh nghèo khổ túng cực, các người thân của tôi chịu cảnh thiếu thốn. Hoặc tôi bị bệnh tật đau yếu lâu ngày lâu tháng. Thay vì buồn sầu và ngã lòng, tôi phải ngửa mặt lên trời và thầm nghĩ trong lòng : “Những đau khổ đời này không thể so sánh với vinh quang sẽ được tỏ ra nơi chúng ta” (Rm 8,18). Có thể công việc làm ăn của tôi bị thất bại, những nỗ lực của tôi đều uổng công. Trái tim tôi vô cùng đau khổ. Nhưng tôi hãy nhìn lên Chúa và hãy nghe thánh tông đồ nói : “Mắt ta chưa hề xem thấy, tai chưa từng nghe thấy và tâm trí con người chưa hề hiểu được những gì Thiên Chúa đã chuẩn bị cho những ai yêu mến Ngài” (1 Cr 2,9).

Những ý hướng của tôi đã bị hiểu sai ; các bạn thân của tôi cũng đã bỏ rơi tôi ; các bề trên của tôi đã khiển trách tôi mà không có lý do đầy đủ. “Hãy nâng tâm hồn lên !”. Hãy nhìn lên trời là quê hương ta, nơi hạnh phúc muôn đời đang chờ đợi ta ! Và hãy nhớ : “Ai gieo trong nước mắt, sẽ gặt hái trong hoan lạc”. Trên trời, những giọt nước mắt của ta sẽ biến thành những viên ngọc qúi giá.

Không có tinh thần đức tin, không nhìn lên định mệnh muôn đời của mình, thế giới này sẽ là một điều bí ẩn và cuộc đời của chúng ta sẽ bị coi là khốn khổ và tối tăm. Nhưng con mắt đức tin sẽ làm sáng tỏ mọi sự và sẽ xua đi những đám mây đen đang bao phủ cuộc sống của chúng ta. Mặt trời sẽ xuyên thủng đám mây đen, sẽ chiếu ánh sáng tươi đẹp vào cuộc đời của ta, cho thấy nó đầy hồng ân của Chúa.

Tín thác nơi lòng nhân hậu của Cha chúng ta ở trên trời.

– Người ta đã có lý để gọi thế giới của chúng ta hôm nay là sự phá sản của một nền văn minh quá trớn, vì hơn bao giờ hết, thế giới đầy những cảnh khốn nạn, những tội ác, những thảm cảnh, những chán chường. Những tiến bộ khoa học rất kỳ diệu, thay vì mang đến cho nhân loại một hạnh phúc mà mọi người khao khát, đã để lại một chuỗi những thảm bại và thất vọng. Những con người độc tài và độc ác đã lợi dụng các tiến bộ đó để gây lên những cuộc chiến tranh và nuôi dưỡng những căm thù dân tộc. Đôi khi người ta phải tự hỏi phải chăng Chúa Quan Phòng đã bỏ mặc loài người với số phận của nó. Nếu Thiên Chúa yêu thương con người, sao Ngài lại để xảy ra nhiều đau khổ như thế ? Vì sao Ngài để con chịu nhiều đau khổ và nhiều cay đắng như thế ?

Để có một câu trả lời đầy khích lệ và lạc quan cho câu hỏi này, chúng ta cần phải có cái nhìn của đức tin, nhìn lên trời. Nơi đó, Cha trên trời của chúng ta, Người Cha vô cùng nhân hậu và yêu thương chúng ta luôn ân cần chăm lo cho chúng ta, đến nỗi một sợi tóc trên đầu chúng ta cũng không rụng ngoài sự quan phòng của Ngài. Chúng ta hãy nhớ những lời giảng dạy rất rõ ràng của Chúa Cứu Thế về vấn đề này : “Bởi vậy Thầy bảo anh em : đừng lo lắng về cuộc sống, lo mình sẽ ăn gì, sẽ uống gì, cũng đừng lo lắng sẽ lấy gì mà mặc. Sự sống chẳng trọng hơn của ăn sao, và thân xác chẳng trọng hơn áo mặc sao ? Anh em hãy xem chim trời, chúng không gieo, không gặt, chúng không thu tích vào các kho lẫm, vậy mà Cha anh em ở trên trời nuôi dưỡng chúng. Anh em không có giá hơn chúng sao ? Anh em hãy xem những bông huệ ngoài đồng, chúng mọc lên thế nào? Chúng không lao động và không dệt vải. Thế mà Thầy nói cho anh em biết : vua Salômôn vinh quang như thế mà không mặc đẹp bằng một bông huệ đó. Nếu hoa cỏ ngoài đồng, nay còn, mai đã bị ném vào lò lửa, còn được Thiên Chúa mặc cho như thế, thì Ngài sẽ chẳng làm hơn nữa cho anh em sao, hỡi những con người kém tin ?” (Mt 6,25-30).

Người ta đã có lý để so sánh thế giới với một bàn cờ rộng bao la, trên đó mỗi người người chúng ta, kẻ sang người hèn, vua chúa và dân dã, đều có chỗ đứng và vai trò của mình. Chúng ta không hiểu gì lắm trong cái thế tương quan rối rít khó hiểu của những quân cờ luôn luôn chuyển động và tác động lên nhau. Người ta cứ tưởng những quân lớn, những vị quyền thế trong xã hội có quyền hành và chủ động cuộc chơi, chủ động ván cờ. Nhưng đó là ảo tưởng. Người làm chủ cuộc chơi, người điều hành mọi sự là Thiên Chúa. Người chơi cờ ở đây là Thiên Chúa. Ngài chơi với satan ván cờ của lịch sử thế giới theo kế hoạch ngàn đời của Ngài, kế hoạch kỳ diệu đầy yêu thương, khiến người lành thánh càng suy gẫm càng cảm mến tình thương và lòng thương xót của Ngài.[1]

Kinh sĩ Baud’huin đã viết một cách rất sâu sắc : “Để tỏ rõ lòng thương xót vô cùng của Ngài, Thiên Chúa cần ta thấy rõ một thế giới vô cùng khốn nạn. Bởi vậy Thiên Chúa đã chọn tỏ bày lòng thương xót đối với một thế giới hết sức tội lỗi. Chúng ta thấy hiện nay kể như tội lỗi đang thống trị thế giới. Thật ra không phải thế : Không phải tội lỗi đang thống trị, nhưng là lòng thương xót của Chúa đang thống trị thế giới. Trên trời không có cảnh nào lạ lùng và đáng tôn thờ hơn cảnh Chúa nhân từ và thương xót cúi nhìn loài người tội lỗi và khốn nạn với một niềm thương xót vô cùng. Đó chính là điều làm cho thần thánh trên trời ngây ngất khi chiêm ngưỡng bản tính tốt lành của Thiên Chúa”[2]

Chúng ta hãy năng nghĩ đến tư tưởng này. Hãy thường xuyên nghĩ đến lòng thương xót vô cùng của Cha trên trời. Chúng ta hãy tập nhìn mọi sự xung quanh ta, cũng như những việc xảy ra trên thế giới, sub specie aeternitatis (dưới phương diện vĩnh hằng), nghĩa là như Thiên Chúa và các thánh nhìn các sự việc đó. Dầu xảy ra những sự việc gì trên mặt đất này, các thánh không bao giờ nao núng lo sợ. Các ngài bình tĩnh nhìn những biến cố có vẻ ghê sợ nhất trên thế giới, vì các ngài luôn nhìn mọi sự như là sự thực hiện một kế hoạch toàn diện rất khôn ngoan và đầy yêu thương của Chúa.

Người ta có thể vấn nạn rằng tôi có sẵn lòng chịu đựng tất cả những đau khổ khác mà Chúa gửi đến cho tôi chăng ? Tôi sẽ trả lời : tôi vẫn sẽ nhìn thấy bàn tay đầy yêu thương của Chúa. Đau khổ đang bóp nghẹt trái tim tôi, khiến tôi đau khổ và nghi nan. Nhưng tôi cầu xin để mọi sự có thể làm vinh danh Thiên Chúa.

Nhưng làm sao nhìn thấy vinh quang của Chúa trong những cơn cám dỗ lôi cuốn tôi về đàng tội, nhưng sự bất hoà đang xâu xé gia đình tôi, và những nết  xấu mà tôi cố gắng sửa mãi mà không hết…? Hỡi linh hồn yêu dấu, hãy cứ can đảm ! Cứ tín thác ! Có thể lúc này mi chưa hiểu được sao Chúa lại có thể cho xảy ra những điều làm phiền lòng Ngài. Mi đừng quên rằng trí tuệ loài người chúng ta chỉ là một tàn lửa li ti so với mặt trời sáng chói là sự khôn ngoan và tình thương của Chúa. Cái nhìn của Đấng Tối Cao vượt xa muôn ngàn trùng cái nhìn thiển cận của con người chúng ta. Là một vật thọ tạo nhỏ bé trong vũ trụ, chúng ta làm sao hiểu được những sự lành mà Thiên Chúa dự tính nơi những đau khổ này. Nhưng chúng ta có thể biết và cảm thấy cách rất chắc chắn rằng : Thiên Chúa là Đấng khôn ngoan vô cùng và Ngài là tình thương vô cùng. Tình thương của Ngài vượt xa tất cả những gì con người chúng ta hiểu biết về tình thương. Như thế là đủ. Vậy hỡi linh hồn tôi, mi hãy cắt đứt mọi suy nghĩ loài người và hãy tín thác để tìm thấy bình an trong Chúa, và hãy tin rằng, với ơn Chúa, mọi sự sẽ sáng sủa và rõ ràng cho mi, khi đó, với niềm cảm tạ vô biên, mi sẽ ca tụng lòng thương xót của Chúa đến muôn đời : “Tôi sẽ ca tụng lòng thương xót Chúa đến muôn đời”.

II.  CON MẮT CỦA LÒNG MẾN.

–   NHỮNG LỢI ÍCH CỦA ĐAU KHỔ : NÓ LÀM CHO TA NÊN GIỐNG CHÚA GIÊSU.

–   NÓ LÀ DỊP TUYỆT HẢO ĐỂ TA TỎ BÀY LÒNG MẾN CHÚA.

–   NÓ LÀM CHO CHÚA GIÊSU VUI MỪNG.

–   NÓ LÀ CÁI HÔN CỦA CHÚA GIÊSU CHỊU ĐÓNG ĐINH TRÊN THẬP GIÁ.

–   NÓ LÀ PHƯƠNG THẾ RẤT TỐT ĐỂ KẾT HIỆP VỚI CHÚA VÀ NÊN THÁNH.

–   CHẠY ĐẾN VỚI CHÚA GIÊSU THÁNH THỂ.

Con mắt của lòng mến.

– Con mắt của đức tin, tức sự nghĩ đến tình thương của Cha trên trời, đã giúp ta nhận ra giá trị của đau khổ và củng cố niềm tín thác của ta. Nhưng con mắt của lòng mến, của đức mến, còn dẫn chúng ta đi xa hơn nữa. Nó giúp ta đạt tới niềm tín thác trọn vẹn bằng cách dạy ta biết yêu mến và ước ao chịu đau khổ.

“Chịu đau khổ và chịu khinh bỉ”, đó là câu trả lời của thánh Gioan Thánh Giá, khi Chúa Giêsu hỏi thánh nhân muốn được phần thưởng gì. Còn thánh nữ Têrêxa thành Avila, vị đại thánh chiêm niệm thì xin Chúa : “Xin cho con được chịu đau khổ hay là chết đi”. Nhưng thánh Mađalêna Pazzi lại kêu lên : “Con không xin chết, nhưng xin được chịu đau khổ luôn mãi”. Vậy đâu là bí quyết của sự khát khao chịu đau khổ này nơi các thánh ? Bí quyết đó là lòng mến yêu vô cùng nồng nàn mà các ngài dành cho Thiên Chúa và Chúa Giêsu chịu đóng đinh. Tất cả mọi đau khổ, mọi hình thức của đau khổ, đều được các ngài vui vẻ đón nhận, đều được các ngài coi là đáng ước ao. Các thánh coi những đau khổ là những kho tàng vô tận để tỏ bày lòng mến yêu Chúa. Chúng ta hãy năng suy gẫm về những lợi ích lớn lao của đau khổ, rồi dần dần chúng ta cũng sẽ nhờ ơn Chúa mà đi tới chỗ yêu mến những đau khổ.

Những lợi ích của đau khổ : nó làm cho ta trở nên giống Chúa Giêsu.

