20. Những Bài Về Đức Mẹ

THƠ: THÁNG NĂM – THÁNG HOA KÍNH MẸ MARIA

TỪ THÁNG NĂM ĐẾN THÁNG MƯỜI - HOA NGŨ SẮC MÂN CÔI DÂNG LÊN MẸ

Thưa quý vị và các bạn, Hoa Mân Côi chính là Hoa Hồng, hoa hồng tự nhiên có ngũ sắc, là hoa  hồng trắng, hoa hồng vàng, hoa hồng đỏ, hoa hồng hường, hoa hồng dương.

Ngũ sắc hoa hồng, tượng trưng cho năm Châu Lục, mỗi Châu Lục có một màu, màu đỏ tượng trưng cho Thiên Chúa, vì, Ngài là Tình Yêu, màu trắng tượng trưng cho sự trinh trắng, thánh khiết, màu vàng tượng trưng cho sự giàu sang, vương quyền, màu hồng, (hường) chỉ sự vui mừng, hân hoan, vui tươi, vui vẻ, màu của hy vọng, màu xanh dương tượng trưng cho nhân loại, thưởng chỉ cho màu áo Đức Bà. Thực ra, màu xanh dương, xanh nước biển, hay xanh da trời là màu chỉ cho nhân loại, vậy màu dương chỉ cho Đức Bà là Mẹ đại diện cho nhân loại.

Nhìn lên màu sắc, chúng ta đọc được sự phân biệt rõ ràng đặc tính của ý nghĩa. Tại sao màu xanh dương chỉ về Đức Mẹ là như vậy. Vì, Đức Mẹ là nhân loại, là thụ tạo, nhưng Mẹ là một thụ tạo đặc biệt và Mẹ đại diện cho nhân loại. Bầu trời cũng là một tạo vật, đại dương cũng là một tạo vật, nhưng , những tạo vật ấy không có sự sống Thần Linh, đó là linh hồn. Linh hồn là sự sống Thiên Tính từ Thiên Chúa gọi là Thần Khí, tức sự sống từ Thiên Chúa. Vì, Thiên Chúa là Chủ của Sự Sống, là Nguồn của Sự Sống và Sống Hằng Hữu.

Đức Mẹ được thông phần Thiên Tính với Thiên Chúa nhờ lời XIN VÂNG, và trung tín tuyệt đối với Thiên Chúa, Mẹ được đại diện nhân loại đáp lại sự cộng tác, tức hiệp thông với Thiên Tính Chúa Giê-su, Ngôi Hai Thiên Chúa, hầu Người trở nên phần Nhân Tính nhờ Đức Mẹ, là Mẹ của Người.

Mẹ sinh ra phần Nhân Tính của Một Ngôi Vị Thiên Chúa tự nguyện Nhập Thể Làm Người để Ờ CÙNG NHÂN LOẠI.

Thiên Chúa đã thể hiện một tình yêu tuyệt đối dành cho nhân loại. Nhờ sự mời gọi cộng tác, và lời đáp trả XIN VÂNG của Đức Trinh Nữ Maria, mà ƠN CỨU ĐỘ hình thành, tức MẦU NHIỆM TRUYỀN TIN và tiếng thưa “XIN VÂNG” cùng sự trung tín của Mẹ.

Từ đó, Mầu Nhiệm KINH MÂN CÔI là một CHUỖI HÀNH TRÌNH Truyền Tin – Nhập Thể- Nhập Thế Khổ Nạn – Cứu Chuộc và PHỤC SINH –Thăng Thiên – Ban Chúa Thánh Thần.

Và, Đức Mẹ được rước lên Trời Hồn – Xác, tức phần ân thưởng của Thiên Chúa trên Trời dành cho Mẹ.

Theo đó, mỗi chục của Kinh Mân Côi tượng trưng cho một màu sắc của Châu Lục để cầu nguyện cho thế giới. Như vậy, trên thế giới có năm Châu, thì ngũ sắc tượng trưng cho một Châu nơi mội chục Kinh Mân Côi.

Trước đây Chuỗi Kinh Mân Côi có Ba Mùa, VUI - THƯƠNG – MỪNG, Theo 150 Thánh Vịnh, nên có 150 Kinh Mân Côi, song Thánh Giáo Hoàng Giao Phaolo II đã sáng tác Mùa Thứ Bốn, đó là Mùa Sáng. Năm Sự Sáng nhắc nhớ Mầu Nhiệm Hành Trình Rao Giảng và Phép Lạ Thánh Thể mà Chúa Giê-su đã thiết lập.

Như vậy, hiện tại có Bốn Mùa VUI – SÁNG – THƯƠNG – MỪNG, chứ không phải Ba Mùa, rõ ràng , Chuỗi Mân Côi thích ứng với bốn mùa XUÂN – HẠ - THU – ĐÔNG, và hai trăm Hạt Mân Côi, chứ không phải là trăm năm mươi Hạt, và mỗi tràng năm mươi Hạt, của một Mùa, mỗi chục tượng trưng một sắc màu của một Châu Lục . Màu sắc giúp cho người đọc dễ lần Hạt, dễ nhớ cầu nguyện cho thế giới.

Tháng Năm, Tháng Hoa bắt đầu kính nhớ Kinh Mân Côi là kính nhớ Đức Mẹ, đã chi bảo đàng lành cho con cái nhân loại một phương pháp cầu nguyện bằng cách kính nhớ các Mầu Nhiệm của Phúc Âm. Và liên tiếp cho đến Tháng Mười, Tháng Mân Côi.

Như vậy,

Tháng Hoa ngũ sắc kính Mừng Mẹ

Từng chục lời Kinh Hoa Mân Côi

Năm chục ngũ sắc từng lời dâng

Mỗi chục một màu dễ nhắc nhớ

In đậm trong tim mỗi một màu

Từng Châu Lục Mẹ ơi, xin kính nhớ

Mỗi màu sắc nhớ từng Châu Lục

Xin Mẹ thương che chở và cầu bàu

Bốn Mùa VUI – SÁNG –THƯƠNG – MỪNG rất rõ

Như XUÂN – HẠ - THU – ĐÔNG rõ bốn mùa

Mỗi chục một sắc thật rực rỡ

Ôi, Kinh Mân Côi thật phép mầu

Siêng năng Lần Hạt quanh bốn mùa

VUI – SÁNG – THƯƠNG – MỪNG dù nắng mưa

XUÂN – HẠ - THU – ĐÔNG quanh ngày tháng

Hai mùa Thường Niên, một Mùa Chay

Một Mùa Giáng Sinh, Mùa Phục Sinh

Một Mùa Vọng, Mùa chờ mong Chúa đến

Kinh Mân Côi giúp sốt mến TIN –YÊU

Lời Kinh vang vọng sớm chiều

Lời Kinh điệp khúc TIN – YÊU hằng ngày

Kinh Mân Côi, lời Mẹ dạy

Siêng năng Lần Hạt đẹp thay lời cầu

Nhớ lời Đức Mẹ thật sâu

Hồn con thanh thoát lời cầu Mân Côi

Mân Côi phương tiện Nhiệm Mầu

Cầu cùng Đức Mẹ chuyển cầu ơn thiêng

Mân Côi Chuỗi Thánh diệu huyền

Càng Lần say mến, càng tăng lòng thành

Xin cho nhiều người siêng năng

Lần Hạt thật thắm, thật lòng  TIN – YÊU

Lần Hạt, Kinh mỗi sớm chiều

Thần tiên còn kém, nhân trần gì hơn?

Phương tiện giúp ích linh hồn

Lần Hạt phương thế là phương trọn lành./.

 

AVE MARIA.

04/05/2026

P.A Trần Đình Phan Tiến

TẤM  LÒNG  NGƯỜI  MẸ

Chỉ khi đã là một… “người ông”, tôi mới thật sự có lòng thương yêu và biết ơn hai đấng sinh thành ra mình. Lý do bởi  đã tận mắt  thấy những đứa con gái, con dâu của mình yêu thương, chăm sóc, lo lắng cho những đứa con bé bỏng của chúng ! Từ đó, tôi suy ra rằng mình cũng đã từng được  mẹ, cha yêu thương như vậy và có lẽ còn hơn thế nhiều bởi  hãy tưởng tượng xem  trong một hoàn cảnh nghèo khó, thiếu thốn  mọi bề  như thế thì cha mẹ phải vất vả, khổ cực đến chừng nào  mới có thể sinh ra rồi nuôi nấng những đứa con của mình thành  người ?

Mẹ tôi sinh năm 1901, phải nói là thuộc thế hệ rất cổ xưa và cũng như bao phụ nữ thời đó, bà không biết chữ. Tuy không có chữ nghĩa gì cả  nhưng lại thuộc Kinh, Bổn làu làu. Có điểm mà ngày nay nhớ lại tôi  cho là rất đặc biệt  đó là tuy không biết chữ nhưng bà lại rất hâm mộ chữ nghĩa. Sở dĩ tôi tin như thế là bởi lần kia có lẽ vào khoảng lên chín hay lên mười… tôi được bà dẫn bộ lên tận tỉnh Sơn ( Sơn Tây ) cách làng gần mười  cây số  và không biết làm sao bà lại biết đến một tiệm, dò hỏi và mua cho tôi mấy cuốn sách, có lẽ là Sách Cách Trí gì đó ?

Đến năm 1954, di cư vào Nam, định cư được một năm tại Khu Ngã Ba Ông Tạ ( Sài Gòn ) chính bà lại dẫn tôi đến nhập học tại Trường Tiểu Học Thánh Tâm gần nhà do frere  Alexis làm hiệu trưởng. Qua  mấy  lời  thăm  hỏi  với thầy chẳng biết căn cứ vào đâu bà lại xin cho tôi vào lớp nhất tức là lớp năm cấp một bây giờ ! Thú thật trong mấy năm học hành  khi còn ở ngoài Bắc, cũng như bao đứa trẻ trong làng khác, chẳng có chương trình, lớp lang gì cả. Khoảng hơn  mười đứa chúng tôi, tuổi từ chín đến mười  lăm  có cả bên lương lẫn bên giáo được thầy Văn ( Sau làm linh mục ) được cử từ ĐCV về  dạy, buổi  đực  buổi cái, có khi nghỉ cả   tuần vì…chạy loạn!

Xóm giáo của tôi cũng là của nhà văn MC nổi tiếng Nguyễn Ngọc Ngạn  ngày đó  tuy cũng có cha xứ là linh mục sau là giám mục  Phê Rô Nguyễn Huy Quang nhưng cũng chỉ là một…họ lẻ. Cả bọn chúng tôi, khi đó Nguyễn Ngọc Ngạn thua tôi  03 tuổi không ở trong nhóm. Như đã nói  việc học hành của chúng tôi rất là….tơ lơ mơ, thường chỉ được học 04 Phép Toán Cộng Trừ Nhân Chía,  đôi khi được thầy Văn đọc chính tả cho chép, vậy thôi!

Việc học là như  vậy, thế nên tôi rất…đuối khi di cư vào Nam,  lên  bậc trung học kể cả mấy năm  Tiểu Chủng Viện. Nói đến việc…Đi Tu, không thể không nhắc đến bà mẹ tội nghiệp của tôi. Trong lòng bà, dường như luôn có một nỗi ước ao là thấy con mình được vinh dự ở trong “ Nhà Chúa” là nơi chỉ toàn là những người…giỏi dang, thánh thiện ? Nhưng, thật đáng tiếc, tôi chỉ ở chủng viện vỏn vẹn có 03 năm  rồi phải về vì học lực kém ! Xách vali về nhà, chắc mẹ buồn lắm nhưng không nói gì!

Trong  nhiều năm sau đó, cứ  đến  lễ hai thánh tông đồ  Phê Rô – Phao Lô  bà lại sửa soạn quà cáp đơn sơ từ chiều hôm trước, giục dã tôi đến thăm  cha  Dư Tác Thiện, chánh xứ Tân Hưng ( Xóm Mới ), ngủ đêm tại nhà xứ để sáng sớm hôm sau mừng lễ ! Thật tình lòng tôi không muốn  chút nào  nhưng mẹ dường như  cứ nài ép  phải đi cho bằng được!

