- Details
-
Category: 26. Thông Báo Tin Mừng
WHĐ (10/10/2025) – Tại Đại hội Hội đồng Giám mục Việt Nam lần thứ XVI được tổ chức tại Toà Giám mục Đà Lạt từ thứ Hai, ngày 06/10/2025 đến thứ Sáu, ngày 10/10/2025, Hội đồng Giám mục Việt Nam đã có Thư chung gửi toàn thể Dân Chúa về chủ đề sứ mạng loan báo Tin Mừng. Sau đây là nguyên văn Thư chung 2025 của Hội đồng Giám mục Việt Nam.
THƯ CHUNG 2025
KÍNH GỞI CỘNG ĐOÀN DÂN CHÚA TẠI VIỆT NAM
Anh chị em thân mến,
- Chúng tôi, các Giám mục thuộc 27 Giáo phận trên cả nước, đang họp Đại hội tại Tòa giám mục Đà Lạt, xin gửi đến anh chị em lời chào thân ái. Nguyện xin ân sủng và bình an của Thiên Chúa, Cha chúng ta, ở cùng tất cả anh chị em. Cách riêng, chúng tôi nhớ đến những đồng bào Miền Trung và Miền Bắc đã phải chịu những thiệt hại nặng nề do các cơn bão vừa qua. Với tâm tình hiệp thông, qua Caritas Việt Nam và Caritas các giáo phận, chúng tôi tiếp tục hỗ trợ anh chị em phần nào trong lúc khó khăn.
Trong ba năm qua (2022-2025), chúng ta đã học hỏi và khai triển chủ đề của Thượng hội đồng Giám mục “Hướng tới một Hội Thánh hiệp hành: hiệp thông, tham gia, sứ vụ”. Chủ đề này không chỉ để tìm hiểu trên bình diện tri thức nhưng cần phải được đưa vào đời sống của Dân Chúa. Vì thế, được sự chấp thuận của Đức giáo hoàng Phanxicô cũng như Đức giáo hoàng Lêô XIV hiện nay, Đức hồng y Tổng thư ký Thượng hội đồng đã mời gọi toàn thể Dân Chúa tham gia vào giai đoạn thực hiện chương trình của Thượng hội đồng Giám mục trong ba năm tới (2025-2028), cụ thể là học hỏi Tài liệu Chung kết.
Sứ mạng loan báo Tin Mừng là trách nhiệm đầu tiên và thách đố lớn nhất của Hội Thánh, do đó cũng là mối quan tâm hàng đầu của Hội Thánh (x. Niềm vui Tin Mừng, số 15). Hiệp thông, tham gia là để cùng nhau thi hành sứ mạng loan báo Tin Mừng cách hiệu quả. Hơn nữa, Hội Thánh tại Việt Nam đang hướng tới năm 2033, kỷ niệm 500 năm Tin Mừng Chúa Giêsu được loan báo trên quê hương chúng ta. Đây là thời điểm quý giá, mời gọi chúng ta nhìn lại công cuộc loan báo Tin Mừng trong quá khứ và thúc đẩy dấn thân hơn trong tương lai. Vì vậy, chúng tôi đề nghị chương trình mục vụ ba năm, mỗi năm một chủ đề, tất cả đều quy về sứ mạng loan báo Tin Mừng:
Năm 2025-2026: Mỗi Kitô hữu là một môn đệ thừa sai: “Anh em là ánh sáng thế gian" (Mt 5,14).
Năm 2026-2027: Mỗi cộng đoàn Kitô hữu là một cộng đoàn thừa sai: “Chúa cho cộng đoàn mỗi ngày có thêm những người được cứu độ" (Cv 2,47).
Năm 2027-2028: Hội Thánh Chúa Kitô tại Việt Nam lên đường theo lệnh truyền: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân thành môn đệ" (Mt 28,19).
- Trong thư này, chúng tôi khai triển chủ đề: Mỗi Kitô hữu là một môn đệ thừa sai.