– Những đau khổ làm cho ta trở nên giống Chúa Giêsu chịu đóng đinh trên thập giá. Nếu ta yêu mến Chúa hết lòng, làm sao chúng ta không ước ao trở nên giống Ngài ? Chúng ta biết : đặc tính của tình yêu là hai bên phải càng giống nhau càng tốt. Làm sao chúng ta có thể nhìn ngắm Chúa Giêsu chịu đau khổ, chịu xỉ vả, chịu đóng đinh trên thập giá, mà lại trốn chạy những đau khổ là cái làm cho chúng ta trở nên giống Ngài? Sao chúng ta sợ đau khổ, sợ những chuyện bắt ta phải sống khiêm nhường ? Bậc thứ ba của đức khiêm nhường mà thánh Inhaxiô đòi hỏi nơi những người đến tĩnh tâm là gì, nếu không phải là vì mến yêu Chúa Giêsu và vì muốn trở nên giống Ngài, mà yêu mến sống nghèo khó hơn là giầu sang, yêu mến chịu xỉ nhục hơn là được danh dự ?

Một số các thánh đã muốn bắt chước Chúa Giêsu trong những chi tiết cuộc khổ nạn của Ngài. Chân phước Suso đã diễn lại cuộc khổ nạn của Chúa trong vườn và các hành lang của đan viện. Thánh nữ Rosa thành Lima đã tự đánh đòn mình đến chảy máu. Chị thánh còn đội trên đầu một vòng gai nhọn, vác một cây thập giá nặng nhiều giờ và trói hai tay mình vào cây thập giá khi cầu nguyện ban đêm, để kết hiệp lời cầu nguyện của mình với lời cầu nguyện của Chúa hấp hối trên thánh giá.

Như vậy đủ thấy các thánh đã yêu mến Chúa Giêsu chịu đóng đinh dường nào, và các ngài đã thấy cần phải trở nên giống Chúa dường nào[3] !

Đau khổ là cơ hội tuyệt hảo để tỏ lòng mến Chúa.

– Đau khổ làm cho ta trở nên giống Chúa Giêsu. Nó cũng mang lại cho ta nhiều cơ hội, những cơ hội tuyệt hảo để tỏ bày lòng mến yêu của ta đối với Chúa. Tất nhiên, có nhiều cách tỏ lòng mến của ta : vâng lời, khiết tịnh, khiêm nhường, đức ái huynh đệ và các nhân đức khác nữa. Tóm lại, tất cả các nhân đức đều là cách tỏ bày lòng ta mến yêu Chúa. Rồi nguyện gẫm, hoạt động tông đồ, thi hành đức thương người, đau khổ, tất cả đều là những cơ hội để ta tỏ bày lòng kính mến Chúa Giêsu. Nhưng một linh hồn thật sự nồng nàn mến yêu Chúa, và muốn tỏ bày lòng mến yêu này, sẽ coi các hình thức đau khổ là cách tốt nhất để tỏ lòng mến yêu Ngài. Linh hồn sẽ thấy như thế là đủ. Nó không cần đi tìm những cách khác. Và cũng không ước ao phần thưởng nào khác. Thánh Augustinô đã nói cách chí lý : “Tình thương là phần thưởng cho mình rồi.”

Bản chất của yêu thương là hiến thân. Càng yêu thương thì càng hiến thân. Mà ở đâu người ta hiến thân hơn là trong đau khổ mà người ta chịu đựng, tìm kiếm và ưa thích vì Đấng mà người ta yêu mến ? Tình thương còn là quên mình. Chúng ta càng quên mình vì Đấng mà ta mến yêu, thì sẽ càng tỏ rõ lòng mến yêu đó. Vậy mà có đâu người ta quên mình, cho bằng khi chúng ta chịu đau khổ vì mến yêu Chúa Giêsu ? Người ta còn gọi lòng mến yêu là tận hiến, là hy sinh, vậy mà khi chịu đau khổ vì yêu mến Chúa là hy sinh nhất. Cho nên phải kết luận rằng khi chịu đau khổ vì mến Chúa Giêsu là tỏ bày lòng yêu mến cách thật sự hơn hết. Yêu mến đau khổ, yêu mến thánh giá vì Chúa Giêsu là bỏ mình và quên mình vì mến yêu Ngài. Linh hồn chịu đau khổ cách vui lòng, vì mến yêu Chúa Giêsu, đã tỏ cho thấy, đối với nó, Chúa Giêsu là tất cả, và nói là không. Linh hồn đó cảm thấy vui vì được chịu đau khổ vì Ngài, được hy sinh mọi ước muốn của mình để chứng tỏ lòng mến của mình. Trước mặt Ngài là Thiên Chúa đầy quyền uy và đầy tình thương, nó tự cảm thấy mình là một vật thọ tạo hèn mọn và tội lỗi, cho nên nó thật sự cảm thấy hạnh phúc khi được chịu đau khổ để trở nên giống Ngài, và để làm vui lòng Ngài. Vào những giờ phút như thế, nó có thể kêu lên như các vị thánh nhân rằng : “Ôi, lạy Chúa Cứu chuộc con, để thấy một nụ cười trên môi Chúa, con sẵn sàng chịu muôn vàn đau khổ trong cuộc đời.”

Vui lòng chịu đau khổ sẽ làm Chúa Giêsu vui sướng.

– Chịu đau khổ là dịp để ta tỏ lòng mến yêu Chúa Giêsu và làm vui lòng Ngài. Làm vui lòng Ngài, làm cho Ngài vui sướng, ôi ! Điều đó thật tốt lành và đáng qúi dường nào ! Phải chăng đó không phải là mơ ước của đời tôi, lý tưởng của đời tôi ? Những của cải trần gian, danh vọng và những lời ngợi khen của thế gian là gì đối với tôi ? Những thú vui của giác quan và mọi sự khoái trá trong tâm hồn là gì, nếu đem so với niềm vui sâu xa của tôi, khi tôi biết mình làm vui lòng Chúa Giêsu. Tôi sung sướng vô cùng khi biết mình mang lại niềm vui cho Chúa Giêsu, làm được cho Ngài vui sướng, bởi vì tôi mến yêu Ngài trên hết mọi sự, hơn cả chính mình tôi. Cho nên tôi thích thưa Chúa Giêsu rằng : “Lạy Chúa Giêsu con yêu mến, con chỉ xin Chúa một niềm vui ở đời này, là làm cho Chúa vui, là con trở thành niềm vui của Chúa.”

Mà tôi có thể tìm thấy niềm vui này ở đâu, ngoài những đau khổ, những thánh giá mà Chúa để xảy ra trong cuộc đời hằng ngày của tôi ? Mỗi đau khổ, mỗi thánh giá, dầu bé nhỏ, đều có thể trở thành những nụ hôn tôi tặng Chúa Giêsu, nếu tôi đón nhận những đau khổ đó với lòng mến. Mỗi lần như thế, tôi có thể thưa Chúa Giêsu : “Lạy Chúa, con yêu mến Chúa nhiều và vì yêu mến Chúa, con vui nhận đau khổ này.” Ôi, nếu tôi biết giá trị của đau khổ và đón nhận mọi đau khổ hằng ngày với tinh thần mến yêu như thế, thì các sự đau khổ sẽ trở nên qúi báu đối với tôi, và tôi sẽ thận trọng không để mất một đau khổ nào.

Chính vì thế mà thánh nữ mến yêu thành Lisieux của chúng ta rất yêu mến các đau khổ, các thập giá. Thánh nữ luôn tay hái những bông hoa, bứt những cánh hoa phủ lên chân Chúa Giêsu chịu đóng đinh, nghĩa là chị thánh vui mừng đón nhận mọi hy sinh, mọi đau khổ, và không để mất đi bất cứ dịp nào để hy sinh và chịu đau khổ vì Chúa Giêsu.

Đau khổ là cái hôn của Chúa Giêsu chịu đóng đinh.

– Chúng ta đã thấy vui lòng chịu đau khổ là dâng lên Chúa những cái hôn trìu mến của ta. Nhưng đau khổ còn là cái hôn của Chúa Giêsu chịu đóng đinh dành cho linh hồn ta. Những tâm hồn tầm thường vẫn chỉ coi đau khổ là một thứ hình phạt Thiên Chúa dùng để thi hành sự công chính, và tỏ bày sự phẫn nộ của Ngài. Trái lại những tâm hồn quảng đại lại coi đau khổ là dấu Chúa yêu thương ta : họ không chỉ nhìn cây thập giá, nhưng còn nhận ra Chúa Giêsu chịu đóng đinh trên đó nữa. Và Chúa Giêsu ôm lấy linh hồn ta cách âu yếm, và mong đợi ta chấp nhận thập giá của Ngài cách quảng đại và vui lòng.

Ôi, chắc thập giá sẽ không còn vẻ đáng sợ, nhưng đầy vẻ đáng qúi mến, nếu ta nhìn thập giá như Chúa Giêsu ôm hôn ta, yêu thương ta. Ta sẽ không sợ và không tìm cách tránh đau khổ, tránh thập giá, nhưng sẽ đón nhận mọi thập giá với niềm vui như thánh Phaolô. Thánh tông đồ đã khẳng định : “Phần tôi, tôi không ước ao được vinh dự về điều gì khác ngoài thập giá Chúa Giêsu Kitô” (Gl 6,14).

Muốn được như thế, tôi không nên nhìn thập giá cách lý thuyết và một cách thơ mộng, nhưng phải thực tế. Mà thực tế của đời sống dạy ta rằng : thập giá Chúa Giêsu, đối với ta, là tất cả những đau khổ của cuộc sống thường nhật. Những thập giá của Chúa, những cái ôm hôn Chúa dành cho linh hồn ta là trăm ngàn điều trái ý, trăm ngàn đau khổ vẫn thường xảy ra trong cuộc sống hằng ngày của ta. Đó là những lời nói có vẻ cứng cỏi, những cách cư xử thiếu nhã nhặn của người này người kia, những sự người ta quấy rầy tôi trong khi làm việc, những người cộng sự khó tính, những bệnh tật nho nhỏ của thân xác tôi, cuộc sống quá đơn điệu của tôi v.v…. Đó còn là sự Chúa vắng mặt lâu dài, những ngày bị khô khan, rồi những cơn cám dỗ, những sự sai lỗi mà tôi không sao tránh hẳn được, dầu đã cố gắng nhiều… Ôi ! Thật sự tôi đã không có khả năng nhận ra Chúa Giêsu trong tất cả những sự đó ! Thật, phải có con mắt đức tin, và con mắt đức mến để nhận ra thập giá Chúa Giêsu và chính Chúa Giêsu dưới những cái bề ngoài ít hấp dẫn này ! Bởi vì, dầu có vẻ nghịch lý thật đấy, chính vì thương yêu ta và muốn ta đáp lại tình thương bao la của Ngài, Chúa Giêsu đã an bài mọi sự để ta gặp những đau khổ đó, những thập giá đó trong cuộc đời thường ngày của ta. Nơi mỗi đau khổ đó, Chúa Giêsu nói với linh hồn ta rằng : “Hỡi linh hồn yêu qúi, Cha thương yêu con. Và Cha muốn được con yêu mến đáp lại”.

Đau khổ sẽ làm dịu niềm khát khao yêu mến.

– Đối với những linh hồn khát khao yêu mến Chúa thật nhiều, những đau khổ còn được qúi mến vì một lý do khác nữa. Đó là chúng làm giảm nỗi đau vì khát khao yêu mến.

Nếu tôi phần nào hiểu được sự Chúa đáng mến yêu vô cùng, đồng thời hiểu được vẻ xấu xa đáng ghét của cái tôi, sẽ có lúc tôi cảm thấy ước ao yêu mến Chúa rất nhiều, rất nhiều. Và tôi càng mến yêu Chúa, tôi sẽ càng ý thức rằng dầu tôi cố gắng hết sức, dầu lòng mến yêu của tôi sẽ nồng nàn đến đâu, tôi sẽ không bao giờ có thể yêu mến Chúa như Ngài đáng mến yêu. Tư tưởng này sẽ dần dần trở thành một nỗi khổ tâm của tôi, và khi tôi sẽ đạt được mức yêu mến lớn lao, thì tư tưởng này sẽ trở thành nỗi đau khổ lớn lao nhất và sâu xa nhất của đời tôi.

Nếu tôi được kể vào số những linh hồn diễm phúc đó, những linh hồn mà đức mến đã gây nên một vết thương rất đau đớn và khó chữa lành, thì những đau khổ sẽ là thứ dầu nóng tốt nhất để xoa dịu vết thương đó. Bởi vì như chúng ta đã thấy trên kia, những đau khổ là những cơ hội tuyệt hảo để ta tỏ bày lòng mến yêu Chúa, hầu làm dịu niềm khát khao mến yêu Ngài.