Ngoại trừ những năm sống đời lính tráng xa nhà không đến mừng lễ quan thầy cha bố  nhưng trong nhiều năm  sau khi đã lập gia đình, hàng năm  trong các dịp lễ, Tết, tôi đều nhớ và  đem vợ con đến thăm cha  như để  tỏ lòng biết ơn đến người cha  đỡ đầu trong đời sống tâm linh và  làm như thế, quả thật tôi đã phần  nào  trả được món nợ yêu thương  đối với người mẹ trần gian  của mình. Từ khi được Ơn Chúa cho trở lại, tôi đã dấn bước trên con đường tu tập Thiền Định  bằng  Kinh Mân  Côi  cho tới  ngày nay!

Sau biến cố bảy lăm, tôi đưa cả gia đình về khu vực Hố Nai sinh sống. Ông thì ở với vợ chồng tôi còn bà thì ở với gia đình người chị gái. Cả hai ông bà đã theo nhau về với Chúa, cách nhau chỉ một năm. Khi bà lìa đời, tôi vẫn chưa được Ơn Trở Lại thế nên chỉ ngồi kề bên giường, lặng lẽ nhìn mà chẳng biết làm gì cả!

Tuy vậy, với những khoảnh khắc lặng lẽ ấy, tôi đã có một cảm nghiệm sâu xa về  sự chết và dường như  người mẹ ấy dù thân xác bất động  nhưng linh hồn bà  vẫn dõi theo, âm thầm như  nhắc nhở  một điều gì đó rất đỗi thẳm sâu và linh thiêng đang chờ đợi  tôi ở phía trước!

Tấm lòng của người mẹ đối với những đứa con của mình luôn là một cái gì đó khó bề diễn tả bằng ngôn từ nhất là trong  khi gặp những hoàn cảnh hiểm nguy  không lường trước được. Cha Lê Quang Uy, Dòng Chúa Cứu Thế  trong nhiều trang sách đã nhắc nhớ đến người mẹ của mình vừa như để biết ơn vừa có phần rất đỗi tự hào:

“ Chiều 28 tháng 4, 1975, vừa kết thúc Thánh Lễ bên nhà thờ Phan Xi Cô  Đakao, cha chủ sự chúc bình an xong và mời mọi người chạy xuống khu nội cấm của Tu Viện. Tôi lúc ấy 16 tuổi, không biết sợ là gì, chỉ nghĩ đến gia đình mình bây giờ chắc  đang bấn cả lên vì không thấy thằng con út đâu. Tôi đã vượt thoát  ra cổng nhà thờ, nép sát lề đường để chạy vội về nhà mình. Vào được nhà rồi, tôi chạy ào vào phòng giữa, nơi có đặt bàn thờ gia đình, tôi thấy ba tôi, các chị và anh tôi đang ngồi sụp xuống nền nhà, nép sát vào nhau đọc kinh râm ran. Còn mẹ tôi mừng rỡ chạy đến ôm chầm lấy tôi mừng rỡ…

…Mẹ tôi chưa kịp hoàn hồn thì tới phiên chị Năm của tôi cũng vừa về tới. Mẹ tôi lại ôm  chầm lấy chị tôi, miệng vẫn đang đọc rất to: “ …cầu cho chúng con là kẻ có tội…” Tôi thấy mẹ tôi  giống như đang điểm danh từng  người con trong nhà, khi thấy chỉ thiếu  có mỗi chị Cả  tôi đang ở với chồng con bên Phú Nhuận, mẹ tôi mới tạm yên tâm để kết thúc  lời Kinh với Mẹ Maria: “ Lạy Chúa Giê Su, xin tha tội  cho chúng con, xin cứu chúng con….Amen” ( Lm Lê Quang Uy C.SsR – Chuyến Đi Vạn Hành – Tập 5 ).

Người mẹ nào thì cũng thương yêu con  mình và  với những bà mẹ có con trai, phần đông đều muốn chúng yên bề gia thất, có con để nối dõi tông đường…Riêng với  mẹ của cha Uy thì khác, bà chỉ muốn đứa  con trai của bà…  đi Tu và  tỏ ra dứt khoát khi từ chối việc cưới hỏi  tưởng  như  đã  gần  kề:

“ Đấy, cái giai thoại trong gia đình về…tôi là như thế. Tôi cứ ngỡ chỉ là giai thoại, ngờ đâu đến một ngày, năm tôi 27 tuổi, đứng khoanh tay ngỏ ý xin ba mẹ tôi  đi hỏi cưới người bạn gái đã “ thâm niên” thì mẹ tôi xoay ngang câu chuyện, gạt phắt đi, chẳng phải vì không ưng ý cô ấy vốn  là một thiếu nữ nết na, gia giáo mà chỉ vì: “ Cậu phải đi tu, tôi đã mơ như thế là đúng như thế”

…Kinh khủng quá ! Đã thế, ba tôi mọi khi có tiếng nói quyết định của một gia trưởng  uy quyền, lần này lại lẳng lặng đứng lên đi làm một…điếu thuốc lào ! Thật khổ thân tôi…

…Dằng dai mãi, bên ấy không thấy động tĩnh gì, chắc cũng sốt ruột. Cô bạn gái của tôi nhờ người quen biết gia đình tôi hỏi han và cuối cùng  cũng biết được đầu đuôi. Cô ấy không lộ chuyện ra, âm thầm xin đi Linh Thao  cả tuần. Đùng một cái, cô ấy mời tôi đến nhà và thổ lộ tất cả: “ Uy đi tu là đúng rồi đấy ! Mà mình cũng sẽ đi tu ! Mình đã cầu nguyện và lắng nghe được Tiếng Chúa. Uy và mình  sẽ chẳng lập gia đình với bất cứ ai. Chỉ có con đường TU  mới đem lại hạnh phúc cho cả hai và cho mọi người…” Thế là chấm hết ! Chấm than hẳn hoi” ( Chuyến Đi Vạn Hành đã dẫn ).

Bà mẹ nằm mơ thấy con mình không những…phải đi TU mà còn phải trở thành một  linh mục Dòng Chúa Cứu Thế ? Chàng thanh niên đang là sinh viên  Đại Học Kiến Trúc ấy tìm hiểu ơn gọi  là một ứng sinh  ĐCV  thánh Giu Se  nhưng  phải thi hành nghĩa vụ Thanh Niên Xung Phong trước đã. Thế nhưng khi nói với mẹ chuyện ấy thì bà  tỏ ra không vừa ý:

“ Lại trở về với chuyện của mẹ tôi. Khi biết tôi đã quy phục  và được nhận vào vào Đại Chủng Viện, bà vẫn  cằn nhằn: Tôi nằm mơ rõ ràng cậu vào DCCT  chứ có phải đi chủng viện đâu ? Tôi chỉ biết chống chế: “ Tu đâu cũng là tu, mẹ ơi ! Sao lại phải đi tu Chúa Cứu Thế  mới được ?  Các cha bên ấy đang còn phải đi …tĩnh tâm dài hạn, ai mà  dám nhận người vào Dòng đâu ?  Có lẽ mẹ tôi sợ cậu út  lại giở chứng, giở quẻ nên đành im lặng chờ cơ hội !...

…Cho đến năm 1989, bất ngờ tôi gặp một anh đang  tìm hiểu Ơn Gọi DCCT , tôi bán tín bán nghi, hỏi thăm cha Tiến Lộc  mới biết Nhà Dòng  vẫn đang âm thầm  nhận người đi tu. Tôi mừng quá, vội xin chuyển hướng, cha Vũ Khởi Phụng nhận ngay vào Khóa Dự Tập. Đến lúc ấy  tôi mới thấy tin vào lời giải mộng của mẹ tôi, kỳ diệu thật !...

…Ngày tôi báo tin vui được nhận vào Nhà Tập DCCT  thì ba tôi đã qua đời tròn ba năm, mẹ tôi rớm nước mắt  bảo: “ Thôi, bây giờ mẹ có đi theo ba về với Chúa cũng được rồi” ( Chuyến Đi Vạn Hành – đã dẫn ).

Nghe  câu nói của bà mẹ cha Uy, bất giác  tôi  liên tưởng tới lời tiên tri  Simeon khi gặp Đức Maria và thánh Giu Se  dâng con vào đền thờ: “ Lạy Chúa, giờ đây  đầy tớ Chúa được ra đi bình an vì con mắt tôi đã thấy ơn cứu rỗi, Chúa đã dành cho Dân  Người” ( Lc 2, 29 -31 ). Việc…nằm mơ của  người mẹ ấy, tôi cho đó cũng chính là Thánh Ý Chúa đã quan phòng xếp đặt cho  công tác Mục Vụ thích hợp  của cha Uy sau này  đó là Bảo Vệ Sinh Sản, Tĩnh Tâm cho Giới Trẻ về những vấn đề gai góc của thời đại  v.v…

Tôi quan niệm rằng cả trong lãnh vực đời thường cũng như đời tâm linh, không có gì là ngẫu nhiên, tình cờ, tất cả đều tuân thủ theo định luật Nhân Duyên Quả Báo. Sự ra đời và hiện hữu  của bất cứ con người nào đều có duyên phận của nó và thánh Augustin, tiến sĩ Hội Thánh  với bà mẹ Monica nổi tiếng của ngài là một trong những trường hợp đó.

Thánh Augustin ( 354 – 430 ) là một  giáo phụ trổi vượt  về lãnh vực nội tâm, đã được triết gia Karl Jaspers hết lời ca ngợi: “ Ở đây  thấy muôn vàn kiểu nói bất hủ về đời sống tâm linh; ra như  những gì thuộc tâm linh sâu kín đã được diễn tả thành ngôn ngữ linh động. Thực vậy, đây là một triết lý về nội tâm  được suy tư rất sâu xa và rất thú vị mà triết học xưa  chưa hề biết tới” ( GS Lê Tôn Nghiêm – LSTHTP. Q.II ).

Mỗi thời đại, đều có những thánh nhân xuất hiện và  ẩn khuất phía sau vị thánh ấy là…những bà mẹ. Bà Monica là tấm gương sáng rỡ của Giáo Hội Công Giáo về  sự kiên trì cầu nguyện và lòng cậy trông  cho Ơn Gọi của con mình ngay cả trong  những  giấc chiêm bao: “ Và từ trên cao, Chúa đã giơ tay kéo linh hồn con ra khỏi  vực sâu tăm tối đó; đang khi mẹ con là nữ tỳ  trung tín của Chúa, khóc lóc  trước mặt Chúa về con nhiều hơn các bà mẹ khóc con mình đã chết. Vì nhờ tinh thần đức tin  mà người đã lãnh nhận nơi Chúa, người thấy con đã chết. Và Chúa đã nghe lời người, Lạy Chúa, Chúa đã nghe lời người  và đã không khinh chê nước mắt mà người đã đổ ra  tưới mặt đất  dưới chân người, khắp nơi người cầu nguyện. Chúa đã nghe lời người…Vì bởi đâu  mà có giấc chiêm bao, để Chúa yên ủi người, đến nỗi người lại thỏa thuận  cho con sống cùng nhà, ăn cùng bàn với người ? Ban đầu, người không muốn điều đó, vì gớm ghét và ghê tởm những xúc phạm do lạc thuyết của con gây nên. Vậy, trong giấc chiêm bao, người đã thấy mình đứng trên một cái thước gỗ, một thanh niên sáng rực đi với người, vui vẻ và  tươi cười với người, đang khi người  buồn rầu, chán nản. Thanh niên hỏi người  về lý do buồn rầu đó và nước mắt hàng ngày, để dạy bảo người, như sự  có thường xảy đến, người khóc cho sự hư đi của con. Thì thanh niên truyền cho người hãy yên tâm và bảo người hãy để ý mà nhìn xem: người ở đâu con cũng ở đó. Người nhìn xem và thấy rằng: Con đứng cùng  người trên cùng một cái thước…

…Bởi đâu có cuộc chiêm bao đó, nếu không phải là vì Chúa  đã để tai nghe lòng dạ người sao ? Ôi ! Thiên Chúa  tốt lành và toàn năng ! Chúa chăm sóc từng người chúng con như thể Chúa  chỉ chăm sóc có một mình nó. Và Chúa chăm sóc mọi người như từng người một” ( Saint Augustin – Tự Thuật ).

