20. Những Bài Về Đức Mẹ

LỄ ĐỨC MẸ HỒN XÁC LÊN TRỜI: SỰ KHÁC BIỆT

Chủ đề của bài giảng hôm nay là sự khác biệt, sự khác nhau.

Bốn mươi ngày sau khi sống lại, Chúa Giêsu lên trời cả hồn lẫn xác. Hôm nay chúng ta mừng lễ Mẹ của Người, đức Maria lên trời cả xác lẫn hồn. Tuy cùng một động tác lên trời cả hồn lẫn xác, nhưng có cái khác rất lớn giữa Mẹ và Con. Khác cái gì ? Ta sẽ trả lời.

Rồi khi ta kính một vị thánh, ta hát mừng vị thánh đó về trời, chứ không phải xuống đất. Hôm nay ta mừng thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời, về trời. Cùng một động tác về trời, nhưng có cái khác biệt giữa các thánh kia với thánh Maria. Khác thế nào? Ta sẽ giải đáp.

  1. Khác biệt giữa thánh Maria lên trời

          và các thánh khác lên trời

Khác biệt nằm nơi chữ "xác". Đức Maria lên trời cả hồn lẫn xác. Các thánh khác chỉ về trời, nói nôm na dễ hiểu, phần "hồn" thôi. Còn xác thịt hư nát này phải chờ đợi đến ngày quang lâm vinh hiển mới được nhập lại với hồn mà cùng hưởng vinh quang Thiên quốc. Cho dẫu xác vị đó là xác của một vị đại thánh nào đi chăng nữa, cho dẫu xác vị thánh đó vẫn còn nguyên vẹn trải qua hơn 750 năm như xác thánh Clara, thì xác đó đều phải chờ. Xác thánh Maria không chờ. Mà lên ngay. Về ngay trên thiên quốc cả xác lẫn hồn.

Niềm tin này đã có từ xa xưa, chứ không cần đợi đến ngày lễ các thánh 1-11-1950, khi ĐGH Piô 12  tuyên bố tín điều ĐM Hồn xác về trời, người ta mới tin. Dân chúng đã tin từ lâu, nên đã dệt nên một giai thoại mà chúng ta chắc đã nghe đến mòn tai. Giai thoại về ông Toma tông đồ cứng tin :

Lúc Đức Mẹ lên 64 tuổi, Đức Mẹ được Chúa cho biết ngày hội ngộ với Con trên Thiên đàng đã gần đến. Giáo dân bao quanh Mẹ vì sợ mất Mẹ, vì sợ giây phút chia ly. Các Tông đồ hay tin đã vội vã trở về, để được chiêm ngắm Mẹ lần cuối cùng.

Nhưng trong các Tông đồ có một vị chuyên môn lỡ hẹn là ông thánh Tôma. Lần này không phải lỗi ông, mà vì ông đi giảng xa quá về không kịp. Nghe nói xa nhất trong các tông đồ, tận miền Ấn Độ xa xôi. Khi về tới Ephêsô, nơi Đức Mẹ ở cùng Gioan trong những năm cuối đời, thì Đức Mẹ đã nằm xuống và được an táng trong một phần mộ khoét trong đá. Toma khóc lóc mong được thấy mặt Mẹ của Thầy mình lần cuối, nên để làm vừa lòng Tôma, các Tông đồ và giáo dân đã đi ra phần mộ. Đến nơi, chỉ ngửi thấy phảng phất mùi hoa huệ thơm tho. Và khi mở hòn đá che huyệt ra thì không thấy xác Đức Mẹ Maria đâu cả.

Giai thoại thì thường không có thật, nhưng nó được xây dựng trên một niềm tin, trên một xác tín nào đó. Như giai thoại Âu Cơ lấy Lạc Long Quân đẻ ra bọc trứng 100 quả, nở thành 100 người con, nói lên niềm tin mọi người là "đồng bào", 'cùng một bọc' mà ra. Trong trường hợp giai thoại Toma này, xác tín đó là thánh Maria đã về trời cả hồn lẫn xác, khác với các vị thánh khác, chỉ mới về trời phần hồn, còn xác vẫn còn lưu lạc dưới đất. Mặc dầu thần học mới bây giờ không xem hồn xác tách biệt hoàn toàn sau khi chết, mà vẫn một cách nào đó liên kết với nhau, thì vẫn khác với xác thánh Maria, kết hợp hoàn toàn trọn vẹn với hồn và đang ở nơi Thiên Quốc. Đó là cái khác thứ nhất: thánh Maria khác với các thánh khác khi về trời. Khác nơi chứ "xác".

  1. Khác biệt giữa Mẹ về trời cả hồn lẫn xác

          với Con của Mẹ về trời cả xác lẫn hồn.

Điểm khác biệt ở đây, nằm nơi động tác. Mẹ được đưa về trời. Con của Mẹ tự mình lên trời. Nếu chúng ta gọi đơn giản cho nhanh, lễ Chúa lên trời, lễ Mẹ lên trời, thì ta chưa nói được cái khác. Ngôn ngữ chính thức bằng tiếng Latinh dùng hai chữ khác nhau cho Mẹ và Con. Cho Con, phụng vụ dùng chữ Ascentio, Ascension à (Assenseur thang máy). Cho Mẹ, phụng vụ dùng chữ khác hẳn: Assumptio(n) : sự đảm nhận, sự bảo lãnh. Ai bảo lãnh ai. Chúa bảo lãnh Mẹ. Dễ hiểu hơn : Con bảo lãnh Mẹ. Không có người con ở bên Mỹ bảo lãnh, làm sao mẹ qua được nước Hoa Kỳ. Có lẽ từ ngữ xưa, lễ Mông Triệu, nói được ý này hơn. Mẹ được triệu về nơi cao xa. Mông là cao xa: mông lung, mênh mông. Triệu là gọi về, gọi đến. Triệu tập.

Trong một vài thành phố nhỏ quanh thủ đô Roma, nước Ý, vào ngày lễ Đức Mẹ Hồn Xác lên trời, người ta có một tục lệ rất quyến rũ. Tục lệ đó được gọi là Incinata, nghĩa là cuộc rước đón chào. Dân làng kiệu tượng Đức Mẹ theo đường phố chính – Đức Mẹ đang trên đường về trời. Từ  hướng đối diện, đoàn rước khác kiệu tượng Chúa Giêsu – Ngài đang tiến gần đến tượng Đức Mẹ. Hai đoàn rước gặp nhau dưới một khung vòm đầy cành phủ lá và hoa rực rỡ. Hai tượng sắp đặt để cúi chào nhau ba lần. Rồi người ta kiệu hai tượng đi song song vào nhà thờ giáo xứ – Chúa chúng ta dẫn Mẹ Ngài lên ngai trên trời.

Nghi thức đơn giản, ngây thơ này là một phương cách gây ấn tượng sâu sắc để diễn tả chân lý cao cả và vinh quang mà chúng ta cử hành hôm nay, tức là sự kiện Đức Maria, sau khi qua đời được bảo lãnh về trời cả hồn lẫn xác.

Lễ Các Thánh ngày mồng 1 tháng 11 năm 1950, tại quảng trường Thánh Phêrô, Rôma, trước 40 Hồng y, 500 Tổng Giám mục và Giám mục, hàng trăm đại diện chính quyền quốc gia, hàng ngàn linh mục tu sĩ nam nữ và hơn 700.000 dân chúng dưới bầu trời tươi sáng, Đức Piô XII sốt sắng cất tiếng trong máy vi âm ngân vang khắp quảng trường Thánh Phêrô, vọng vang vào đền thờ chật ních hơn 80.000 dân chúng, vang xa khắp hoàn cầu, vang lên tới cung trời cao thẳm những lời trịnh trọng tuyên tín: "Do uy quyền của Chúa Giêsu Kitô, Chúa chúng ta, của hai Thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô, và với thẩm quyền của Ta, Ta phán quyết, tuyên ngôn, và định tín là tín điều đã được mạc khải rằng: Đức Maria, Mẹ Vô nhiễm của Thiên Chúa trọn đời đồng trinh, sau khi hoàn tất cuộc sống trần gian này, đã được bảo lãnh hưởng phúc vinh quang Thiên đàng cả hồn và xác. Nếu ai cả dám tự ý chối bỏ hay nghi ngờ điều Ta đã định tín, thì họ phải biết rằng họ phản bội đức tin Công giáo của Thiên Chúa."

Chúa Giêsu không muốn Mẹ Ngài chịu một giây phút nào dưới quyền lực satan, nên Ngài đã ban cho Mẹ đặc ân vô nhiễm nguyên tội, ngay từ phút giây vào đời. Và đến giây phút lìa đời, Người Con này đã không muốn thân xác tinh tuyền của Mẹ phải chịu mục nát, nên Ngài bảo lãnh cho Mẹ được vào hưởng vinh quang thiên quốc cả xác lẫn hồn.

Chúa Giêsu Kitô cũng sẽ bảo lãnh cho chúng ta, những Kitô hữu đây được vào hưởng vinh quang cả xác lẫn hồn như Mẹ Maria, chỉ khác với Mẹ, một chút thôi, tức là Chúa sẽ nói với ta “xác hãy chờ một chút.” just a moment. Một chút của Chúa có thể là giây lát, có thể là mười năm, mà cũng có thể là thế hệ này đến thế hệ khác. Nhưng khi ta đã lìa đời này rồi, thì ta đã sống ngoài thời gian, nên khái niệm ngày giờ năm tháng không còn nữa, nên 'một chú't so với 'ngàn năm' cũng chỉ là một. Chờ một chút.

Con đường đưa lên trời cả hồn cả xác của Mẹ Maria được mở ra cho mọi người như Tin Mừng đã ghi lại. Tất cả mọi tín hữu đều được mời gọi đi con đường Mẹ Maria đã đi, để đến nơi Mẹ đã đến, là được bảo lãnh về Trời cả hồn lẫn xác, riêng xác, 'hãy đợi đấy, chờ một chút'.

Lm Anphong Nguyễn Công Minh, ofm

TẠI SAO VIỆC ĐỨC MẸ LÊN TRỜI LẠI QUAN TRỌNG ĐẾN VẬY

Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời, mà chúng ta cử hành vào ngày 15 tháng 8, không chỉ là một phần bổ sung hay thêm vào của Công giáo đối với các nguyên tắc cơ bản của đức tin. Đó là một giáo huấn cực kỳ quan trọng có nguồn gốc sâu xa trong Kinh thánh và liên quan trực tiếp đến cuộc sống hàng ngày của chúng ta.