Điều kỳ diệu thay ! Và thoạt xem như nghịch lý! Nỗi đau khổ vì chưa mến yêu Chúa như lòng mong ước lại là niềm an ủi sâu xa và sẽ là phương thuốc để chữa mọi ưu phiền. Những linh hồn diễm phúc nào đã từng cảm thấy những nỗi đau khổ thánh thiện này, đều có kinh nghiệm như thế, và họ sẽ không đổi vết thương lòng này để lấy bất cứ ơn qúi trọng nào khác, bởi vì vết thương này vừa đau đớn lại vừa êm dịu ngọt ngào.

Đau khổ là phương thế rất tốt để kết hiệp với Chúa và để nên thánh.

– Còn nhiều lý do khác khiến các linh hồn quảng đại yêu mến những đau khổ, khiến họ thêm tín thác cách vui vẻ và trong sáng, thay vì co giúm lại. Sẽ qúa dài dòng, nếu chúng ta duyệt lại hết những lý do đó. Chỉ xin nêu ra đây lý do tốt nhất thường được các thánh và các tác giả đề cập đến[4].

Đau khổ là phương thế tối hảo và cần thiết để đạt tới sự kết hiệp trọn vẹn với Chúa. Những linh hồn quảng đại, đã từ lâu sống tận hiến cho Chúa, đã nhờ những hồng ân an ủi và những giờ phút sống trong sự kết hiệp thân mật với Chúa để hiểu phần nào về sự Chúa vô cùng đáng kính mến. Dần dần Thiên Chúa đã trở thành niềm vui và lẽ sống của họ. Nên họ đã có thể nói như thánh Sêraphim thành Assisi rằng : “  Thiên Chúa của tôi là tất cả mọi sự cho tôi”. Bao lâu họ còn sống, họ chỉ còn một ước nguyện, đó là chết cho bản thân, để sống trọn vẹn trong Chúa và trong tình thương của Ngài. Ước nguyện đó cũng là ngày càng sống kết hiệp chặt chẽ hơn với Chúa, cho tới khi đạt được sự kết hiệp trọn vẹn, và nói như thánh Phaolô : “Đối với tôi, sống là Chúa Kitô và chết là mối lợi” (Pl 1,21).

Vậy bạn hãy sống tín thác giữa trăm ngàn đau khổ bao vây bạn. Nếu đau khổ làm bạn mất vui, đó là vì nó đụng đến tự ái của bạn, vì bạn qúa yêu mình, vì nó làm cho bạn cảm thấy đau đớn khi phải dứt mình ra khỏi cái tôi của mình. Nhưng bạn phải vui lên, phải nhảy mừng trong khi gặp gian truân như thánh tông đồ, bởi vì thánh giá giúp bạn chết đi cho mình, để được sống trọn vẹn hơn trong Chúa Kitô. Đau khổ có sứ mạng thần thánh là làm cho bạn nên giống Chúa Giêsu chịu đóng đinh hơn, và như thế bạn được sống kết hợp thân mật hơn với Ngài.

Bởi vậy bạn đừng ngạc nhiên nếu Chúa dùng những đau khổ bạn thấy là mầu nhiệm và rất đau đớn để thanh tẩy bạn, giúp bạn xứng đáng kết hiệp với Ngài là sự Trong Sạch vô cùng. Đó có thể là những đau khổ rất hữu hiệu, và là những đau khổ duy nhất có khả năng tác động đến đáy tâm hồn bạn và làm cho bạn hoàn toàn chết cho mình. Đó là những đêm tối của giác quan và những đêm tối của tâm trí, hai thứ đau khổ có sức thanh tẩy triệt để. Có thể Chúa đã cho bạn trải qua những thử thách đó. Dầu sao, đó là những cách thế cần thiết, được Thiên Chúa dùng để dẫn đưa các linh hồn tới những đỉnh cao của sự kết hiệp trọn vẹn mà bạn mơ ước.

Vậy chúng ta có đủ các lý do để vui mừng và yêu mến đón nhận tất cả những đau khổ mà Chúa gửi đến cho ta. Chúng ta hãy tin chắc rằng nếu Thiên Chúa là thầy thuốc tối cao và là Cha rất nhân từ thấy cần phải để con cái Ngài chịu đau khổ như thế, thì chính là vì Ngài thấy rằng chịu đau khổ là điều rất tốt lành và hiệu nghiệm cho các linh hồn. Nếu không, chắc không bao giờ Ngài sử dụng những phương dược đắng cay này, để làm khổ những người con rất yêu dấu của Ngài.

Hãy chạy đến với Chúa Giêsu Thánh Thể.

 Cũng có thể xảy ra điều này là : vào những giờ phút qúa đau khổ, chúng ta đã hoài công suy gẫm, giục lòng tin, nhìn lên trời, nghĩ đến những lợi ích lớn lao của đau khổ, nếu chúng ta vui lòng đón nhận những thánh giá Chúa gửi đến cho ta, nhưng vẫn không thể nào tìm lại được sự bình an và sức can đảm mà ta cần phải có. Khi đó phải làm gì ? Phải thưa Chúa Giêsu như thánh Phaolô : “Lạy Chúa, con biết đi với ai, vì chỉ mình Chúa có những lời ban sự sống đời đời” (Ga 6,68).

Chúng ta sẽ phải làm điều mà, lẽ ra, chúng ta đã phải làm ngay từ đầu : chúng ta phải đến với Chúa Giêsu Thánh Thể. Ngài vẫn đang chờ đợi ta để an ủi và ban sức mạnh cho ta. Cách đây hai ngàn năm, Ngài đã lớn tiếng kêu gọi những người đau khổ : “Hỡi tất cả những ai đang vất vả và gánh nặng, hãy đến với Ta, Ta sẽ cho nghỉ ngơi bồi dưỡng” (Mt 11,28). Nay từ trong Nhà tạm, Chúa Giêsu âu yếm kêu gọi ta hãy đến với Ngài, hãy đổ vào Trái Tim vô cùng yêu thương của Ngài tất cả những ưu phiền của ta. Ngài là người Samaritanô nhân hậu, Ngài vẫn sẵn sàng xoa dịu những vết thương lòng của ta với dầu nóng của lòng thương xót của Ngài. Xưa Ngài giơ tay một cái, liền khiến cho gió bão táp phải yên ngay, nay Ngài chỉ phán một lời thì mọi cơn giông tố đang quấy phá tâm hồn ta sẽ im ngay, và ta sẽ được bình an thư thái.

Vâng, chúng ta hãy làm như sách Gương Phúc Chúa Giêsu đã dạy, chúng ta hãy chạy đến với Chúa Giêsu Thánh Thể, “như người bệnh tật đến với Đấng cứu vớt mình, như kẻ đói khát đến với nguồn mạch sự sống, như người nghèo khó đến với Vua trên trời, và như kẻ tuyệt vọng đến với Đấng an ủi dịu hiền của mình”. (Q.IV, ch.24). Bất cứ chúng ta phiền muộn nỗi gì, và bất cứ chúng ta có những nhu cầu nào, chúng ta chắc chắn sẽ gặp nơi Chúa Giêsu Thánh Thể một người bạn chí thân, một trái tim vô cùng thông cảm và thương cảm, để như người môn đệ dấu yêu xưa, chúng ta có thể dựa đầu trên ngực Chúa và thổ lộ tất cả mọi nỗi ưu phiền của mình.

Thầy chí thánh biết qúa rõ chúng ta đang cần gì để lập lại sự bình an và lấy lại sức can đảm. Nếu cần, Ngài sẽ soi sáng tâm trí ta bằng ánh sáng Thần Linh của Ngài. Ngài sẽ cho ta được thông vào  vào những ơn khôn ngoan và hiểu biết của Ngài. Ngài sẽ ban cho ta cái nhìn của đức tin sống động, để ta nhìn mọi sự dưới quan điểm vĩnh hằng như Ngài. Hoặc là Ngài sẽ ban cho ta sự nồng nàn và cái nhìn của đức ái thần linh, để ta tìm thấy và được hưởng sự bình an và niềm vui trong chính những đau khổ đang dằn vặt chúng ta. Rồi nếu sự khôn ngoan và tình thương vô cùng của Ngài thấy tốt hơn cứ để ta ở trong sự khô khan và chán nản, thì Ngài sẽ ban cho ta sức mạnh và niềm tín thác anh hùng của các vị tử đạo, để giúp ta chịu đựng những đau khổ ghê sợ nhất với lòng mến yêu và niềm tín thác.

 

TIN TƯỞNG ĐỂ ĐAU KHỔ

I.  ĐỪNG SỢ ĐAU KHỔ : VÌ CHÚA ĐO LƯỜNG NHỮNG ĐAU KHỔ CỦA TA CÁCH YÊU THƯƠNG.

–   CHÚA ĐỂ CHO CÁC ĐAU KHỔ VÀ CÁC NIỀM VUI XEN KẼ NHAU.

–   GAI NHỌN BÁO TIN BÔNG HỒNG.

–   ĐỪNG NGHĨ ĐẾN NHỮNG ĐAU KHỔ TƯỞNG TƯỢNG.

Đừng sợ đau khổ, vì Chúa đo lường những đau khổ của ta cách yêu thương.

– Nhiều linh hồn nội tâm cảm thấy sợ hãi qúa đáng khi nghĩ rằng, nếu mình trọn vẹn tận hiến cho Chúa, những trận đau khổ, và là những đau khổ ghê gớm, sẽ đổ xuống trên đầu mình. Và satan là kẻ thù tinh quái, sẽ lợi dụng sự nhát đảm của họ để thổi vào linh hồn họ một luồng gió ái ngại. Với những nỗi đau khổ tưởng tượng, nó sẽ làm tăng thêm sự sợ hãi tự nhiên của con người.

Hỡi các linh hồn ước ao yêu mến Chúa thật nhiều, các bạn đừng sợ Chúa sẽ để các bạn bị đè bẹp dưới những cơn đau khổ lớn lao. Các bạn đừng lo buồn, đừng nghe những chuyện lừa dối của ma qủi, hoặc của lòng tự ái là kẻ thù của linh hồn ta. Không, Chúa Giêsu hiền từ, và nhân hậu không bao giờ để con cái dấu yêu của Ngài bị đè bẹp dưới những đau khổ. Chúa không muốn đau khổ để làm ta đau khổ, nhưng Chúa muốn dùng đau khổ để mang lại nhiều lợi ích cho linh hồn ta. Chúa muốn ta vui lòng chịu đau khổ để tôn vinh thập giá của Ngài. “Thiên Chúa yêu qúi người cho mà vui vẻ” (2 Cr 9,7).

Tất nhiên có những trường hợp họa hiếm, những linh hồn “tự nguyện là của lễ hy sinh”, đền tội thay cho những tội lỗi ghê gớm của thế giới hư đốn này. Ngoài những trường hợp ngoại lệ đó, trong cuộc sống thiêng liêng cũng như trong đời sống thiên nhiên, Thiên Chúa luôn để những ngày có mưa và những ngày nắng gắt xen kẽ nhau, những ngày vui của mùa xuân đến sau những ngày khắc nghiệt của mùa đông. Ngài biết bản tính loài người yếu đuối. Ngài biết chúng ta là những vật thọ tạo nhỏ bé, không chịu đựng được nhiều. Tất nhiên hạt lúa mì phải chết đi thì mới có thể sinh hoa kết qủa. Nhưng nó cũng cần phải nảy mầm, mọc lên và tăng trưởng. Nó cần phải có hơi thở ấm áp của mùa xuân và những hạt mưa mát mẻ, để biến những cánh đồng khô cạn và hoang vu thành những thảm xanh tươi, rồi thành những đồng lúa vàng. Lời Sách Thánh đã nói : “Thiên Chúa là Đấng trung tín, Ngài sẽ không để anh em bị cám dỗ qúa sức mình. Nhưng cùng với cơn cám dỗ, Ngài sẽ ban cho anh em có thể ra khỏi đó và đủ sức chịu đựng” (1 Cr 10,13).

Thiên Chúa để những đau khổ và những niềm vui xen kẽ nhauGai nhọn báo tin có hoa hồng.

– Cuộc đời của các thánh, những con người khổng lồ trên con đường thánh thiện, cũng không phải là một chuỗi không dứt những thử thách và những đau khổ. Cả những vị, như thánh Louis Marie de Montfort, luôn gặp chống đối trong công cuộc tông đồ của mình, cũng đã gặt hái những thành công kỳ diệu bên cạnh những thất bại đau đớn. Thánh Inhaxiô có thói quen cầu xin Chúa gửi những cuộc bách hại đến cho Hội dòng yêu qúi của mình. Là vì thánh nhân biết giá trị lớn lao của những thử thách đó. Ngài ước mong Tu hội của Ngài không bao giờ hết đau khổ. Nhưng tất nhiên ngài không luôn luôn ước mong đau khổ, Ngài chỉ ước ao những đau khổ theo thời gian và nơi nào Chúa chọn để làm sáng danh Chúa và trở nên nguồn mạch những hồng ân cho con cái ngài. “Để làm sáng Danh Chúa hơn !”.