Quả thật, Thiên Chúa là Đấng nhân từ, cao cả và quyền năng, Ngài chăm sóc từng người, không hề bỏ sót một ai  dù kẻ ấy có tội lỗi, xấu xa đến đâu. Mặc dầu vậy, Thiên Chúa vẫn đòi hỏi  ở nơi mỗi người  lòng tin và sự cậy trông  bền  vững. Chính đức tin và lòng cậy trông ấy  đã khiến cho thánh Monica  có thể  vượt qua bao gian lao, nguy hiểm  để cộng tác với Ơn Chúa cho việc trở lại của con mình:

“ Ôi, Chúa là hy vọng của con từ tuổi thanh xuân. Đối với con, lúc đó Chúa ở đâu và Chúa ẩn mình nơi  nào ?  Há chẳng phải Chúa đã dựng nên con , đã làm cho con khác loài  thú bốn chân và khác hơn chim trời hay sao ? Nhưng lang thang  trong tăm tối và trên con đường trơn trượt, con tìm kiếm Chúa ở ngoài con  nên con không gặp được Chúa của lòng con. Con đã chìm tận đáy biển và đã mất hết tín nhiệm và hy vọng tìm được chân lý…

…Được lòng đạo thêm sức mạnh, mẹ con đã đến với con, ngài vượt biển hàng ngàn  để theo con và trong mọi cơn nguy khốn, ngài được Chúa  hộ phù. Vì trong những lúc gian nan  của cuộc vượt biển, ngài đã khích lệ các hành khách chưa quen vượt biển. Khi họ lo sợ, ngài đã hứa  với họ là sẽ được tới bến bình an, vì Chúa đã hứa cho ngài sự ấy trong một thị kiến.” ( Thánh Augustin – Tự Thuật ).

Trong cuộc hành trình  đức tin của Dân Chúa, chúng ta thấy luôn có những thị kiến hay nói theo  đời thường  là  giấc mộng. Đối với  Monica, bà tin những giấc mộng ấy đến từ Chúa  và chính vì tin  tưởng như thế nên bà đã có được  vững tâm trong những ước nguyện của mình là muốn con được Ơn Trở Lại và…làm Thánh:

“ Người ta hằng thúc giục con kết bạn. Con đã cầu hôn và hai bên đã ước hôn. Trong việc này, mẹ con hành động  mạnh nhất, hầu sau khi kết bạn, con được chịu Phép Thánh Tẩy Cứu Độ. Ngài  vui mừng thấy con  mỗi ngày một xứng đáng  với Nhiệm Tích đó và trong đức tin của con, ngài nhìn nhận là ước nguyện của ngài và lời hứa của Chúa đã được thực hiện…

…Thật vậy, theo lời con xin và theo ước nguyện của mẹ con, hàng ngày, ngài khẩn khoản kêu xin Chúa  dùng một thị kiến  tỏ cho ngài biết  một chút về cuộc hôn phối  tương lai của con nhưng Chúa đã không  hề ưng thuận. Ngài đã  nhìn thấy những hình ảnh hư ảo và kỳ quái, như khi tâm thần người ta  yên trí quá  về việc gì thì  thường phát xuất những hiện tượng như vậy. Ngài kể cho con nghe, nhưng ngài không tin tưởng  như thường lệ, khi Chúa mạc khải cho ngài, ngài còn khinh thường  các hình ảnh đó nữa. Ngài bảo là ngài nhận thấy con không biết do một cảm thức nào mà lời  nói không thể tả được, một sự khác biệt  giữa các mạc khải do  Chúa mà đến và các mơ mộng của tâm thần ngài…

…Tuy nhiên, người ta thúc giục kết hôn nhưng còn thiếu hai năm mới tới tuổi kết bạn. Vì chị ta vừa ý con, nên chỉ còn chờ đợi” ( Thánh Augustin – Tự Thuật ).

Con đường thực hiện tâm linh, tất cả  chỉ  hệ tại ở việc  biết vâng theo Thánh Ý Chúa. Tuy nhiên việc vâng theo Thánh Ý ấy  thật sự không hề  dễ dàng chút nào bởi lẽ nó hoàn toàn trái ngược với những dự tính, nguyện vọng của con người. Thánh Augustin khi chưa được Ơn Trở Lại, ngài vẫn tính đến chuyện kết hôn và sống cuộc sống như bao người khác. Thế nhưng Ý Chúa nhiệm mầu đã dẫn dắt vị giám mục tương lai này đi theo Con Đường  hoàn toàn khác  đó là  Con Đường Từ Bỏ của Đức Ky Tô:

“ Vậy con vội vã trở lại chỗ Alypius ngồi vì khi đứng dậy ra đi, con đã để sách Tông Đồ lại đó. Con cầm lấy, mở ra  và đọc thầm đoạn thứ nhất mắt con bắt gặp: Không phải trong chè chén say sưa, trong dâm dật và phóng đãng, trong kình địch và ghen tương. Nhưng anh em hãy mặc lấy Chúa Giê Su Ky Tô và đừng lo toan về xác thịt cho thỏa các đam mê. Và con không muốn  đọc thêm nữa vì thấy không cần. Thật vậy, con vừa đọc xong câu đó thì như có một  ánh sáng an bình tràn vào lòng con, làm tan biến  mọi tối tăm của sự nghi ngờ” ( Thánh Augustin – Tự Thuật đã dẫn ).

Cái khoảnh khắc đánh động tâm trí thánh Augustin theo như lời kể của ngài là khi đọc  được đoạn Kinh Thánh về sự Từ Bỏ để theo Đức Ky Tô. Thế nhưng  thực ra  để có được sự… đánh động đó hoàn toàn không có chi là  ngẫu nhiên, hay  tình cờ mà  ngài  đã phải  trải qua một quá trình nỗ lực tìm kiếm  lâu dài cùng với ước nguyện lớn lao của người mẹ. Có thể nói, nếu không có ước nguyện lớn lao  cùng với đức tin và lòng cậy trông của người mẹ  kiên cường ấy  thì con đường Nên Thánh của Augustin  cũng  khó mà thành tựu?

Việc trở lại và nên thánh của Augustin có phần đóng góp to lớn  của bà Monica là điều không thể phủ nhận và  cũng vì điều đó đã khiến bà được chung phần niềm vui cao cả với  người con yêu dấu của mình:

“ Chúng con đã bỏ đó mà đi tới chỗ mẹ con và kể cho người biết để người vui mừng. Chúng con đã kể công việc đã xảy ra như thế nào: Người hân hoan, đắc chí và tán tụng Chúa, Đấng “ quyền năng làm được mọi sự”  một cách phong phú  hơn điều chúng con cầu xin và nghĩ tưởng vì nơi Con Chúa  đã ban cho người  nhiều hơn người đã xin, qua những lời than thở và bao nước mắt thống khổ. Vì Chúa đã làm cho con trở lại với Chúa một cách hoàn toàn, đến nỗi con không còn  mơ màng gì đến  vợ con  hay một hy vọng nào nữa, con đã đứng trên “ Luật Đức Tin” mà bao năm trước đây, Chúa đã cho người thấy  trong một thị kiến. Chúa đã đổi tang tóc của người ra vui mừng quá đỗi, quá điều người ước ao và quý giá, thanh tịnh hơn  niềm vui mừng mà người chờ đợi ở  con cháu phần xác của con” (Thánh Augustin – Tự Thuật  đã dẫn ).

Theo lời kể của chính thánh Augustin thì việc trở lại của ngài là do  được thúc  đẩy  bởi  lời thánh Phao Lô về sự từ bỏ, nguyên văn  như sau: “ Phải như thế  vì anh em biết  chúng ta đang sống trong thời nào. Đã đến lúc anh em phải thức dậy vì hiện nay ngày Thiên Chúa Cứu Độ  đã gần hơn trước kia, khi chúng ta mới tin đạo. Đêm sắp tàn, ngày gần đến. Vậy chúng ta hãy loại bỏ những việc làm đen tối và cầm lấy vũ khí  của sự sống để chiến đấu. Chúng ta hãy ăn ở cho  cho đúng đắn  như người đang sống giữa ban ngày, không chè chén say sưa, không chơi bời dâm đãng cũng không cãi cọ, ghen tương. Nhưng anh em hãy  mặc lấy  Chúa Giê Su Ky Tô và đừng chiều theo  tính xác thịt mà thỏa mãn các dục vọng” ( Rm 13, 11 -14 ).

Để sống đời từ bỏ tức “ Mặc lấy Chúa Giê Su Ky Tô” thì không có cách nào khác ngoài ra là phải coi  thế gian, ngay cả thân xác này cũng  chỉ là thứ hư phù, sinh diệt, có đấy rồi liền mất đấy: “ Sự sống của anh em là chi ? Chẳng qua  chỉ như  một chút hơi nước. Hiện ra một lát rồi lại tan mất” ( Gc 4, 14 ).

Sự sống vật chất, thế gian chỉ là hư ảo, bởi vậy thánh Augustin khi trở lại  như ngài nói không màng gì đến chuyện vợ con cũng như có chút hy vọng gì ở cõi đời này nữa. Với thánh Monica cũng vậy, trước đây ngài vẫn ước ao được chôn cất tại quê hương bản quán, nhưng sau việc trở lại của thánh Augustin và với  Ơn Chúa, ngài đã từ bỏ ý định ấy:

Trong  giờ phút lâm chung, thánh Monica đã trối lại cho các con đang tề tựu bên giường: “ Các con hãy chôn mẹ  các con ở đây”. Con thinh lặng và ứa nước mắt. Nhưng em con nói  mấy lời tỏ ý  ước ao thấy  ngài chết tại quê nhà hơn là ở nơi tha hương này. Nghe thấy vậy, ngài tỏ vẻ không bằng lòng, ngài quắc mắt nhìn em con, vì đã có những ý tưởng như vậy, rồi ngài nhìn con mà nói: “ Con xem, nó nói như vậy đó. Đoạn ngài bảo cả hai chúng con: Các con chôn xác này ở đâu cũng được, các con đừng quá lo về nó, mẹ chỉ xin các con một điều  là bất cứ các con ở đâu, các con hãy nhớ đến mẹ trước bàn thờ Chúa” ( Thánh Augustin – Tự Thuật ).

Cả một đời vất vả, gian lao chỉ với  niềm  ước ao là thấy con mình  bỏ  đường tà vạy để trở về với Chúa nhưng người mẹ ấy  trong giây phút lìa đời lại chỉ xin các con một điều là hãy nhớ đến mình trong lời cầu nguyện trước Bàn Thờ Chúa. Ôi, đức tin  và tấm lòng của người mẹ ấy  mới  đẹp lòng Chúa biết bao ? Bởi suy cho cùng, con người ta sinh ra trong cõi đời này rồi ra ai mà  chẳng phải chết. Nhưng chết rồi đi đâu ? Về đâu ? Thánh Augustin và mẹ ngài là bà Monica đã trải qua cuộc đời dương thế  với tất cả lòng tin và niềm cậy trông, giờ đây đang hưởng vinh phúc trên Thiên Đàng, đó  chẳng phải là niềm hy vọng của tất cả những tâm hồn thiện lương  trong bất cứ  truyền thống tâm linh nào hay sao ?

