- Details
-
Category: 20. Những Bài Về Đức Mẹ
Ngoài tên Kinh Mân Côi thông dụng ra, còn một tên khác có từ lâu đời là Kinh Văn Côi. Văn theo Hán tự nghĩa là Nghe và việc Nghe ấy chính là mục đích cốt lõi của Đạo Chúa được phô diễn cả trong Cựu Ước lẫn Tân Ước: “ Hỡi những kẻ nào khát, hãy đến suối nước. Vả, người nào không có tiền bạc, hãy đến mua mà ăn. Hãy đến mua rượu và sữa mà không phải trả tiền, không đòi giá. Sao các ngươi lại trả tiền để mua đồ không phải là bánh ? Sao các ngươi đem công lao mình đổi lấy vật chẳng làm cho no ? Hãy chăm chỉ nghe Ta, hãy ăn của ngon và cho linh hồn các ngươi vui thỏa trong của béo. Hãy nghiêng tai và đến cùng Ta. Hãy nghe Ta thì linh hồn các ngươi được sống. Ta sẽ lập với các ngươi một Giao Ước đời đời tức là sự nhân từ chắc thật đã hứa cùng Davit” ( Is 55, 1 -3 ).
Con người ta sống trên cõi dương gian này phải vất vả, lao tâm khổ trí để có được cơm ăn, áo mặc nhà cửa…nhưng tất cả những thứ đó trong giờ phút cuối cùng của cuộc đời, gẫm lại tất cả chỉ là phù du, ảo mộng. Bởi đó tiên tri Isaia nói “ Các ngươi đã trả tiền để mua đồ không phải là bánh”
“ Bánh” mà tiên tri vĩ đại trong Thời Cựu ấy nói để ám chỉ cho Hạnh Phúc Viên Mãn đời sau khi con người biết nghe và sống Lời Chúa:“ Mẹ và anh em Chúa Giê Su đến gặp Người mà không làm sao lại gần được vì dân chúng quá đông. Người ta báo cho Người biết: Thưa Thầy có mẹ và anh em Thầy đang đứng ngoài kia muốn gặp. Người đáp lại: Mẹ Ta và anh em Ta chính là những ai nghe lời Thiên Chúa và đem ra thực hành” ( Lc 8, 19 -21 ).
Ở đây, Chúa Giê Su tôn vinh người biết nghe và thực hành Lời Chúa trở nên Mẹ và anh em của Ngài. Điều ấy cho thấy việc biết lắng nghe Lời Chúa là điều hết sức quan trọng bởi vì nó quyết định cho hạnh phúc đời đời của mỗi người. Có…nghe được Lời Chúa, mới có thể đem ra thực hành, trái lại thì không.
Đối với tuyệt đại đa số người đời cho thấy có hai trường hợp, không nghe và nghe. Không nghe là khi bị điếc, lãng tai hoặc ngăn cách tường vách. Nhưng dù có nghe hay không nghe thì người ta cũng đều phát khởi ý niệm phân biệt, yêu, ghét, lấy, bỏ. Chính cái Tâm Phân Biệt ấy khiến cho con người bị trói buộc trong vòng vô minh, điên đảo để rồi phải lãnh chịu khổ đau mà không hề hay biết !
Lại nữa, Tâm Phân Biệt cũng là cái tâm chấp chước, mang thành kiến này nọ và chính cái Tâm ấy khiến cho không thể tiếp nhận được Tin Mừng của Đức Ki Tô. Bởi vậy, sau mỗi bài giảng về mầu nhiệm Nước Trời, Ngài đều kết luận bằng câu:“Ai có tai để nghe, hãy nghe”.Thật ra, ai mà chẳng…có tai nhưng nghe bằng cái tai nào đó mới là điều quan trọng.
Để có thể nghe và tiếp nhận Lời Chúa thì phải Nghe với Tâm Vô Phân Biệt và đây chính là mục đích của Kinh Mân Côi truyền thống Đức Mẹ đã truyền đạt cho thánh Đa Minh và còn phổ biến trong Giáo Hội Công Giáo tới tận ngày nay. Dẫu vậy, kinh nguyện này nói riêng và việc cầu nguyện nói chung trong thời Tục Hóa hiện nay hầu như đã không còn còn được hâm mộ, thực hành ?
Sự sa sút hay nói đúng hơn phải nói là cuộc khủng hoảng về cầu nguyện, tất nhiên cũng có lý do sâu xa của nó. Đức cố hồng y F.X Nguyễn Văn Thuận đặt câu hỏi và tự trả lời thế này:“ Tại sao Hội Thánh khủng hoảng ? Vì đã hạ giá việc cầu nguyện ? (ĐHV 134). Hạ giá không có nghĩa là bỏ nhưng đã biến việc cầu nguyện thành một thứ Suy Niệm Thần Học. Sở dĩ có việc Suy Niệm ấy là bởi người ta viện dẫn Lời Chúa“ Khi các ngươi cầu nguyện, đừng lập đi lập lại vô ích như dân ngoại vì họ tưởng rằng cứ nói nhiều thì được dủ nghe” ( Mt 6, 7 ) để phê phán, chê trách Kinh Mân Côi vì cứ lặp đi lặp lại Kinh Kính Mừng ?
Dân ngoại, khi cầu nguyện cứ nhiều lời vô ích bởi vì Thần của họ chỉ là gỗ, đá vô tri, vô giác. Đang khi đó việc cầu nguyện trong Đạo Chúa là để trở về với Đấng Cha nhân hậu, từ bi, nhẫn nại giàu lòng thương xót…( Ge 2, 13 ). Như vậy, việc cầu nguyện mục đích là để trở về với Đấng Cha và Đấng ấy lại chẳng ở đâu xa mỗi người: “Còn ngươi khi cầu nguyện, hãy vào phòng kín, đóng cửa lại rồi cầu nguyện Cha ngươi là Đấng ở trong chỗ ẩn mật và Cha ngươi là Đấng thấy trong chỗ ẩn mật sẽ báo đáp cho ngươi” ( Mt 6, 6 ).