Thiên Chúa thường gửi cho chúng ta những gai nhọn, nhưng không bao giờ Ngài chỉ gửi nguyên những gai nhọn. Thiên Chúa là Cha nhân từ và hiền hậu, Ngài không chỉ dành cho con cái Ngài những cành gai, những nắm cỏ gai. Không, Ngài cũng gửi cho ta những bông hồng. Mà bởi vì không thể có bông hồng mà không có gai nhọn, cho nên Ngài gửi cho ta những bông hồng có gai nhọn. Cho nên lẽ ra chúng ta phải vui lên khi thấy những gai nhọn, bởi vì gai nhọn báo tin sẽ có bông hồng. Ôi ! Nếu chúng ta có thể hiểu và nhìn xem những đau khổ như điềm báo trước những ân phúc và những niềm vui, thì chúng ta sẽ hạnh phúc biết bao ! Nghĩ đến những ân sủng mà đau khổ mang đến cho ta, không những đau khổ không làm ta nản chí, mà trái lại sẽ củng cố niềm tín thác của ta.

Chúng ta thấy lịch sử Giáo hội đầy những truyện thử thách Chúa gửi đến, và tiếp theo là những thời kỳ sinh hoa kết qủa lạ lùng trên cánh đồng truyền giáo. Hãy nhớ lại ba thế kỷ đầu, Giáo hội đã liên tiếp sống dưới những cơn bách hại tàn khốc, tưởng chừng như sắp bị tiêu diệt, nhưng tiếp theo đó là các thế kỷ rất hưng thịnh của Giáo hội, cùng với sự biến mất của thế giới ngoại giáo. Hãy nhớ rằng thánh Inhaxiô đã bị giam trong tù và Tu hội của ngài bị bách hại dữ dội, nhưng liền sau đó thánh nhân đã thấy công cuộc của ngài phát triển trên khắp thế giới. Hãy nhìn tu hội của ngài bị công kính và bách hại nơi một số nước, nhưng lại gặt hái được những thành công lớn lao nơi các nước khác. Và hãy nhìn thánh Alphôngsô Ligori bị chính môn đệ ngài công kích và bách hại, nhưng sau đó đã trở thành người cha của một tu hội đông đúc và thời danh.

Đừng nghĩ đến những thập giá tưởng tượng.

– Đàng khác hãy tránh bỏ lòng cương cho trí tưởng tượng ! Đừng tưởng tượng ra những đau khổ, những thập giá mà có thể Chúa sẽ gửi đến cho ta. Những thập giá đó khiến ta lo sợ một cách vô cớ và vô ích. Chúng ta thấy mình không đủ sức vác những thập giá đó ? Nhưng ta nên nhớ rằng khi Chúa gửi thập giá nào cho ta, Ngài cũng ban đủ sức để ta vác, như thánh Phaolô đã dạy trên kia. Ta không nên nghĩ trước đến những thánh giá không bao giờ đến trong đời ta như thế. Nên nhớ : chính Thiên Chúa an bài mọi sự, chính Ngài chọn các thánh giá cho mỗi người chúng ta. Ngài biết chọn những thập giá cho mỗi người chúng ta, những thập giá rất hợp với những nhu cầu của linh hồn ta, để dọn đường cho những ân sủng của ánh sáng, của sức mạnh và của tình thương mà Ngài sẽ ban cho ta liền sau đó.

Cũng đừng tưởng tượng rằng, để dẫn đưa chúng ta trên con đường thánh thiện, Thiên Chúa cần dùng đến đủ thứ thử thách lạ lùng. Nhìn lại quãng đời qúa khứ của ta, ta có thể thấy một số khá lớn những đau khổ đủ thứ, lớn có, nhỏ có, trong đó có một vài thử thách ta coi là đau đớn nhiều. Đó là những đau khổ qúa đủ để giúp ta tiến xa trên con đường thánh thiện, nếu ta biết chịu đựng cách vui lòng theo ý Chúa.

Thật vậy, điều cần thiết để nên thánh không phải là gia tăng chịu đựng nhiều đau khổ, hoặc gia tăng chấp nhận nhiều thử thách, cho bằng gia tăng lòng mến khi chịu những đau khổ. Thánh Giuse, thánh Gioan Bec-man (Berchmans) và nhiều vị thánh khác có vẻ như đã không gặp nhiều thánh giá trong cuộc đời, nhưng các ngài đã biết lợi dụng những đau khổ thường ngày do Chúa gửi đến. Biết chịu đau khổ, chịu đau khổ với lòng mến, đó là mục tiêu ta phải đạt tới, và đó là ơn ta phải luôn luôn cầu xin Chúa.

II. NHỮNG VẤN NẠN

–   NẾU NHƯ TÔI BIẾT CHỊU ĐAU KHỔ !

–   ĐỪNG NÓI QÚA ĐÁNG !

–   TÔI CHỊU ĐAU KHỔ MÀ KHÔNG VUI.

–   TÔI KHÔNG BIẾT HIẾN DÂNG ĐAU KHỔ CỦA TÔI.

–   KHÔNG XIN ĐAU KHỔ, NHƯNG CŨNG ĐỪNG SỢ ĐAU KHỔ.

Nếu như tôi biết chịu đau khổ !

– Đây là những câu vấn nạn có vẻ có lý, được vẽ ra để làm nao núng niềm tín thác của ta, làm ta muốn thoái thác, muốn chạy trốn mọi đau khổ.

Người ta nói : Đó ! Vấn đề là nếu như tôi biết chịu đau khổ thì còn gì bằng ! Nhưng tôi lại không biết chịu đau khổ, tôi chịu đau khổ một cách thảm hại. Tôi làm hư những ân sủng lớn lao là những thánh giá Chúa gửi đến cho tôi.

Hỡi linh hồn đáng thương và được Chúa yêu thương, bạn nên biết : biết đón nhận những đau khổ, những thánh giá, với lòng mến và trong tinh thần đức tin mạnh mẽ, là điều rất quan trọng và mang lại những ân sủng lớn lao cho ta. Nhưng bạn đừng vội nghĩ rằng những đau khổ không sinh ích gì cho ta, bởi vì ta chưa biết chịu đau khổ cách lành thánh, cách vui lòng vì mến Chúa. Đúng thế, để chịu đau khổ cách trọn lành, ta phải có lòng mến thánh thiện : khi đó sự chịu đau khổ của ta sẽ giống như một bông hồng tươi thắm, làm vui lòng Thầy chí thánh là Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Nhưng nếu ta chưa có sức chịu đau khổ cách trọn lành và thánh thiện, như vậy những bông hồng ta dâng kính Chúa không tươi nở đầy đủ, mà chỉ hé mở thôi, hoặc chỉ là những nụ hồng, thì Chúa Giêsu cũng vui nhận. Vậy chúng ta hãy tin chắc rằng, Chúa Giêsu vô cùng nhân hậu và yêu thương ta, Ngài sẽ vui sướng nhận những bông hồng hé nở, hoặc những nụ hồng mà chúng ta cố gắng dâng lên Ngài.

Đừng nói gì quá đáng !

– Vả lại xin đừng nói gì qúa đáng. Xin hỏi : Cái gì làm mất vẻ đẹp, mất giá trị của những đau khổ của bạn ?

Bạn nói : tự nhiên tôi sợ và trốn tránh đau khổ. – Đúng thế, tự nhiên, do bản năng, ai cũng sợ đau khổ. Nhưng một khi bạn suy nghĩ lại, và thấy đó là những đau khổ, những thánh giá mà Chúa Giêsu gửi đến cho bạn, theo sự khôn ngoan và tình thương của Ngài, chắc bạn sẽ yêu mến và vui lòng đón nhận thánh giá, để làm vui lòng Chúa. Đàng khác có một số thánh giá ta có thể, thậm chí ta phải lo tránh một cách hợp lý, vì vinh quang Thiên Chúa, hoặc đức ái đòi hỏi như vậy. Ước chi các Bề trên của bạn đừng hiểu lầm về bạn : các ngài hãy tin tưởng nơi bạn, để bạn có thể sống an vui với mọi người, và để bạn vui vẻ hy sinh phụng sự Thầy chí thánh. Để làm được điều đó, bạn hãy sử dụng các phương tiện hợp lý trong tầm tay mình. Sau đó, bạn sẽ tín thác mọi sự trong tay Chúa.

Tôi chịu đau khổ mà không vui.

– Người ta còn nói rằng : Tôi chịu đau khổ mà không cảm thấy vui, không cảm thấy yêu mến như các linh hồn quảng đại và thật tình yêu mến Chúa.  Ôi ! Tôi ước chi mến yêu thánh giá ! Tôi ước ao tìm thấy niềm vui nơi thánh giá ! – Vậy bạn hãy nghe thánh nữ Têrêxa Hài đồng Giêsu, một người say mến thánh giá : “Cho tới tuổi mười bốn, tôi đã tập tành các nhân đức mà không cảm thấy sự ngọt ngào nào hết. Tôi đã ước ao chịu đau khổ mà không nghĩ mình sẽ cảm thấy vui: đó là ơn mà Chúa sẽ ban cho tôi sau này. Hồi đó linh hồn tôi giống như một cây tốt đẹp, nhưng bao nhiêu hoa đều rụng sau khi nở. Các bạn hãy dâng lên Chúa hy sinh là không bao giờ được hái trái, nghĩa là các bạn sẽ suốt đời cảm thấy không muốn chịu đau khổ, không muốn chịu hạ mình, và đứng nhìn những bông hoa của ước nguyện và của thiện chí của mình rụng xuống mà không kết qủa. Nhưng rồi, trong nháy mắt, và giờ chết của bạn, Chúa sẽ làm cho có những qủa chính và đẹp trên cây linh hồn các bạn.”[1] Ở một chỗ khác, thánh nữ đã viết : “Chúng ta muốn chịu đau khổ cách quảng đại, chịu đau khổ rất nhiều. Chúng ta muốn không bao giờ sa ngã ! Đó là ảo tưởng ! Nhưng tôi có ngã mỗi lúc thì đã sao ! Nhân đó tôi cảm thấy mình yếu đuối, và tôi coi đó là một lợi ích lớn cho tôi”[2].

Đàng khác, để chịu đau khổ cách thánh thiện, không cần và hoàn toàn không cần ta phải cảm thấy vui khi chịu đau khổ. Đối với chúng ta, như thế sẽ tốt hơn, nhưng đối với Chúa Giêsu thì không. Có thể chúng ta chưa vui chịu đau khổ, nhưng Chúa sẽ vui, nếu ta sẵn sàng chịu đau khổ theo ý Chúa. Nếu Chúa chỉ vui khi ta chịu đau khổ với niềm vui, thì Chúa là Đấng khát khao lòng mến yêu của ta, chắc Ngài đã gửi những niềm vui và những an ủi kèm theo những thánh giá Ngài gửi cho ta.

Hỡi linh hồn được Chúa thương yêu, bạn biết điều rất quan trọng là đón nhận và yêu mến những đau khổ, những thánh giá, với tinh thần đức tin và đức mến. Và chúng ta phải nài xin Chúa ban ơn này cho ta. Nhưng bạn cũng đừng nghĩ rằng những đau khổ sẽ không sinh ích gì cho ta, hoặc gần như thế, nếu ta chưa chịu đau khổ cách trọn lành. Nếu nhiều khi ta chịu đau khổ mà chưa biết chịu cách vui lòng, thì vẫn là tốt cho ta. Và ta vẫn làm vui lòng Chúa.

Tôi vẫn chưa biết dâng những đau khổ của tôi cho Chúa !

– Có thể người ta còn nói rằng : “Giá như ít ra tôi cũng biết dâng những đau khổ của tôi lên Chúa Giêsu, và thưa Ngài rằng vì yêu mến Ngài, tôi vui chịu những đau khổ đó ! Nhưng thường thường tôi chịu đau khổ như loài trâu bò, lạnh lùng và dửng dưng, chịu đau khổ một cách máy móc, không yêu mến gì hết. Và điều lạ lùng là, Chúa Giêsu thường ban cho tôi những an ủi và tỏ lòng thương yêu tôi vào những thời gian khác, còn trong lúc đau khổ, Ngài lại cất đi những sự an ủi đó, những niềm an ủi có sức giúp tôi yêu mến thánh giá !