Các truyền thống tâm linh đều  có cùng một mục đích đó là  để giải quyết rốt ráo vấn đề sinh tử, tử sinh. Đại sư Hám Sơn ( 1546 – 1623 ) tục danh Đức Thanh  là một thiền sư danh tiếng của cả hai truyền thống Thiền Tông và Tịnh Độ Tông vào  cuối  thời nhà Minh ( Trung Quốc ). Ngài được coi là một Thánh Tăng ngang hàng với  04 vị đại sư khác là Từ Bá Đạt Quán, Vân Thê Châu Hoàng và  Ngẫu Ích Tri Húc. Sau khi nhập diệt, sư đã để lại nhục thân không bị hư thối và hiện  đặt tại Chùa Tào Khê  cùng với nhục thân của đức lục tổ Huệ Năng  cho tín hữu thập phương chiêm bái.

Cũng như những vị thiền sư nổi tiếng khác, ngay từ khi còn rất nhỏ, Đức Thanh  đã  có nỗi  ưu tư về  lẽ sống chết  ở  đời : “  Khi tôi lên bảy, mẹ tôi cho tôi đi học. Khi ấy tôi có một người cậu thương tôi lắm. Một hôm, trước khi tôi đi học về, cậu chết. Khi tôi thấy cậu nằm bất động trên giường, cố dấu tôi về cái chết của cậu, mẹ tôi nói: Cậu ngủ, con muốn đánh thức cậu dậy cũng được. Nghe vậy, tôi lên tiếng gọi cậu mấy lần nhưng cậu chẳng hề đáp. Thấy vậy, mợ tôi quá đau khổ, gào lên: Hỡi trời ơi, mình đã đi đâu rồi ? Bàng hoàng quá, tôi hỏi mẹ: Cậu nằm ngay đó mà sao mợ lại bảo là cậu đã đi ? Lúc ấy, mẹ tôi nói: Cậu con chết rồi ! Chết rồi về đâu ? Tôi hỏi và từ đó câu hỏi ấy  đã ăn sâu vào tâm trí tôi” ( Chang Chen Chi – Thiền Đạo Tu Tập ).

Chính câu hỏi: “Chết rồi về đâu” ?  ấy  đã khiến  cậu bé Đức Thanh dấn bước trên con đường  Tu Tập để tìm  cho ra câu trả lời. Tuy nhiên, đó là câu chuyện về sau  và câu chuyện này có liên quan mật thiết đến bà mẹ tuyệt vời của đại sư Hám Sơn:

“ Khi lên tám, tôi được gửi trọ  tại nhà một người họ hàng ở bên kia sông để gần trường học hơn. Mẹ tôi cấm không  cho về nhà  nhiều hơn là mỗi tháng một lần. Thế nhưng một hôm, sau ngày nghỉ hàng tháng, tôi không chịu trở lại trường. Khi tôi bảo tôi không thể rời bà được, bà nổi xung thiên, bà đánh tôi và đuổi tôi ra bờ sông. Nhưng tới đó tôi vẫn không chịu rời bà để lên đò. Đang cơn giận, mẹ tôi túm lấy tóc tôi và ném tôi xuống sông, rồi quay về  nhà mà không  một lần ngoái lại. Bà tôi có mặt  gần đó kêu cứu, nhờ thế tôi thoát chết. Cuối cùng, khi tôi về nhà, mẹ tôi hét: Để cái đồ vô tích sự  đó sống làm gì ? Thà nó chết chìm còn hơn ! Sau đó bà đánh đòn tôi  và định đuổi tôi đi. Lúc ấy, tôi cho rằng mẹ tôi quá nghiêm khắc  và tàn nhẫn, nên tôi quyết không về nhà nữa…

…Sau đó, tôi được biết rằng mẹ tôi nhiều lần đứng khóc một mình trên bờ sông. Khi bà tôi biết việc đó,bà quở trách mẹ tôi. Lệ tuôn trào  lên má, mẹ tôi đáp: Con phải làm cho nó  vượt qua được cái tính quá đa cảm để nó có thể học hành nghiêm nghị” ( Chang Chen Chi – Thiền Đạo Tu Tập đã dẫn ).

Bà mẹ để tâm đến việc học hành của con, muốn nó được công thành danh toại với thiên hạ. Thế nhưng với  Đức Thanh, ngay  khi chỉ là một thiếu niên đã có chí hướng  thoát tục  để bước vào Con Đường Tâm Linh hầu vĩnh viễn thoát khổ. Trong một lần kia khi theo mẹ lên chùa, chợt nghe một ông tăng tụng Kinh Phổ Môn ( Pháp Hoa ) và nhờ  vậy đã có một ý thức  dù còn mờ nhạt về sự vô ích của con đường học vấn mà mẹ  muốn mình theo đuổi:

“ Vào năm 1555, tôi lên mười. Mẹ tôi ép tôi học dữ quá, khiến tôi buồn lắm. Tôi hỏi bà: Sao con phải học ? Bà đáp: Để đạt được một địa vị cao trong chính phủ ! Tôi hỏi tiếp: Thế sau này con có thể đạt được địa vị như thế nào ? Bà đáp: Con có thể bắt đầu bằng một địa vị thấp và rồi biết đâu có thể lên tới Tể Tướng. Tôi nói: Dù cho con có trở thành Tể Tướng đi, rồi sao nữa ? Bà đáp: Người ta chỉ có thể lên tới đó !

Nghe mẹ nói như vậy, Đức Thanh thoáng suy nghĩ rồi  đáp: “Làm một công chức cao cấp  thì có ích gì ? Làm việc cả đời, vất vả, khổ cực  để chẳng được gì  thì thật là vô ích. Con muốn đạt được một cái gì đó  có giá trị vĩnh cửu”. Với một cậu bé  mới lên mười mà đã có quan niệm về giá trị đích thực của hạnh phúc như thế quả là hy hữu. Tuy nhiên quan niệm ấy lại rất tương ưng với  Lão Tử, một bậc đại triết  sống cách  đó  đã  hàng ngàn năm về  Con Đường Đạo:

“ Theo học, ngày càng  thêm

Theo Đạo, ngày càng bớt

Bớt rồi lại bớt, đến mức vô vi”

(  Vi học nhật ích – Vi Đạo nhật tổn, tổn chi hựu tổn, Dĩ chí ư vô vi )

ĐĐK  chương 48

Cái học của người đời mục đích chỉ để thu thập kiến thức tức…thêm vào. Trái lại, theo Đạo thì cần phải bớt, bớt  mãi  đến chỗ Vô Vi có nghĩa có làm nhưng không hề chấp chước vào việc làm tức không còn thấy…có một Cái Tôi ( Ngã Chấp ) nữa…

Vào năm Đức Thanh 12 tuổi có ý xuất gia, tuy cha không đồng ý nhưng mẹ lại chấp thuận và từ đó Hám Sơn dấn thân trên đường tu tập, trải qua vô số trở ngại, bệnh tật, tù đầy, bị đánh đập, tra khảo  nhưng vẫn bền tâm nuôi dưỡng lòng khát khao lìa bỏ thế giới khổ đau này. Trong một giấc mộng, ngài được đưa lên tới  Cung Trời Đâu Xuất nghe Bồ Tát Di Lặc giảng kinh:

“ Theo chân ông tăng, tôi leo những bậc  lên một bục cao, tôi đứng lặng ở đó, mắt nhắm, thấy vừa hồi hộp  vừa hoan hỉ. Nghe tiếng chuông ngân, tôi thấy Di Lặc Bồ Tát đã  lên gần đến  Tòa. Tôi đảnh lễ, gương mặt Ngài  rực rỡ ánh vàng, không gì trên thế gian có thể sánh được. Rõ ràng tôi là khách danh dự và Di Lặc Bồ Tát  sẽ giảng kinh này đặc biệt cho tôi. Tôi quỳ xuống và mở  Cuốn Kinh ra thì nghe Ngài nói: Phân Biệt là Thức. Vô Phân Biệt là Trí. Dựa vào Thức là Nhiễm. Dựa vào Trí là Tịnh. Nhiễm tất có sinh tử. Tịnh chẳng có chư Phật. Bỗng nhiên cả thân lẫn tâm  thấy rỗng không và tôi  tỉnh giấc  với tiếng Ngài còn vẳng bên tai. Từ ấy, tôi thấu triệt  được sự dị biệt giữa Thức và Trí. Tôi hiểu tôi đã lên tới Cõi Trời Đâu Xuất, cung điện của Đức Di Lặc” ( Thiền Đạo Tu Tập đã dẫn ).

Đại sư Hám Sơn tu và đắc đạo, được vua ban cho Đại Tạng Kinh  và ngài    cũng muốn về thăm song thân khi ấy vẫn còn sống. Vào năm 1589 khi  ấy đại sư đã 40 tuổi, ngài làm một bài kệ, tỏ ra đã chứng đắc thâm sâu về Thiền:

“ Ngày ngày sóng nổi ngập thái không

Chim cá cùng bơi một kính trong

Đêm qua trăng bỗng rụng bên trời

Sáng bừng như lẫn ngọc ly long”

Lập tức, tôi gọi thị giả và bảo ông ta: Bây giờ tôi có thể về quê, thăm cha mẹ được rồi. Báo Ân Tự ở quận nhà tôi, từ lâu nay đã xin  trọn bộ Đại Tạng. Vào tháng mười tôi đi kinh sư  để xin cho người đồng xứ. Hoàng đế ban cho  trọn Bộ Đại Tạng. Theo hộ tống đến Long Giang, về đến Báo Ân Tự  vào tháng mười một. Trước khi tôi về tới tháp, trong  Chùa phóng quang suốt  mấy ngày. Vào ngày Kinh về tới, ánh sáng hiển linh như một chiếc cầu vồng trải từ trời xuống đất. Tất cả tăng chúng  đến nghênh Kinh đều đi qua ánh sáng này. Suốt các buổi lễ  An Kinh, ánh sáng chiếu mỗi ngày không hề gián đoạn. người đến xem lên đến trên vạn mỗi ngày, từ khắp nơi đến chứng kiến phép lạ này. Tất cả đều cho đó là  điềm hiếm có và lành…

…. Trong khi đó, mẹ già nghe tin tôi về, bà sai người đến hỏi xem khi nào tôi về thăm nhà ? Để trả lời, tôi nói là Triều Đình phái tôi hộ tống Kinh chứ không phải để về nhà. Tuy nhiên, nếu mẹ tôi có thể tiếp tôi một cách vui vẻ, không hề  khổ não, như thể tôi chưa từng rời bà thì tôi sẽ ở lại nhà hai  đêm. Khi mẹ tôi nghe những lời ấy, bà thốt lên: Đây thật là  cuộc gặp gỡ “ bất ngờ” giống như tìm lại được một người nhà  trong một kiếp khác. Quá hoan hỉ, làm sao tôi  còn có thì giờ để đau khổ ?  Ô, ta sẽ rất hài lòng gặp  con ta dù chỉ trong một khoảnh khắc. Hai đêm ở nhà hơn ta mong  mỏi quá nhiều…

….Khi tôi về đến nhà, mẹ tôi vui quá, bà chẳng lộ vẻ  buồn khổ gì cả. Nơi bà, tôi chỉ thấy niềm vui, điều này làm tôi ngạc nhiên lắm ! Vào buổi chiều, các huynh trưởng trong họ hàng đến, một người trong họ hỏi: Thầy đến bằng thuyền  hay bằng đường bộ ? Mẹ tôi lập tức trả lời: Nói bằng thuyền hay bằng đường bộ là ngụ ý gì vậy ? Người họ hàng nói: Điều tôi thực sự muốn biết  là thầy ấy từ đâu về nhà ? Mẹ tôi đáp: Từ “ Không” trở về với chúng ta. Tôi  rất ngạc nhiên khi nghe bà nói vậy, trong cơn ngạc nhiên tôi nói: Chẳng lạ gì mà bà cụ cho tôi  Đi Tu ! Đoạn tôi hỏi bà: Từ khi con đi khỏi nhà, mẹ có nghĩ tới con không ? Bà nói: Sao không cho được ? Tôi bèn hỏi: Thế mẹ làm gì để khuây khỏa ? Bà đáp: Thoạt đầu mẹ cũng không biết làm gì ! Rồi nghe người khác bảo rằng  con đang ở Ngũ Đài Sơn. Mẹ hỏi  một thầy tăng, nơi đó ở đâu ? Thầy bảo, ở ngay dưới Bắc Đẩu. Thế là mẹ đảnh lễ Sao Bắc Đẩu  và niệm Danh Hiệu Bồ Tát. Sau đó mẹ thấy khuây khỏa hơn và không còn nghĩ tới con nữa ! Rồi thì mẹ cho là con đã chết rồi, với mẹ không còn  khổ não, không còn nghĩ đến con. Bây giờ mẹ gặp con  như thể trong một kiếp khác.” ( Thiền Đạo Tu Tập – đã dẫn ).