Ý nghĩa của Lễ Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời dựa vào 8 lý do sau:

  1. Chúng ta sẽ dự phần vào sự phục sinh của Chúa Kitô

Cốt lõi đức tin của chúng ta là niềm tin, dựa trên các lời tường thuật trong Kinh thánh, rằng Chúa Kitô đã phục sinh từ cõi chết về thể xác và lên trời, trong hình hài thể lý. Sự kiện Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời xác nhận rằng sự đảo ngược phi thường của cái chết này không chỉ giới hạn ở Chúa Kitô. Nếu Mẹ Maria kết thúc cuộc sống trên Thiên Đàng, cả hồn lẫn xác, thì chúng ta, những người chia sẻ nhân tính của Mẹ, cũng vậy.

  1. Hy vọng của chúng ta là sự sống lại của thân xác

Toàn bộ luận điểm của tín điều nhấn mạnh vào việc thân xác của Đức Maria lên trời. Nếu không thì sẽ không cần đến tín điều đó. Nói rằng linh hồn của Đức Maria đã lên thiên đàng vào cuối cuộc đời trần gian của Mẹ là xác nhận rằng không có gì khác so với những gì xảy ra với mọi người khác đã chết trong tình trạng ân sủng. Tất nhiên, những người không phải là thánh sẽ phải dừng lại trong luyện ngục trước khi bước vào sự viên mãn của thiên đàng, nhưng tổng thể vẫn là đúng.

Việc lên trời của Mẹ Maria nhắc nhở chúng ta rằng sự cứu rỗi là toàn diện. Thiên Chúa không chỉ cứu một nửa chúng ta. Thiên Chúa không chỉ kéo linh hồn ra khỏi vỏ của một cơ thể tội lỗi. Chúng ta được cứu độ với toàn thể nhân tính, thể xác và linh hồn. Đức Giáo Hoàng Piô XII đưa ra lập luận này trong định tín của Ngài: “Chúng tôi công bố, tuyên xưng và định tín giáo lý đã được Thiên Chúa mạc khải này: Đức Maria trọn đời đồng trinh, Mẹ Vô nhiễm của Thiên Chúa, sau khi hoàn tất cuộc đời dương thế, đã được đưa lên trời hiển vinh cả xác cả hồn”. [1] 

  1. Thiên đàng dành cho những vị thánh

Một trong những điểm đặc biệt của Cựu Ước - ít nhất là theo quan điểm của chúng ta - là không có một khái niệm rõ ràng về thiên đàng. Khi con người chết, kể cả những người công chính, họ kết thúc ở Sheol, là từ ngữ Do thái nhằm chỉ thế giới ngầm tăm tối, tương đương với Hades trong tiếng Hy Lạp. Dân Israel xưa đã hiểu rằng có một đền thờ trên trời mà Thiên Chúa trị vì. Điều này được miêu tả rất đẹp trong thị kiến của Isaia. Nhưng họ không nhất thiết coi thiên đàng là điểm đến của các thánh nhân. Hênóc, Êlia và Môsê là những trường hợp ngoại lệ.

Sự kiện Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời làm sáng tỏ và xác nhận rằng thiên đàng của Tân Ước là nơi các thánh cảm nghiệm được sự hiện diện của Thiên Chúa. Đức Mẹ là người đầu tiên bước vào quyền năng của Giao ước mới. (Chúng ta không thể chắc chắn rằng Người Trộm Lành đã bay thẳng lên thiên đàng hay không). Bằng một cách nào đó, Đức Maria đã mở rộng thiên đàng cho các thánh còn lại, giống như Mẹ đã mở rộng trái đất cho sự hiện diện trọn vẹn của Thiên Chúa Nhập Thể. 

  1. Sự đảo ngược cuối cùng của sự sa ngã

Giáo hội dạy rằng Mẹ Maria chia sẻ vận mạng của Chúa Kitô. Điều này dựa trên vai trò của Mẹ là Eva đối với Adam mới, điều này có thể thấy rõ trong lời tiên tri của Simeon và sự hiện diện của Mẹ khi Chúa Kitô bị đóng đinh. Việc Mẹ Maria lên thiên đàng là sự đảo ngược chung cuộc của sự dữ phát sinh từ tội lỗi và cái chết do Sự sa ngã gây ra. 

  1. Con người không được dự liệu ở một mình

Làm người là sống trong mối tương quan với người khác. Đây là một trong những điều đầu tiên Kinh thánh dạy về con người. Trong Vườn Địa Đàng, Adam ở trong thiên đàng, có lẽ không thiếu thứ gì, kể cả sự bầu bạn với các thụ tạo khác, nhưng việc ở “một mình” là “không tốt” cho Adam. Vì vậy, Thiên Chúa đã tạo ra Eva. Chúa Kitô, hoàn toàn là con người, “cần” sự đồng hành hoàn hảo của một con người khác, đặc biệt là trên thiên đàng, như nhà thần học Matthew Levering đã chỉ ra trong cuốn sách của ông về việc Đức Mẹ Hồn Xác Lên Trời. Chúa Kitô không phải là một vị cứu tinh đơn độc. Trong thần tính của Ngài, Ngài vui hưởng sự hiệp thông của Ba Ngôi. Trong nhân tính của mình, từ trên thiên đàng Ngài ngự trị cùng với Mẹ của Ngài.

  1. Việc tôn kính Mẹ Maria lấy Chúa Kitô làm trung tâm

Mẹ Maria Hồn Xác Lên Trời có nghĩa là không có xương hoặc mộ của Đức Mẹ để người ta tôn kính. Không như những lời buộc tội của Tin lành, điều này có nghĩa là việc tôn kính Đức Mẹ đặc biệt tập trung vào Chúa Kitô. Nhờ sự lên trời, người ta không thể nghĩ đến Mẹ mà không nghĩ đến việc Mẹ ở trong sự hiện diện trọn vẹn của Chúa Kitô trên Thiên Đàng.

  1. Mẹ Maria có vị trí đặc biệt để giúp đỡ chúng ta

Theo Thánh Tôma Aquinô, mặc dù các linh hồn trên thiên đàng không bị lấy mất đi sự chiêm ngắm Thiên Chúa nhưng họ bị hạn chế phần nào do không có thể xác. Thánh nhân giải thích rằng những linh hồn không có thể xác ở trong một trạng thái không tự nhiên, thiếu sự hoàn hảo và không có hạnh phúc viên mãn. Ngay cả thị kiến hạnh phúc cũng bị ảnh hưởng một cách nào đó. Theo thánh Tôma Aquinô, mặc dù Thiên Chúa nhìn qua con mắt của trí tuệ, nhưng các linh hồn cần có thể xác để nhìn thấy vinh quang của Ngài được phản chiếu trong các thụ tạo vật. Việc Mẹ Maria Hồn Xác Lên Trời đảm bảo rằng Mẹ không có những hạn chế này.

Việc Mẹ có được thân xác của mình thì đặc biệt quan trọng đối với Mẹ vì đó là nguồn gốc của rất nhiều quyền năng của Mẹ: khi Nhập Thể, Thiên Chúa đã lấy xác thịt từ Mẹ và chính qua thân xác Mẹ mà Ngài đã được sinh ra. Kết quả của điều này là Mẹ Maria có mọi thứ mà Mẹ cần để nhìn thấy những vấn đề của chúng ta - cũng như tiềm năng nên thánh của chúng ta - và để giúp chúng ta lớn lên thành những Chúa Kitô bé nhỏ. 

  1. Vẻ đẹp của Mẹ Maria là hoàn hảo

Một hàm ý nữa của điều vừa được trình bày ở trên là vẻ đẹp của Mẹ Maria trên thiên đàng là hoàn hảo. Mẹ không phải là một thứ hồn lìa khỏi xác. Mẹ không phải là một thứ hồn bay lượn trên thiên đàng. Vẻ đẹp vốn đã được kết hôn với Chúa Thánh Thần nay sống trong sự viên mãn của Mẹ trên thiên đàng, như thị kiến trong Khải huyền cho chúng ta thấy rất rõ: “Một người Phụ Nữ, mình khoác mặt trời, chân đạp mặt trăng, và đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao” (Kh 12: 1). Đây là một lý do mà Giáo hội tôn kính Mẹ Maria hơn tất cả các thánh khác.

Tác giả: Stephen Beale, catholicexchange.com.

Chuyển ngữ: Phêrô Phạm Văn Trung.

 

 

[1] Chú thích của người dịch: Đức Giáo hoàng Piô XII đã công bố trong Tông hiến Munificentissimus Deus - Thiên Chúa vô cùng đại lượng - ngày 1.11.1950: “pronuntiamus, declaramus et definimus divinitus revelatum dogma esse: Immaculatam Deiparam semper Virginem Mariam, expleto terrestris vitae cursu, fuisse corpore et anima ad caelestem gloriam assumptam.”

 

 

TRÁI TIM VÔ NHIỄM MẸ MARIA

Trái Tim Vô Nhiễm của Mẹ Maria có ý nghĩa gì?

Trái Tim Vô Nhiễm của Đức Mẹ trước hết biểu thị sự trong sạch và tình yêu thương vô bờ bến của Đức Trinh Nữ Maria dành cho Thiên Chúa. Sự trong sạch này được thể hiện qua lời “Xin Vâng” của Mẹ đối với Chúa Cha trong biến cố Nhập Thể, tình yêu thương và sự cộng tác của Mẹ với Con Thiên Chúa trong sứ mệnh cứu chuộc của Ngài, và sự vâng phục của Mẹ đối với Chúa Thánh Thần, giúp Mẹ luôn được thanh sạch không vướng mắc tội lỗi cá nhân suốt cuộc đời. Do đó, Trái Tim Vô Nhiễm của Mẹ Maria hướng chúng ta đến đời sống nội tâm sâu sắc của Mẹ, nơi Mẹ đã trải qua cả niềm vui và nỗi buồn, nhưng vẫn giữ vững lòng trung thành, như chúng ta cũng được mời gọi.

Tại sao chúng ta tôn kính Trái Tim Vô Nhiễm của Mẹ Maria?