Phòng kín là Bản Tâm mỗi người, còn đóng cửa lại tức thu thúc lục căn gồm Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân và Ý. Theo Duy Thức thì Ý thuộc Thức thứ sáu, chủ về phân biệt.Thức này được ví như loài khỉ,vượn, ngựa hoang (Tâm Viên Ý Mã) luôn chao động, chuyền níu không giây phút nào ngừng. Kinh Mân Côi truyền thống với cấu trúc đặc biệt của nó chia ra 03 Mùa: Vui -Thương - Mừng. Mỗi Mùa có 05 Thứ - Mỗi Thứ có 10 Hạt là 10 Kinh Kính Mừng. Chính cái việc chia ra các Mùa,Thứ và Hạt như thế cốt ý để cho ta dừng sự chia lòng chia trí ( Tâm Phân Biệt ) ấy lại.
Mặt khác, và đây là điều rất quan hệ có liên quan đến việc Kinh Mân Côi bị phê phán là cứ lặp đi lặp lại Kinh Kính Mừng. Thật ra việc lặp lại ấy có mục đích để giúp ta nhớ ( Huân Tập ) hai Thánh Danh Giê Su và Maria vào trong tâm khảm mình. Nhất thiết cần phân biệt sự khác nhau giữa Tụng và Niệm. Tụng có nghĩa chỉ đọc ngoài môi miệng, còn Niệm tức ghi nhớ ở trong Tâm cũng là sự tỉnh thức. Nếu chỉ Tụng ( Đọc ) thôi thì không thể ghi nhớ được hai Thánh Danh Giê Su và Maria vào trong Tâm mình. Đang khi đó chính cái việc ghi nhớ ( Tỉnh Thức ) ấy mới đem lại cho ta Sự Sống Bất Diệt !
Ghi nhớ hai Thánh Danh Giê Su và Maria vào trong tâm khảm là điều hết sức quan hệ nhất là trong giờ lâm chung, hấp hối:“Vậy,hãy tỉnh thức,vì các ngươi không biết Chúa các ngươi đến nhằm ngày, giờ nào ? Nhưng hãy biết điều này:Nếu chủ nhà đã hay canh nào kẻ trộm đến thì tỉnh thức không để nó khoét ngạch nhà mình. Vậy các ngươi hãy sẵn sàng vì Con Người đến trong giờ các ngươi không ngờ” ( Mt 24, 42 -44 ).
Trong ý nghĩa sâu xa của việc tỉnh thức, không phải đợi đến…Ngày Tận Thế hay lúc lâm chung mới …tỉnh mà cần thực hiện trong mọi giây phút cuộc đời. Trong lúc bình thời đã không tỉnh thì trong giờ phút nguy tử làm sao mà Tỉnh được đây ? Tuy nhiên để có thể tỉnh thức trong mọi thời khắc như thế là điều rất khó, nếu không muốn nói là bất khả đối với những ai còn sống giữa cuộc đời bộn bề, trái ngang này. Dẫu vậy, cái điều…bất khả ấy lại có thể được nếu có lòng cậy trông nơi Đức Mẹ và kiên trì thực hành Kinh Mân Côi theo đúng chánh pháp.
Cần nhận thức Kinh Mân Côi là một thứ Tâm Pháp do Đức Mẹ truyền dạy có mục đích để cho ta thoát khổ. Lịch sử cho thấy, nhờ vào việc thực hành Kinh Mân Côi, Giáo Hội đã thoát khỏi biết bao cơn nguy nan, sóng gió chẳng hạn chiến thắng bè rối Albigence’ vào TK 13, chiến thắng quân Hồi Giáo Thổ Nhĩ Kỳ tại Vinh Lepante ngày 7/10/1571 v.v…
Những chiến thắng mang tính lịch sử, giờ đây phải chăng đã đi vào quên lãng khi mà Giáo Hội không còn phải đối phó với những hoàn cảnh nguy nan ấy nữa ? Thế nhưng, sự thật thì GHCG đang ở trong một tình thế nguy cấp chưa từng có khi mà Chúa Giê Su đã lên tiếng báo động về việc mất đức tin trong thời cuối cùng này “ Dẫu vậy, khi Con Người đến, há sẽ tìm được đức tin trên đất này chăng ?” ( Lc 18, 8 ).
Đức tin nếu không còn thì đời sống đạo đức chỉ còn là hình thức trống rỗng không có nền tảng và như thế làm sao có thể đưa đến việc giải thoát khổ đau cho con người ? Đang khi đó, có nhận thức được khổ mới mong thoát khổ và việc nhận thức ấy trước hết cần tìm ra nguồn gốc xuất sinh của nó. Cái gốc của mọi khổ nạn chính là tư tưởng. Xin đưa ra hai ví dụ cụ thể cho thấy nguồn gốc của mọi khổ nạn đều ở nơi tư tưởng. Có người đến nhà bắt và nói sẽ đem đi giết, người ấy sợ hãi, vô cùng lo lắng nhưng không biết làm cách nào chống cự. Còn có người cũng đến bắt nhưng không để lộ ý định giết mà ân cần nói mời đi dự tiệc. Người ấy vô tình không biết nên vui vẻ thay quần áo đẹp để đi. Trong cả hai trường hợp, một người thì sợ hãi, vô cùng lo lắng còn một người thì tâm trạng vui tươi, hớn hở. Thế nhưng, kết cuộc của hai người ấy như nhau, đều bị giết !!!
Lấy hai ví dụ này, để cho thấy cần thực hành Kinh Mân Côi như một thứ Tâm Pháp, có nghĩa phải xuất phát từ ở nơi Tâm thì mới có thể giải thoát khổ được. Nói Kinh Mân Côi như một thứ Tâm Pháp là có cơ sở, bởi nên nhớ trước khi cộng đoàn Lần Chuỗi, các ông bà quản giáo trước đây bao giờ cũng xướng lên câu công thức: “Phép Lần Hạt Ngắm Tắt năm sự Vui…” Phép tức là phương pháp và một khi đã nhận ra việc thực hành Kinh Mân Côi là một phương pháp thì điều cần thiết cho mỗi người là phải…tạo lấy phương pháp ấy cho mình.
