Trong Kinh Tin Kính, chúng ta tuyên xưng: “Tôi tin kính một Thiên Chúa là Cha toàn năng, Đấng tạo thành trời đất muôn vật hữu hình và vô hình.” Điều này có nghĩa Ngài là Alpha và Omega - Nguyên Thủy và Cùng Đích - như vậy gọi Đức Maria là “mẹ” của Ngài có phải là xúc phạm và vô lý không? Nhưng cái vô lý đó lại là một tín điều mà người Công Giáo buộc phải tin, nếu không tin thì không phải là người Công Giáo.
Theo lịch sử các tín điều về Thánh Mẫu Học, Thiên Chúa đã chuẩn bị cho Đức Trinh Nữ Maria 4 đặc ân vượt trên các thần thánh và mọi loài thụ tạo. Đây cũng là những hồng ân mà trí tưởng tượng và sự hiểu biết của con người không thể cắt nghĩa và hiểu nổi, nên phải dùng đến đức tin. Giáo Hội gọi đây là 4 tín điều thuộc về Đức Maria:
1-Mẹ Thiên Chúa
2-Đầu Thai Vô Nhiễm Nguyên Tội
3-Trọn Đời Đồng Trinh
4-Hồn Xác Lên Trời
Tín điều thứ nhất Mẹ Thiên Chúa được Công Đồng Ephesus tuyên tín năm 431 A.D. Tín điều này nhằm phủ nhận tư tưởng của Nestorius, tổng giám mục Constantinople, chủ trương rằng Đức Maria chỉ nên được xưng tụng là Christotokos hay “Người sinh ra Đức Kitô”, nhưng không được xưng là Theotokos hay “Mẹ Thiên Chúa”. Trong tuyên tín của mình, Công Đồng xác tín rằng Đức Maria là mẹ của toàn Con Người của Chúa Giêsu Cứu Thế, không chỉ nguyên phần xác. Ba tín điều sau lần lượt được tuyên tín bởi các triều đại giáo hoàng khác nhau:
Trọn Đời Đồng Trinh tuyên tín bởi Công Đồng Constantinople thứ hai năm 553 và Công Đồng Lateran năm 649. Tại Công Đồng năm 553, Đức Maria được tuyên xưng danh hiệu “Aeiparthenos” có nghĩa là “Trọn Đời Đồng Trinh”. Còn ở Công Đồng Lateran, Người được tuyên xưng là đồng trinh trước khi mang thai, đang khi mang thai, và sau khi sinh hạ Đức Giêsu.
Đầu Thai Vô Nhiễm tuyên tín bởi Đức Giáo Hoàng Piô IX năm 1854. Đức Maria ngay từ giây phút đầu tiên trong lòng thân mẫu đã được miễn nhiễm Nguyên Tội.
Lên Trời Cả Hồn Lẫn Xác tuyên tín bởi Đức Giáo Hoàng Piô XII năm 1950. Mẹ được Chúa đưa về trời cả hồn lẫn xác.
KHÁI NIỆM VỀ MẸ THIÊN CHÚA
Maria là Mẹ Thiên Chúa. Nghe thì khó hiểu mà đúng ra là chẳng ai có thể hiểu nổi. Chính Đức Maria đã thưa với tổng thần Gabriel trong ngày Truyền Tin: “Này tôi là nữ tỳ của Thiên Chúa.” (Luca 1:38). Vừa là nữ tỳ lại vừa là mẹ. Nhưng đã là đối tượng của đức tin thì trí khôn con người làm sao mà hiểu thấu! Chúa Giêsu khi nói về mối tương quan giữa trí khôn nhân loại và những việc làm của Thiên Chúa cũng đã nói với người Do Thái đương thời: “Nếu Ta nói với các ngươi những chuyện dưới đất, mà các ngươi không tin, làm sao các ngươi tin nổi nếu ta nói cho các ngươi những sự trên trời.” (Gioan 3:12)
Tuy nhiên, nếu trí khôn con người không tìm được câu trả lời, thì với những tâm hồn đơn sơ lại có thể chấp nhận: “Vì Cha đã dấu những sự này với kẻ khôn ngoan và thông thái, mà lại mặc khải cho những kẻ bé mọn.” (Mátthêu 11:25) Điều này cũng tương tự như câu chuyện đã xảy ra không lâu tại nhà một người bạn.
Hôm đó trong buổi họp mặt thân mật của một nhóm anh em thân hữu. Sau khi bữa tiệc xong đến phần mọi người ngồi uống nước trà, thì chủ nhà mới hỏi mọi người một câu mà có lẽ nhắm tới một trong hai anh trước đây đã từng có thời “ăn cơm Chúa” nhưng nay lại múa tối ngày cho “vợ”. Câu hỏi đại khái: “Mình hỏi các anh, tại sao Đức Mẹ là người thường mà lại được gọi là mẹ của Thiên Chúa? Không lẽ Đức Mẹ sinh ra Thiên Chúa?”