Thánh Gioan Phaolô II nói: “Từ Đức Mẹ, chúng ta học được cách yêu mến Chúa Kitô, Con của Mẹ và Con Thiên Chúa… Hãy học từ Mẹ lòng trung thành, tin tưởng rằng Lời Chúa dành cho chúng ta sẽ được ứng nghiệm và không có gì là không thể đối với Thiên Chúa.”

Khi chúng ta tôn kính Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội, chúng ta dâng lên Chúa Giêsu vinh quang tối cao. Khi chúng ta tôn kính Mẹ, chúng ta cũng tôn kính Con. Thêm vào đó, Đức Trinh Nữ Maria cũng là Mẹ của chúng ta (Khải Huyền 12:17), và tình mẫu tử của Mẹ là vô song. Thánh Louis de Montfort đã nói: “Nếu bạn gom tất cả tình yêu của tất cả các bà mẹ vào một trái tim, thì vẫn không bằng tình yêu của trái tim Đức Mẹ dành cho con cái mình.”

Lịch sử lòng sùng kính Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ Maria

Lòng sùng kính Trái Tim Vô Nhiễm của Đức Mẹ Maria đã được tôn kính ở một mức độ nào đó trước thế kỷ 17, nhưng Thánh Gioan Eudes, một linh mục người Pháp thế kỷ 17, đã phổ biến lòng sùng kính này bằng tình yêu sâu sắc của ngài dành cho Đức Mẹ Maria.

Cầu nguyện đặc biệt trong những ngày Thứ Bảy đầu tháng là gì?

Một phần sứ điệp Fatima là Thiên Chúa đang yêu cầu chúng ta đền bù cho tội lỗi của thế giới. Năm 1916, Thiên thần đã dạy các em nhỏ những lời cầu nguyện đền bù tội  lỗi và yêu cầu các em làm việc đền tội. Đức Trinh Nữ Maria cũng kêu gọi cầu nguyện và thực hiện các hành động đền bù tội lỗi, và vào ngày 13 tháng 7 năm 1917, Mẹ hứa sẽ trở lại để yêu cầu một hình thức đền bù đặc biệt. Mẹ đã thực hiện điều này vào năm 1929, khi hiện ra với Lucia, lúc đó là một nữ tu tập sự trong một cộng đoàn ở Tây Ban Nha.

“Này con gái ta, hãy nhìn vào Trái Tim Ta, bị bao quanh bởi những gai nhọn mà những kẻ vô ơn đâm vào Ta từng giây phút bằng những lời phỉ báng và sự vô ơn của chúng. Ít nhất chúng con hãy cố gắng an ủi Ta và Ta hứa sẽ giúp đỡ chúng con vào giờ chết, với những ơn cần thiết cho sự cứu rỗi, tất cả những ai xưng tội, rước Thánh Thể, đọc năm chục kinh Mân Côi, và ở bên Ta mười lăm phút để suy niệm mười lăm mầu nhiệm của kinh Mân Côi, với ý định đền bù cho Ta, vào năm ngày thứ Bảy đầu tháng liên tiếp.”

Đây là một lời thỉnh cầu vẫn đang tiếp diễn, và cần thiết hơn bao giờ hết, nếu không muốn nói là hơn cả năm 1929. Đó cũng là điều mà mỗi người Công giáo đều có thể thực hiện được. Và khi thực hiện điều đó, chúng ta làm hài lòng Chúa, Đấng cũng như bất cứ người con nào, đều vui mừng khi người khác đứng lên bảo vệ danh dự của Mẹ Ngài.

Thánh Tâm Chúa Giêsu và Trái Tim Vô Nhiễm của Mẹ Maria có mối liên hệ như thế nào?

Tôi tớ Chúa Lúcia de Jesus Rosa dos Santos, một trong những người được thị kiến ​​ở Fatima, đã nói: “Công cuộc cứu chuộc chúng ta bắt đầu từ thời điểm Ngôi Lời từ trời giáng xuống để mang lấy thân xác con người trong lòng Mẹ Maria. Từ thời điểm đó, và trong chín tháng tiếp theo, Máu Chúa Kitô là Máu Mẹ Maria, được lấy từ Trái Tim Vô Nhiễm của Mẹ; Trái Tim Chúa Kitô đập cùng nhịp với Trái Tim Mẹ Maria.”

Ngoài ra, chính Chúa Giêsu đã hiện ra với Sơ Lucia và phán rằng: “Ta muốn Giáo Hội của Ta… đặt lòng sùng kính Trái Tim Vô Nhiễm này bên cạnh lòng sùng kính Trái Tim Thánh của Ta.”

Tại sao Trái Tim Mẹ Maria lại có một thanh kiếm?

Hầu hết các hình ảnh về Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội đều cho thấy một hoặc nhiều thanh gươm đâm xuyên trái tim Đức Mẹ. Cụ già Simêon đã nói với Đức Mẹ rằng “một thanh gươm sẽ đâm thấu tâm hồn Mẹ” (Luca 2:35). Điều này cho thấy những nỗi đau mà Đức Mẹ sẽ trải qua, đặc biệt là trong cuộc Khổ nạn của Chúa Giêsu.

Bảy sự thương khó của Đức Mẹ là gì?

  • Lời tiên tri của Simêon (Luca 2:25-35)
  • Cuộc chạy trốn sang Ai Cập (Mátthêu 2:13-15)
  • Chúa Giêsu Hài Đồng lạc mất trong ba ngày (Luca 2:41-50)
  • Mẹ Maria gặp Chúa Giêsu trên đường đến đồi Canvê (Luca 23:27-31; Gioan 19:17)
  • Việc đóng đinh và cái chết của Chúa Giêsu (Gioan 19:25-30)
  • Thi thể Chúa Giêsu được hạ xuống từ thập tự giá (Thánh vịnh 130; Luca 23:50-54; Gioan 19:31-37)
  • Việc chôn cất Chúa Giêsu (Isaia 53:8; Luca 23:50-56; Gioan 19:38-42; Máccô 15:40-47)

Trái tim của Mẹ Maria có được nhắc đến trong Kinh Thánh không?

Hai lần trong sách Tin Mừng của Thánh Luca, chúng ta được nghe nói về tấm lòng của Mẹ Maria. Sau khi Chúa Giêsu giáng sinh, thánh Luca 2:19 viết: “Nhưng Mẹ Maria giữ tất cả những điều ấy, suy ngẫm trong lòng.” Và sau khi Mẹ Maria và Thánh Giuse tìm thấy Chúa Giêsu trong Đền Thờ sau khi Người mất tích ba ngày, thánh Luca 2:51 viết: “Riêng mẹ Người thì hằng ghi nhớ tất cả những điều ấy trong lòng.” Cả hai đoạn này đều chỉ về đời sống nội tâm của Mẹ Maria, trong đó Mẹ suy niệm về các Mầu nhiệm chung quanh Con mình.

Việc hiến dâng bản thân cho Trái Tim Vô Nhiễm của Mẹ Maria có nghĩa gì?

Việc thánh hiến một điều gì đó cho Thiên Chúa có nghĩa là dành riêng điều đó cho Thiên Chúa. Việc “làm thiêng liêng” này xác định một người hoặc một vật được hiến dâng để phục vụ Thiên Chúa. Điều này được thể hiện trong Cựu Ước, nơi các cá nhân và vật thể, như con đầu lòng, các tư tế, các lễ vật, v.v…được dâng hiến cho Thiên Chúa, và trong Tân Ước, nơi Chúa Kitô là Đấng được thánh hiến, được Cha sai đến (Gioan 10:36), Đấng tự thánh hiến mình cho Cha thay mặt chúng ta (Gioan 17:19) và nhờ Ngài mà chính chúng ta cũng được thánh hiến (1 Phêrô 2:9).

Khi chúng ta hiến dâng bản thân cho Trái Tim Vô Nhiễm Mẹ Maria, chúng ta tận hiến chính mình cho Thiên Chúa, noi theo sự hiến dâng trọn vẹn của Đức Mẹ cho Thiên Chúa trong thời khắc Nhập Thể (Luca 1:38) và dưới chân Thánh Giá (Luca 2:35; Gioan 19:25-27), và phó thác chính mình cho Mẹ để hoàn thành lời đoan hứa khi chịu phép rửa tội. Như Đức Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã nói trong lời cầu nguyện hiến dâng thế giới cho Trái Tim Vô Nhiễm vào ngày 25 tháng 3 năm 1984,

“…Trước Mẹ, Mẹ Thiên Chúa, trước Trái Tim Vô Nhiễm của Mẹ, hôm nay, cùng với toàn thể Giáo Hội, con hiệp nhất với Đấng Cứu Chuộc trong sự thánh hiến của Ngài cho thế giới và cho con người, điều mà chỉ trong Trái Tim Thần Linh của Ngài mới có quyền năng ban ơn tha thứ và đền bù tội lỗi.”

Lời kinh tận hiến cho Mẹ Maria

Lạy Mẹ Maria, Trinh Nữ quyền năng nhất và Mẹ của lòng thương xót, Nữ Vương Thiên Đàng và Nơi nương náu của tội nhân, chúng con tận hiến bản thân mình cho Trái Tim Vô Nhiễm của Mẹ.

Chúng con tận hiến cho Mẹ toàn bộ con người và cuộc sống của chúng con; tất cả những gì chúng con có, tất cả những gì chúng con yêu thương, tất cả những gì chúng con là. Chúng con dâng cho Mẹ thân xác, trái tim và linh hồn; chúng con dâng cho Mẹ nhà cửa, gia đình và đất nước của chúng con.

Chúng con ước ao tất cả những gì trong chúng con và chung quanh chúng con đều thuộc về Mẹ, và được chia sẻ những ơn lành từ tình mẫu tử của Mẹ. Và để hành động thánh hiến này thực sự hữu hiệu và bền lâu, hôm nay chúng con tái lập dưới chân Mẹ những lời hứa trong Bí tích Thánh tẩy và trong lần đầu chúng con lãnh nhận Bí tích Thánh Thể.

Chúng con đoan hứa can đảm và luôn luôn tuyên xưng những chân lý của đức tin thánh thiện của chúng con, và sống xứng đáng với tư cách là những người Công giáo biết vâng phục mọi chỉ dẫn của Đức Giáo Hoàng và các Giám mục trong sự hiệp thông với Đức Giáo Hoàng.