Việc “Tạo Pháp” ví như bác thợ mộc có tay nghề vững chắc, dù trong hoàn cảnh nào, cháy nhà, chạy loạn, có đi đến đâu cũng chẳng sợ đói, thất nghiệp. Với bác thợ mộc đã vậy, còn với các đấng các bậc như hồng y, giám mục, linh mục khi về hưu cũng vậy. Khi ấy, các vị đó không còn bận bịu công việc mục vụ, nhiều khi yếu, mệt cũng chẳng muốn đọc sách vở gì nữa mà nếu không có“ Phép Tu Lần Hạt Mân Côi” thì có phải là…thiệt thòi lắm hay sao ? Đang khi đó việc Lần Chuỗi Mân Côi lại là phương thế cứu rỗi linh hồn bảo đảm nhất. Thánh Alfonse de Liugori ( 1696 – 1787 ) Đấng Sáng Lập DCCT khi ấy đã quá già, không nhớ mình đã Lần Chuỗi hay chưa, vì thế mới hỏi thầy dòng săn sóc mình để cho biết mình đã Lần Chuỗi chưa và thầy nói tin rằng Ngài đã đọc nhưng vị thánh ấy hỏi lại: Thầy có chắc thật không ? Thầy không biết rằng Ơn Cứu Rỗi cho tôi tùy thuộc vào việc sùng tín này sao ? ( Kinh Mân Côi Online – 25/9/2019 ).
Thánh Alfongse nói Ơn Cứu Rỗi tùy thuộc vào việc thực hành Phép Lần Hạt Mân Côi. Thế nhưng để có thể đi vào con đường thực hành thì không thể không biết đến trọng tâm của “Phép” ấy chính là để lắng nghe Lời Chúa. Người đời lầm lạc vì không phân biệt được những tiếng nói của tư tưởng mình, chúng hoặc là khổ, vui hoặc thiện, ác…Bởi không phân biệt được như thế nên cứ nghe theo những tiếng của thế gian để rồi chịu khổ mà không biết.
Lời nói là…tướng của một tư tưởng bởi vì bất cứ lời nói nào cũng xuất phát từ nơi nghĩ tưởng. Có tư tưởng nào sẽ có lời nói đó, tư tưởng ác sẽ nói lời ác, tư tưởng thiện, lành sẽ nói lời thiện lành…Nghe một lời nói ác, dối trá sẽ tạo cảm giác bất an khổ đau, trái lại nghe một lời nói thiện lành sẽ tạo được cảm giác an vui, tin tưởng. Lời Chúa cũng là một thứ tư tưởng nhưng đây là tư tưởng cực sáng cực lành, đưa đến sự giải thoát cho con người:“ Vì Lời Chúa là lời hằng sống, linh động, sắc hơn mọi gươm hai lưỡi, đâm thấu đến nỗi chia hồn linh, khớp tủy. Biện biệt tư tưởng và ý định của lòng người” ( Dt 4, 12 ).
Ví Lời Chúa như gươm hai lưỡi tức có ý nói về cuộc chiến tâm linh của người Công Giáo và cuộc chiến ấy đã được tiên báo từ thuở đời đời diễn ra giữa Người Nữ Maria và Rắn Sa Tan: “Đức Chúa Giehova phán với con rắn: Ta sẽ làm cho mày cùng Người Nữ, dòng dõi mày cùng dòng dõi Người Nữ nghịch thù nhau. Người sẽ giày đạp đầu mày, còn mày thì sẽ rình cắn gót chân Người” ( St 3, 15 ).
Dòng dõi Người Nữ ám chỉ những ai có lòng tôn sùng Đức Nữ Đồng Trinh Maria, qua việc thực hành Phép Lần Hạt Mân Côi. Nên hiểu mỗi thời công phu như thế là một cuộc chiến mà Đức Maria chính là thủ lãnh đối đầu với “ Sa Tan, con rắn xưa là kẻ lừa dối khắp cả và thiên hạ”( Kh 12, 8 ). Sự lừa dối của quỷ Sa Tan khiến người Tu cứ chia lòng chia trí bất hồi kỳ trận, nhà Thiền gọi sự chia trí ấy là Vọng Tưởng.
Người tu ( Hành Giả ) không sợ vọng tưởng, chỉ sợ biết chậm “ Bất úy tham, sân khởi, duy khủng tự giác trì” Đối với những người kiên trì thực hành Kinh Mân Côi cũng vậy, không sao tránh khỏi chia lòng chia trí, hiểu như là cám dỗ của quỷ Sa Tan. Nhưng vấn đề không phải là chia trí nhưng là có buông theo sự cám dỗ ấy không mà thôi ? Không theo cám dỗ, cứ kiên trì…lắng nghe Lời Chúa chứa đựng trong từng lời kinh, lâu ngày chầy tháng tất sẽ có được năng lực quán sát cần thiết và chỉ khi nào có được lực ấy thì việc tu tập mới bảo đảm đi đến thành công !
Quán sát ở đây có nghĩa là nhận biết sự sinh khởi của chính tư tưởng mình. Có quán sát sự sinh khởi ấy thì mới có thể kiểm soát được nó. Đối với những người không tu tập theo chánh pháp thì không sao tránh khỏi bị các tư tưởng sai khiến bất kể chúng là thiện hay ác. Hành động chỉ theo thói quen hoặc ý riêng bất cập của mình, bất chấp mọi hậu quả. Lòng tham khởi lên lại không nhận biết, để rồi chiều theo sự sai khiến của nó, đưa đến hành vi trộm cắp, cướp giật, thế là bị bắt, vào tù, lãnh án ! Chẳng phải chính cái tư tưởng tham lam không được nhận biết và dứt trừ ấy đã làm khổ người đó hay sao ?
Chính vì năng lực quán sát cần thiết cho đời sống tâm linh như thế nên Đức Mẹ mới hết lòng khuyên nhủ con cái kiên trì, nỗ lực thực hành Kinh Mân Côi, hầu giải thoát khỏi khổ đau. Giải thoát hay trói buộc đều do ở nơi Tâm, có những trường hợp thân thể bị, giam cầm, đánh đập, chửi rủa, làm nhục nhưng tâm trí lại thấy...vui, chẳng hạn các Tông Đồ thời sơ khai Giáo Hội: “ Họ cho gọi các tông đồ lại, đánh đòn và cấm các ông không được rao giảng Danh Giê Su rồi thả các ông ra. Các tông đồ ra khỏi Công Hội, lòng hân hoan, vui mừng bởi được coi là xứng đáng chịu khổ nhục về Đức Giê Su Ki Tô” ( Cv 5, 40 -41 ).