“Anh em là ánh sáng thế gian" (Mt 5,14). Chúa Giêsu nói với các môn đệ của Ngài như thế, rồi Ngài nói thêm: “Không có ai thắp đèn rồi lại để dưới cái thùng, nhưng đặt trên đế để soi chiếu cho mọi người trong nhà" (Mt 5,15). Ánh sáng không hiện hữu cho chính nó nhưng để soi sáng cho mọi người. Cũng vậy, khi lãnh nhận Bí tích Rửa Tội, chúng ta được sinh ra trong đời sống mới. Sự sống thần linh ấy không phải là đặc quyền chúng ta giữ cho riêng mình, nhưng là một kho báu cần trao tặng, thông truyền và loan báo, đó chính là ý nghĩa của việc loan báo Tin Mừng (x. Sứ điệp truyền giáo 2019). Vì vậy, sẽ thật sai lầm nếu nghĩ rằng công cuộc loan báo Tin Mừng là trách nhiệm của một số người chuyên trách, còn các tín hữu khác chỉ là những người thụ hưởng. Không phải thế, tất cả những ai đã chịu Phép Rửa đều được mời gọi tích cực tham gia vào sứ mạng loan báo Tin Mừng (x. Niềm Vui Tin Mừng, số 120).
- Chúng ta tham gia vào sứ mạng quan trọng ấy bằng cách nào? Chính Chúa Giêsu chỉ đường cho chúng ta: “Ánh sáng của anh em phải chiếu giãi trước mặt thiên hạ, để họ thấy những việc tốt lành anh em làm, mà tôn vinh Cha của anh em, Đấng ngự trên trời" (Mt 5,16). Ánh sáng đức tin được chiếu tỏa ra bên ngoài qua những việc tốt lành chúng ta làm trong đời sống cá nhân, gia đình, cũng như trong mọi môi trường xã hội. Bằng cách đó, chúng ta trở nên như nắm men góp phần vào việc thánh hóa thế giới từ bên trong, và giới thiệu Đức Kitô cho người khác (x. Giáo hội, số 31). Đây cũng là trách nhiệm đặc thù của các Kitô hữu giáo dân là những người “hiện diện và làm việc trong những nơi chốn và môi trường mà chỉ nhờ họ, Hội Thánh mới có thể trở thành muối đất” (Ibid., số 33). Để được như thế, trước hết các Kitô hữu phải nên thánh, vì “nếu không có những dấu chỉ thánh thiện thì lời nói của chúng ta khó mà đi vào lòng con người thời đại hôm nay. Nó có nguy cơ trở thành uổng công và vô hiệu” (Loan báo Tin Mừng, số 76).
- Chúng ta lấy ánh sáng từ đâu? Tiếp nối các Giáo phụ, Đức giáo hoàng Phanxicô thường nói về Hội Thánh như "mầu nhiệm mặt trăng". Mặt trăng không có ánh sáng tự thân nhưng nó tiếp nhận ánh sáng mặt trời và phản chiếu lại. Cũng thế, trong lòng Hội Thánh, tự thân mỗi chúng ta không có ánh sáng, nếu có ánh sáng là nhờ đón nhận và kết hợp với Chúa Kitô là “Ánh sáng thế gian" (Ga 8,12; 9,5). Do đó Lời Chúa và Thánh Thể là nguồn ánh sáng và sức sống cần thiết cho đời sống chứng nhân.
- Từ những suy nghĩtrên, chúng tôi xin đề nghị với anh chị em những việc làm cụ thể trong năm 2025-2026:
Hãy cầu nguyện hằng ngày cho công cuộc truyền giáo vì chúng ta chỉ có thể chu toàn sứ mạng cao cả này nhờ ơn Chúa, đồng thời cầu nguyện cũng là phương thế đào tạo tinh thần truyền giáo cho các tín hữu.
Hãy học hỏi về Bí tích Rửa Tội, Thêm Sức và Tông huấn “Loan báo Tin Mừng” của thánh Giáo hoàng Phaolô VI, để xác tín rằng sứ mạng loan báo Tin Mừng gắn liền với chúng ta, những người đã chịu Phép Rửa và được ghi ấn tín của Chúa Thánh Thần.
Hãy tập thói quen đọc Kinh Thánh và suy niệm Lời Chúa hằng ngày, để Lời Chúa thấm vào tâm trí và trở thành ánh sáng soi dẫn tư tưởng, lời nói, việc làm của chúng ta.