Chúng con nguyện tuân giữ các điều răn của Thiên Chúa và Giáo Hội, đặc biệt là giữ ngày Chúa Nhật thánh. Chúng con cũng đoan hứa sẽ biến những thực hành đầy an ủi của Kitô giáo, và trên hết là Thánh Thể, trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của mình, trong sức lực chúng con có thể làm được.

Cuối cùng, lạy Mẹ Thiên Chúa vinh hiển và Mẹ yêu thương của nhân loại, chúng con hứa với Mẹ sẽ hết lòng tôn kính Mẹ, để nhờ quyền năng tối cao của Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội của Mẹ, mà thúc đẩy và bảo đảm Vương quốc Thánh Tâm của Con yêu dấu của Mẹ trị đến, trong tâm hồn chúng con và trong tâm hồn tất cả mọi người, trong đất nước chúng con và trên toàn thế giới. Amen.

Phêrô Phạm Văn Trung

Từ: https://ewtnmission.com/seasonsandfeastdays/immaculateheart

 

THỰC HÀNH KINH MÂN CÔI NHƯ MỘT…PHÉP NGHE

Ngoài tên Kinh Mân Côi thông dụng ra, còn một tên khác có từ lâu đời là Kinh Văn Côi. Văn theo Hán tự nghĩa  là Nghe và việc Nghe ấy chính là mục đích cốt lõi của Đạo Chúa được phô diễn cả trong Cựu Ước lẫn Tân Ước: “ Hỡi những kẻ nào khát, hãy đến suối nước. Vả, người nào không có tiền bạc, hãy đến mua mà ăn. Hãy đến mua  rượu và sữa mà không phải trả tiền, không đòi giá. Sao các ngươi lại trả tiền  để mua đồ không phải là bánh ? Sao các ngươi đem công lao mình đổi lấy vật chẳng làm cho no ? Hãy chăm chỉ nghe Ta, hãy ăn của ngon và cho linh hồn các ngươi vui thỏa trong của béo. Hãy nghiêng tai và đến cùng Ta. Hãy nghe Ta thì linh hồn các ngươi được sống. Ta sẽ lập với các ngươi một Giao Ước đời đời tức là sự nhân từ  chắc thật đã hứa cùng Davit” ( Is 55, 1 -3 ).

Con người ta sống trên cõi dương gian này phải vất vả, lao tâm khổ trí  để có được cơm ăn, áo mặc nhà cửa…nhưng tất cả những thứ đó trong giờ phút cuối  cùng của cuộc đời, gẫm lại tất cả chỉ là phù du, ảo mộng. Bởi đó tiên tri Isaia  nói “ Các ngươi đã trả tiền để mua đồ không phải là bánh”

“ Bánh” mà tiên tri vĩ đại trong Thời Cựu ấy nói để ám chỉ cho Hạnh Phúc Viên Mãn đời sau khi con người biết nghe và sống Lời Chúa:“ Mẹ và anh em Chúa Giê Su đến gặp Người mà không làm sao lại gần được vì dân chúng quá đông. Người ta báo cho Người biết: Thưa Thầy có mẹ và anh em Thầy  đang đứng ngoài kia muốn gặp. Người đáp lại: Mẹ Ta và anh em Ta chính là những ai nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành” ( Lc 8, 19 -21 ).

Ở đây, Chúa Giê Su tôn vinh  người biết nghe và thực hành Lời Chúa trở nên Mẹ và anh em của Ngài. Điều ấy cho thấy việc biết lắng nghe Lời Chúa là điều hết sức quan trọng bởi vì nó quyết định cho hạnh phúc đời đời của mỗi người. Có…nghe được Lời Chúa, mới có thể đem ra thực hành, trái lại thì không.

Đối với tuyệt đại đa số người đời cho thấy có hai trường hợp, không nghe và nghe. Không nghe là khi bị điếc, lãng tai hoặc  ngăn cách tường vách. Nhưng dù có nghe hay không nghe thì người ta cũng đều phát khởi ý niệm phân biệt, yêu, ghét, lấy, bỏ. Chính cái Tâm Phân Biệt ấy khiến cho con người bị trói buộc trong vòng vô minh, điên đảo để rồi phải lãnh chịu khổ đau mà không hề hay biết !

Lại nữa, Tâm Phân Biệt cũng  là cái tâm chấp chước, mang thành kiến này nọ và chính cái Tâm ấy khiến cho  không thể tiếp nhận được Tin Mừng của Đức Ki Tô. Bởi vậy, sau mỗi bài giảng về mầu nhiệm Nước Trời, Ngài  đều kết luận bằng câu:“Ai có tai để nghe, hãy nghe”.Thật ra, ai mà chẳng…có tai nhưng nghe bằng cái tai nào đó mới là điều quan trọng.

Để có thể nghe và tiếp nhận Lời Chúa thì phải Nghe với Tâm Vô Phân Biệt và đây chính là mục đích của Kinh Mân Côi truyền thống Đức Mẹ đã truyền đạt cho thánh Đa Minh và còn phổ biến  trong Giáo Hội Công Giáo  tới tận ngày nay. Dẫu vậy, kinh nguyện  này nói riêng và việc cầu nguyện nói chung trong thời Tục Hóa hiện nay hầu như đã không còn còn được hâm mộ, thực hành  ?

Sự sa sút hay nói đúng hơn phải nói là cuộc khủng hoảng  về cầu nguyện, tất nhiên cũng  có lý do sâu xa của nó. Đức cố hồng y F.X Nguyễn Văn Thuận  đặt câu hỏi và tự trả lời thế này:“ Tại sao Hội Thánh khủng hoảng ? Vì đã hạ giá việc cầu nguyện ? (ĐHV 134). Hạ giá không có nghĩa là bỏ nhưng đã biến việc cầu nguyện thành  một thứ Suy Niệm Thần Học. Sở dĩ có việc Suy Niệm ấy là bởi người ta viện  dẫn Lời Chúa“ Khi các ngươi cầu nguyện, đừng lập đi lập lại  vô ích như dân ngoại vì họ tưởng rằng  cứ nói nhiều thì được dủ nghe” ( Mt 6, 7 ) để phê phán, chê trách Kinh Mân Côi vì cứ lặp đi lặp lại Kinh Kính Mừng ?

Dân ngoại, khi cầu nguyện  cứ nhiều lời vô ích bởi vì Thần của họ chỉ là gỗ, đá vô tri, vô giác. Đang khi đó việc cầu nguyện trong Đạo Chúa là để trở về với Đấng Cha nhân hậu, từ bi, nhẫn nại giàu lòng thương xót…( Ge 2, 13 ). Như vậy, việc cầu nguyện mục đích là để trở về với Đấng Cha và Đấng ấy lại chẳng ở đâu xa mỗi người: “Còn ngươi khi cầu nguyện, hãy vào phòng kín, đóng cửa lại rồi cầu nguyện Cha ngươi là Đấng ở trong chỗ ẩn mật và Cha ngươi là Đấng thấy trong chỗ ẩn mật sẽ báo đáp cho ngươi” ( Mt 6, 6 ).

Phòng kín là Bản Tâm mỗi người, còn đóng cửa lại tức thu thúc lục căn gồm  Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân và Ý. Theo Duy Thức thì Ý thuộc Thức thứ sáu, chủ về phân biệt.Thức này được ví như loài khỉ,vượn, ngựa hoang (Tâm Viên Ý Mã) luôn chao động, chuyền níu không giây phút nào ngừng. Kinh Mân Côi truyền thống với cấu trúc đặc biệt của nó chia ra 03 Mùa: Vui -Thương - Mừng. Mỗi Mùa có 05 Thứ - Mỗi Thứ có 10 Hạt là 10 Kinh Kính Mừng. Chính cái việc chia ra các Mùa,Thứ và Hạt như thế cốt ý  để  cho ta dừng sự chia lòng chia trí ( Tâm Phân Biệt ) ấy lại.

Mặt khác, và đây là điều rất quan hệ có liên quan đến việc Kinh Mân Côi bị phê phán là cứ lặp đi lặp lại Kinh Kính Mừng. Thật ra việc lặp lại ấy có mục đích  để giúp ta nhớ ( Huân Tập ) hai Thánh Danh Giê Su và Maria vào trong tâm khảm mình. Nhất thiết cần phân biệt sự khác nhau giữa Tụng và Niệm. Tụng có nghĩa chỉ đọc ngoài môi miệng, còn Niệm  tức  ghi nhớ ở trong Tâm cũng  là sự tỉnh thức. Nếu chỉ Tụng ( Đọc ) thôi thì không thể ghi nhớ được hai Thánh Danh Giê Su và Maria vào trong Tâm mình. Đang khi đó chính cái việc ghi nhớ ( Tỉnh Thức ) ấy mới đem lại  cho ta  Sự Sống Bất Diệt !

Ghi nhớ hai Thánh Danh Giê Su và Maria vào trong tâm khảm là điều hết sức quan hệ  nhất là trong giờ lâm chung, hấp hối:“Vậy,hãy tỉnh thức,vì các ngươi không biết Chúa các ngươi đến nhằm ngày, giờ nào ? Nhưng hãy biết điều này:Nếu chủ nhà đã hay canh nào kẻ trộm đến thì tỉnh thức không để nó khoét ngạch nhà mình. Vậy các ngươi hãy sẵn sàng vì Con Người đến trong giờ các ngươi không ngờ” ( Mt 24, 42 -44 ).

Trong ý nghĩa sâu xa của việc tỉnh thức, không phải đợi đến…Ngày Tận Thế hay lúc lâm chung mới …tỉnh mà cần thực hiện trong mọi giây phút cuộc đời. Trong lúc bình thời đã không tỉnh thì trong giờ phút nguy tử  làm sao mà Tỉnh được đây ? Tuy nhiên để có thể tỉnh thức trong mọi thời khắc như thế là điều rất khó, nếu không muốn nói là bất khả đối với những ai còn sống giữa cuộc đời bộn bề, trái ngang này. Dẫu vậy, cái điều…bất khả ấy lại có thể được nếu có lòng cậy trông nơi Đức Mẹ và kiên trì  thực hành Kinh Mân Côi theo đúng chánh pháp.