Qua thái độ của các Tông Đồ vừa nêu, rõ ràng cho thấy con người ta có thể Đau nhưng không Khổ. Đau thuộc về thể xác, còn Khổ thuộc về tinh thần tức lãnh vực tư tưởng. Nói rõ ràng hơn con người bị khổ là vì đã chấp chứa những tư tưởng nhơ nhiễm ở nơi mình. Chính những tư tưởng nhơ nhiễm, tham lam, sân hận, si mê đã làm khổ mình chứ chẳng có thế lực bên ngoài nào gây ra cả.
Nhận định như vậy để cho thấy muốn thoát khỏi khổ đau thì không còn có cách nào khác là phải dứt trừ được những tư tưởng nhơ nhiễm từ lâu đã chất chứa ở nơi mình. Tuy nhiên việc dứt trừ ấy thật khó biết bao, con người luôn bị các đợt nhơ nhiễm tưởng làm khổ. Thức Tâm hay phiêu lưu trôi dạt như con thuyền không bến, dù trong lòng vẫn ước mơ có một…bến đậu:
“ Bến mơ dù thiết tha
Thuyền ơi, đừng chờ mong
Ánh trăng mờ chiếu
Một con thuyền trong đêm thâu
Trên sông bao la
Thuyền mơ bến nơi đâu ?
Bài hát“ Con Thuyền Không Bến” của Đặng Thế Phong, một nhạc sĩ tài hoa, chết trẻ khi vừa mới 24 tuổi vì bệnh lao đã phản ảnh sự u uất của con người về nỗi bơ vơ, không tìm được…lối về. Đang khi đó Lối Về ấy con người chỉ có thể tìm được khi biết quay về với bản Tâm mình mà thôi !
Để có thể tìm về với Bản Tâm thì nhất định cần có phương pháp và phương pháp ấy được gọi là TU. Có nhiều pháp môn tu tập khác nhau nhưng bảo đảm và dễ dàng nhất trong Đạo Chúa là Phép Lần Hạt Mân Côi. Thế nhưng thực tế như đã biết Kinh Mân Côi trong thời Tục Hóa này thật đáng tiếc, đã không còn được ái mộ nữa !!!
Có thể nói tôn giáo dù là Phật Giáo hay Công Giáo cũng đều là những con đường thực hiện tâm linh có mục đích để…lo cho cái chết của con người. Chết không phải là hết nhưng nếu chết không phải là…hết thì rồi con người ta sẽ đi đâu ? Về đâu ?
Có câu hỏi cần đặt ra. Vì lý do gì mà Kinh Mân Côi trong thời đại hôm nay đã không được ái mộ, thực hành ? Theo tôi, đó là vì người ta không biết lo lắng cho phần rỗi linh hồn mình ! Không lo lắng cho phần linh hồn, điều ấy có nghĩa chẳng cần biết…chết rồi đi đâu về đâu nữa ? Một khi không cần biết chết rồi mình đi đâu, về đâu thì lẽ đương nhiên người ta sẽ sống buông thả theo đam mê, dục vọng và không có điểm dừng !!!
Mặc dù không…lo đến cái chết nhưng không ai không phải đối diện với giờ phút lâm chung dù người đó ở trong bất cứ đấng bậc nào, giáo sĩ hay giáo dân, quyền cao chức trọng hay bần hàn, vô danh tiểu tốt ! Chính trong những giờ phút cuối cùng của đời người đó mới thấy được giá trị vô cùng lớn lao của Kinh Mân Côi ! Tại sao ? Bởi vì Kinh Nguyện này đặt trọng tâm ở lời Cầu Thay Nguyện Giúp của Đức Maria: “Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con khi nay và trong giờ lâm tử. Amen”.
Đức Mẹ chẳng những….cầu thay mà còn ban nhiều lời hứa cho những ai siêng năng thực hành và một trong những lời hứa quan trọng ấy là: “ Những ai trung thành Lần Chuỗi Mân Côi, khi sống và nhất là trong giờ chết sẽ được ánh sáng Chúa soi dẫn với đầy dẫy ơn huệ của Ngài. Và khi lâm tử, họ sẽ được tham dự vào những công nghiệp của các thánh trên Thiên Đàng” ( Mười lăm lời hứa của Đức Mẹ cho thánh Đa Minh ).
Lo cho cái chết của chính mình, không những đó không phải là…nhát sợ, nhưng là sự sáng suốt của bậc hiền nhân, bởi nếu không có mối lo ấy thì sẽ không thể tránh được những nỗi buồn phiền bủa vây trong cuộc sống. Thiền sư Tông Bổn có lời nhắc nhở “ Nhân vô viễn lự, tắc hữu cận ưu ).
Lo cho cái chết của chính mình là điều sáng suốt, nên làm. Tuy vậy, với người Công Giáo, nếu có lòng tôn sùng Đức Mẹ và siêng năng Lần Chuỗi Mân Côi thì chẳng còn lo lắng gì nữa. Vả lại, còn có Chúa Giê Su, Đấng Cứu Độ Trần Gian, Ngài có một lời hứa quan trọng khác cho chị Consolata Betrone, một nữ tu Dòng Capucin:“ Hỡi con, chỉ những kẻ nào muốn sa xuống Hỏa Ngục mới mất linh hồn mà thôi. Vì lẽ mặc dù không ai cướp được một linh hồn khỏi tay Cha nhưng chính linh hồn có tự do lại có thể chạy trốn, phản bội, từ chối Cha và phó mình cho ma quỷ ! Vậy chớ gì thay vì làm cực lòng Cha vì thiếu tin cậy, chúng con biết nghĩ đến Thiên Đàng, Cha đã hứa ban. Cha đã tạo dựng nên chúng con là để dành cho Thiên Đàng chứ không phải cho Hỏa Ngục đâu để chúng con được hưởng Tình Yêu muôn thuở chứ không phải để thuộc về ma quỷ đâu ! Phải, chỉ kẻ muốn xuống Hỏa Ngục mới xuống đó được mà thôi ! Mối lo sợ mất linh hồn của chúng con là vớ vẩn. Cha đã chẳng đổ hết máu mình ra để cứu chúng con sao ?” ( Con Đường Nhỏ Của Tình Yêu ).