Qua 03 câu chuyện về 03 người  mẹ  tuyệt vời  trên  đây  cho thấy  chính tình thương yêu của các bà  dành cho con của mình đã giúp  họ trở nên những con người xuất chúng, hơn nữa…là những vị Thánh ! Tuy nhiên  có một Bà Mẹ còn trên cả tuyệt vời nữa  bởi vì Ngài  khác hơn mọi bà mẹ  khác. Những bà mẹ trần gian quả  là có tình yêu thương con cái  nhưng chỉ là khi chúng còn  thơ ấu, bé nhỏ, biết vâng lời… nhưng khi đã lớn khôn, lập gia đình riêng thì khi ấy hầu như tình yêu thương không còn ! Mặt khác những người mẹ trần gian này dù thương con  đến  mấy nhưng lại không có khả năng đầy đủ  để giúp chúng khi cần. Trái lại Đức Maria là một Người Mẹ  vừa có lòng từ bi vô hạn lại có quyền lực mạnh mẽ  hầu  cứu giup con cái  mọi lúc, mọi nơi khi chúng  ta kêu cầu đến Ngài !

Sở dĩ Đức Maria có quyền lực mạnh mẽ như thế  bởi vì Ngài  là Đấng Đồng Công Cứu Chuộc: “ Ngôi Hai bắt đầu việc Cứu Chuộc với sự ưng thuận  của Đức Mẹ, khi đã long trọng hỏi ý kiến  và Đức Mẹ đã đồng ý chấp nhận. Đến sau, Người cũng không thực hiện việc Cứu Độ  nếu không có sự ưng thuận  và sự chứng kiến  của Đức Mẹ; Bởi Đức Maria  đã cùng chịu khổ, cùng chung chí hướng  với Chúa Ky Tô. Đức Mẹ đã  xứng đáng  trở thành Vị Khôi Phục Thế Giới hư hỏng và là Đấng ban các ơn  mà Chúa Ky Tô đã tử nạn, đổ máu chuộc lại. Đứng kề Thánh Giá Chúa trên đồi Calve  Mẹ đại diện  cho toàn thể nhân loại. Trong các Thánh Lễ ngày nay, Chúa Cứu Thế  cũng thực hành  theo thể thức trên . Đức Maria, Người Nữ  đã được báo trước  từ Vườn Địa Đàng sẽ đạp giập đầu  rắn Sa Tan, đang có mặt và luôn luôn hành động  với Chúa Ky Tô. Muốn dự Thánh Lễ cho nên, cần phải thân mật kết hợp với Đức Mẹ” ( Thủ Bản Legio – Chương 8 câu số 88 ).

Tại  sao  cần  kết hợp với Đức Mẹ để được Ơn Cứu Rỗi ? Xin thưa đó là vì Đức Maria đã được tiên báo từ muôn thuở  là Người Nữ đạp giập đầu rắn Sa Tan: “ Đức Giehova phán với con rắn: Ta sẽ làm cho mày cùng Người Nữ. Dòng dõi mày cùng dòng dõi Người Nữ nghịch thù nhau. Người sẽ giày đạp đầu mày, còn mày thì sẽ rình cắn gót chân Người” ( St 3, 14 -15 ).

Lời tiên báo này cho thấy  một cuộc chiến tâm linh sẽ  diễn ra giữa dòng dõi Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội  và  dòng dõi  của quỷ Sa Tan. Dòng dõi Đức Maria bao gồm những người tin theo Đức Giê Su Ky Tô. Còn dòng dõi Sa Tan là những người không tin, phục Ngài. Cuộc chiến tâm linh ấy tuy âm thầm nhưng hết sức khốc liệt diễn ra trong suốt  lịch sử  Cứu Độ, từ ngày  xuất sinh nơi đời của Đức Giê Su Ky Tô cho tới  thời  tận cùng hiện nay.

Để khởi đầu cho công cuộc rao giảng Tin Mừng, Đức Giê Su đã kêu gọi  lòng tin và sự sám hối, ăn năn: “ Thời đã mãn, Nước Thiên Chúa đã gần, các ngươi hãy ăn năn sám hối và tin vào Tin Mừng” ( Mc 1, 15 ). Sám hối và tin vào Tin Mừng của Đức Ky Tô luôn gắn bó mật thiết với nhau. Có thực lòng sám hối ăn năn chừa cải tội mình thì mới có thể có được lòng tin vào Tin Mừng, lý do bởi  vì Tin Mừng của Đức Ky Tô là về Nước Trời Mầu Nhiệm Nội Tại ( Lc 17, 20 -21 ).

Việc ăn năn, sám hối tội mình đó chính là  Tu mà tu  tức là sửa là cải thiện đời sống mình chứ chẳng phải điều chi khác. Cần phải TU thì mới có thể tin vào Tin Mừng của Đức Ky Tô, trái lại thì không. Cũng chính bởi đã nhận thức được ý nghĩa của việc TU  như thế  nên  các bà mẹ  được nêu trong thiên luận này mới mong mỏi cho con mình theo đuổi  con đường  Tu Trì  hầu đạt đến hạnh phúc viên mãn Nước Trời.

Với các người mẹ trần gian đã  thế thì Đức Maria Người Mẹ Tâm Linh cũng vậy, nhưng trổi vượt hơn rất  nhiều. Ngài đã dâng Con Mình là Đức Giê Su để   nên  như một…tế vật  dù biết là Người Con Chí Thánh ấy sẽ bị người ta giết chết cách vô cùng đau đớn. Suy tư về mầu nhiệm lớn lao này, thánh Ambrosio  nói: “ Dưới chân Thánh Giá, khi Mẹ nhìn đến các thương tích  của  con  với cặp mắt Mẹ Hiền. Điều Mẹ nghĩ tưởng không phải là cái chết của con yêu dấu nhưng là phần rỗi nhân thế” ( M.V Bernadot O.P – Mẹ Trong Đời Tôi ).

Đức Maria đã dâng con mình là Chúa Giê Su lên Chúa Cha  như một…tế vật và   muốn chúng ta là dòng dõi của Ngài cũng phải hiến dâng cuộc đời mình  như vậy. Hiến dâng cuộc đời mình ở đây có nghĩa là TU mà Tu theo Chúa  có nghĩa là Bỏ Mình, vui lòng  vác thập giá theo Ngài ( Lc 9, 20 ).

Thập giá là một thứ khổ hình dành cho tử tội, như vậy, vác thập giá theo Chúa là  hành vi  hết sức khó. Tuy nhiên một khi Chúa Giê Su đã nói vậy thì phải đúng như vậy, có nghĩa phải vui lòng chịu khổ vì Chúa  trong mọi hoàn cảnh thì mới có thể  thoát khổ, không còn con đường nào khác ?

Trong những lần Đức Mẹ hiện ra trên khắp thế giới, Ngài chỉ có một  Thông Điệp duy nhất đó là kêu gọi con cái mình hãy  sám hối, ăn năn cải chừa tội lỗi, thế nhưng dường như người ta vẫn… bưng tai, nhắm mắt làm ngơ. Vào  ngày 13/10/ 1980, Đức Mẹ hiện ra tại  Nicaragua nói với  một nông dân tên là Bernado Martinez: “ Con đã xin những điều không quan trọng. Hãy xin đức tin, để mỗi chúng con có sức mạnh để vác thánh giá của chúng con. Những đau khổ của thế gian này không thể nào cất khỏi chúng con. Những đau khổ chính là  thánh giá chúng con phải chịu” ( Lm Rene’ Laurentin – Những Lần Hiện Ra Của Đức Trinh Nữ Maria ).

Đau khổ ở cõi thế gian này không thể kể xiết nhưng nếu  thực tâm tin vào Chúa Giê Su Ky Tô, Đấng đến để cứu vớt những kẻ tội lỗi, bất toàn và  hết lòng cậy trông nơi Đức Maria  thì  tất cả chúng ta sẽ được cứu thoát. Thánh Benado, tiến sĩ Hội Thánh nói: “ Theo chân Mẹ, bạn không lạc lối, kêu cầu Mẹ, bạn không thất vọng, nhớ tưởng Mẹ, bạn không mê lầm. Tựa váo Mẹ, bạn không sợ ngã. Mẹ chở che,  bạn không khiếp sợ. Mẹ dẫn dắt, bạn không nản lòng thối chí. Nhờ Mẹ, bạn về tới bến”  ( Sách Vàng  của thánh G. De Monfort – Senatus Sài Gòn Xuất Bản )./.

 

Phùng  Văn  Hóa

 

( Thân tặng cha Giu Se Lê Quang Uy DCCT )

 

 

 

 

 

 

 

TRUNG GIAN

Ngày đầu năm, mọi dân nước rộn rã hân hoan đón chào một sự khởi đầu mới. Chúng ta cùng dâng lời tạ ơn Chúa cho một năm qua với nhiều ân sủng và những niềm vui, cả những nỗi buồn. Nhìn lại năm cũ để tính toán sổ sách cuộc đời và hướng tới năm mới để dự phóng những chương trình và mơ ước cho tương lai. Ôn cố tri tân. Đối với con người đang lữ hành, thời gian là hồng ân có quá khứ, hiện tại và tương lai. Thêm một năm, mỗi người cộng thêm một tuổi trong ân sủng của Chúa.

Hôm nay Giáo Hội Công Giáo mừng kính lễ Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa. Đức Maria được Thiên Chúa tuyển chọn trong muôn vàn phụ nữ để cưu mang Con Chúa. Qua lời xin vâng, trinh nữ Maria đã thụ thai và sinh hạ Con Thiên Chúa. Dựa vào Kinh Thánh mạc khải, truyền thống, suy tư thần học và tâm tình con thảo, Giáo Hội đã tuyên tín: Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa. Tước hiệu Mẹ Thiên Chúa quá nhiệm mầu và cao cả.

Đức Maria không tự mình nhận tước hiệu này, nhưng Maria chỉ nhận là nữ tỳ của Chúa và là tôi tớ xin vâng như lời thiên thần truyền. Tước hiệu Mẹ Thiên Chúa được các Công Đồng, các thánh Giáo Phụ và toàn thể Giáo Hội cùng tin nhận. Vì Đức Mẹ là mẹ của Chúa Giêsu và là đầu nhiệm thể. Chúa Kitô là đầu và chúng ta là chi thể. Khi Maria đi thăm viếng người chị họ Isave, bà qúa vui mừng đã thốt lên lời ca ngợi rằng bởi đâu tôi được mẹ của Chúa tôi đến viếng thăm. Là Mẹ của con Thiên Chúa nhưng Đức Maria sống rất khiêm tốn và âm thầm. Mẹ Maria đã sinh ra Chúa Giêsu con người toàn vẹn với hai bản tính Thiên Chúa và loài người.Có Chúa ở cùng là một niềm vui hoan lạc. Mẹ có Chúa Giêsu hiện diện ngay bên để chia sẻ cuộc sống gia đình. Cuộc sống của Maria cũng giống như cuộc đời của các phụ nữ khác. Hằng ngày cũng lao động để lo miếng cơm manh áo nuôi sống gia đình. Mẹ an vui chu toàn bổn phận của người vợ và người mẹ trong gia đình.