Trong vấn đề này cũng vậy, hỡi linh hồn tốt lành, bạn hãy tín thác nơi Thầy chí Thánh. Ngài thương yêu bạn và muốn được bạn mến yêu Ngài, Ngài biết những gì tốt hơn cho bạn. Nếu Ngài rút lại những niềm an ủi vào lúc bạn chịu đau khổ, chắc chắn đó là vì như thế sẽ ích lợi hơn cho bạn, bởi vì bạn sẽ phải hy sinh nhiều hơn và lòng yêu mến của bạn sẽ tinh ròng hơn. Yêu mến Chúa Giêsu khi được an ủi thì dễ qúa, và yêu mến thánh giá khi thánh giá có vị ngọt ngào cũng dễ. Nhưng yêu mến thánh giá khi thánh giá có vị đắng cay, khi thánh giá trần trụi, không có bông hồng mà chỉ có gai nhọn : đó mới là lòng mến chân thành, sâu xa và tinh ròng.

Đàng khác, không cần thiết phải nói lời mến yêu Chúa và thưa Chúa rằng mình sẵn lòng chịu đau khổ vì lòng mến Chúa, mặc dầu đó là điều tốt và ta nên làm nếu có đủ sức. Nhưng sự thường ta không thể làm : bản tính loài người vẫn đã yếu đuối, lại bị những đau khổ làm cho tan nát và chán nản. Nhưng không sao, chỉ cần bạn âu yếm nhìn lên Chúa Giêsu, sự im lặng đau đớn của bạn cũng đủ nói lên lòng mến yêu của bạn. Thầy chí thánh nhìn thấy suốt đáy lòng ta. Và như một bông hoa thơm luôn tỏa ra những làn hương thơm tho, linh hồn ta cũng luôn luôn tự nó phát ra trăm ngàn tâm tình mến yêu và tín thác, làm cho Chúa Giêsu hết sức vui thỏa vì ta[3].

Vậy chúng ta đừng lo sợ về những đau khổ mà Chúa Giêsu sẽ gửi đến cho ta. Và chúng ta đừng để niềm tín thác của mình bị yếu đi vì những đau khổ tưởng tượng. Đừng để những tưởng tượng đó làm hại niềm tín thác trọn vẹn của ta nơi Chúa.

Đừng xin được chịu đau khổ.

– Chúng ta có nên xin được chịu đau khổ chăng ? Không nên. Nói chung, ta không nên xin như thế. Không nên bắt chước một vài linh hồn bất toàn, nhưng qúa tự tin, đã nhẹ dạ hiến thân làm của lễ hy sinh cho sự công minh của Thiên Chúa. Tốt hơn, chúng ta hãy nói như một bông hoa nhỏ : “Tôi quá bé nhỏ không đủ sức để xin chịu đau khổ, qúa bé nhỏ để tự hiến thân làm lễ hy sinh cho sự công minh của Thiên Chúa. Tốt hơn, tôi muốn tự hiến thân cho tình thương đầy thương xót của Chúa, để Ngài thiêu đốt tôi và tiêu hủy tôi”.

Nhưng, tuy không xin những thánh giá, chúng ta cũng đừng sợ những thánh giá, bởi vì đó là những hồng ân của lòng Chúa yêu thương. Hơn nữa, nếu có khi nào Chúa gửi cho ta một nỗi đau khổ hơn mức thường, ta hãy tin chắc rằng : cùng với đau khổ đó, Ngài sẽ ban cho ta một ân sủng đặc biệt, để giúp ta đủ sức chịu đựng cách tốt lành. Nhân đây, chúng ta hãy nhớ lại sự tích rất cảm động của thánh nữ tử đạo Fêlicita. Thánh nữ bị bắt giam bởi vua chúa cấm đạo. Đến ngày và đến lúc sinh nở, bà thánh rên rỉ vì đau đớn, lính canh ngục nói với bà : “Bây giờ chị đã kêu đau như thế, thì lúc bị ném cho thú dữ xé xác, chị sẽ chịu sao được ?”. Không ngập ngừng, vì được Chúa Thánh Thần soi sáng, thánh nữ đã trả lời : “Bây giờ là tôi chịu đau khổ, còn lúc đó sẽ có một Đấng khác chịu đau khổ với tôi, vì tôi chịu đau khổ vì Ngài”.

Paul De Jaegher S.J.

 

[1] Conseils et souvenirs (Những lời khuyên và những kỷ niệm) tr.267.

[2] Letter à Celine (Thư gửi chị Céline) 12 tháng 3 năm 1889.

[3] Xem chương tiếp theo, § I. “Actes directs de l’âme” (Những hành vi trực tiếp của linh hồn).

Niềm Tín Thác – Chương XIV: TÔI LÀ BÀI THƠ TÌNH THƯƠNG CỦA THIÊN CHÚA VÀ CỦA CHÚA GIÊSU

I. BÀI THƠ TÌNH THƯƠNG CỦA THIÊN CHÚA.

–   Ở MỖI GIÂY PHÚT, THIÊN CHÚA TẠO THÀNH VŨ TRỤ BẰNG TƯ TƯỞNG CỦA NGÀI.

–   NGÀI HIỆN DIỆN NƠI MỖI TẠO VẬT BẰNG TÍNH VÔ BIÊN CỦA NGÀI VÀ ĐỂ BẢO TỒN NÓ, VÀ CŨNG LÀ ĐỂ TỎ CHO TÔI THẤY PHẦN NÀO NHỮNG VẺ TUYỆT HẢO ĐÁNG TÔN THỜ CỦA NGÀI.

–   TÔI CŨNG LÀ MỘT BÀI THƠ TÌNH THƯƠNG CỦA NGÀI. NGÀI YÊU THƯƠNG TÔI DƯỜNG NÀO !

–   BÀI HỌC VỀ SỰ KẾT HIỆP VỚI CHÚA VÀ TÍN THÁC NƠI NGÀI.

–   THIÊN CHÚA CŨNG TƯỞNG ĐẾN TÔI TRONG LÃNH VỰC SIÊU NHIÊN.

Mỗi giây phút, Thiên Chúa tạo thành vũ trụ bằng tư tưởng của Ngài.

– Ai lại không có lần dừng chân ngắm những công trình kỳ diệu của Thiên Chúa toàn năng ? Có thể đó là cảnh núi sông hùng vĩ và tuyệt đẹp thình lình trải ra trước mắt ta… Có thể là những dãy núi phủ đầy tuyết, với những ngọn cao vút gần như chạm trời xanh… Có thể đó là đại dương bao la, mênh mông đến tận chân trời, với những đợt sóng ầm ì, như sôi sục đầy bọt, tiếp nối nhau trải dài trên bãi cát… Hoặc là lúc đêm thanh, nhìn lên trời thăm thẳm với muôn ngàn vì sao nhấp nhánh như muôn ngàn hạt kim cương tốt đẹp… Chúng ta đang say sưa mơ màng thì một tư tưởng thoáng qua tâm trí ta như một luồng chớp, khiến chúng ta nghĩ đến quyền năng vô cùng của Thiên Chúa. Và chúng ta kêu lên như tác giả của Thánh Vịnh : “Lạy Chúa, trời đất kể lại những kỳ công của Ngài” (Tv 18,2). Tất cả chúng ta đều đã có kinh nghiệm về những cảm hứng phấn khởi này. Tất cả chúng ta đều đã có lần cảm thấy quyền năng vô cùng của Thiên Chúa nơi vũ trụ vạn vật.

Chúng ta qúa quen với tư tưởng sáng tạo, nhưng chúng ta ít nghĩ đến tư tưởng bảo toàn, tức sự sáng tạo liên tục. Người ta thường hình dung việc Thiên Chúa sáng tạo như thể Ngài phán một lời, liền có vũ trụ vạn vật. Sau đó Ngài chỉ có việc điều khiển và cai quản cái vũ trụ đã hiện hữu này, và nó sẽ tự mình tiếp tục hiện hữu dưới quyền hành của Thiên Chúa.

Thật sự, việc bảo tồn vũ trụ là một sự sáng tạo liên tục, mỗi giây phút Thiên Chúa lại dùng quyền năng vô cùng của Ngài để tạo thành vũ trụ vạn vật, vì nếu để mặc nó, nó sẽ lập tức rơi lại vào hư vô. Có thể chúng ta biết điều này nhưng thường chúng ta có cảm nghĩ ngược lại : chúng ta thường hiểu Thiên Chúa như mẫu người chúng ta.

Nơi trần gian này, hành động của chúng ta đối với các sự vật rất là hạn chế và mau qua. Chúng ta tạo nên một đồ vật, chúng ta xây dựng một ngôi nhà: từ nay những sự vật này hiện hữu tự chúng, ở ngoài ta và độc lập đối với ta. Cùng lắm, chúng ta phải canh giữ chúng, bảo trì chúng. Nhiều người cũng nghĩ như thế về vũ trụ vạn vật : sau khi được Thiên Chúa sáng tạo, vũ trụ sẽ hiện hữu tự nó, sẽ tự mình đứng vững dưới sự quan phòng và điều hành của Chúa.

Sự thật thì Thiên Chúa sáng tạo vũ trụ từng giây phút. Ngài tạo thành nó không ngừng. Mỗi giây phút, Thiên Chúa luôn sáng tạo tỉ mỉ thế giới vạn vật làm nên vũ trụ này. Ngài tạo thành những vật vô cùng to lớn cũng như những vật vô cùng bé nhỏ. Nếu chúng ta nhìn vũ trụ vạn vật và công việc sáng tạo của Thiên Chúa theo cách này, chúng ta sẽ có một ý tưởng lành thánh và hữu ích dường nào ! Chúng ta sẽ thấy mình lệ thuộc vào Chúa hơn, nằm trong tay Ngài hơn. Chúng ta cũng dễ có tâm tình biết ơn và dễ tín thác trong tay Ngài, khi thấy mọi sự xung quanh ta đều chặt chẽ dưới quyền điều hành của Ngài. Nhất là chúng ta sẽ trọn vẹn sống tín thác một cách thanh thản trong bàn tay Cha chúng ta ở trên trời, đầy quyền năng và đầy tình thương.

Nhưng quyền năng vô cùng và uy linh của Thiên Chúa càng nổi bật hơn, khiến chúng ta yêu mến tôn thờ hơn, nếu chúng ta nhớ rằng Ngài đã sáng tạo muôn ngàn thế giới đó chỉ bằng một tư tưởng của Ngài, một tư tưởng yêu thương. Thiên Chúa nghĩ tưởng và yêu thương muôn loài muôn vật, và chính tư tưởng đó đã ban hiện hữu cho muôn loài muôn vật. Ngài nghĩ tưởng đến các hoa cỏ ngoài đồng, và những bông hoa vạn sắc trên các núi đồi, ở nơi các thung lũng, và tư tưởng đó của Ngài đã ban hiện hữu cho chúng. Ngài đã nghĩ tưởng đến mỗi loài hoa, dầu là những loài nhỏ mọn nhất, với tất cả các mầu sắc và những dị chủng của chúng, với từng chi tiết của các đài hoa, cánh hoa, nhị hoa v.v… Ngài đã âu yếm nghĩ tưởng tới những con sâu bọ và côn trùng li ti, cũng như Ngài đã âu yếm nghĩ tưởng tới những loài thú hùng mạnh như voi, sư tử và hùm beo. Tư tưởng của Ngài đã tạo thành chúng, ban cho chúng hiện hữu và môi trường sinh hoạt. Tư tưởng của Ngài đã sáng tạo nên loài sơn dương nhảy nhót trên những đỉnh núi cao chót vót, phủ đầy tuyết ngàn năm, cũng như muôn ngàn loài cá nơi các sông biển và các đại dương. Toàn thể vũ trụ bao la cùng với muôn loài muôn vật trong đó là sản phẩm của tư tưởng Ngài. Thiên Chúa nghĩ tưởng vũ trụ, và vũ trụ đã hiện hữu trước mặt Ngài.

Ôi ! Uy quyền vô cùng cao cả của Thiên Chúa chúng ta ! Lạy Chúa loài người chúng con chỉ là hư vô trước mặt Chúa. Không có so sánh nào có thể tưởng được, giữa tư tưởng của Chúa và tư tưởng của chúng con. Trước mặt Chúa, những bậc thông thái nhất và những nhà khoa học vĩ đại nhất loài người cũng không khác gì người ngu si đần độn. Họ sáng tạo được gì đâu ? Họ chỉ nhào nặn lại những sự vật mà Chúa đã sáng tạo nên. Họ giống như những họa sĩ tài giỏi, họa lại trên tấm vải của trí tưởng tượng họ những điều kỳ diệu, những cảnh vật làm say mê lòng người. Họ cũng giống như những thi sĩ đại tài sáng tác nên những vần thơ, với những cảnh vật hùng vĩ, và những diễn biến kinh thiên động địa. Nhưng tất cả chỉ là tưởng tượng, không có thật, không hiện hữu. Tư tưởng của loài người không có chi giống tư tưởng sáng tạo và toàn năng của Thiên Chúa.