Hãy nhiệt thành làm chứng cho Tin Mừng bằng cách sống Lời Chúa trong gia đình, nơi làm việc, cũng như trong mọi môi trường xã hội.
Hãy mạnh dạn nói về Chúa cho người muốn tìm hiểu, và sẵn sàng trả lời cách hiền hòa cho bất cứ ai chất vấn về niềm tin và hi vọng của chúng ta (x. 1Pr 3,15).
Hãy sử dụng các phương tiện truyền thông với tư cách môn đệ thừa sai. Mỗi nút like, lời bình, hình ảnh, bài viết chúng ta đưa lên internet và mạng xã hội đều góp phần làm cho đời sống sạch đẹp hơn hoặc ngược lại.
Hãy có mặt trong môi trường kỹ thuật số này với ý thức chúng ta là các môn đệ được Chúa trao cho sứ mạng “đem yêu thương vào nơi oán thù, đem thứ tha vào nơi lăng nhục, đem an hòa vào nơi tranh chấp, đem chân lý vào chốn lỗi lầm" (Kinh Hòa bình).
- Để định hướng mục vụ năm nay có hiệu quả, chúng tôi mời gọi các linh mục và tu sĩ hãy đồng hành với anh chị em giáo dân qua việc giải thích, hướng dẫn và cùng nhau thực thi sứ vụ loan báo Tin Mừng. “Đối thoại trong Thánh Thần” là phương pháp được Thượng hội đồng Giám mục áp dụng thường xuyên trong các kỳ họp và mang lại những thành quả tích cực. Các linh mục và tu sĩ nên học hỏi và áp dụng phương pháp này trong việc đồng hành với giáo dân, cùng nhau lắng nghe Lời Chúa, củng cố sự hiệp thông, và thúc đẩy mọi người tham gia vào sứ mạng loan báo Tin Mừng của Hội Thánh.
- Trong Giờ đọc Kinh Truyền tin, ngày 6/7/2025, Đức giáo hoàng Lêô XIV nói với các tín hữu Công giáo rằng: “Có lẽ không thiếu những 'Kitô hữu nửa mùa thỉnh thoảng làm theo cảm xúc tôn giáo hoặc tham dự những sự kiện tôn giáo. Nhưng rất ít người sẵn sàng làm việc cho mùa gặt của Chúa, vun trồng hạt giống Tin Mừng trong chính tâm hồn mình để rồi chia sẻ điều đó trong gia đình họ, tại nơi họ làm việc hay học tập, trong môi trường xã hội và với những người cần được giúp đỡ". Đó là một thực tế và thực tế này chất vấn mỗi người chúng ta: tôi có phải là tín hữu chỉ giữ đạo như nhãn hiệu bên ngoài, chỉ là tín hữu nửa mùa không?. Ước gì mỗi chúng ta trở thành môn đệ “hăng say làm việc trên cánh đồng truyền giáo, can đảm làm chứng cho Nước Chúa ở mọi nơi", để qua những việc tốt lành chúng ta làm, người ta tôn vinh Thiên Chúa là Cha chúng ta, Đấng ngự trên trời.
Nhờ lời chuyển cầu của Đức Maria, Nữ vương Mân Côi, xin Chúa ban muôn phúc lành cho tất cả chúng ta.
Làm tại Tòa Giám mục Đà Lạt,
Ngày 10 tháng 10 năm 2025
HỘI ĐỒNG GIÁM MỤC VIỆT NAM
TỔNG THƯ KÝ
(đã ký)
+ Giám mục Giuse Đỗ Mạnh Hùng
CHỦ TỊCH
(đã ấn ký)
+ Tổng Giám mục Giuse Nguyễn Năng
- Details
-
Category: 26. Thông Báo Tin Mừng

Khi vị giáo hoàng mới đắc cử bước ra ban công của Vương cung thánh đường Thánh Phêrô và lấy tên là Lêô XIV, đó không chỉ là một sự thừa nhận truyền thống. Đó là sự lặp lại có chủ đích tên gọi của mười ba vị giáo hoàng trước ngài, bắt đầu với ĐGH Lêô Cả, Tiến sĩ Giáo hội thế kỷ thứ V nổi tiếng bảo vệ tính chính thống và tham gia vào chính trị hỗn loạn của Đế chế La Mã đang sụp đổ. Nhưng có lẽ ĐGH Lêô XIII - “Giáo hoàng của Kinh Mân Côi” vào cuối thế kỷ 19, nhà triết học, nhà cải cách xã hội và nhà văn sung mãn - là người có ảnh hưởng nhất có thể có liên quan đến ngày nay.