Đức Maria cũng trải qua mọi ngày với những công việc bình thường như các bà mẹ trong gia đình. Mỗi việc làm với ý thức và tình yêu sẽ trở thành việc vĩ đại. Vĩ đại không phải vì to lớn nhưng vĩ đại vì tâm của con người vĩ đại. Mẹ làm tất cả vì con và cho con. Không có cung lòng nào có phúc hơn cung lòng của mẹ. Mẹ được diễm phúc ở bên cạnh Con Chúa cho tới khi Chúa hoàn tất sứ mệnh. Mẹ được chăm lo, săn sóc và yêu thương Con Chúa hết mình. Mẹ chung vui và xẻ buồn cùng Con trên mọi nẻo đường. Mẹ cũng lo buồn và sầu héo khi Con Chúa bị người đời khinh dể, xua đuổi, chối từ và tẩy chay. Mẹ luôn đồng hành với Con trong mọi bước đường, ngay cả khi Con bị bắt, bị vác thánh giá ngã gục trên đường lên núi sọ. Mẹ đứng dưới chân thập giá nhìn Con hấp hối và trút hơi thở cuối cùng. Có ai đứng đó để chia sẻ nỗi đớn đau và tan nát tâm can như mẹ. Mẹ xứng đáng lãnh nhận tất cả mọi tước hiệu ca khen của Giáo Hội.

Giáo Hội đã dâng kính Mẹ nhiều tước hiệu cao cả. Đức Mẹ là Mẹ Chúa Kitô và Mẹ Giáo Hội. Mẹ là Hòm bia Thiên Chúa và là cửa thiên đàng. Mẹ là Nữ Vương các thiên thần và các thánh. Nữ Vương chẳng hề mắc tội tổ tông và được hồn xác lên trời. Đức Mẹ bầu chữa kẻ có tội và yên ủi kẻ âu lo. Có Mẹ, chúng ta sẽ tìm được sự bình yên và an lạc. Chúng ta dễ dàng đến với Mẹ để tâm sự và cầu nguyện. Đôi khi có những người thắc mắc rằng tại sao Giáo Hội đặt vị trí của Đức Maria cao quá vậy? Giáo Hội còn lưu giữ hình ảnh, bút tích, phép lạ và những việc lạ lùng Đức Maria đã thực hiện qua suốt sự thăng trầm của lịch sử. Đã nhiều lần Đức Mẹ hiện ra để an ủi, khuyên dạy và kêu gọi sám hối. Mẹ là trung gian chuyển cầu ơn Chúa cho chúng ta. Tất cả mọi sự đều được qui về Chúa Giêsu Kitô, Con của Mẹ.

 Mỗi khi chúng ta đọc kinh Kính Mừng Maria đầy ơn phúc, Đức Chúa Trời ở cùng Bà, Bà có phúc lạ hơn hơn mọi người nữ, chúng ta tôn vinh Mẹ vì ân sủng Chúa ban. Mẹ là ánh sao dẫn đường chúng ta đến với Chúa. Tất cả những ai chạy đến cầu xin cùng Mẹ sẽ không bị thất vọng. Lạy Chúa, chúng con có Chúa và có Mẹ. Chúng con có mái ấm gia đình là Giáo Hội. Đức Maria là Mẹ Giáo Hội. Giáo Hội sinh chúng ta ra làm con cái Thiên Chúa. Chúng con bước đi trong tự do của con cái Thiên Chúa.

 Xin cho chúng con cùng được chia phần gia nghiệp trong Nước Chúa. Chúng ta cùng nguyện rằng: Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời cầu cho chúng con khi nay và trong giờ lâm tử. Amen.


Lm. Giuse Trần Việt Hùng

ĐỨC MARIA LÀ MẸ THIÊN CHÚA


Trong Kinh Tin Kính, chúng ta tuyên xưng: “Tôi tin kính một Thiên Chúa là Cha toàn năng, Đấng tạo thành trời đất muôn vật hữu hình và vô hình.” Điều này có nghĩa Ngài là Alpha và Omega - Nguyên Thủy và Cùng Đích - như vậy gọi Đức Maria là “mẹ” của Ngài có phải là xúc phạm và vô lý không? Nhưng cái vô lý đó lại là một tín điều mà người Công Giáo buộc phải tin, nếu không tin thì không phải là người Công Giáo. 

Theo lịch sử các tín điều về Thánh Mẫu Học, Thiên Chúa đã chuẩn bị cho Đức Trinh Nữ Maria 4 đặc ân vượt trên các thần thánh và mọi loài thụ tạo. Đây cũng là những hồng ân mà trí tưởng tượng và sự hiểu biết của con người không thể cắt nghĩa và hiểu nổi, nên phải dùng đến đức tin. Giáo Hội gọi đây là 4 tín điều thuộc về Đức Maria: 

1-Mẹ Thiên Chúa

2-Đầu Thai Vô Nhiễm Nguyên Tội

3-Trọn Đời Đồng Trinh

4-Hồn Xác Lên Trời

 

Tín điều thứ nhất Mẹ Thiên Chúa được Công Đồng Ephesus tuyên tín năm 431 A.D. Tín điều này nhằm phủ nhận tư tưởng của Nestorius, tổng giám mục Constantinople, chủ trương rằng Đức Maria chỉ nên được xưng tụng là Christotokos hay “Người sinh ra Đức Kitô”, nhưng không được xưng là Theotokos hay “Mẹ Thiên Chúa”. Trong tuyên tín của mình, Công Đồng xác tín rằng Đức Maria là mẹ của toàn Con Người của Chúa Giêsu Cứu Thế, không chỉ nguyên phần xác. Ba tín điều sau lần lượt được tuyên tín bởi các triều đại giáo hoàng khác nhau: 

Trọn Đời Đồng Trinh tuyên tín bởi Công Đồng Constantinople thứ hai năm 553 và Công Đồng Lateran năm 649. Tại Công Đồng năm 553, Đức Maria được tuyên xưng danh hiệu “Aeiparthenos” có nghĩa là “Trọn Đời Đồng Trinh”. Còn ở Công Đồng Lateran, Người được tuyên xưng là đồng trinh trước khi mang thai, đang khi mang thai, và sau khi sinh hạ Đức Giêsu. 

Đầu Thai Vô Nhiễm tuyên tín bởi Đức Giáo Hoàng Piô IX năm 1854. Đức Maria ngay từ giây phút đầu tiên trong lòng thân mẫu đã được miễn nhiễm Nguyên Tội. 

Lên Trời Cả Hồn Lẫn Xác tuyên tín bởi Đức Giáo Hoàng Piô XII năm 1950. Mẹ được Chúa đưa về trời cả hồn lẫn xác.   

KHÁI NIỆM VỀ MẸ THIÊN CHÚA 

Maria là Mẹ Thiên Chúa. Nghe thì khó hiểu mà đúng ra là chẳng ai có thể hiểu nổi. Chính Đức Maria đã thưa với tổng thần Gabriel trong ngày Truyền Tin: “Này tôi là nữ tỳ của Thiên Chúa.” (Luca 1:38). Vừa là nữ tỳ lại vừa là mẹ. Nhưng đã là đối tượng của đức tin thì trí khôn con người làm sao mà hiểu thấu! Chúa Giêsu khi nói về mối tương quan giữa trí khôn nhân loại và những việc làm của Thiên Chúa cũng đã nói với người Do Thái đương thời: “Nếu Ta nói với các ngươi những chuyện dưới đất, mà các ngươi không tin, làm sao các ngươi tin nổi nếu ta nói cho các ngươi những sự trên trời.” (Gioan 3:12) 

Tuy nhiên, nếu trí khôn con người không tìm được câu trả lời, thì với những tâm hồn đơn sơ lại có thể chấp nhận: “Vì Cha đã dấu những sự này với kẻ khôn ngoan và thông thái, mà lại mặc khải cho những kẻ bé mọn.” (Mátthêu 11:25) Điều này cũng tương tự như câu chuyện đã xảy ra không lâu tại nhà một người bạn.    

Hôm đó trong buổi họp mặt thân mật của một nhóm anh em thân hữu. Sau khi bữa tiệc xong đến phần mọi người ngồi uống nước trà, thì chủ nhà mới hỏi mọi người một câu mà có lẽ nhắm tới một trong hai anh trước đây đã từng có thời “ăn cơm Chúa” nhưng nay lại múa tối ngày cho “vợ”. Câu hỏi đại khái: “Mình hỏi các anh, tại sao Đức Mẹ là người thường mà lại được gọi là mẹ của Thiên Chúa? Không lẽ Đức Mẹ sinh ra Thiên Chúa?” 

Hai anh được hy vọng có câu trả lời đều ngồi im lặng, và mọi người cũng không ai trả lời. Bầu khí xem như hơi căng thẳng, và câu hỏi hơi đột ngột hôm ấy đã không có câu trả lời nếu một anh trong nhóm không lên tiếng.   

-Em xin góp ý theo sự hiểu biết bình thường của em, một tư tưởng không mang vốn liếng thần học, chỉ căn cứ vào niềm tin chân thành của một người. Nhưng trước hết, em cũng hỏi anh chủ nhà là đã có gia đình và được mấy con rồi?

-Hai đứa, một gái và một trai.

-Anh gọi hai đứa đó là gì?

-Là con.

-Và hai đứa đó gọi anh là gì?

-Là bố.

-Nhưng anh có sinh ra linh hồn hai đứa đó không?

-Làm sao được, vì linh hồn thiêng liêng và do Thiên Chúa tạo dựng.

 

Im lặng một chút, bạn tôi nói; 

-Vậy câu trả lời của em là như thế này: Anh không sinh ra được linh hồn các con của anh, nhưng hai đứa con ấy vẫn là con anh, và anh vẫn là bố của chúng nó. Tương tự vậy, Mẹ Maria không sinh ra thiên tính của Chúa Giêsu vì thiên tính ấy phát xuất từ Chúa Cha, nhưng Mẹ chính thật là mẹ của Chúa Giêsu đấng vừa là Thiên Chúa vừa là người thật. Đã là mẹ thì là mẹ toàn thể con người, và đó là lý do mà Thiên Chúa làm Con Đức Mẹ. Điều này vừa mang ý nghĩa thần linh, vừa có tính cách nhân loại. 

Ý tưởng về Mẹ Thiên Chúa là gì?

Tư tưởng của bạn tôi cũng phần nào nói lên quan điểm thần học, đó là khi Đức Maria sinh Chúa Giêsu Cứu Thế, Con Người Thần Linh (divine person). Dù Đức Maria không phải “nguyên thủy” (originate) hoặc “sinh ra” (generate) Thiên Chúa mà chỉ mang Ngài trong dạ và sinh Ngài ra, thì vẫn là Mẹ của Thiên Chúa. Công Đồng Ephesus năm 431 đã xác nhận điều này. 

Phúc Âm nói gì về Mẹ Thiên Chúa?

Mặc dù Kinh Thánh không nói đến từ “Mẹ Thiên Chúa”, nhưng chúng ta có thể tìm được ý nghĩa của từ này trong Tin Mừng của Thánh Luca khi chị họ là Elizabeth chào Đức Maria liền sau khi Người mang thai Chúa và đến thăm bà: “Bởi đâu tôi thật có phúc, là Mẹ của Chúa tôi đến thăm tôi.” (1:43) Danh xưng “Mẹ Thiên Chúa” căn bản trên giáo lý Nhập Thể, cũng có nguồn gốc trong thư Thánh Phaolô gửi Giáo Đoàn Galatians: “Nhưng khi thời gian viên mãn, Thiên Chúa sai Con của Ngài, sinh bởi một người nữ, sinh dưới chế độ luật.” (4:4) 

Thần Học Mẹ Thiên Chúa?

Căn cứ vào nguồn gốc Thánh Kinh, Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo dạy rằng “Maria thật sự là ‘Mẹ Thiên Chúa’ vì Mẹ là mẹ của người Con muôn thuở của Thiên Chúa nhập thể, Đấng là chính Thiên Chúa”. Theo lời dạy của Giáo Lý, từ nguồn Tin Mừng Gioan 1:1-14, Đức Maria không tạo dựng nên con người thần linh của Chúa Giêsu, Đấng hiện hữu với Chúa Cha từ muôn thuở. 