Cần nhận thức Kinh Mân Côi là một thứ Tâm Pháp do Đức Mẹ truyền dạy có mục đích để cho ta thoát khổ. Lịch sử cho thấy, nhờ vào việc thực hành Kinh Mân Côi, Giáo Hội đã thoát khỏi biết bao cơn nguy nan, sóng gió chẳng hạn chiến thắng bè rối Albigence’ vào TK 13, chiến thắng quân Hồi Giáo Thổ Nhĩ Kỳ tại Vinh Lepante ngày 7/10/1571 v.v…

Những chiến thắng mang tính lịch sử, giờ đây phải chăng đã đi vào quên lãng khi mà  Giáo Hội không còn phải đối phó với những hoàn cảnh nguy nan ấy nữa ? Thế nhưng, sự thật thì GHCG đang ở trong một tình thế nguy cấp chưa từng có khi mà Chúa Giê Su đã lên tiếng báo động về việc mất  đức tin trong thời cuối cùng này “ Dẫu vậy, khi Con Người đến, há sẽ tìm được đức tin trên đất này chăng ?” ( Lc 18, 8 ).

Đức tin  nếu  không còn thì đời sống đạo đức chỉ còn là hình thức trống rỗng không có nền tảng và như thế làm sao có thể đưa đến việc giải thoát  khổ đau cho con người ? Đang khi đó, có nhận thức được khổ mới mong thoát khổ và việc nhận thức ấy trước hết cần tìm ra nguồn gốc  xuất sinh của nó. Cái gốc của mọi khổ nạn chính là  tư tưởng. Xin đưa ra hai ví dụ cụ thể cho thấy nguồn gốc của mọi khổ nạn  đều ở nơi  tư tưởng. Có người đến nhà bắt và nói sẽ đem đi giết, người ấy sợ hãi, vô cùng lo lắng nhưng không biết làm cách nào chống cự. Còn có người cũng  đến bắt nhưng không để lộ ý định giết mà ân cần nói mời đi dự tiệc. Người ấy vô tình không biết nên vui vẻ thay quần áo đẹp  để đi. Trong cả hai trường hợp, một người thì sợ hãi, vô cùng lo lắng còn một người thì tâm trạng vui tươi, hớn hở. Thế nhưng, kết cuộc của hai người ấy như nhau, đều bị giết !!!

Lấy hai ví dụ này, để cho thấy cần thực hành Kinh Mân Côi như một thứ Tâm Pháp, có nghĩa phải xuất phát từ ở nơi Tâm thì mới có thể giải thoát khổ được. Nói Kinh Mân Côi  như một thứ Tâm Pháp là có cơ sở, bởi nên nhớ trước khi  cộng đoàn Lần Chuỗi, các ông bà quản giáo trước đây  bao giờ cũng  xướng lên câu công thức: “Phép Lần Hạt Ngắm Tắt năm sự Vui…” Phép tức là phương pháp và một khi đã nhận ra việc thực hành Kinh Mân Côi  là một phương pháp thì điều cần thiết cho mỗi người là phải…tạo lấy phương pháp ấy cho mình.

Việc “Tạo Pháp” ví như bác thợ mộc có tay nghề vững chắc, dù trong hoàn cảnh nào, cháy nhà, chạy loạn, có đi đến đâu cũng  chẳng  sợ đói, thất nghiệp. Với bác thợ mộc đã vậy, còn với các đấng các bậc như hồng y, giám mục, linh mục khi về hưu cũng vậy. Khi ấy, các vị đó không còn bận bịu công việc mục vụ, nhiều khi yếu, mệt cũng chẳng muốn đọc sách vở gì nữa  mà  nếu không có“ Phép Tu Lần Hạt Mân Côi” thì có phải là…thiệt thòi lắm hay sao ? Đang khi đó việc Lần Chuỗi Mân Côi lại là phương thế cứu rỗi linh hồn bảo đảm nhất. Thánh Alfonse de Liugori ( 1696 – 1787 ) Đấng Sáng Lập DCCT khi ấy đã quá già, không nhớ mình đã Lần Chuỗi hay chưa, vì thế mới hỏi thầy dòng săn sóc mình để cho biết mình đã Lần Chuỗi chưa và thầy nói tin rằng Ngài đã đọc nhưng vị thánh ấy hỏi lại: Thầy có chắc thật không ? Thầy không biết rằng Ơn Cứu Rỗi cho tôi tùy thuộc vào việc sùng tín này sao ? ( Kinh Mân Côi Online – 25/9/2019 ).

Thánh Alfongse nói Ơn Cứu Rỗi tùy thuộc vào việc thực  hành Phép Lần Hạt Mân Côi. Thế nhưng để có thể đi vào con đường thực hành thì không thể không biết đến trọng tâm của “Phép” ấy chính là để lắng nghe Lời Chúa. Người đời lầm lạc vì không phân biệt được những tiếng nói của tư tưởng mình, chúng hoặc là khổ, vui hoặc thiện, ác…Bởi không phân biệt được như thế nên cứ nghe theo những tiếng của thế gian để rồi chịu khổ mà không biết.

Lời nói là…tướng của một tư tưởng bởi vì bất cứ lời nói nào  cũng xuất phát từ nơi nghĩ tưởng. Có tư tưởng  nào sẽ có lời nói đó, tư tưởng ác sẽ nói lời ác, tư tưởng thiện, lành sẽ nói lời thiện lành…Nghe một lời nói ác, dối trá sẽ tạo cảm giác bất an  khổ đau, trái lại nghe một lời nói thiện lành sẽ tạo được cảm giác an vui, tin tưởng. Lời Chúa cũng là một thứ tư tưởng nhưng đây là tư tưởng cực sáng cực lành, đưa đến sự giải thoát cho con người:“ Vì Lời Chúa là lời hằng sống, linh động, sắc hơn mọi gươm hai lưỡi, đâm thấu đến nỗi chia hồn linh, khớp tủy. Biện biệt tư tưởng và ý định của lòng người” ( Dt 4, 12 ).

Ví Lời Chúa như gươm hai lưỡi tức có ý nói về cuộc chiến tâm linh của người Công Giáo và cuộc chiến ấy đã được tiên báo từ thuở đời đời diễn ra giữa Người Nữ Maria và Rắn Sa Tan: “Đức Chúa Giehova phán với con rắn: Ta sẽ làm cho mày cùng Người Nữ, dòng dõi mày cùng dòng dõi Người Nữ nghịch thù nhau. Người sẽ giày đạp đầu mày, còn mày thì sẽ rình cắn gót chân Người” ( St 3, 15 ).

Dòng dõi Người Nữ ám chỉ những ai có lòng tôn sùng Đức Nữ Đồng Trinh Maria, qua việc thực hành Phép Lần Hạt Mân Côi. Nên hiểu mỗi thời công phu như thế là một cuộc chiến mà Đức Maria chính là thủ lãnh đối đầu với “ Sa Tan, con rắn xưa  là kẻ lừa dối khắp cả và thiên hạ”( Kh 12, 8 ). Sự lừa dối của quỷ Sa Tan khiến người Tu cứ chia lòng chia trí bất hồi kỳ trận, nhà Thiền gọi sự chia trí ấy là Vọng Tưởng.

Người tu ( Hành Giả ) không sợ vọng tưởng, chỉ sợ biết chậm “ Bất úy tham, sân khởi, duy khủng tự giác trì” Đối với những người kiên trì thực hành Kinh Mân Côi cũng vậy, không sao tránh khỏi chia lòng chia trí, hiểu như là cám dỗ của quỷ Sa Tan. Nhưng vấn đề không phải là chia trí nhưng là có buông theo sự cám dỗ ấy không mà thôi ? Không theo cám dỗ, cứ kiên trì…lắng nghe Lời Chúa chứa đựng trong từng lời kinh, lâu ngày chầy tháng tất sẽ có được năng lực quán sát cần thiết và  chỉ khi nào có được lực  ấy thì  việc  tu tập mới  bảo đảm đi đến thành công !

Quán sát ở đây có nghĩa là nhận biết sự sinh khởi của chính tư tưởng mình. Có quán sát sự sinh khởi ấy thì mới có thể kiểm soát được nó. Đối với những người không tu tập theo chánh pháp thì không sao tránh khỏi bị các tư tưởng sai khiến bất kể chúng là thiện hay ác. Hành động chỉ theo thói quen hoặc ý riêng bất cập của mình, bất chấp mọi hậu quả. Lòng tham khởi lên  lại không nhận biết, để rồi chiều theo sự sai khiến của nó, đưa đến hành vi trộm cắp, cướp giật, thế là bị bắt, vào tù, lãnh án ! Chẳng phải chính cái tư tưởng tham lam không được nhận biết và dứt trừ ấy đã làm khổ người đó hay  sao ?

Chính vì năng lực quán sát cần thiết cho đời sống tâm linh  như thế nên Đức Mẹ mới hết lòng khuyên nhủ con cái kiên trì, nỗ lực thực hành Kinh Mân Côi, hầu giải thoát khỏi khổ đau. Giải thoát hay trói buộc đều do ở nơi Tâm, có những trường hợp thân thể bị, giam cầm, đánh đập, chửi rủa, làm nhục nhưng tâm trí lại thấy...vui, chẳng hạn các Tông Đồ thời sơ khai Giáo Hội: “ Họ cho gọi các tông đồ lại, đánh đòn và cấm các ông không được rao giảng Danh Giê Su rồi thả các ông ra. Các tông đồ ra khỏi Công Hội, lòng hân hoan, vui mừng bởi được coi là xứng đáng chịu khổ nhục về Đức Giê Su Ki Tô” ( Cv 5, 40 -41 ).

Qua thái độ của các Tông Đồ vừa nêu, rõ ràng cho thấy con người ta có thể Đau nhưng không Khổ. Đau thuộc về thể xác, còn Khổ thuộc về tinh thần tức lãnh vực tư tưởng. Nói rõ ràng hơn con người bị khổ là vì đã chấp chứa những tư tưởng nhơ nhiễm ở nơi mình. Chính những tư tưởng nhơ nhiễm, tham lam, sân hận, si mê đã làm khổ mình chứ chẳng có thế lực bên ngoài nào gây ra cả.

Nhận định như vậy để cho thấy muốn  thoát khỏi khổ đau thì không còn có cách nào khác là phải dứt trừ được những tư tưởng nhơ nhiễm từ lâu đã chất chứa ở nơi mình. Tuy nhiên việc dứt trừ ấy thật khó biết bao, con người luôn bị các đợt nhơ nhiễm tưởng làm khổ. Thức Tâm hay phiêu lưu trôi dạt như con thuyền không bến, dù trong lòng vẫn ước mơ có một…bến đậu:

“ Bến mơ dù thiết tha

Thuyền ơi, đừng chờ mong

Ánh trăng mờ chiếu

Một con thuyền trong đêm thâu

Trên sông bao la

Thuyền mơ bến nơi đâu ?