Điều này không đơn giản nhằm gợi ý “đây là những gì đang được mong đợi” từ vị giáo hoàng mới. Nhưng đó là lời mời gọi một sự suy ngẫm: nếu một tên gọi báo hiệu sự gần gũi, cảm hứng hoặc tính liên tục, thì việc lựa chọn tên gọi “Lêô” có thể làm sáng tỏ tầm nhìn tâm linh, trí tuệ và mục vụ mà Đức Giáo Hoàng Lêô XIV hy vọng sẽ tiếp tục.
ĐGH Lêô XIII: Một Giáo Hoàng dùng mực
Đức Giáo Hoàng Lêô XIII (1878–1903) đã để lại một kỷ lục giáo hoàng vô song về khối lượng và hoài bão. Ngài đã ban hành 88 thông điệp, giải quyết mọi thứ từ thẩm quyền chính trị, chủ nghĩa xã hội và chế độ nô lệ đến lòng sùng kính, triết học và phẩm giá của đời sống Kitô giáo. Đối với nhiều người, ngài được nhớ đến đầu tiên và quan trọng nhất là thông điệp Rerum Novarum (1891), thông điệp nền tảng của ngài về quyền của người lao động và trách nhiệm của tư bản. Nhưng nếu dừng lại ở đó thí chỉ là thoáng nhìn một góc của di sản.
Vào đầu triều đại giáo hoàng của mình, ĐGH Lêô XIII đã báo hiệu các ưu tiên của mình bằng thông điệp Aeterni Patris (1879), một lời kêu gọi đầy nhiệt huyết nhằm khôi phục triết học Tôma như là xương sống trí tuệ của Giáo hội. Có thể nói, đây sẽ trở thành văn kiện thần học có ảnh hưởng nhất trong hai thế kỷ qua. Ngài thấy ở Thánh Tôma Aquinô không chỉ sự nghiêm ngặt về thần học mà còn là một khuôn khổ để đáp ứng những thách thức của chủ nghĩa duy lý hiện đại, chủ nghĩa hoài nghi khoa học và chủ nghĩa tương đối đạo đức. Điều này đã châm ngòi cho một cuộc phục hưng đầy tinh thần Tôma định hình lại nền giáo dục chủng viện trong nhiều thập kỷ và xác định Giáo hội không chống lại lý trí, mà là người quản lý trung thành nhất của lý trí.
Xã hội, Nhà nước và Giáo hội
Thế kỷ 19 là thời kỳ của sự biến động chính trị và lên men ý thức hệ, và Đức Giáo Hoàng Lêô XIII đã lội thẳng vào đó. Trong thông điệp Immortale Dei (1885), ngài đã phác họa mối tương quan đúng đắn giữa Giáo hội và nhà nước, nhấn mạnh rằng chính quyền dân sự chỉ hợp pháp khi dựa trên luật thiêng liêng. Thông điệp Libertas (1888) đã đưa ra một phản bác triết học đối với quan điểm không có căn cứ của chủ nghĩa tự do về tự do, thay vào đó bảo vệ ý tưởng về tự do hướng tới chân lý và đức hạnh.
Ngài đã đối đầu trực diện với chủ nghĩa thế tục và chủ nghĩa xã hội trong thông điệp Quod Apostolici Muneris (1878), và sau đó là thông điệp Graves de Communi Re (1901), trong đó ngài khám phá khái niệm dân chủ Kitô giáo - không phải là một đảng chính trị, mà là một tầm nhìn đạo đức về xã hội bắt nguồn từ sự đoàn kết và nguyên tắc bổ trợ.