Vậy Đức Maria lại trở nên Mẹ Thiên Chúa có nghĩa là Người đã tạo dựng Thiên Chúa bằng cách sinh ra Chúa Giêsu. Một cách căn bản, Chúa Kitô là người thật và là Chúa thật. Là một phần trong chương trình đặc biệt được Thiên Chúa tuyển chọn, Đức Maria xứng đáng với danh hiệu đáng tôn kính là Mẹ Thiên Chúa. 

LỊCH SỬ LỄ MẸ THIÊN CHÚA 

Lịch sử Lễ Mẹ Thiên Chúa có thể tóm lược theo những biến cố từ sau Công Đồng Ephesus năm 431 đã tuyên tín Mẹ là Mẹ Thiên Chúa. 

Công Đồng Vatican II tuyên bố: “Một cách rõ ràng từ những thời gian của buổi ban đầu, Trinh Nữ Rất Thánh đã được tôn vinh dưới danh hiệu Mẹ Thiên Chúa.” Và ngay từ đầu Giáo Hội Công Giáo Rome đã cử hành lễ kính Mẹ vào ngày 1 tháng Giêng tính theo tuần bát nhật Giáng Sinh. Theo Tin Mừng Luca 2:21, đó cũng là thời gian Con Trẻ được cắt bì và được đặt tên là Giêsu. 

Thế kỷ 13 hoặc 14, ngày Con Trẻ được cắt bì và đặt tên được cử hành tại Rome, Tây Ban Nha, và Gaul.  

Từ năm 1751, lễ Cắt Bì cho Con Trẻ được Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XIV cho phép Giáo Hội Bồ Đào Nha cử hành vào Chúa Nhật I của tháng Năm. Lễ này lan rộng đến nhiều quốc gia trong hai thế kỷ kế tiếp.  

Thánh Giáo Hoàng Gioan XXIII, theo lịch chung Roma năm 1950 đã bỏ không nói đến việc cắt bì Chúa Giêsu, và đã gọi ngày 1 tháng Giêng là cuối tuần Bát Nhật Giáng Sinh. Và năm 1974, Thánh Giáo Hoàng Phaolô VI thay thế lễ Chúa Chịu Cắt Bì bằng lễ trọng kính Đức Maria Mẹ Thiên Chúa. Ngày 1 tháng Giêng cũng được gọi là Ngày Hòa Bình Thế Giới. 

LỄ KÍNH 

Lễ Mẹ Thiên Chúa được cử hành long trọng trên toàn thể Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ, và một số các giáo hội khác. 

1 tháng Giêng bởi Giáo Hội Công Giáo. 

16 tháng Giêng bởi Giáo Hội Chính Thống Coptic và Giáo Hội Chính Thống Nguyên Thủy (Oriental Orthodox). 

15 tháng Tám bởi Cộng Đồng Anh Giáo. 

26 tháng Mười Hai bởi Giáo Hội Byzantine, nghi lễ Tây Syriac cũng gọi là Nghi Lễ Syro-Antiochian, Đông theo nghi lễ Syriac cũng còn gọi là Nghi Lễ Edessan, Assyrian, Persian, Chaldean, và Nestorian…Mỗi nghi lễ đại diện cho một ngành Tín Hữu Đông Phương với lịch sử mở mang và thực hành của nó. 

Kính chào Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa, kho tàng quý giá của toàn thể vũ trụ, ngọn đèn không bao giờ tắt, vương miện của sự đồng trinh, nâng đỡ đức tin chân thật, đền thờ không thể phá hủy, nơi ngự trị của đấng các tầng trời không thể chứa nổi. Ôi Mẹ và Đấng Đồng Trinh! Qua Mẹ tất cả mọi Phúc Âm đều tôn vinh Đấng đã đến nhân danh Thiên Chúa.

 

Lễ Mẹ Thiên Chúa

1 Jan. 2025 

Tiến Sĩ Tâm Lý Trần Mỹ Duyệt

Bức thư đầu tiên của đời tôi

Cứ mỗi khi hè về, tôi lại nhớ đến bài hát “Nỗi Buồn Hoa Phượng” với câu mở đầu: “Mỗi năm đến hè lòng man mác buồn…” với biết bao kỷ niệm tuổi học trò. Nhớ nhất là mùa hè năm 1979, cuối năm lớp 12, khi chúng tôi chuẩn bi thi tốt nghiệp Trung Học Phổ Thông và thi vào Đại Học. Lúc ấy tôi đang học ở Trường Trung Học Nguyễn Thượng Hiền ở Quận Tân Bình, Sài-gòn. Ở cổng trường chúng tôi có trồng mấy cây phượng thật to đang nở hoa đỏ màu rực rỡ. Đây là mùa hè cuối đời học trò và có nhiều cảm xúc nhất, vì sau mùa hè này, bạn bè cùng lớp sau ba năm cùng nhau chung học với bao kỷ niệm buồn vui sẽ phải chia tay nhau, nhiều khi là mãi mãi. Người thì tiếp tục theo học Đại Học, người thì vượt biên, người thì lập gia đình, người thì đi quân dịch phục vụ chiến trường Camphuchia, người thì phải lo đi làm kiếm sống vì cần tiền để sống hay vì không thi đậu vào Đại Học. Năm ấy có lẽ là năm đầu và cũng là năm duy nhất mà nhiều bạn trong lớp chúng tôi có làm lưu bút để có chút gì “để nhớ để thương”. Đúng là:

“Đo đỏ ngoài sân hoa phượng nở

Lưu bút truyền tay ai đang mở

Ghi vào quyển vở nét thương thương

Bài thơ kỷ niệm vấn vương buồn.”

Thế mà nay đã hơn 40 năm trôi qua. Bạn bè không biết ai còn ai mất. Và nay tôi đã bắt đầu bước vào tuổi thọ! Dường như ai cũng có ít nhiều kỷ niệm thời thơ ấu, thời đi học, thời mới lớn, như một tác giả nào đã viết trong một bài học lớp Việt văn: “Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường. Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ: Ai bảo chăn trâu là khổ. Tôi mơ màng nghe chim hót trên cây. Có cô bé nhà bên nhìn tôi cười khúc khích…” Nhưng tôi có dịp được trực tiếp lắng nghe một kỷ niệm thuở học trò thật đẹp, thật chất ngát yêu thương của tình bạn chân thành; hơn nữa, còn gợi lòng yêu mến trông cậy vào tình thương và quyền năng của Đức Mẹ và tinh thần tông đồ. Đó là một kỷ niệm đầy chứng từ đức tin của Chị Theresa Nguyễn (Oanh) đã chia sẻ với mọi người ngày Thứ Bảy 12/10/1996 dịpTam Nhật Kính Đức Mẹ do Cộng Đoàn Anphong-Whittier, CA tổ chức. Thấy câu chuyện thật ý nghĩa, tôi xin Chị viết lại để chia sẻ với mọi người gần xa. Chị đã gắng viết lại và được đăng trên Nguyệt San Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp số 126 tháng 01 năm 1997. Tựa đền của bài viết là “Lời kinh dâng Mẹ,” được dùng làm chủ đề in trên trang bìa của tờ báo mang hình Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp.

            Chị Theresa viết lại kỷ niệm đáng nhớ ấy như sau:

            “…Khi nghe Cha H. và quí vị hiện diện trong cuộc tĩnh tâm hôm đó thảo luận về sự đọc kinh Mân Côi. Tôi nhớ ngay đến một ơn đặc biệt mà Đức Mẹ đã ban cho tôi khi tôi đọc kinh Mân Côi. Tôi đã cố gắng gạt bỏ tính nhút nhát ngại ngùng ra một bên để đứng lên chia sẻ với quí cụ ông cụ bà và quí cô bác anh chị em, và đây cũng là một dịp để ca tụng, tạ ơn Đức Mẹ, và để chứng minh rằng “Mẹ nguồn cậy trông xưa từng nghe có người nào chạy đến cùng Mẹ mà Mẹ chẳng thương nhận lời.”

            Trước đây có một dạo tuy tôi đọc kinh Mân Côi hàng ngày nhưng miệng đọc mà lòng không suy, không tin, tôi nghi ngờ chẳng biết mình đọc kinh Mân Côi hoài có được ích gì không, chẳng biết Đức Mẹ có nhận lời hay không? Tôi chỉ đọc vì thói quen, lời kinh mà mẹ tôi đã dạy tôi đọc từ khi tôi mới bập bẹ tập nói. Tôi đọc mà chưa hiểu gì về ý nghĩa của lời kinh, nên tôi thường hay chia trí lo ra, nhưng cũng có lúc tôi đọc với tất cà tấm lòng thành, theo lời kinh tôi xin Mẹ Maria cầu cùng Chúa thay cho tôi vì thôi thơ dại chẳng biết cầu nguyện làm sao!

            Năm tôi lên mười sáu, một biến cố xảy đến với chị bạn của tôi: Một buổi chiều kia trong lớp học, tôi nghe tiếng khóc nức nở của Huỳnh Mai. Bạn tôi vừa khóc vừa nói với cô giáo: “Cô ơi, em muốn tự tử chết cho rồi!” Cô giáo mở to đôi mắt ngạc nhiên hỏi Huỳnh Mai: “Chuyện gì vậy, em hãy bình tĩnh kể cho cô nghe nào?”

            “Em vừa khám ra sự bí mật của đời em!” Huỳnh Mai kể trong tiếng nấc nghẹn ngào: “Tuần trước về quê nội, một ông bác đã nói một câu ám chỉ em chỉ là con nuôi của ba má em hiện tại.  Khi nghe qua lời này, trời đất như tan tành trước mặt em. Trời ơi! Còn chi đau khổ cho bằng trong phút chốc mình khám phá ra chính mình chỉ là một đứa con rơi được người ta lượm đem về nuôi. Trời! Tôi là đứa trẻ mồ côi thật sao? Hai người mà tôi thường kính yêu như cha mẹ, thì họ không phải là đấng sinh thành ra tôi. Mười tám năm qua tôi những tưởng mình sống hạnh phúc trong tình yêu thương của cha mẹ, tôi tưởng mình là đứa con có phúc được sống gần bên cha mẹ, dù cha mẹ tôi nghèo nhưng đã hết lòng yêu thương tôi, nhưng bây giờ…Trời ơi! Thực tế quá phũ phàng! Cha mẹ ơi! Giờ này cha mẹ ở đâu? Cha mẹ có còn sống trên cõi đời này không, tại sao cha mẹ lại bỏ con?”

            Cô giáo tôi sững sờ nhìn Mai khóc, lòng cô cũng đau điếng khi nghe qua tâm sự đau buồn của đứa học trò.

            Huỳnh Mai thổn thức: “Cô ơi, chắc em chết mất, em không thể sống nổi với mối tủi nhục của một kẻ không cha không mẹ!”

            Chiều hôm ấy cả lớp tụi tôi ngưng học, bang hoàng trước nỗi đau buồn to lớn nhất của đời Mai. Cô giáo dịu dàng hỏi Mai: “Em có hỏi ba má em cho biết sự thực ra sao chưa, hay đây chỉ là một tin đồn?”

            “Dạ có, em đã khóc hỏi má em, nhưng bà hoàn toàn thinh lặng không nói một câu.” Mai ngừng lại lau nước mắt, nhưng hai hàng nước mắt lại chảy chan hòa. Mai thổn thức kể tiếp: “Cô ơi! Phải chăng sự thinh lặng của má em chính là bà đã thú nhận sự thật đúng như vậy”

            Cô giáo cũng chỉ biết thinh lặng thôi, nếu khi ấy chỉ một cái gật đầu nhẹ của cô thôi cũng đủ làm lòng Huỳnh Mai tan nát.