Bài hát“ Con Thuyền Không Bến” của Đặng Thế Phong, một nhạc sĩ tài hoa, chết trẻ khi vừa mới 24 tuổi vì bệnh lao đã phản ảnh sự u uất của con người về  nỗi bơ vơ, không tìm được…lối về. Đang khi đó  Lối Về ấy con người chỉ có thể tìm được khi biết quay về với bản Tâm mình mà thôi !

Để có thể tìm về với Bản Tâm thì nhất định cần có phương pháp và phương pháp ấy được gọi là TU. Có nhiều pháp môn tu tập khác nhau nhưng bảo đảm và dễ dàng nhất trong Đạo Chúa là Phép Lần Hạt Mân Côi. Thế nhưng thực tế như đã biết Kinh Mân Côi trong thời Tục Hóa này thật đáng tiếc, đã không còn được ái mộ nữa !!!

Có thể nói tôn giáo dù là Phật Giáo hay Công Giáo cũng đều là những con đường thực hiện tâm linh có mục đích để…lo cho cái chết của con người. Chết không phải là hết nhưng nếu chết không phải là…hết thì rồi con người ta sẽ đi đâu ? Về đâu ?

Có câu hỏi cần đặt ra. Vì lý do gì mà Kinh Mân Côi trong thời đại hôm nay đã không  được ái mộ, thực hành ? Theo tôi, đó là vì người ta không  biết lo lắng cho phần rỗi linh hồn mình ! Không lo lắng cho phần linh hồn, điều ấy  có nghĩa  chẳng cần biết…chết rồi đi đâu về đâu nữa ? Một khi không cần biết  chết rồi mình đi đâu, về đâu thì lẽ đương nhiên người ta sẽ sống buông thả theo đam mê, dục vọng và không có điểm dừng !!!

Mặc dù không…lo đến cái chết nhưng không ai không phải đối diện với giờ phút lâm chung dù người đó ở trong bất cứ đấng bậc nào, giáo sĩ hay giáo dân, quyền cao chức trọng hay bần hàn, vô danh tiểu tốt ! Chính trong những giờ phút cuối cùng của đời người đó mới thấy được giá trị vô cùng lớn lao của Kinh Mân Côi ! Tại sao ? Bởi vì Kinh Nguyện này đặt trọng tâm ở lời  Cầu Thay Nguyện Giúp của Đức Maria: “Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con khi nay và trong giờ lâm tử. Amen”.

Đức Mẹ chẳng những….cầu thay mà còn ban nhiều lời hứa cho những ai siêng năng thực hành và một trong những lời hứa quan trọng ấy là: “ Những ai trung thành Lần Chuỗi Mân Côi, khi sống và nhất là trong giờ chết sẽ được ánh sáng Chúa soi dẫn với đầy dẫy ơn huệ của Ngài. Và khi lâm tử, họ sẽ được tham dự vào những công nghiệp của các thánh trên Thiên Đàng” ( Mười lăm lời hứa của Đức Mẹ cho thánh Đa Minh ).

Lo cho cái chết của chính mình, không những đó không phải là…nhát sợ, nhưng là sự sáng suốt của bậc hiền nhân, bởi  nếu không có mối lo ấy thì sẽ không thể tránh được những nỗi buồn phiền bủa vây trong cuộc sống. Thiền sư Tông Bổn có lời nhắc nhở “ Nhân vô viễn lự, tắc hữu cận ưu ).

Lo cho cái chết của chính mình là điều sáng suốt, nên làm. Tuy vậy, với người Công Giáo, nếu có lòng tôn sùng Đức Mẹ và siêng năng Lần Chuỗi Mân Côi thì chẳng còn lo lắng gì nữa. Vả lại, còn có Chúa Giê Su, Đấng Cứu Độ Trần Gian, Ngài có một lời hứa quan trọng khác cho chị Consolata Betrone, một nữ tu Dòng Capucin:“ Hỡi con, chỉ những kẻ nào muốn sa xuống Hỏa Ngục mới mất linh hồn mà thôi. Vì lẽ mặc dù không ai cướp được một linh hồn khỏi tay Cha nhưng chính linh hồn có  tự do lại có thể chạy trốn, phản bội, từ chối Cha và phó mình cho ma quỷ ! Vậy chớ gì thay vì  làm cực lòng Cha  vì thiếu tin cậy, chúng con biết nghĩ đến Thiên Đàng, Cha đã hứa ban. Cha đã tạo dựng nên chúng con là để dành cho Thiên Đàng chứ không phải cho Hỏa Ngục đâu để chúng con được hưởng Tình Yêu muôn thuở chứ không phải để thuộc về ma quỷ đâu ! Phải, chỉ kẻ muốn xuống Hỏa Ngục mới xuống đó được mà thôi ! Mối lo sợ mất linh hồn của chúng con là vớ vẩn. Cha đã chẳng đổ hết máu mình ra để cứu chúng con sao ?” ( Con Đường Nhỏ Của Tình Yêu ).

Những lời của Chúa trên đây đem lại an ủi biết bao ! Tuy nhiên lại khiến chúng ta không khỏi suy nghĩ. Nếu chỉ những ai…muốn xuống Hỏa Ngục mới phải sa vào chốn khốn nạn đời đời ấy, thì một cách khác cũng  có thể nói, chỉ những ai…muốn lên Thiên Đàng thì mới được vào chôn phúc lạc đời đời ấy thôi !.Tất cả chỉ do…lòng ước muốn, thế nhưng sự thật thì người ta có muốn được về Thiên Đàng để sống đời đời bên Chúa, bên Đức Mẹ và chư thần thánh hay không ? Nếu thực sự muốn thì sao không siêng năng Lần Chuỗi Mân Côi như Đức Mẹ đã truyền dạy ? Với Kinh Mân Côi huyền diệu, thánh Bonaventura, tiến sĩ Hội Thánh đã nói một lời đáng cho ta phải suy gẫm: “ Nếu ta chào Mẹ bằng Kinh Kính Mừng thì Mẹ Maria chào lại ta bằng vô vàn ơn phúc.”.

 

 Phùng  Văn  Hóa 

PHÚC VÀ TRÍ TRONG ĐẠO CHÚA

Kinh “ Lạy Nữ Vương Mẹ Nhân Lành” ( Salve Regina ) rất được hâm mộ và phổ biến cả trong Phụng Vụ lẫn Cộng  Đoàn. Tuy nhiên, về nguồn gốc, xuất xứ  cũng như ý nghĩa sâu xa của Kinh  Nguyện này thì  có thể cũng có  nhiều người chưa biết ?

Vào khoảng năm 1100, bên Đức có một gia đình sang trọng, đạo đức sinh được cậu con trai, đặt tên là Herman. Được cha mẹ thương yêu, nhưng từ khi mới lọt lòng, cậu đã mang tật nguyền…Về hình dáng thì thấp bé, miệng mồm méo xệch, lớn lên với cái lưng còng, đi lại khó khăn. Về tâm trí thì  tối tăm, ngờ nghệch. Cha mẹ có phần xấu hổ, không muốn con mình tiếp xúc với ai.

Khi lên 12 tuổi, cha mẹ đón  một thầy dòng  về nhà  để dạy dỗ, nhưng suốt  02 năm trời cậu  học trước quên sau, chỉ nhớ được vài lẽ đạo thông thường như  có một Thiên Chúa Ba  Ngôi dựng nên trời đất muôn vật. Ngôi Hai xuống thế làm người sinh bởi Đức Mẹ Maria để chuộc tội cho thiên hạ !

Khi lên 16 tuổi, chàng thanh niên ấy nhận thấy mình tàn tật như thế nên sinh ra buồn bã, than thân, tủi phận. Thầy dòng thấy vậy thì khuyên  học trò mình hãy  chạy đến kêu van cùng Đức Mẹ, xin Người cứu giúp nhưng dù có cố gắng, tình trạng cũng chẳng có gì chuyển biến. Mặc dù vậy, chàng vẫn không nản lòng nên được Đức Mẹ dủ lòng hiện ra sáng láng và  hứa cho cậu được chọn  trong hai điều: Một là được hết tật nguyền phần xác, hai là có  được trí thông minh, sáng suốt.

Sau một lát chần chừ, cậu đã xin với Đức Mẹ cho được trí thông minh. Điều cầu xin này rất đẹp lòng Đức Mẹ và thế là  Ngài đã ban cho cả hai, vừa khỏi tật nguyền vừa được trí thông minh ! Sau đó, Herman đã chăm chỉ học hành vượt xa  chúng bạn và xin được vào Tu trong một nhà dòng, tại đó thầy đã nghiên cứu và viết được nhiều tác phẩm có giá trị, ca ngợi lòng nhân từ của Đức Mẹ  cũng như để lại một Kinh  Nguyện đơn sơ, chân thành nhưng rất có giá trị về mặt tâm linh được truyền tụng mãi cho tới tận ngày nay !

Qua sự kiện  trên đây  cho thấy hai điều quan trọng: Một là con người ta chỉ thành tâm và kiên trì cầu nguyện  khi đã ý thức được hoàn cảnh khổ đau của mình, thế gian không thể cứu giúp, và hai là lời cầu xin được trí thông minh   sở dĩ  đẹp lòng Đức Mẹ bởi vì nó đáp ứng được  với  Kế Hoạch  Cứu Độ của Thiên Chúa qua Đức Maria, Đấng Vô Nhiễm  Nguyên Tội Trung Gian  Các Ơn.

Trong tư cách là  Hội Viên Tán Trợ của Legio, tôi hoàn toàn nhất trí với quan điểm Thiên Chúa Cứu Độ qua Trung Gian Đức Maria, vì như thánh G. Monfort nói: Ngài là Bạn Chí Thiết của Chúa Thánh Thần:

“ Con xin Chúa đến với con và cho con đầy Ơn Chúa. Nhờ quyền năng  của Chúa bảo trợ các hoạt động yếu đuối của con. Con được biến thành dụng cụ thực hiện kế hoạch vĩ đại của Chúa. Nhưng con biết Chúa là Đấng đã đến  tái sinh thế giới trong Chúa Ki Tô. Chúa chỉ muốn  thực hiện công cuộc này  qua Đức Maria thôi. Không có Mẹ, chúng con không thể biết và mến Chúa. Chúa chỉ ban  những thiên tài, đức hạnh và ân sủng cho ai, lúc nào, bao nhiêu, cách nào đều tùy Mẹ và nhờ Mẹ” ( Kinh Tuyên Hứa – TB, chương 15, C 167 ).