Trong thông điệp In Plurimis (1888) và thông điệp Catholicae Ecclesiae (1890), ĐGH Lêô XIII đã lên án chế độ nô lệ, nhấn mạnh đến phẩm giá của mọi con người và thúc giục các nỗ lực truyền giáo để bảo vệ công lý và tự do. Đây không phải là những tuyên bố trừu tượng mà là những thông điệp có mục tiêu gửi đến các giám mục ở Brazil và Châu Phi, những nơi vẫn đang vật lộn với di sản của nạn buôn bán nô lệ.
Đức Giáo Hoàng Mân Côi
Có lẽ không có vị giáo hoàng nào làm nhiều hơn thế để nâng cao kinh mân côi lên vị trí trung tâm trong đời sống sùng kính Công giáo. Bắt đầu với thông điệp Supremi Apostolatus Officio (1883), ĐGH Lêô XIII đã ban hành mười một thông điệp về kinh mân côi, thường được ban hành hàng năm vào tháng Chín hoặc tháng Mười. Trong thông điệp Octobri Mense (1891), thông điệp Magnae Dei Matris (1892), thông điệp Laetitiae Sanctae (1893) và những thông điệp khác như thông điệp Adiutricem (1895) và thông điệp Diuturni Temporis (1898), ngài đã quảng bá kinh mân côi như một vũ khí tinh thần mạnh mẽ chống lại các thế lực của chủ nghĩa thế tục, chủ nghĩa duy vật và sự chia rẽ.
Đức Giáo Hoàng Lêô XIII tin rằng kinh mân côi không chỉ là sự sùng kính riêng tư; mà còn là sức mạnh đổi mới văn hóa, một cách để tập trung lại đời sống Kitô hữu xung quanh sự chiêm niệm, khiêm nhường và các mầu nhiệm cứu rỗi. Điều này có thể cộng hưởng sâu sắc với Đức Giáo Hoàng Lêô XIV, xuất thân từ Hoa Kỳ - một quốc gia mà căn tính Công giáo thường sống hoặc chết trong gia đình, giáo xứ hoặc đời sống sùng kính, hơn là trong chính sách quốc gia. Rốt cuộc, ngài đã kết thúc bài phát biểu đầu tiên của mình với tư cách là giáo hoàng bằng lời nhắc nhở rằng vào ngày ngài lên ngôi giáo hoàng, Giáo hội cử hành lễ Đức Mẹ Pompeii và ngài bắt kinh Kính Mừng cho mọi người cùng đọc.
Sự thống nhất Đông Tây
Lâu trước Công đồng Vatican II, Đức Giáo Hoàng Lêô XIII đã có những bước tiến đáng kể hướng tới sự tham gia đại kết, đặc biệt là với các Giáo hội Đông phương. Trong thông điệp Orientalium Dignitas (1894), ngài thừa nhận phẩm giá và sự đa dạng hợp pháp của các nghi lễ Đông phương, kêu gọi bảo vệ các truyền thống phụng vụ và quyền tự chủ của các truyền thống đó. Trong thông điệp Praeclara Gratulationis Publicae (1894), ngài đã đưa ra lời kêu gọi rộng rãi về sự hiệp nhất Kitô giáo - thừa nhận nỗi đau của sự chia rẽ trong khi thúc giục sự đoàn kết dựa trên sự thật và lòng bác ái.
Các thông điệp khác như Paterna Caritas (1888), nhắm vào những người theo Anh giáo, và thông điệp Satis Cognitum (1896), về sự hiệp nhất của Giáo hội, cho thấy một giáo hoàng sẵn sàng tham gia về mặt thần học và mục vụ với thế giới Kitô giáo đang chia rẽ. Thông điệp Satis Cognitum đã đặt nền tảng gần như mang tính tiên tri cho thế kỷ tới: “Các chi thể phân tán và tách biệt không thể nào hợp nhất với đầu để tạo nên một thân thể... Và do đó, các chi thể phân tán, tách biệt nhau, không thể hợp nhất với một đầu duy nhất... Tách khỏi đầu, chúng nhất thiết phải chết... Những gì bị cắt khỏi người mẹ không thể sống hoặc thở tách biệt... Chừng nào nó còn trong thân thể, nó vẫn sống; khi bị tách biệt, nó sẽ mất đi sự sống”. Trọng tâm của Đức Giáo Hoàng Lêô XIII sẽ không được tái hiện một cách toàn diện và ấn tượng như vậy cho đến khi Công đồng Vatican II ban hành thông điệp Unitatis Redintegratio và Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II ban hành thông điệp Ut Unim Sint. ĐGH Lêô XIII, một lần nữa, lại đi trước thời đại.