Những lời của Chúa trên đây đem lại an ủi biết bao ! Tuy nhiên lại khiến chúng ta không khỏi suy nghĩ. Nếu chỉ những ai…muốn xuống Hỏa Ngục mới phải sa vào chốn khốn nạn đời đời ấy, thì một cách khác cũng có thể nói, chỉ những ai…muốn lên Thiên Đàng thì mới được vào chôn phúc lạc đời đời ấy thôi !.Tất cả chỉ do…lòng ước muốn, thế nhưng sự thật thì người ta có muốn được về Thiên Đàng để sống đời đời bên Chúa, bên Đức Mẹ và chư thần thánh hay không ? Nếu thực sự muốn thì sao không siêng năng Lần Chuỗi Mân Côi như Đức Mẹ đã truyền dạy ? Với Kinh Mân Côi huyền diệu, thánh Bonaventura, tiến sĩ Hội Thánh đã nói một lời đáng cho ta phải suy gẫm: “ Nếu ta chào Mẹ bằng Kinh Kính Mừng thì Mẹ Maria chào lại ta bằng vô vàn ơn phúc.”.
Phùng Văn Hóa
- Details
-
Category: 20. Những Bài Về Đức Mẹ
Kinh “ Lạy Nữ Vương Mẹ Nhân Lành” ( Salve Regina ) rất được hâm mộ và phổ biến cả trong Phụng Vụ lẫn Cộng Đoàn. Tuy nhiên, về nguồn gốc, xuất xứ cũng như ý nghĩa sâu xa của Kinh Nguyện này thì có thể cũng có nhiều người chưa biết ?
Vào khoảng năm 1100, bên Đức có một gia đình sang trọng, đạo đức sinh được cậu con trai, đặt tên là Herman. Được cha mẹ thương yêu, nhưng từ khi mới lọt lòng, cậu đã mang tật nguyền…Về hình dáng thì thấp bé, miệng mồm méo xệch, lớn lên với cái lưng còng, đi lại khó khăn. Về tâm trí thì tối tăm, ngờ nghệch. Cha mẹ có phần xấu hổ, không muốn con mình tiếp xúc với ai.
Khi lên 12 tuổi, cha mẹ đón một thầy dòng về nhà để dạy dỗ, nhưng suốt 02 năm trời cậu học trước quên sau, chỉ nhớ được vài lẽ đạo thông thường như có một Thiên Chúa Ba Ngôi dựng nên trời đất muôn vật. Ngôi Hai xuống thế làm người sinh bởi Đức Mẹ Maria để chuộc tội cho thiên hạ !
Khi lên 16 tuổi, chàng thanh niên ấy nhận thấy mình tàn tật như thế nên sinh ra buồn bã, than thân, tủi phận. Thầy dòng thấy vậy thì khuyên học trò mình hãy chạy đến kêu van cùng Đức Mẹ, xin Người cứu giúp nhưng dù có cố gắng, tình trạng cũng chẳng có gì chuyển biến. Mặc dù vậy, chàng vẫn không nản lòng nên được Đức Mẹ dủ lòng hiện ra sáng láng và hứa cho cậu được chọn trong hai điều: Một là được hết tật nguyền phần xác, hai là có được trí thông minh, sáng suốt.
Sau một lát chần chừ, cậu đã xin với Đức Mẹ cho được trí thông minh. Điều cầu xin này rất đẹp lòng Đức Mẹ và thế là Ngài đã ban cho cả hai, vừa khỏi tật nguyền vừa được trí thông minh ! Sau đó, Herman đã chăm chỉ học hành vượt xa chúng bạn và xin được vào Tu trong một nhà dòng, tại đó thầy đã nghiên cứu và viết được nhiều tác phẩm có giá trị, ca ngợi lòng nhân từ của Đức Mẹ cũng như để lại một Kinh Nguyện đơn sơ, chân thành nhưng rất có giá trị về mặt tâm linh được truyền tụng mãi cho tới tận ngày nay !
Qua sự kiện trên đây cho thấy hai điều quan trọng: Một là con người ta chỉ thành tâm và kiên trì cầu nguyện khi đã ý thức được hoàn cảnh khổ đau của mình, thế gian không thể cứu giúp, và hai là lời cầu xin được trí thông minh sở dĩ đẹp lòng Đức Mẹ bởi vì nó đáp ứng được với Kế Hoạch Cứu Độ của Thiên Chúa qua Đức Maria, Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội Trung Gian Các Ơn.
Trong tư cách là Hội Viên Tán Trợ của Legio, tôi hoàn toàn nhất trí với quan điểm Thiên Chúa Cứu Độ qua Trung Gian Đức Maria, vì như thánh G. Monfort nói: Ngài là Bạn Chí Thiết của Chúa Thánh Thần:
“ Con xin Chúa đến với con và cho con đầy Ơn Chúa. Nhờ quyền năng của Chúa bảo trợ các hoạt động yếu đuối của con. Con được biến thành dụng cụ thực hiện kế hoạch vĩ đại của Chúa. Nhưng con biết Chúa là Đấng đã đến tái sinh thế giới trong Chúa Ki Tô. Chúa chỉ muốn thực hiện công cuộc này qua Đức Maria thôi. Không có Mẹ, chúng con không thể biết và mến Chúa. Chúa chỉ ban những thiên tài, đức hạnh và ân sủng cho ai, lúc nào, bao nhiêu, cách nào đều tùy Mẹ và nhờ Mẹ” ( Kinh Tuyên Hứa – TB, chương 15, C 167 ).
Lý do khiến Legio tuyên xưng: Chúa chỉ muốn thực hiện Kế Hoạch Cứu Độ qua Đức Maria vì Ngài chính là cái khuôn đúc nên Con Thiên Chúa theo như nhận định của thánh Augustin:“ Đức Maria là cái khuôn sống động của Chúa, có nghĩa Thiên Chúa Làm Người được hình thành con người đầy đủ về mặt tự nhiên mà cũng không thiếu nét nào của Bản Tính Thiên Chúa. Cũng vậy, chỉ nơi Đức Maria mới đúc tạo nên giống Thiên Chúa nhờ Ơn Chúa Ki Tô và tùy mức độ của sức loài người có thể thu nhận được” ( Sách Vàng – Sống Tận Hiến Thánh Monpho ).