Lý do khiến  Legio  tuyên xưng: Chúa chỉ muốn thực hiện  Kế Hoạch Cứu Độ qua Đức Maria vì Ngài chính là cái khuôn đúc nên Con Thiên  Chúa theo như  nhận định  của  thánh Augustin:“ Đức Maria là cái khuôn sống động của Chúa, có nghĩa Thiên Chúa Làm  Người  được hình thành con người  đầy đủ về mặt tự nhiên mà cũng không thiếu nét nào của Bản Tính Thiên Chúa. Cũng vậy, chỉ nơi Đức Maria mới đúc tạo nên giống Thiên Chúa  nhờ Ơn Chúa Ki Tô và tùy  mức độ của sức loài người  có thể thu nhận được” ( Sách Vàng – Sống Tận Hiến Thánh Monpho ).

Đức Maria là cái khuôn mẫu…đúc nên Con Thiên Chúa là Chúa Giê Su, vì thế những ai đã lãnh nhận Bí Tích Thánh Tẩy, từ trong tiềm năng cũng đều là Con Thiên Chúa và là anh em với Chúa Giê Su: “ Quả vậy, phàm ai được thần khí soi sáng đều là con cái Thiên Chúa. Phần anh em, anh em đã không  lãnh nhận  Thần Khí khiến anh em trở thành nô lệ và phải sợ sệt  như xưa nhưng là Thần Khí làm cho  anh em nên nghĩa tử, nhờ đó chúng ta kêu lên: Abba, Cha ơi ! Chính Thần Khí chứng thực cho tâm trí chúng ta  là con cái Thiên Chúa. Vậy, đã là con thì cũng là thừa kế  mà đã được  Thiên Chúa cho thừa kế  thì tức là đồng thừa tự với Đức Ki Tô vì một khi đã cùng chịu khổ với  Người, chúng ta cũng sẽ được hưởng vinh quang với Người. Phần tôi, tôi nghĩ rằng  những đau khổ đời này  chẳng có thể sánh được  với vinh quang  Chúa sẽ tỏ ra  cho chúng ta trong đời sau” ( Rm 8, 14 -18 ).

Người đời mê mải tìm kiếm hạnh phúc mà không hề để tâm suy nghĩ về lẽ vô thường, chóng qua của  cõi đời hư ảo này. Đang khi đó, chúng ta những  con cái Chúa cần  luôn nhớ rằng qua Bí Tích Thánh Tẩy, mình đã chết đi tính xác thịt để được cùng sống lại với Đức Ki Tô: “ Vậy, nếu anh em  đã được đồng sống lại  với Đấng Ki Tô thì hãy  lo tìm kiếm các sự ở trên trời, nơi Đức Ki Tô ngự bên hữu Chúa Cha. Hãy để tâm trí xu hướng  về các sự ở trên, đừng xu hướng về những sự dưới đất. Vì anh em đã chết, sự sống của anh em  đã giấu nơi Đấng Ki Tô trong Thiên Chúa Cha. Khi nào Đấng Ki Tô  là sự sống của chúng ta  hiện ra, bấy giờ anh em cũng sẽ   cùng hiện ra với Ngài trong sự vinh hiển” ( Cl 3, 1 -4 ).

Cùng chết với Đức Ki Tô, để cùng sống lại với Ngài ! Là  môn đệ Chúa Ki Tô thì  ngày càng phải nên giống Thầy mình, như vậy mới thật  là người có phúc: “ Nhưng phúc cho mắt các ngươi vì thấy được, cho tai các ngươi vì nghe được. Quả thật, Ta nói cùng các ngươi, có nhiều tiên tri và người công chính đã ước ao thấy  điều các ngươi thấy mà  chẳng  được thấy, ước ao nghe điều các ngươi nghe mà  chẳng  được nghe” ( Mt 13, 16 -17 ).

“ Thấy” ở đây là thấy Đấng Cứu Thế Giê Su xuất sinh nơi đời. Còn “ Nghe” có nghĩa  là  tin nhận Tin Mừng mà Ngài rao giảng. Có…thấy được Đức Ki Tô như đúng thực Ngài Là thì mới có thể tin nhận được Tin Mừng, ngược lại thì không ! Chính bởi lẽ  đó, “ Thấy” được Đức Ki Tô là một vấn đề hết sức quan hệ  cho  đời sống tâm linh của người tín hữu !

Trong Kinh “ Lạy Nữ Vương Mẹ Nhân Lành” mà người Công Giáo chúng ta vẫn tụng đọc hàng ngày trong đó có câu: “ Xin cho chúng con được thấy Đức Chúa Giê Su, Con lòng Bà gồm phúc lạ”. Theo tinh thần của Kinh Nguyện thì việc “ Thấy” ấy chỉ diễn ra sau khi  chết chứ không phải  ngay  trong  cõi  đời này. Thế nhưng, nếu  trong cõi  đời này mà không cầu xin  và làm các việc lành phúc đức  để  được “ Thấy” Chúa Giê Su  thì  cũng chẳng làm sao  có thể  “ Thấy” được Chúa  trong đời sau vô cùng ấy !

“ Hỡi con, khi đứng trước giờ chết, con có sợ  như cây vả không trái kia mà Chúa đã quở trách: “ Anh coi, đã ba  năm nay, tôi ra cây vả này  tìm trái mà không thấy” ( Lc 13, 7 ). Con ơi, con đã sinh ra không phải  mới ba năm. Có khi đã nhiều năm rồi, nhưng con đã sinh ra được trái nào  chưa ? Thánh Benado đã nói: Con hãy biết, Chúa không chỉ tìm hoa mà thôi đâu, Chúa lại tìm trái nữa, nghĩa là nếu con chỉ ước ao và dốc lòng làm lành  mà thôi thì chưa lấy làm đủ, Chúa còn đòi con phải làm việc lành phúc đức nữa Chúa mới chịu” Thánh An Phong – Việc Rỗi Linh Hồn ).

Trong lãnh vực tâm linh, Chúa không có ý tìm hoa mà là tìm trái. Hoa ở đây  tượng trưng cho Phúc Đức còn Trái là  Công Đức. Để phân biệt sự khác nhau giữa Phúc Đức và Công Đức, thiết nghĩ không gì hơn là trưng dẫn  cuộc đối đáp giữa  tổ Đạt Ma và vua Lương Võ Đế:

“ Thứ sử thưa với lục tổ Huệ Năng: Đệ  tử  nghe Tổ Đạt Ma khi mới đến gặp vua Lương Võ Đế, vua hỏi: Trẫm một đời cất chùa, độ tăng, bố thí, thiết trai có những công đức gì ? Tổ Đạt Ma bảo: Thật không có công đức. Đệ tử chưa thấu được lẽ này, cúi mong hòa thượng vì tôi nói:

Tổ bảo: Thật không có công đức, chớ nghi lời của tiên thánh. Võ Đế tâm tà, không biết chánh pháp, cất chùa, độ tăng, bố thí, thiết trai đó gọi là cầu phước  chớ không thể đem phước  đổi làm công đức. Công Đức là ở trong Pháp Thân, không phải do tu phước mà  được. Tổ lại nói: Thấy Tánh  ấy là Công, bình đẳng ấy là  đức. Mỗi niệm không ngưng trệ, thường thấy Bản Tánh chân thật, diệu dụng  gọi là công đức.. Trong tâm khiêm hạ ấy là công, bên ngoài hành lễ, phép ấy là đức…

…Công đức phải là nơi tự tánh mà thấy, không phải do bố thí cúng dường  mà cầu được. Ấy là phước đức cùng công đức khác nhau. Võ Đế không biết chân lý chứ không phải tổ sư ta có lỗi” ( Pháp Bửu Đàn Kinh – Phẩm Nghi Vấn ).

Lục tổ Huệ Năng  phân tích rõ ràng sự khác nhau giữa Phúc Đức và Công Đức, mục đích là  để khai sáng con đường đốn ngộ  Thiền Tông. Đối với Đạo Chúa cũng vậy, cũng cần nhận ra sự khác biệt ấy mới có thể thực hiện có kết quả Con Đường Giải Thoát  của Đức Ki Tô:

“ Bấy giờ có người đến thưa với Ngài rằng: Tôi phải làm việc lành chi  để được sự sống đời đời ? Chúa Giê Su đáp: Sao ngươi hỏi Ta về việc lành ? Chỉ có một Đấng Trọn Lành mà thôi. Nếu anh muốn vào cõi sống  thì hãy giữ các giới răn. Người ấy hỏi: Giới răn nào ? Chúa đáp: Chớ giết người, chớ gian dâm, chớ trộm cắp, chớ làm chứng dối. Hãy hiếu kính cha mẹ và hãy yêu kẻ làm ơn cho mình. Gã thanh niên đó thưa rằng: Mọi điều đó tôi đã vâng giữ rồi, còn thiếu chi nữa không ? Chúa phán: Nếu ngươi muốn nên trọn lành  thì hãy về, bán hết của cải ngươi bố thí cho kẻ nghèo thì ngươi sẽ có của báu  trên trời rồi hãy theo Ta. Nhưng khi gã trai trẻ ấy  nghe lời ấy thì buồn rầu bỏ đi vì người có tài sản nhiều lắm” ( Mt 19, 16 -22 ).

Người thanh niên ấy không thể theo Chúa bởi còn chấp giữ vào tài sản, cho tất cả những thứ  đó  là…thật có. Đang khi ấy, bước đường theo Chúa đòi hỏi cần có sự từ bỏ và từ bỏ, theo nghĩa sâu xa nhất đó là Bỏ Mình tức bỏ đi hai cái chấp. Một là chấp cho xác thân này là mình, hai là chấp những nghĩ suy, lo lường,  phân biệt  là mình.