            “Cô à, em đã quì xuống van lạy má em, em vừa khóc vừa nói với bà: Má ơi, mẹ con bây giờ ở đâu? Xin má hãy cho biết để mẹ con dù ở chân trời góc biển nào con cũng quyết đi tìm gặp người dù chỉ một lần thôi để con được quỳ lạy người đã cưu mang và sinh ra con, rồi con sẽ trở lại đây để phụng dưỡng ba má cho tới lúc tuổi già, để đền đáp công ơn ba má đã nuôi dưỡng con bao nhiêu năm qua, má đừng sợ mất con, con không bỏ ba má đâu?”

            “Nghe vậy rồi má em nói sao?” Cô giáo hỏi. “Bà ngồi khóc thôi chứ không nói gì cả.”

            Giờ tan học, tôi nắm tay Huỳnh Mai không biết nói gì để an ủi bạn. Ra tới cổng trường khi chia tay tôi nói với Mai: “Huỳnh Mai, hãy hy vọng để mà sống! Đừng tự tử, giết mình có tội trọng đấy!”

            Những ngày sau đó Mai phải nghỉ học vì tinh thần bị khủng hoảng. Thương Mai tôi vội viết cho bạn một lá thư. Đó là bức thư đầu tiên của đời tôi.

            “Huỳnh Mai thương thương ơi!

            “Oanh rất cảm thông với nỗi đau buồn của Mai. Hiện Mai buồn vì không có người mẹ ruột, nhưng Mai biết không, Mai còn có người Mẹ rất thương Mai, mặc dù Mai không biết Người, cũng như Mai chưa hề biết mẹ ruột của Mai là ai, thế mà Người mẹ này vẫn yêu thương Mai. Người hằng quan tâm đến Mai, sẵn sàng cứu giúp Mai nữa. Người Mẹ ấy chinh là Đức Trinh Nữ Maria-Mẹ của Chúa Giêsu, Mẹ của nhân loại, Mẹ của Oanh và của Mai nữa. Hiện nay đang Mẹ ở trên Trời, song chúng ta có thể đến với Mẹ qua lời cầu nguyện. Mai có tâm sự gì buồn thì có thể tâm sự với Mẹ. Đức Mẹ sẽ nghe hết.

            “Oanh chỉ cho Mai cách cầu nguyện với Đức Mẹ như vầy nè: ‘Kính mừng Maria đầy ơn phúc, Đức Chúa Trời ở cùng Bà, Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ và Giêsu con lòng Bà gồm phúc lạ. Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời cầu cho chúng con là kẻ có tội khi nay và trong giờ lâm tử. Amen.’

            “Mỗi khi Mai buồn nhớ đến cha mẹ ruột của mình, Mai hãy cầu xin Mẹ an ủi Mai. Mỗi tối Mai hãy nhìn lên Trời đọc một kinh KÍNH MỪNG như trên để cầu cho cha mẹ Mai và Mai gặp lại nhau. Oanh xin Mai nhớ mỗi ngày đọc một kinh này để dâng cho Đức Mẹ và xin Đức Mẹ giúp Mai. Biết đâu có ngày Đức Mẹ sẽ cho Mai tìm gặp được cha mẹ ruột của mình.

            “Thương nhiều. Oanh”

            Tôi viết thư chỉ cách cho bạn tôi khi đọc kinh KÍNH MỪNG thì nhìn lên Trời mà đọc, vì bạn tôi là Phật tử và vì thuở bé mẹ tôi thường dắt tôi đến trước bức tượng Đức Mẹ hay trước bức chân dung Đức Mẹ để đọc kinh cầu nguyện. Còn gia đình của Mai thì có bàn thờ Phật và Tổ tiên nên tôi ngây thơ tin rằng Đức Mẹ của tôi đang ở mãi tận trên Trời. Tôi gửi thư trao tận tay cho Mai và thỉnh thoảng tôi soạn một số báo Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp cũ cho Mai đọc vì tôi biết bạn tôi rất thích đọc sách báo. Nhưng trong thâm tâm tôi thật tình muốn giới thiệu Chúa Kitô và Mẹ Maria cho bạn tôi, vì tôi biết mình vụng về chẳng biết nói sao cho bạn tôi nhận biết Chúa và Đức Mẹ, tôi đành phải nhờ qua sách báo Công giáo vậy.

            Sau đó vì hoàn cảnh tôi phải đi xa. Ba năm sau tôi mới có dịp trở về quê nhà, tôi gặp lại Mai. Mai vui mừng kể cho tôi nghe:

Sau khi nghỉ học chữ, Mai đi học nghề uốn tóc. Cách đây hai năm hồi đó Mai đang làm việc tại tiệm uốn tóc Tứ Hải gần Phố chợ Long Thành. Chiều hôm ấy có một người khách từ Bình Lâm đến tiệm này để uốn tóc. Cô khách này dẫn theo một cô bé trạc 14, 15. Khi ấy Mai đang uốn tóc không để ý đến cô bé. Còn các bạn đồng nghiệp của Mai thì chăm chú nhìn cô bé. Cách ăn mặc của cô bé này giống người thành phố, mặt mày sáng sủa có vẻ thông minh nhanh nhẹn, dáng người cao thon, nước da trắng hồng mịn màng. Họ ngạc nhiên khi thấy cô bé này giống Huỳnh Mai, họ tỉ mỉ quan sát từng ngón chân đến đôi bàn tay của cô bé, nhỏ này cũng có đôi bàn tay búp măng giống y đôi tay búp măng của Huỳnh Mai nữa. “Chèn ơi, sao nhỏ này giống y chang Huỳnh Mai hà!” Huỳnh Mai quay lại nhìn cô bé, rồi nhìn mặt mình trong gương thì quả thật cô bé giống hệt mình. Huỳnh Mai nói với các bạn: “Ờ, há, em nhỏ này giống mình ghê ta.” Nhưng rồi Mai nghĩ người giống người đâu có gì lạ, vì thỉnh thoảng Mai gặp người này giống hệt người kia, hỏi họ có bà con với nhau không, thì họ nói không biết không quen.

            Tới phiên người chị họ của cô bé cũng ngạc nhiên nhận ra cô em họ mình có nét đặc biệt giống cô thợ đang uốn tóc cho mình. Ngày hôm sau cô bé trở về nhà với bố mẹ cư ngụ tại Sài-gòn, cô bé vui miệng thuật lại cho bố mẹ nghe chuyện mình giống một cô thợ uốn tóc. Mẹ cô nghe xong và nói với cô: “Ngày mai con dẫn mẹ xuống Long Thành tới tiệm Tứ Hải để gặp cô thợ đó, nhá con.”

            Trưa hôm sau, có hai ông bà trạc tuổi ngoài 50 tới tiệm Tứ Hải xin gặp Huỳnh Mai.

            “Dạ thưa hai bác, cháu là Huỳnh Mai đây.” Huỳnh Mai lễ phép thưa.

            “Cháu làm ơn dẫn hai Bác tới nhà để gặp ba má cháu có chuyện cần.”

            Mai xin phép chủ tiệm và dẫn hai ông bà khách lạ về nhà mình. May mắn hôm ấy ba má đều ở nhà cả. Giới thiệu ông bà khách với ba má xong, Mai xuống bếp bắc ấm nước đun sôi để pha trà mời khách. Đang khi chờ nước sôi thì Mai nghe trên nhà ba má mình đang thú tội với ông bà khách là họ đã bắt cóc đứa con gái ông bà cách đây 19 năm!

            Mai đứng dưới bếp nghe bàng hoàng. Sự thật hay chỉ là giấc mơ đây? Thì ra ngày trước má nuôi của Mai là người làm công cho ông bà khách này, bà là vú nuôi Mai. Vì hiếm muộn không có con nên bà lợi dụng khi ông bà chủ đi vắng nhà ôm bé Huỳnh Mai trốn đi từ đó tới nay.

            Mai chạy ùa vào phòng ngủ mở chiếc va-ly nhỏ ra lấy bức thư của Oanh đã viết cho Mai cách đây gần một năm Mai xem lại: “…Mỗi tối Oanh xin Mai hãy đọc một kinh Kính Mừng để cầu xin với Đức Mẹ, biết đâu một ngày nào đó Chúa và Đức Mẹ sẽ cho Mai được gặp lại ba má ruột của mình…” Vừa đọc đến đây thì Mai nghe má gọi: “Huỳnh Mai, con!” “Dạ.”

            Nghe tiếng gọi Huỳnh Mai vội chạy ra. Má nuôi của Mai một tay đưa lên lau nước mắt, tay kia chỉ về phía ông bà: “Con ơi, ông  bà này chính là cha mẹ ruột của con đấy.”

            “Mẹ! Cha!” Huỳnh Mai ôm lấy mẹ ruột của mình khóc òa lên vì mừng rỡ. Lần đầu tiên Mai được gọi tiếng Mẹ ơi! Ôi sung sướng biết bao! Mai chạy vào phòng ngủ quì xuống đất đọc một kinh Kính Mừng cảm ơn Đức Mẹ. “Chúa ơi, diễn biến xảy ra như Oanh viết cho mình vậy đó, Oanh à!”

            Tôi xúc động xiết chặt tay Mai: “Chúc mừng Mai đã được gặp cha mẹ, thật Oanh không ngờ Chúa và Mẹ đã nhận lời tụi mình vượt quá sự mong ước Mai nhỉ?”

            “Công nhận Chúa xếp đặt mọi sự đều tốt đẹp Oanh há?” Tôi gật đầu: “Đúng rồi, đối với Thiên Chúa mọi sự đều có thể cơ mà. Mai không biết cha mẹ ở đâu mà tìm, thì Chúa đã xếp đặt cho cha mẹ Mai đến tận nhà để tìm Mai, và lại tìm được Mai một cách hết sức dễ dàng!”

            Tôi xòe bàn tay ra trước mặt Mai và đếm một, hai, ba, bốn, năm.. “Ồ bây giờ thì nhất Mai nhé, Mai là người hạnh phúc vì có được nhiều mẹ nhất nè, mẹ nuôi, mẹ ruột, mẹ” Mai ngắt ngang lời tôi: “Cảm ơn Chúa, chẳng những Mai đã tìm được cha mẹ ruột mà Mai còn diễm phúc tìm được người mẹ chân chính nữa, đó là điều Mai vui mừng nhất. Mai yêu quý Mẹ Maria nhều nhất vì chính Mẹ mà Mai được nhận biết Chúa. Mai còn nhỏ, ngày xưa Mai có thói quen cứ mỗi lần vấp té thì Mai thường thốt gọi: “Chúa ôi,” thì Oanh nói với mình: “Huỳnh Mai gọi Chúa, nhưng Huỳnh Mai có biết Chúa là ai?” Bây giờ thì mình đã được trở thành con Chúa rồi, sung sướng ghê! Ngày Mai được lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, Mai muốn báo tin mừng cho Oanh nhưng không biết Oanh ở đâu.

            Tôi bỡ ngỡ như người đang trong giấc mơ, mình cầu cho Mai được nhận biết và tôn thờ Chúa, cầu cho Mai được tìm gặp cha mẹ đã bị thất lạc từ thuở đời nào ấy. Thế mà Chúa và Đức Mẹ đã nhận lời cầu của mình thật tình ta! Chính qua biến cố này Chúa đã đưa Mai về với Chúa và Chúa củng cố niềm tin của tôi.

            Từ đó tôi xác tín rằng: “Mẹ là nguồn cậy trông chưa thấy ai xin Mẹ về không.”

            ***

Chứng từ “Lời kinh dâng Mẹ” của Chị Theresa đã giúp tôi được thêm lòng tin cậy kính yêu Mẹ. Nhân Ngày Hiền Mẫu, tôi muốn ghi lại chứng từ của Chị để giúp mọi người, nhất là các tín hữu Công giáo, một lần nữa nhận biết quyền năng tình thương tuyệt vời của Đức Maria –“người mẹ chân chính” -và “yêu quý Mẹ Maria nhiều nhất” như lời chia sẻ rất đơn sơ chân tình của Chị Mai trên đây.

Đây thực là một kỷ niệm tuyệt vời của tuổi học trò!

(May 7-8, 2021)

Lm. JBT Phạm Quốc Hưng, CSsR

Nguồn: www.daobinh.com