Đức Maria là cái khuôn mẫu…đúc nên Con Thiên Chúa là Chúa Giê Su, vì thế những ai đã lãnh nhận Bí Tích Thánh Tẩy, từ trong tiềm năng cũng đều là Con Thiên Chúa và là anh em với Chúa Giê Su: “ Quả vậy, phàm ai được thần khí soi sáng đều là con cái Thiên Chúa. Phần anh em, anh em đã không lãnh nhận Thần Khí khiến anh em trở thành nô lệ và phải sợ sệt như xưa nhưng là Thần Khí làm cho anh em nên nghĩa tử, nhờ đó chúng ta kêu lên: Abba, Cha ơi ! Chính Thần Khí chứng thực cho tâm trí chúng ta là con cái Thiên Chúa. Vậy, đã là con thì cũng là thừa kế mà đã được Thiên Chúa cho thừa kế thì tức là đồng thừa tự với Đức Ki Tô vì một khi đã cùng chịu khổ với Người, chúng ta cũng sẽ được hưởng vinh quang với Người. Phần tôi, tôi nghĩ rằng những đau khổ đời này chẳng có thể sánh được với vinh quang Chúa sẽ tỏ ra cho chúng ta trong đời sau” ( Rm 8, 14 -18 ).
Người đời mê mải tìm kiếm hạnh phúc mà không hề để tâm suy nghĩ về lẽ vô thường, chóng qua của cõi đời hư ảo này. Đang khi đó, chúng ta những con cái Chúa cần luôn nhớ rằng qua Bí Tích Thánh Tẩy, mình đã chết đi tính xác thịt để được cùng sống lại với Đức Ki Tô: “ Vậy, nếu anh em đã được đồng sống lại với Đấng Ki Tô thì hãy lo tìm kiếm các sự ở trên trời, nơi Đức Ki Tô ngự bên hữu Chúa Cha. Hãy để tâm trí xu hướng về các sự ở trên, đừng xu hướng về những sự dưới đất. Vì anh em đã chết, sự sống của anh em đã giấu nơi Đấng Ki Tô trong Thiên Chúa Cha. Khi nào Đấng Ki Tô là sự sống của chúng ta hiện ra, bấy giờ anh em cũng sẽ cùng hiện ra với Ngài trong sự vinh hiển” ( Cl 3, 1 -4 ).
Cùng chết với Đức Ki Tô, để cùng sống lại với Ngài ! Là môn đệ Chúa Ki Tô thì ngày càng phải nên giống Thầy mình, như vậy mới thật là người có phúc: “ Nhưng phúc cho mắt các ngươi vì thấy được, cho tai các ngươi vì nghe được. Quả thật, Ta nói cùng các ngươi, có nhiều tiên tri và người công chính đã ước ao thấy điều các ngươi thấy mà chẳng được thấy, ước ao nghe điều các ngươi nghe mà chẳng được nghe” ( Mt 13, 16 -17 ).
“ Thấy” ở đây là thấy Đấng Cứu Thế Giê Su xuất sinh nơi đời. Còn “ Nghe” có nghĩa là tin nhận Tin Mừng mà Ngài rao giảng. Có…thấy được Đức Ki Tô như đúng thực Ngài Là thì mới có thể tin nhận được Tin Mừng, ngược lại thì không ! Chính bởi lẽ đó, “ Thấy” được Đức Ki Tô là một vấn đề hết sức quan hệ cho đời sống tâm linh của người tín hữu !
Trong Kinh “ Lạy Nữ Vương Mẹ Nhân Lành” mà người Công Giáo chúng ta vẫn tụng đọc hàng ngày trong đó có câu: “ Xin cho chúng con được thấy Đức Chúa Giê Su, Con lòng Bà gồm phúc lạ”. Theo tinh thần của Kinh Nguyện thì việc “ Thấy” ấy chỉ diễn ra sau khi chết chứ không phải ngay trong cõi đời này. Thế nhưng, nếu trong cõi đời này mà không cầu xin và làm các việc lành phúc đức để được “ Thấy” Chúa Giê Su thì cũng chẳng làm sao có thể “ Thấy” được Chúa trong đời sau vô cùng ấy !
“ Hỡi con, khi đứng trước giờ chết, con có sợ như cây vả không trái kia mà Chúa đã quở trách: “ Anh coi, đã ba năm nay, tôi ra cây vả này tìm trái mà không thấy” ( Lc 13, 7 ). Con ơi, con đã sinh ra không phải mới ba năm. Có khi đã nhiều năm rồi, nhưng con đã sinh ra được trái nào chưa ? Thánh Benado đã nói: Con hãy biết, Chúa không chỉ tìm hoa mà thôi đâu, Chúa lại tìm trái nữa, nghĩa là nếu con chỉ ước ao và dốc lòng làm lành mà thôi thì chưa lấy làm đủ, Chúa còn đòi con phải làm việc lành phúc đức nữa Chúa mới chịu” Thánh An Phong – Việc Rỗi Linh Hồn ).
Trong lãnh vực tâm linh, Chúa không có ý tìm hoa mà là tìm trái. Hoa ở đây tượng trưng cho Phúc Đức còn Trái là Công Đức. Để phân biệt sự khác nhau giữa Phúc Đức và Công Đức, thiết nghĩ không gì hơn là trưng dẫn cuộc đối đáp giữa tổ Đạt Ma và vua Lương Võ Đế:
“ Thứ sử thưa với lục tổ Huệ Năng: Đệ tử nghe Tổ Đạt Ma khi mới đến gặp vua Lương Võ Đế, vua hỏi: Trẫm một đời cất chùa, độ tăng, bố thí, thiết trai có những công đức gì ? Tổ Đạt Ma bảo: Thật không có công đức. Đệ tử chưa thấu được lẽ này, cúi mong hòa thượng vì tôi nói:
Tổ bảo: Thật không có công đức, chớ nghi lời của tiên thánh. Võ Đế tâm tà, không biết chánh pháp, cất chùa, độ tăng, bố thí, thiết trai đó gọi là cầu phước chớ không thể đem phước đổi làm công đức. Công Đức là ở trong Pháp Thân, không phải do tu phước mà được. Tổ lại nói: Thấy Tánh ấy là Công, bình đẳng ấy là đức. Mỗi niệm không ngưng trệ, thường thấy Bản Tánh chân thật, diệu dụng gọi là công đức.. Trong tâm khiêm hạ ấy là công, bên ngoài hành lễ, phép ấy là đức…
…Công đức phải là nơi tự tánh mà thấy, không phải do bố thí cúng dường mà cầu được. Ấy là phước đức cùng công đức khác nhau. Võ Đế không biết chân lý chứ không phải tổ sư ta có lỗi” ( Pháp Bửu Đàn Kinh – Phẩm Nghi Vấn ).