Sở dĩ Chúa nói cần bỏ đi hai cái chấp ấy bởi chúng chỉ giả có chứ không  thật có. Ngược  lại, nếu  nó…thật có thì  cần gì phải bỏ mà  bỏ sao được ? Dẫu vậy, Bỏ Mình là việc rất khó, Nếu không biết  ý nghĩa và mục đích của việc làm ấy, chúng ta không bao giờ có thể  thực hành trong đời sống mình được !: “ Chúa Giê Su bèn phán với những người Do Thái đã tin Ngài rằng: Nếu các ngươi cứ ở trong Đạo Ta , các ngươi sẽ biết sự thật  và sự thật sẽ giải thoát các ngươi” ( Ga 8, 31 -32 ).

Có bỏ được mình tức bỏ Ngã Chấp đi thì mới có thể nhận biết Sự Thật và Sự Thật đó chính  là mỗi người trong chúng ta đều  được tác tạo là Hình Ảnh Thiên Chúa là Con Thiên Chúa ( St 1, 26 ). Được tác tạo là Con, nhưng thật sự thì phàm nhân chúng ta không một ai  có  được sự nhận biết Thiên Chúa như là Đấng Cha của mình. Tuy  vậy, sự nhận biết ấy lại vô cùng cần thiết vì sẽ  đem lại sự sống đời đời cho mình “ Chúa Giê Su nói những điều ấy rồi thì ngước mắt lên trời, nguyện rằng: Cha ơi, giờ đã  đến, xin Cha hãy tôn vinh Con Cha  để Con Cha lại tôn vinh Cha cũng như  Cha đã ban quyền bính cho Con trên mọi xác thịt hầu hễ ai  Cha đã ban cho Con  thì Con ban cho họ sự sống đời đời. Còn sự sống đời đời là nhận biết  Cha là Thiên Chúa thật cùng Giê Su mà Cha đã sai đến” ( Ga 17, 1 -3 ).

Thiên Chúa là Đấng Cha của mỗi người, hơn nữa còn là nguyên lý thành toàn  của muôn loài chúng sinh, vạn vật. Nếu có thể có một hình tượng nào để hình dung ra Nguyên Lý ấy, chúng ta có thể ví Thiên Chúa như là chất cây để làm nên các vật dụng trong nhà như bàn, ghế, giường, tủ v.v…Các vật dụng ấy có thể khác nhau về hình dáng cũng như công dụng nhưng cũng được làm từ chất cây hoặc chất nhựa, nhôm, sắt v.v…Không có những nguyên liệu ấy thì không thể nào làm ra các vật dụng ! Thêm một ví dụ khác cho dễ hiểu, ví như chất bột làm nên các thứ bánh như bánh mì, bánh chưng, bánh Ít…Các thứ bánh tuy khác nhau về hình dáng, mùi vị, màu sắc nhưng đều được làm từ chất bột mà nên….

Nói theo ngôn ngữ  Phật Học thì Thiên Chúa chính là Chân Tâm, là Tánh Biết  hay  còn gọi là Giác Tánh là Phật Tánh  hằng hữu ở nơi mỗi người. Chúa Giê Su Ki Tô được sai đến để  mạc khải về Đấng Cha, chân lý ấy quả là vĩ đại  nhưng lại rất khó để tin.“ Người Do Thái vây quanh Chúa Giê Su  và nói: Thầy còn để chúng tôi  vơ vẩn cho đến chừng nào, nếu thầy là Đấng Ki Tô thì hãy nói tỏ tường cho chúng tôi đi ? Chúa đáp: Ta đã nói cho các ngươi mà các ngươi không tin. Những việc Ta nhân danh Cha Ta mà làm đều làm chứng cho Ta. Nhưng các ngươi không tin Ta  vì các ngươi  chẳng thuộc về đoàn chiên của Ta. Chiên Ta thì nghe tiếng Ta, Ta biết chúng và chúng theo Ta. Ta ban cho chúng sự sống đời đời,  chúng hẳn chẳng bị hư mất bao giờ, chẳng ai có thể giật chúng khỏi tay Ta. Cha Ta là Đấng đã ban  chúng cho Ta, vốn lớn hơn hết, chẳng ai có thể giựt chúng  khỏi tay Cha Ta. Ta với Cha là một” ( Ga 10, 24 – 30 ).

Người Do Thái nêu thắc mắc về thân phận  Chúa Giê Su, Ngài có phải là Đấng Ki Tô hay không  nhưng Ngài đã  thẳng thừng  đáp: Các ngươi không thể  biết  vì lẽ các ngươi  không thuộc đoàn chiên của Ta, chiên Ta thì nghe tiếng Ta !. Qua lời Chúa đây cho thấy, để nhận biết Đức Ki Tô như thật Ngài Là thì  cần  hai điều kiện. Một là phải  thuộc  đoàn chiên tức  ở  trong Giáo Hội Tông Truyền và hai là phải lắng nghe và thực hành Lời Chúa.

Trong hai điều kiện ấy, thì  việc lắng nghe và thực hành Lời Chúa là quan hệ bậc nhất  mang tính quyết định  phần rỗi của mỗi người: “ Khi Chúa Giê Su đang giảng dạy thì trong đám đông có một phụ nữ cất tiếng: Phúc cho  người mẹ nào  đã cưu mang Thầy và đã cho Thầy bú mớm. Nhưng Chúa  đáp lại rằng: Đúng vậy, nhưng còn có phúc hơn kẻ nào biết lắng nghe và thực  thi Thánh Ý Chúa” ( Lc 11, 27 -28 ).

Có nhiều nhà thần học  cho rằng lời Chúa  đây đã tôn vinh công trạng của  Đức Maria tới hai lần. Một là Đức Mẹ đã  có công cưu mang và sinh hạ  Chúa Giê Su về phần xác, hai là đã không giữ lại Người Con Chí Thánh ấy cho riêng mình mà đã dâng  vào đền thờ như một của lễ hy sinh  để rồi  nghe  tiên tri Simeon tiên báo về cuộc khổ nạn của Đấng  Cứu Thế  cũng như  đau khổ tột cùng  mà Người Mẹ ấy sẽ  chịu ( Lc 2, 34 -35 ).

“ Tuy vậy, Đức Maria đã nhận con lại và đem về Nazareth. Mẹ sống  cuộc đời gia đình êm ấm  với Chúa. Nhưng chắc là Mẹ  không quên lời tiên tri  của Simeon. Mẹ sống trong ý tưởng  hiến tế của Chúa Giê Su, trong viễn ảnh Núi Sọ. Cụ già thánh thiện kia  đã dựng thập giá  lên trước mặt Mẹ và Mẹ đã không ngừng  nhìn ngắm. Là Mẹ rất dịu hiền, Mẹ lo săn sóc  cho con lúc thơ ấu cả lúc thiếu thời, song như một vị thầy cả  sửa soạn lễ vật làm lễ hy sinh. Như Apraham  leo núi nơi Người sẽ phải tế lễ con. Maria mỗi ngày cũng tiến về Núi Sọ. Ngày dâng con vào đền thờ, Đức Mẹ thật đã lập lại lời ưng thuận  sống mầu nhiệm cao cả: Nhận hy sinh Con Mẹ để cho ta được rỗi. Chính vì ta mà Mẹ  đã phải đau khổ” ( M.V Bernado O.P – Mẹ Trong Đời Tôi ).

Đức Maria đã…chịu khổ vì vâng theo Thánh Ý Chúa để lo lắng  phần rỗi  cho  mỗi  người, đồng thời  để  ta có  được  lòng cậy trông cần thiết  trong giờ phút lâm chung, hấp hối: “ Những ai trung thành Lần Chuỗi Mân Côi khi sống và nhất là trong giờ chết sẽ được ánh sáng của Chúa soi dẫn với đầy dẫy ơn huệ của Ngài. Và khi lâm tử, họ sẽ được tham dự vào những công nghiệp của các thánh trên Thiên Đàng” ( Lời hứa thứ  tám trong  15 Lời Hứa đã được ban cho thánh Đa Minh ).

Đức Mẹ đã ban lời hứa vô cùng quý giá  cho những ai siêng năng Lần Chuỗi Mân Côi. Thế nhưng thử hỏi  trong số những người Công Giáo được kể là…ngoan đạo hôm nay còn có mấy ai  tin tưởng và thực hành Kinh Nguyện này  để được ơn ích như  Đức Mẹ đã  khuyên nhủ  trong nhiều lần hiện ra  trên khắp thế giới ?

Nguyên nhân khiến việc  sống đạo  nói chung và  thực hành Kinh Mân Côi  nói riêng hiện trong cơn khủng hoảng  trầm  trọng đó là vì người ta  đã  không biết được ý nghĩa  cũng như mục đích  của việc làm ấy là gì ? Có biết được triết lý ( Lý ) của Kinh Mân Côi thì người ta mới hâm mộ thực hành ( Sự ). Trong lãnh vực tâm linh giữa Lý và Sự cần phải viên dung thì mới có cơ thành tựu, ngược lại thì không !

Kinh Mân Côi thuộc về Tâm Pháp, bởi đó việc thực hành Kinh  Nguyện này phải phát khởi từ ở nơi Tâm chứ không thể chỉ ở ngoài môi miệng như Chúa Giê Su đã truyền dạy: “ Còn ngươi, khi cầu nguyện, hãy vào phòng, đóng kín cửa lại  rồi cầu nguyện Cha ngươi là Đấng thấy trong chỗ ẩn mật sẽ báo đáp cho ngươi” ( Mt 6, 6 ).

Vào phòng, đóng kín cửa lại  có nghĩa khi cầu nguyện thì phải thu thúc lục căn ( Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, Ý ) đừng cho nó phóng xuất ra bên ngoài nơi  hiện tượng giới. Mục đích của việc….thu thúc ấy  chính là để làm  sao  cho ta có thể  an trụ được hai  Thánh Danh  Giê Su và Maria  trong tâm tưởng mình và khi ấy chính Thánh Danh Giê Su sẽ cứu ta thoát khỏi  cám dỗ của kẻ thù  Sa Tan hòng  lôi kéo ta vào vòng trói buộc  vô cùng  độc hại  của nó: “ Cũng vì cớ đó, nên Thiên Chúa đã nhắc Ngài  lên rất cao, ban cho Ngài Danh vượt trên mọi danh, hầu cho mọi đầu gối trên trời, dưới đất, bên dưới đất  đều  nhơn  Danh Giê Su  mà quỳ gối xuống và mọi lưỡi  đều  thừa nhận Giê Su Ki Tô là Chúa để quy phục Thiên Chúa là Cha” ( Pl 2, 9 – 11 )./.

Phùng  Văn  Hóa