Vâng, lạy Chúa, chỉ có tư tưởng của Chúa có sức sáng tạo, chỉ tư tưởng của Ngài tạo thành vũ trụ vạn vật. Với tư tưởng đầy yêu thương của Ngài, Ngài đã gọi chúng và ban cho chúng được hiện hữu. Chúa đã nghĩ tưởng và âu yếm gọi tới hiện hữu muôn triệu các ngôi sao trên trời, mà thật ra đó là muôn triệu những mặt trời đang chiếu sáng nơi muôn triệu thiên hà trong vũ trụ bao la. Chúa nghĩ tưởng muôn loài muôn vật trong vũ trụ, và chúng hiện hữu như ý Chúa muốn. Vâng, lạy Chúa, vũ trụ vạn vật là thành qủa của tư tưởng sáng tạo của Ngài, một tư tưởng toàn năng và đầy yêu thương. Ôi tư tưởng toàn năng và cao cả ! Ôi tư tưởng đáng tôn thờ ! Chúng con chỉ biết phủ phục trước uy quyền toàn năng và đầy yêu thương của Chúa.

Thiên Chúa hiện diện trong mỗi tạo vật, để bảo tồn nó và để tỏ bày cho ta thấy một vài vẻ tuyệt hảo của Ngài.

– Nhưng còn một điều kỳ diệu hơn, đáng suy gẫm hơn mà lại ít được hiểu biết. Đó là việc uy linh toàn năng của Thiên Chúa, tư tưởng toàn năng và đầy yêu thương của Chúa sáng tạo nên muôn loài muôn vật, ban cho chúng hiện hữu, nhưng không rời bỏ những tạo vật bé nhỏ và yếu ớt của Ngài, vì nếu không có sức trợ lực của Ngài, nếu không được Ngài bảo tồn, chúng sẽ lại rơi vào hư vô. Mỗi vật thọ tạo có sự hiện hữu của nó, nhưng sự hiện hữu của chúng hoàn toàn lệ thuộc vào quyền năng sáng tạo của Thiên Chúa. Tư tưởng và sự khôn ngoan vô cùng của Ngài vẫn luôn hiện diện nơi mỗi tạo vật. Tư tưởng và tình thương của Chúa thấm nhuần tất cả bản thể của mỗi tạo vật. Mỗi tạo vật đều nhờ Ngài mà có và hiện hữu : Thiên Chúa vừa nội tại nơi vạn vật, vừa tuyệt đối siêu việt trên muôn vật muôn loài. Vạn vật luôn ở trong tư tưởng đầy uy quyền và đầy yêu thương của Ngài. Mỗi vật thọ tạo, bé nhỏ và yếu ớt, hoặc khổng lồ và dũng mãnh, đều được coi như nhà Tạm, nơi Chúa ẩn mình để chờ đợi chúng ta đến tôn thờ và yêu mến Ngài.

Đáng tiếc thay ! Rất ít người nghĩ đến điều này. Rất ít người ý thức về chân lý này. Lạy Chúa,Chúa không xa rời các tạo vật của Ngài, các công trình của Ngài. Chúa hiện diện nơi mọi tạo vật mà Chúa đã sáng tạo. Những bông hồng xinh tươi và tốt đẹp một cách lộng lẫy này : chúng vừa che khuất, vừa tỏ lộ Chúa. Chúa hiện diện nơi chúng, và có vẻ như Chúa nói với con rằng : “Con ơi ! Con xem Cha thương con dường nào ! Cha làm nên bông hồng xinh tươi này vì con. Cha luôn ở trong bông hồng này, và Cha nghĩ đến con. Cha tạo thành bông hồng thơm tho và xinh đẹp cho con vui, và để con nhớ đến Cha.” Rồi con ong vừa bay đến để hút nhụy của bông hồng : nó cũng vừa che khuất vừa tỏ bày Cha cho chúng con. Tư tưởng đầy quyền năng và tình thương của Thiên Chúa hiện diện trong con ong này, và trong bản năng kỳ diệu của nó, khiến nó làm nên mật ong ngọt ngào cho loài người hưởng thụ.

Được nhìn với tinh thần đức tin như thế, vũ trụ sẽ xuất hiện hoàn toàn đổi mới. Có thể nói một chiếc đũa thần đã biến đổi vũ trụ, mang đến cho nó một ánh sáng thần linh… Nó không còn là vũ trụ tầm thường của mọi khi nữa. Nó đã được biến đổi. Vũ trụ nay đã trở nên như đền thánh của Đấng tối cao. Vũ trụ vạn vật đầy sự hiện diện uy quyền và yêu thương của Chúa. Mọi vật đều nói lên quyền năng của Ngài. Có thể thấy vũ trụ vạn vật như miếng bọt biển, một miếng xốp chìm trong đại dương là tư tưởng đầy quyền năng và tình thương của Thiên Chúa…

Ồ ! Bây giờ mọi sự xung quanh tôi đều trở nên tốt đẹp, trong sạch, kỳ diệu ! Mọi sự đều là kỳ công của Thiên Chúa ! Tất cả mọi sự đều xuất phát từ Thiên Chúa là nguồn mạch mọi sự tốt lành. Không có gì là bất toàn, không có gì là hư hỏng. Bây giờ tôi mới hiểu tại sao một số các thánh đã trịnh trọng cúi xuống hôn lên những bông hoa : các ngài muốn hôn Thiên Chúa hiện diện nơi những bông hoa đó. Và tôi đã hiểu tại sao thánh Phaolô thánh giá đã nói với vạn vật : “Thôi im đi, im đi ! Tôi hiểu rồi. Tôi không cầm mình được nữa. Tôi không thể chịu nữa những lời các bạn nói với tôi về tình thương của Chúa”.

Đây chính là tư tưởng có thể an ủi những linh hồn khao khát được gặp Chúa ở nơi lưu đày này. Thiên Chúa mà tôi hết lòng mến yêu, tôi hằng nghĩ tưởng tới, và khát khao nhìn thấy, nhưng tôi cũng biết là không thể nhìn thấy ở đời này, vậy mà Ngài lại đang hiện diện khắp đây đó xung quanh tôi. Vâng, Ngài đang vây bọc tôi, Ngài hiện diện nơi mọi vật xung quanh tôi, nơi những bông hoa, nơi những trái cây, nơi những con chim đang nhảy nhót trên cây kia, và cả nơi những con kiến đang bò dưới đất trước mặt tôi. Chúa yêu thương tôi vô cùng, Ngài tạo thành mọi sự vì yêu thương loài người chúng ta. Ngài vô hình, Ngài ẩn mình trong vũ trụ vạn vật, nhưng sự hiện diện của Ngài cũng rất tỏ tường cho những ai biết nhìn muôn loài muôn vật với con mắt của đức tin. Nhưng dầu sao, Ngài vẫn ẩn hơn là hiện cho tới ngày con mắt linh hồn tôi mở ra, và tôi được mặt đối mặt Ngài trên trời…

 Tôi cũng là bài thơ tình thương của Thiên Chúa : Ngài yêu thương tôi dường nào !
Bài học kết hiệp và tín thác
.

– Tôi đã quên rằng tôi ở trong bức họa vĩ đại của vũ trụ, do tư tưởng của Thiên Chúa tác tạo nên. Tôi à ? Tôi là gì ? Ồ, tôi cũng luôn ở trong tư tưởng của Thiên Chúa, luôn được Ngài ấp ủ. Thiên Chúa luôn ở trong tôi, Ngài luôn nghĩ tưởng đến tôi một cách đầy yêu thương. Hoạt động đầy tình thương của Ngài ban hiện hữu cho tôi và làm cho tôi sống. Nhờ tư tưởng của Ngài tôi hiện hữu, tôi ngủ, tôi suy tưởng, tôi cầu nguyện, tôi yêu mến. Nhờ tư tưởng của Ngài, tôi làm việc và tôi lớn lên. Tôi là một tư tưởng của Ngài. Hơn bất cứ sự vật nào khác, tôi là tư tưởng của Ngài, là bài thơ tình thương của Ngài, là sản phẩm của trí khôn ngoan vô cùng của Ngài. Mỗi giây phút, tôi là một cái gì đó của tư tưởng vô cùng quyền năng và yêu thương của Ngài.

Ôi ! Chúa nghĩ tưởng đến tôi ! Ngài nghĩ đến tôi với biết bao tình thương ! Ôi, tư tưởng mến yêu đã tác tạo nên tôi, đã sinh ra tôi. “Trong Ngài chúng ta sống, chúng ta hoạt động và hiện hữu” (Cv 17,28). Đó là lý do rất tốt để tôi luôn sống kết hiệp với Ngài, luôn nhớ mình ở trước mặt Ngài, đừng bao giờ để tâm theo đuổi một sự vật nào khác, nhưng luôn say mến qùi dưới chân Ngài như chị Maria thành Bêtania xưa.

Như vậy, này tôi thấy mình đã được biến đổi. Phải chăng chính bản thân tôi là tư tưởng của Thiên Chúa, là sản phẩm của tư tưởng Ngài ? Tôi tốt đẹp bằng chính sự tốt đẹp thần linh của Chúa, được ánh sáng muôn đời của Ngài chiếu soi và làm cho trở nên xinh đẹp. Nhưng ở đời này, tôi không bao giờ hiểu được sự tốt đẹp này. Tuy vậy tôi tin tôi là sự tốt đẹp xuất phát từ sự tốt đẹp vô cùng của Chúa, xuất phát từ tư tưởng thần linh của Ngài.

Đáng tiếc thay và đáng buồn thay ! Tôi là một tấm gương phản ảnh vẻ tốt đẹp vô cùng của Chúa, nhưng là một tấm gương qúa mờ ! Tôi là một biểu lộ của tư tưởng Thiên Chúa, nhưng tôi là một biểu lộ không tinh tuyền ! Các con vật, các bông hoa, các loài cây, vạn vật chung quanh tôi là những vật không có lý trí, chúng thực hiện tư tưởng của Chúa cách tuyệt hảo, trọn vẹn theo thánh ý Ngài, không chống lại chút nào. Còn tôi thì không vậy, tôi phải thành thực thú nhận như thế. Đối với sự sống vật chất của tôi, sự sống thực vật và động vật của tôi, tôi thực hiện đầy đủ và trọn vẹn tư tưởng của Thiên Chúa. Nhưng Thiên Chúa cũng nghĩ tưởng đến tôi như một con người, nghĩa là một con vật có lý trí. Ngài dành cho tôi sự tự do là biệt hiệu của con người. Và đây là chỗ huyền nhiệm và cao qúi của con người. Nhưng đây cũng là chỗ tôi có thể tự gây tai họa cho mình, bằng cách dùng sự tự do của mình để đi trệch ra khỏi tư tưởng đầy yêu thương của Chúa. Tôi có thể đi đúng theo tư tưởng của Chúa, theo sự hướng dẫn của Ngài. Nhưng tôi cũng có thể rút mình ra khỏi sự hướng dẫn của ơn soi sáng của Ngài, để đi theo một hướng khác. Như một mầu sơn xấu, tôi có thể không theo ngón tay của người hoạ sĩ. Như một miếng cẩm thạch xấu, tôi chống lại bàn tay của người nghệ sĩ. Tuy nhiên, theo lòng nhân từ vô hạn và sự nhẫn nại vô cùng của Ngài, mỗi lúc Thiên Chúa vẫn sửa dạy tôi, tái tạo tôi. Ngài vẫn nghĩ tưởng đến tôi, cả trong việc tôi sử dụng không tốt sự tự do của tôi, và Ngài tiếp tục tạo thành tôi theo tình thương và sự khôn ngoan vô cùng của Ngài.

Có thể chúng ta đã xem thấy người thợ thổi thủy tinh nghệ thuật : dưới những ngón tay khéo léo của anh ta, khối thuỷ tinh lỏng sền sệt kia biến thành một chiếc bình xinh đẹp, với bao nhiêu là mầu sắc lạ lùng. Người thợ đó đã thực hiện tư tưởng của mình. Một cách vất vả, người đó bắt chước Hóa công một cách nào đó, nhưng Thiên Chúa tạo thành vũ trụ vạn vật bằng chính tư tưởng của Ngài, không có hành động nào khác. Tiếp tục nhìn người thợ thổi thủy tinh, ta thấy đôi khi chất liệu không tốt, đồ vật người đó muốn tạo thành đã không thành : vì chất liệu xấu, chiếc bình đã nổ tung trước khi thành hình, hoặc thành những chiếc bình xấu xí. Người thợ lại bỏ vào lò nấu lại, rồi lại cố gắng thực hiện.