Lục tổ Huệ Năng phân tích rõ ràng sự khác nhau giữa Phúc Đức và Công Đức, mục đích là để khai sáng con đường đốn ngộ Thiền Tông. Đối với Đạo Chúa cũng vậy, cũng cần nhận ra sự khác biệt ấy mới có thể thực hiện có kết quả Con Đường Giải Thoát của Đức Ki Tô:
“ Bấy giờ có người đến thưa với Ngài rằng: Tôi phải làm việc lành chi để được sự sống đời đời ? Chúa Giê Su đáp: Sao ngươi hỏi Ta về việc lành ? Chỉ có một Đấng Trọn Lành mà thôi. Nếu anh muốn vào cõi sống thì hãy giữ các giới răn. Người ấy hỏi: Giới răn nào ? Chúa đáp: Chớ giết người, chớ gian dâm, chớ trộm cắp, chớ làm chứng dối. Hãy hiếu kính cha mẹ và hãy yêu kẻ làm ơn cho mình. Gã thanh niên đó thưa rằng: Mọi điều đó tôi đã vâng giữ rồi, còn thiếu chi nữa không ? Chúa phán: Nếu ngươi muốn nên trọn lành thì hãy về, bán hết của cải ngươi bố thí cho kẻ nghèo thì ngươi sẽ có của báu trên trời rồi hãy theo Ta. Nhưng khi gã trai trẻ ấy nghe lời ấy thì buồn rầu bỏ đi vì người có tài sản nhiều lắm” ( Mt 19, 16 -22 ).
Người thanh niên ấy không thể theo Chúa bởi còn chấp giữ vào tài sản, cho tất cả những thứ đó là…thật có. Đang khi ấy, bước đường theo Chúa đòi hỏi cần có sự từ bỏ và từ bỏ, theo nghĩa sâu xa nhất đó là Bỏ Mình tức bỏ đi hai cái chấp. Một là chấp cho xác thân này là mình, hai là chấp những nghĩ suy, lo lường, phân biệt là mình.
Sở dĩ Chúa nói cần bỏ đi hai cái chấp ấy bởi chúng chỉ giả có chứ không thật có. Ngược lại, nếu nó…thật có thì cần gì phải bỏ mà bỏ sao được ? Dẫu vậy, Bỏ Mình là việc rất khó, Nếu không biết ý nghĩa và mục đích của việc làm ấy, chúng ta không bao giờ có thể thực hành trong đời sống mình được !: “ Chúa Giê Su bèn phán với những người Do Thái đã tin Ngài rằng: Nếu các ngươi cứ ở trong Đạo Ta , các ngươi sẽ biết sự thật và sự thật sẽ giải thoát các ngươi” ( Ga 8, 31 -32 ).
Có bỏ được mình tức bỏ Ngã Chấp đi thì mới có thể nhận biết Sự Thật và Sự Thật đó chính là mỗi người trong chúng ta đều được tác tạo là Hình Ảnh Thiên Chúa là Con Thiên Chúa ( St 1, 26 ). Được tác tạo là Con, nhưng thật sự thì phàm nhân chúng ta không một ai có được sự nhận biết Thiên Chúa như là Đấng Cha của mình. Tuy vậy, sự nhận biết ấy lại vô cùng cần thiết vì sẽ đem lại sự sống đời đời cho mình “ Chúa Giê Su nói những điều ấy rồi thì ngước mắt lên trời, nguyện rằng: Cha ơi, giờ đã đến, xin Cha hãy tôn vinh Con Cha để Con Cha lại tôn vinh Cha cũng như Cha đã ban quyền bính cho Con trên mọi xác thịt hầu hễ ai Cha đã ban cho Con thì Con ban cho họ sự sống đời đời. Còn sự sống đời đời là nhận biết Cha là Thiên Chúa thật cùng Giê Su mà Cha đã sai đến” ( Ga 17, 1 -3 ).
Thiên Chúa là Đấng Cha của mỗi người, hơn nữa còn là nguyên lý thành toàn của muôn loài chúng sinh, vạn vật. Nếu có thể có một hình tượng nào để hình dung ra Nguyên Lý ấy, chúng ta có thể ví Thiên Chúa như là chất cây để làm nên các vật dụng trong nhà như bàn, ghế, giường, tủ v.v…Các vật dụng ấy có thể khác nhau về hình dáng cũng như công dụng nhưng cũng được làm từ chất cây hoặc chất nhựa, nhôm, sắt v.v…Không có những nguyên liệu ấy thì không thể nào làm ra các vật dụng ! Thêm một ví dụ khác cho dễ hiểu, ví như chất bột làm nên các thứ bánh như bánh mì, bánh chưng, bánh Ít…Các thứ bánh tuy khác nhau về hình dáng, mùi vị, màu sắc nhưng đều được làm từ chất bột mà nên….
Nói theo ngôn ngữ Phật Học thì Thiên Chúa chính là Chân Tâm, là Tánh Biết hay còn gọi là Giác Tánh là Phật Tánh hằng hữu ở nơi mỗi người. Chúa Giê Su Ki Tô được sai đến để mạc khải về Đấng Cha, chân lý ấy quả là vĩ đại nhưng lại rất khó để tin.“ Người Do Thái vây quanh Chúa Giê Su và nói: Thầy còn để chúng tôi vơ vẩn cho đến chừng nào, nếu thầy là Đấng Ki Tô thì hãy nói tỏ tường cho chúng tôi đi ? Chúa đáp: Ta đã nói cho các ngươi mà các ngươi không tin. Những việc Ta nhân danh Cha Ta mà làm đều làm chứng cho Ta. Nhưng các ngươi không tin Ta vì các ngươi chẳng thuộc về đoàn chiên của Ta. Chiên Ta thì nghe tiếng Ta, Ta biết chúng và chúng theo Ta. Ta ban cho chúng sự sống đời đời, chúng hẳn chẳng bị hư mất bao giờ, chẳng ai có thể giật chúng khỏi tay Ta. Cha Ta là Đấng đã ban chúng cho Ta, vốn lớn hơn hết, chẳng ai có thể giựt chúng khỏi tay Cha Ta. Ta với Cha là một” ( Ga 10, 24 – 30 ).