Đức tin và lý trí, Kinh thánh và khoa học
ĐGH Lêô XIII không phải là người chủ trương ngu dân chống hiện đại. Trong thông điệp Providentissimus Deus (1893), ngài đã ban hành một trong những văn kiện quan trọng nhất của Giáo hội về việc nghiên cứu Kinh thánh, khuyến khích các phương pháp học thuật nghiêm ngặt trong khi vẫn bảo vệ nguồn cảm hứng thiêng liêng của Kinh thánh. Trong thông điệp Divinum Illud Munus (1897), ngài đã đưa ra một sự suy ngẫm sâu sắc về Chúa Thánh Thần, nhấn mạnh đến sự thánh thiện cá nhân, các ân sủng của Chúa Thánh Thần và sự đổi mới Giáo hội từ bên trong.
Những năm cuối đời, ngài đưa ra thông điệp Mirae Caritatis (1902), về Bí tích Thánh Thể, nhắc nhở các tín hữu rằng trung tâm của đời sống Kitô hữu không phải là chính trị hay triết học, mà là sự hiện diện sống động của Chúa Kitô trong bí tích tình yêu.
Một tên gọi có trọng lượng
Vậy thì việc Đức Giáo Hoàng Lêô XIV chọn tên gọi này có ý nghĩa gì? Chúng ta không thể vẽ một đường thẳng từ triều đại giáo hoàng này sang triều đại giáo hoàng khác - và chúng ta cũng không nên làm vậy. Những thách thức của năm 1900 không phải là những thách thức của năm 2025. Nhưng những tên gọi được chọn có mục đích. Chọn tên gọi “Lêô” là gợi lên một di sản - một di sản kết hợp sự sáng suốt về thần học, sự tham gia triết học, mối quan tâm xã hội và lòng sùng kính.
ĐGH Lêô XIII đã chứng minh rằng một giáo hoàng có thể là một học giả và một mục tử, một triết gia và một người sùng kính Mẹ Maria, một nhà cải cách và một người theo chủ nghĩa truyền thống. Ở nhiều phương diện, ngài là một giáo hoàng hiện đại cho một thế giới hiện đại hóa. Di sản đó có thể đem tới một bản thiết kế hiệu quả - hoặc ít nhất là một mối tương quan tâm linh - cho một vị tân giáo hoàng đang chuyển tiếp trong sự phức tạp của Giáo hội toàn cầu.
Nhìn lại để nhìn về phía trước
Trong thời kỳ bất ổn, Giáo hội thường nhìn lại quá khứ của mình - không phải để rút lui vào quá khứ, mà là để khám phá lại nguồn gốc sứ mệnh của mình. Các tác phẩm của Đức Giáo Hoàng Lêô XIII cho thấy một Giáo hội không sợ nói với thế giới một cách sâu sắc, chính xác và táo bạo. Tầm nhìn của ngài là một đức tin bao gồm cả điều cũ và điều mới, điều huyền nhiệm và điều thuộc lý trí.
Bằng cách chọn tên gọi Lêô, Đức Giáo Hoàng Lêô XIV có thể đang kêu gọi chúng ta nhớ đến một vị giáo hoàng vốn tin rằng Giáo hội phải suy nghĩ sâu sắc, cầu nguyện liên tục, giảng dạy rõ ràng và yêu thương quảng đại. Đó không phải là một chương trình, mà là những nét chung cơ bản nhất - có lẽ là sự suy tư về kiểu mục tử nào mà ngài hy vọng ngài sẽ trở thành.
Shaun McAfee, 9 tháng 5 năm 2025
Chuyển ngữ: Phêrô Phạm Văn Trung
https://catholicexchange.com/leo-xiv-and-the-legacy-of-leo-xiii-a-name-that-bears-a-vision/