Ôi ! Các vật xung quanh tôi xinh đẹp dường nào! Chúng là thành quả của tư tưởng Thiên Chúa. Những thành qủa này thực hiện đúng theo tư tưởng của Thiên Chúa. Những sản phẩm này làm Thiên Chúa hài lòng, vì chúng là hình ảnh hết sức trung thành của tư tưởng đầy quyền năng và tình thương của Ngài. Cho nên đôi khi người ta đâm ra ước ao được như chúng và có thể người ta thầm nghĩ : “Ước gì tôi là một bông hoa, để chỉ là tư tưởng của Thiên Chúa và trọn vẹn là tư tưởng của Ngài”.

Bây giờ tôi đã hiểu biết hơn về hành động đầy tình thương và quyền năng vô cùng của Thiên Chúa, tôi có tin tưởng hơn và tín thác trọn vẹn cho hành động thần linh của Ngài không ? Tôi có biết kính phục và mến yêu vâng theo những ơn soi sáng của Chúa không ? Tôi có cố gắng cộng tác và kết hiệp với mọi hành vi của Chúa không ? Nhất là tôi sẽ hết sức cố gắng tránh mọi sự cưỡng lại ơn soi sáng, tránh mọi tội lỗi, dầu hết sức nhỏ mọn, để đừng phá hỏng chương trình của Chúa ở trong tôi.

Hơn bất cứ tạo vật nào khác, là con người, tôi đã hiểu mình là thành qủa của tư tưởng đầy quyền năng và tình thương của Thiên Chúa, cho nên tôi sẽ mở rộng tâm hồn để đón nhận tình thương của Chúa, và sẽ sống trọn vẹn tín thác nơi hành động đầy tình thương và thương xót của Ngài.

Nếu chúng ta biết nhìn vũ trụ vạn vật với con mắt đức tin, chúng ta sẽ thấy chúng là sự thực hiện tư tưởng của Ngài. Ngài đã tạo thành chúng bằng tư tưởng đầy uy quyền của Ngài. Chúng ta thấy vạn vật rất dễ thương, rất xinh đẹp. Mà thật sự vạn vật xinh đẹp và dễ thương, vì chúng là tác phẩm của tư tưởng đầy tình thương của Thiên Chúa. Các hoạ sĩ, các nhà điêu khắc, các nhạc sĩ, các thi sĩ đều say sưa nhìn ngắm những tác phẩm nghệ thuật mà họ đã thực hiện được. Thiên Chúa cũng vui sướng nhìn ngắm vũ trụ vạn vật xinh tươi mà Ngài đã sáng tạo. “Thiên Chúa nhìn xem vạn vật Ngài đã tác thành và thấy chúng rất là tốt đẹp” (St 1,31).

Thiên Chúa là người nghệ sĩ tuyệt hảo, Ngài chẳng qúi mến và yêu thương những kỳ công Ngài đã thực hiện sao ? Ngài yêu thương vạn vật và từng sự vật Ngài đã tác thành. Ngài yêu thương chúng bằng một tình thương vượt qúa sức hiểu biết của chúng ta. Ngài soi mình trên chúng và hài lòng vì chúng phản ảnh vẻ tốt lành của Ngài. Đúng thế, chúng phản ảnh vẻ đẹp, sự khôn ngoan, vẻ dễ thương và quyền năng của Ngài. Ngài yêu thích tất cả mọi lời của bài thơ vũ trụ của Ngài. Ngài yêu thích tất cả mọi nốt nhạc của bản giao hưởng kỳ diệu là lịch sử thế giới đang diễn ra dưới sự điều khiển của Ngài. Ngài yêu thương vũ trụ vạn vật, và yêu thương lắm, yêu thương với tình thương mà Ngài tự yêu mến mình và yêu thương mọi vật do tay Ngài tác thành. Sách Thánh nói : “Thiên Chúa yêu thương tất cả mọi công trình của tay Ngài”.

Nhưng nếu Thiên Chúa yêu thương các công trình của Ngài, các công trình được coi là thần linh vì do bàn tay Ngài làm nên, thì Ngài đặc biệt yêu thương con người là kỳ công kiệt tác của Ngài. Hơn bất cứ loài thọ tạo nào khác, con người nói lên cách đầy đủ nhất về quyền năng và tình thương của Đấng Tạo Hóa. Linh hồn con người là hình ảnh gần gũi nhất và trung thực nhất của tính thiêng liêng và hằng hữu của Thiên Chúa. Bởi vậy Thánh Kinh đã có lời rằng : “ Vui sướng của Ta là ở với con cái loài người” (Cn 8,31). Ai nói lên được tình thương khiến Ngài nhìn theo tôi đêm ngày ? Làm sao hiểu được tình thương bao la Ngài dành cho tôi là hình ảnh bé nhỏ của Ngài ? Ôi ! Nếu tôi hiểu được phần nào tình thương Ngài dành cho tôi, vì tôi là hình ảnh của Ngài và được Ngài nhận làm con, thì tâm hồn tôi sẽ tràn ngập mến thương, tràn ngập bình an và tràn ngập tín thác. Khi đó tôi sẽ không còn thấy mình là một tạo vật xấu xí, đầy những tội lỗi và khốn nạn, cho nên nhiều lúc, mặc dầu tự ái, tôi cũng thấy mình sao mà đáng chán ghét thế. Trái lại, dầu nhận biết mình còn nhiều sự khốn nạn, tôi sẽ thấy mình là con của Thiên Chúa, là đứa con của tư tưởng đầy quyền uy và tình thương của Thiên Chúa, và như vậy tôi là viên ngọc qúi của công trình sáng tạo của Ngài. Tôi sẽ cảm thấy mình là đối tượng của tình thương bao la của Thiên Chúa : Ngài không bao giờ rời xa công trình qúi yêu của Ngài. Ngài cảm thấy vui sướng được ngự trị trong linh hồn nó.

Chắc chắn các tội lỗi của tôi rất đáng ghét, nhất là trước mắt của Thiên Chúa. Những sự khốn nạn về luân lý của tôi cũng rất là xấu xa. Nhưng sự pha trộn những vẻ đẹp thần linh mà Chúa tạo nên trong tôi, cùng với những sự gớm ghét mà tôi tạo nên do việc không sử dụng tốt sự tự do của tôi, đã không ảnh hưởng gì đến tình thương Chúa dành cho tôi. Trái lại Ngài càng thương hại tôi, một sự cảm thương mà ta chỉ thấy nơi Thiên Chúa vô cùng nhân hậu và thương xót. Đó là một sự thương hại vô cùng nhân từ, khiến tôi càng thêm tín thác nơi Ngài.

Ôi, lạy Thiên Chúa của con, trước đây con ít biết mình qúa ! Chưa bao giờ con tự nhìn mình dưới ánh sáng thần linh này. Xin Chúa làm cho con hiểu mỗi ngày mỗi thấm thía hơn ý nghĩa của sự là một vật thọ tạo của Chúa. Xin cho con được hiểu như các thánh, hoặc chỉ một phần như các thánh, về tình thương Chúa dành cho các tạo vật của Ngài, tức là các công trình của Ngài. Ôi ! Nếu con chỉ hiểu được một phần như các thánh về tình thương Chúa dành cho con người, Chúa dành cho con đây, chắc một luồng ánh sáng diệu huyền và mạnh mẽ sẽ chiếu dọi vào linh hồn con và biến đổi con người con !

Các thánh và những linh hồn trong sạch và sốt mến thường được Chúa ban ơn không những cảm nghiệm thấy Chúa hiện diện ở trong họ, mà còn cảm thấy Chúa hành động ở trong họ nữa. Đôi khi họ cảm thấy, sung sướng cảm thấy mình là tạo vật hình thành dưới bàn tay thần linh của Chúa. Ôi cảm nghiệm diễm phúc khôn tả ! Nếu nhận thức về sự hiện diện và hành động của Chúa ở trong ta đã làm cho chúng ta được an ủi và trở nên mạnh mẽ tín thác, thì cảm nghiệm thần bí này sẽ giúp ta tiến tới trên đường nên thánh dường nào ! Khi đó linh hồn sẽ chỉ có một ước nguyện là ra khỏi bản thân mình để hiến toàn thân cho Thiên Chúa toàn năng, toàn thiện và đầy lòng yêu thương, để Ngài tác tạo ta theo tư tưởng đầy khôn ngoan và yêu thương của Ngài.

Chúa cũng nghĩ tưởng tôi trong lãnh vực siêu nhiên.

– Có thể lên cao hơn nữa chăng ? Xem ra không thể. Tuy nhiên vẫn còn một bậc phải leo lên. Sự cao trọng của con người còn lớn hơn thế. Trên đây chúng ta mới chỉ xét đến con người như kỳ công kiệt tác của Thiên Chúa trong vũ trụ vạn vật, trong lĩnh vực tự nhiên. Nhưng Thiên Chúa còn nghĩ tưởng và sáng tạo con người trong lãnh vực siêu nhiên nữa. Trong lãnh vực tự nhiên, ta đã thấy mọi vật đều là thành qủa và biểu hiệu của tư tưởng Ngài. Mọi vật đều nói lên quyền năng và tình thương của Ngài. Nhưng đó chỉ là một biểu hiệu xa xôi của Thiên Chúa. Đó là tư tưởng của Thiên Chúa, nhưng thuộc một lãnh vực rất thấp của Ngài. Chúng ta là tư tưởng của Thiên Chúa, giống hình ảnh Ngài, nhưng là những hình ảnh trong bóng tối, thiếu hẳn những mầu sắc xinh đẹp thần linh của Ngài.

Với ân sủng thánh hóa và các nhân đức siêu nhiên đi kèm, rồi với những ân sủng hành động để nuôi dưỡng sự sống siêu nhiên, Thiên Chúa đã nghĩ tưởng và tác thành con người một cách vô cùng cao quí hơn. Ở đây, chúng ta cũng là hoa trái của tư tưởng thần linh, nhưng là trong chính lãnh vực thần linh của Chúa. Thiên Chúa nghĩ tưởng và tạo thành chúng ta, không như những tôi mọi, nhưng như những nghĩa tử của Chúa, những người con của Ngài, đáng được cùng Ngài hưởng vinh phúc muôn đời. Ngài nghĩ tưởng chúng ta có sự sống thần linh của Ngài, với vẻ đẹp của những con cái Chúa: linh hồn ta, với những tài năng của tâm trí tự nhiên, được coi là báu vật trong vũ trụ, nhưng không là gì hết so với chức phẩm là con cái Chúa. Sự sống siêu nhiên làm cho con người vượt lên cao, cách xa vạn vật trong vũ trụ muôn trùng. Đây là một sự cách xa vượt bậc.

Vẻ đẹp kỳ diệu mà ân sủng thánh hóa mang lại cho linh hồn ta, làm cho nó trở thành nghĩa tử của Thiên Chúa, chính là một tước hiệu mới để Thiên Chúa yêu thương ta vô cùng, và để ta sống tín thác nơi Ngài. Nếu Thiên Chúa yêu thương mỗi tạo vật của Ngài, vì chúng là những tư tưởng của Ngài, dầu chúng vô tri vô giác, và nếu Ngài yêu thương con người, vì nó là kỳ công kiệt tác trong việc sáng tạo của Ngài, dầu nó chưa được Ngài ban cho ơn thánh hóa để trở thành nghĩa tử của Ngài, thì phương chi Ngài sẽ hết lòng yêu dấu và chăm lo cho con người khi nó đã trở thành con cái Ngài trong ân sủng. Ngài âu yếm và chăm lo cho các linh hồn sống trong ân sủng, vì đời sống trong ân sủng là sự sống Thần Linh, sự sống mà Thiên Chúa chia sẻ cho con người. Sự sống trong ân sủng là khởi đầu cuộc sống vĩnh cửu trên trời.

Thiên Chúa âu yếm nhìn các linh hồn này như những người con của Ngài, những kitô khác, những kẻ được thừa hưởng nước trời. Ngài yêu quí mỗi linh hồn này hơn cả vũ trụ vạn vật, vì các linh hồn này sẽ được yêu mến và ca tụng Ngài muôn đời. Cho nên Ngài luôn sẵn sàng làm mọi sự để cứu vớt họ khỏi tội lỗi, để an toàn đưa họ về quê trời.