Người Do Thái nêu thắc mắc về thân phận Chúa Giê Su, Ngài có phải là Đấng Ki Tô hay không nhưng Ngài đã thẳng thừng đáp: Các ngươi không thể biết vì lẽ các ngươi không thuộc đoàn chiên của Ta, chiên Ta thì nghe tiếng Ta !. Qua lời Chúa đây cho thấy, để nhận biết Đức Ki Tô như thật Ngài Là thì cần hai điều kiện. Một là phải thuộc đoàn chiên tức ở trong Giáo Hội Tông Truyền và hai là phải lắng nghe và thực hành Lời Chúa.
Trong hai điều kiện ấy, thì việc lắng nghe và thực hành Lời Chúa là quan hệ bậc nhất mang tính quyết định phần rỗi của mỗi người: “ Khi Chúa Giê Su đang giảng dạy thì trong đám đông có một phụ nữ cất tiếng: Phúc cho người mẹ nào đã cưu mang Thầy và đã cho Thầy bú mớm. Nhưng Chúa đáp lại rằng: Đúng vậy, nhưng còn có phúc hơn kẻ nào biết lắng nghe và thực thi Thánh Ý Chúa” ( Lc 11, 27 -28 ).
Có nhiều nhà thần học cho rằng lời Chúa đây đã tôn vinh công trạng của Đức Maria tới hai lần. Một là Đức Mẹ đã có công cưu mang và sinh hạ Chúa Giê Su về phần xác, hai là đã không giữ lại Người Con Chí Thánh ấy cho riêng mình mà đã dâng vào đền thờ như một của lễ hy sinh để rồi nghe tiên tri Simeon tiên báo về cuộc khổ nạn của Đấng Cứu Thế cũng như đau khổ tột cùng mà Người Mẹ ấy sẽ chịu ( Lc 2, 34 -35 ).
“ Tuy vậy, Đức Maria đã nhận con lại và đem về Nazareth. Mẹ sống cuộc đời gia đình êm ấm với Chúa. Nhưng chắc là Mẹ không quên lời tiên tri của Simeon. Mẹ sống trong ý tưởng hiến tế của Chúa Giê Su, trong viễn ảnh Núi Sọ. Cụ già thánh thiện kia đã dựng thập giá lên trước mặt Mẹ và Mẹ đã không ngừng nhìn ngắm. Là Mẹ rất dịu hiền, Mẹ lo săn sóc cho con lúc thơ ấu cả lúc thiếu thời, song như một vị thầy cả sửa soạn lễ vật làm lễ hy sinh. Như Apraham leo núi nơi Người sẽ phải tế lễ con. Maria mỗi ngày cũng tiến về Núi Sọ. Ngày dâng con vào đền thờ, Đức Mẹ thật đã lập lại lời ưng thuận sống mầu nhiệm cao cả: Nhận hy sinh Con Mẹ để cho ta được rỗi. Chính vì ta mà Mẹ đã phải đau khổ” ( M.V Bernado O.P – Mẹ Trong Đời Tôi ).
Đức Maria đã…chịu khổ vì vâng theo Thánh Ý Chúa để lo lắng phần rỗi cho mỗi người, đồng thời để ta có được lòng cậy trông cần thiết trong giờ phút lâm chung, hấp hối: “ Những ai trung thành Lần Chuỗi Mân Côi khi sống và nhất là trong giờ chết sẽ được ánh sáng của Chúa soi dẫn với đầy dẫy ơn huệ của Ngài. Và khi lâm tử, họ sẽ được tham dự vào những công nghiệp của các thánh trên Thiên Đàng” ( Lời hứa thứ tám trong 15 Lời Hứa đã được ban cho thánh Đa Minh ).
Đức Mẹ đã ban lời hứa vô cùng quý giá cho những ai siêng năng Lần Chuỗi Mân Côi. Thế nhưng thử hỏi trong số những người Công Giáo được kể là…ngoan đạo hôm nay còn có mấy ai tin tưởng và thực hành Kinh Nguyện này để được ơn ích như Đức Mẹ đã khuyên nhủ trong nhiều lần hiện ra trên khắp thế giới ?
Nguyên nhân khiến việc sống đạo nói chung và thực hành Kinh Mân Côi nói riêng hiện trong cơn khủng hoảng trầm trọng đó là vì người ta đã không biết được ý nghĩa cũng như mục đích của việc làm ấy là gì ? Có biết được triết lý ( Lý ) của Kinh Mân Côi thì người ta mới hâm mộ thực hành ( Sự ). Trong lãnh vực tâm linh giữa Lý và Sự cần phải viên dung thì mới có cơ thành tựu, ngược lại thì không !
Kinh Mân Côi thuộc về Tâm Pháp, bởi đó việc thực hành Kinh Nguyện này phải phát khởi từ ở nơi Tâm chứ không thể chỉ ở ngoài môi miệng như Chúa Giê Su đã truyền dạy: “ Còn ngươi, khi cầu nguyện, hãy vào phòng, đóng kín cửa lại rồi cầu nguyện Cha ngươi là Đấng thấy trong chỗ ẩn mật sẽ báo đáp cho ngươi” ( Mt 6, 6 ).
Vào phòng, đóng kín cửa lại có nghĩa khi cầu nguyện thì phải thu thúc lục căn ( Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, Ý ) đừng cho nó phóng xuất ra bên ngoài nơi hiện tượng giới. Mục đích của việc….thu thúc ấy chính là để làm sao cho ta có thể an trụ được hai Thánh Danh Giê Su và Maria trong tâm tưởng mình và khi ấy chính Thánh Danh Giê Su sẽ cứu ta thoát khỏi cám dỗ của kẻ thù Sa Tan hòng lôi kéo ta vào vòng trói buộc vô cùng độc hại của nó: “ Cũng vì cớ đó, nên Thiên Chúa đã nhắc Ngài lên rất cao, ban cho Ngài Danh vượt trên mọi danh, hầu cho mọi đầu gối trên trời, dưới đất, bên dưới đất đều nhơn Danh Giê Su mà quỳ gối xuống và mọi lưỡi đều thừa nhận Giê Su Ki Tô là Chúa để quy phục Thiên Chúa là Cha” ( Pl 2, 9 – 11 )./.
Phùng Văn Hóa