Có thể đôi khi tôi cảm thấy như mình chiến đấu một mình trên con đường nên thánh. Có thể tôi sẽ nhiều lần có cảm tưởng rõ rệt là mình hành động đơn độc, Thiên Chúa không trợ lực tôi trong những lúc gian nguy, trong những khi tôi vất vả nỗ lực. Xem ra như Thiên Chúa hẹp hòi, không sẵn sàng ban ơn giúp sức cho tôi. Chính những lúc đó, tôi phải nghĩ đến tình thương khôn tả Ngài dành cho tôi, tạo vật bé nhỏ đã được Ngài yêu thương nâng lên làm con của Ngài trong cuộc sống siêu nhiên. Tư tưởng này sẽ giúp tôi lấy lại sự bình an và niềm tín thác cho linh hồn rối bời của tôi, và nhắc cho tôi ý thức rằng tôi là con yêu dấu của Chúa, được Ngài yêu thương và chăm lo hết tình.

II.  TÔI CŨNG LÀ BÀI THƠ TÌNH YÊU CỦA CHÚA GIÊSU: TRONG TÔI VÀ NHỜ TÔI, CHÚA GIÊSU TỎ BÀY LÒNG MẾN YÊU CHA NGÀI.

–   VÀ CHÚA CHA YÊU THƯƠNG ĐÁP LẠI TÔI DƯỜNG NÀO ! LINH HỒN TÔI PHẢI VUI MỪNG VÀ TÍN THÁC DƯỜNG NÀO !

Tôi cũng là bài thơ tình yêu của Chúa Giêsu : Trong tôi và nhờ tôi, Chúa Giêsu tỏ bày lòng mến yêu Cha Ngài.

– Trên đây, chúng ta mới chỉ nói về linh hồn con người, xét như nó được nghĩ tưởng và tạo thành bởi Thiên Chúa Ba Ngôi. Bây giờ phải nói mấy lời về linh hồn ta, xét như nó được nghĩ tưởng và tạo thành bởi Chúa Giêsu Kitô, Ngôi Lời làm người. Điều này sẽ càng làm rõ sự cao trọng của linh hồn ta và tình thương của Thiên Chúa dành cho nó.[1]

Cũng như do tư tưởng sáng tạo của Thiên Chúa mà tôi được tạo thành, thì cũng do tư tưởng đầy quyền năng và yêu thương của Chúa Giêsu Kitô mà tôi hiện hữu đây. Từng giây phút, Ngài nghĩ tưởng ra tôi. Tôi là thành phần của vũ trụ vạn vật, công trình bao la của tư tưởng Ngài dùng để tôn vinh Cha Ngài. Là Ngôi Hai Thiên Chúa, là Ngôi Lời Khôn ngoan vô cùng, Ngài nghĩ tưởng và ban sự hiện hữu cho tôi. Là Ngôi Lời làm người, Ngài là Chúa Cứu Thế và Đấng Cứu Chuộc loài người, Ngài là Alpha và Omêga, Ngài tôn vinh Cha Ngài, Ngài ban cho tôi sự sống siêu nhiên để trở thành con Thiên Chúa như Ngài, và để Ngài dùng tôi mà yêu mến và tôn vinh Cha Ngài. Vạn vật trong vũ trụ cũng như con người vẫn ở trong tay Ngài từ hồi nguyên thủy, và sẽ mãi mãi ở trong tay Ngài, để Ngài dùng làm phương tiện tôn vinh Cha Chí ái của Ngài. Vũ trụ vạn vật đã được tạo thành vì cùng đích này. Mỗi tạo vật là một lời trong bài thơ bao la này, đó cũng là bài thánh thi tình yêu mà Chúa Giêsu Kitô, Thiên Chúa làm người luôn hát lên để tỏ lòng mến yêu Cha Ngài. Nhất là con người và nhất là các chi thể mầu nhiệm của Nhiệm Thể Ngài, được kết hiệp với Ngài trong sự sống thần linh, là phần đặc sắc của bài thơ đó.

Vậy tôi, nhất là tôi cũng là bài thơ tình mến yêu của Chúa Giêsu, là sự tỏ bày của lòng mến yêu nồng nàn đó. Ngài dùng tôi từng giây phút để tỏ bày lòng mến yêu Cha Ngài trên mặt đất này bây giờ, cũng như xưa khi Ngài còn sống tại Nazareth. Tôi là một bông hoa sống động của lòng mến yêu… một bông hoa Ngài luôn luôn nghĩ tưởng và muốn cho hiện hữu để làm vui lòng Cha Ngài. Mỗi giây phút, nhờ tôi, Chúa Giêsu tự hiến thân cho Cha Ngài với biết bao yêu mến…

Là một tạo vật bé nhỏ, đầy những khuyết điểm, lại bị làm xấu đi bởi tội lỗi, tôi vẫn được Thiên Chúa cho là đẹp, bởi vì tôi là hình ảnh Chúa Giêsu, Con yêu dấu của Ngài. Tôi là sự bày tỏ không ngừng lòng mến yêu của Chúa Giêsu đối với Cha Ngài. Ý nghĩ này sẽ mang lại cho tôi một sự bình an khoái trá biết bao ! Và ý nghĩ này sẽ giúp trái tim tôi cởi mở, sống tín thác trong mến yêu và thanh thản. Mặc dầu những sự yếu đuối và những khiếm khuyết của tôi, tôi vẫn là biểu hiệu của lòng mến yêu bao la của Chúa Giêsu đối với Cha Ngài. Bởi vậy tôi tin rằng Chúa Cha yêu thương tôi lắm, vì tôi đã được biến đổi, được tắm gội trong ánh sáng và hồng ân của Chúa Giêsu.

Chúa Cha thương yêu lại tôi dường nào ! Tôi phải vui mừng và tín thác hết lòng.

– Có thể đây là điều tôi chưa bao giờ nghĩ tới. Ồ! Không bao giờ tôi hiểu được Chúa Cha đã nhìn tôi cách âu yếm dường nào, bởi vì Ngài nhìn thấy nơi tôi Con Một chí ái của Ngài, đối tượng của tình mến thương vô cùng của Ngài. Ngài yêu thương như chỉ mình Thiên Chúa có thể yêu thương : Ngài yêu thương tôi vì tôi là sự bày tỏ lòng mến yêu của Chúa Giêsu Con Ngài đối với Ngài. Ngài yêu thích ngọn lửa mến yêu của Con Ngài ở trong tôi. Luôn luôn Ngài nhìn thấy Giêsu Con Ngài yêu mến Ngài ở trong tôi, và hiến thân cho Ngài ở trong tôi, và đáp lại, Ngài yêu thương Con Ngài ở trong tôi. Ngài thương yêu tôi, nghĩa là Ngài yêu thương Giêsu Con Ngài ở trong tôi, yêu thương vô cùng. Ngài nhìn thấy trong tôi tất cả mọi chi tiết của bài thơ tình yêu của Con Ngài. Ngài nhìn thấy máu và công nghiệp của Con Ngài mà tôi lãnh nhận nơi các bí tích, lễ hy sinh của Con Ngài mà tôi tham dự mọi ngày trong Thánh Lễ. Ngài nhìn thấy tất cả mọi ơn soi sáng, mọi ân sủng mà Chúa Giêsu đã dùng để thánh hóa tôi, hầu làm vinh danh Thiên Chúa. Tóm lại, bài thơ này nói lên tất cả hoạt động đầy yêu thương của Chúa Giêsu, để biến tôi thành đối tượng của tình thương Thiên Chúa.

Ôi, trước đây tôi biết mình qúa ít dường nào ! Tôi chưa nhận ra tất cả những gì là thần linh ở trong tôi. Tôi đã chỉ nhìn, hầu như chỉ nhìn thấy khía cạnh nhân bản ở trong tôi, nghĩa là phương diện con người, phương diện tự nhiên của tôi. Bởi vậy tôi đã thấy mình xấu xí, ích kỷ, chỉ đáng coi là đối tượng kinh tởm cho Thiên Chúa chí thánh. Cũng bởi vậy linh hồn tôi cảm thấy ngộp thở trong bầu không khí của sự mất tin tưởng và của sự sợ hãi lo âu.

Bây giờ tôi mới nhận ra mình một chút. Tôi thấy mình ở trong một bầu khí trong lành và đầy sức sống của tình thương Thiên Chúa, tình thương bao la mà, mặc dầu những sự khốn nạn của tôi, Ngài vẫn dành cho tôi, vì Chúa Giêsu, Con chí ái của Ngài, đang sống trong tôi.

Tôi thật là một tạo vật nhỏ bé diễm phúc ! Tôi vô cùng có phúc nhờ sự kết hiệp với Chúa Giêsu : chính nhờ sự kết hiệp này, nhờ sự Chúa Giêsu sống trong tôi, và tôn thờ yêu mến Chúa Cha ở trong tôi, nên Thiên Chúa nhìn xuống tôi như nhìn Con chí ái của Ngài. Bởi vậy dầu mây mù, dầu mưa to và gió bão của đời sống con người tôi, mặt trời của đức ái vô cùng của Thiên Chúa vẫn giãi ánh sáng dịu hiền của Ngài trên tôi. Thiên Chúa vẫn luôn yêu thương tôi trong tình thương vô cùng Ngài yêu thương Chúa Giêsu Con của Ngài.

Vậy hỡi linh hồn tôi, hãy sống tín thác, tín thác và luôn luôn tín thác, cả khi mọi sự xem ra đen tối, bởi vì mi không sống một mình. Dưới mắt Thiên Chúa, mi sống trong Chúa Giêsu và Chúa Giêsu sống trong mi. Ngài sống trong mi, hoạt động trong mi và nhờ mi mà yêu mến Cha Ngài. Như vậy Chúa Cha yêu thương mi, và Ngài sẵn sàng ban mọi ơn cho mi, để đáp lại lòng mến yêu mà Chúa Giêsu đã tỏ bày đối với Ngài ở trong mi, miễn là mi luôn sống kết hiệp mật thiết với Chúa Giêsu. Chúa Giêsu luôn luôn thờ lạy và yêu mến Cha Ngài ở trong mi, và cũng luôn luôn Chúa Cha đáp lại lòng mến yêu vô cùng của Con Ngài bằng cách ban nhiều ân sủng cho mi, để những nỗ lực của Chúa Giêsu trong việc thánh hóa mi được thành tựu.

Vậy, hỡi linh hồn tôi, hãy tin tưởng tín thác và nhất là hãy chăm lo bồi dưỡng sự kết hiệp với Chúa Giêsu. Hãy ngoan ngoãn vâng theo mọi ơn soi sáng của Ngài ! Đừng tìm kiếm niềm vui nào khác, đừng có lo toan nào khác ngoài việc chân thành cộng tác với hoạt động đầy yêu thương của Chúa Giêsu ở trong mi : Ngài sống ở trong mi để tôn thờ và yêu mến Cha Ngài.

Hãy tránh xa mọi tội lỗi, tránh xa các lỗi phạm cố tình. Tội lỗi và những thiếu sót của mi sẽ là những nốt nhạc ngang cung trong bản hòa tấu tình yêu của Chúa. Khi lỗi phạm như thế, mi từ chối cộng tác vào bản thánh thi mà Chúa Giêsu dâng lên Cha Ngài. Mi từ chối tôn vinh Thiên Chúa. Mi muốn tự tôn vinh mình, mi muốn yêu mình mà thôi ! Khi đó tâm tình mi chỉ là tiếng kêu đáng ghét của lòng tự ái…

Vậy mi hãy cảnh giác để tránh xa mọi tâm tình và mọi tư tưởng tự ái và ích kỷ. Hãy mặc lấy những tâm tình thánh thiện của Chúa Giêsu, hãy cộng tác với các hoạt động thần linh của Ngài. Không gì tốt đẹp hơn, không gì cao quí hơn, không gì hạnh phúc hơn sống kết hiệp với Chúa Giêsu, để Ngài chiếm đoạt trái tim ta và sống đầy đủ ở trong ta. Đời sống của ta sẽ là như cuộc sống trên trời.

Ước chi cuộc sống của tôi là ngọn lửa yêu mến của đức ái Chúa Giêsu ! Ước chi cuộc sống của tôi trở thành bài thánh thi Chúa Giêsu dùng để tôn vinh và yêu mến Cha Ngài ! Ước chi tôi luôn sống kết hiệp với Chúa Giêsu bằng việc vâng theo mọi ơn soi sáng của Ngài ! … Cuộc sống của tôi sẽ là an vui… bình an… và tín thác trọn vẹn !

 

[1] Kinh tin kính dạy rằng : “Tôi tin kính Chúa Giêsu Kitô là Con một Đức Chúa Cha… Nhờ Ngài mà muôn vật được tạo thành”. Những dòng sau đây phải được hiểu theo hướng này.

Paul De Jaegher S.J.