Hai anh được hy vọng có câu trả lời đều ngồi im lặng, và mọi người cũng không ai trả lời. Bầu khí xem như hơi căng thẳng, và câu hỏi hơi đột ngột hôm ấy đã không có câu trả lời nếu một anh trong nhóm không lên tiếng.
-Em xin góp ý theo sự hiểu biết bình thường của em, một tư tưởng không mang vốn liếng thần học, chỉ căn cứ vào niềm tin chân thành của một người. Nhưng trước hết, em cũng hỏi anh chủ nhà là đã có gia đình và được mấy con rồi?
-Hai đứa, một gái và một trai.
-Anh gọi hai đứa đó là gì?
-Là con.
-Và hai đứa đó gọi anh là gì?
-Là bố.
-Nhưng anh có sinh ra linh hồn hai đứa đó không?
-Làm sao được, vì linh hồn thiêng liêng và do Thiên Chúa tạo dựng.
Im lặng một chút, bạn tôi nói;
-Vậy câu trả lời của em là như thế này: Anh không sinh ra được linh hồn các con của anh, nhưng hai đứa con ấy vẫn là con anh, và anh vẫn là bố của chúng nó. Tương tự vậy, Mẹ Maria không sinh ra thiên tính của Chúa Giêsu vì thiên tính ấy phát xuất từ Chúa Cha, nhưng Mẹ chính thật là mẹ của Chúa Giêsu đấng vừa là Thiên Chúa vừa là người thật. Đã là mẹ thì là mẹ toàn thể con người, và đó là lý do mà Thiên Chúa làm Con Đức Mẹ. Điều này vừa mang ý nghĩa thần linh, vừa có tính cách nhân loại.
Ý tưởng về Mẹ Thiên Chúa là gì?
Tư tưởng của bạn tôi cũng phần nào nói lên quan điểm thần học, đó là khi Đức Maria sinh Chúa Giêsu Cứu Thế, Con Người Thần Linh (divine person). Dù Đức Maria không phải “nguyên thủy” (originate) hoặc “sinh ra” (generate) Thiên Chúa mà chỉ mang Ngài trong dạ và sinh Ngài ra, thì vẫn là Mẹ của Thiên Chúa. Công Đồng Ephesus năm 431 đã xác nhận điều này.
Phúc Âm nói gì về Mẹ Thiên Chúa?
Mặc dù Kinh Thánh không nói đến từ “Mẹ Thiên Chúa”, nhưng chúng ta có thể tìm được ý nghĩa của từ này trong Tin Mừng của Thánh Luca khi chị họ là Elizabeth chào Đức Maria liền sau khi Người mang thai Chúa và đến thăm bà: “Bởi đâu tôi thật có phúc, là Mẹ của Chúa tôi đến thăm tôi.” (1:43) Danh xưng “Mẹ Thiên Chúa” căn bản trên giáo lý Nhập Thể, cũng có nguồn gốc trong thư Thánh Phaolô gửi Giáo Đoàn Galatians: “Nhưng khi thời gian viên mãn, Thiên Chúa sai Con của Ngài, sinh bởi một người nữ, sinh dưới chế độ luật.” (4:4)
Thần Học Mẹ Thiên Chúa?
Căn cứ vào nguồn gốc Thánh Kinh, Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo dạy rằng “Maria thật sự là ‘Mẹ Thiên Chúa’ vì Mẹ là mẹ của người Con muôn thuở của Thiên Chúa nhập thể, Đấng là chính Thiên Chúa”. Theo lời dạy của Giáo Lý, từ nguồn Tin Mừng Gioan 1:1-14, Đức Maria không tạo dựng nên con người thần linh của Chúa Giêsu, Đấng hiện hữu với Chúa Cha từ muôn thuở.
Vậy Đức Maria lại trở nên Mẹ Thiên Chúa có nghĩa là Người đã tạo dựng Thiên Chúa bằng cách sinh ra Chúa Giêsu. Một cách căn bản, Chúa Kitô là người thật và là Chúa thật. Là một phần trong chương trình đặc biệt được Thiên Chúa tuyển chọn, Đức Maria xứng đáng với danh hiệu đáng tôn kính là Mẹ Thiên Chúa.
LỊCH SỬ LỄ MẸ THIÊN CHÚA
Lịch sử Lễ Mẹ Thiên Chúa có thể tóm lược theo những biến cố từ sau Công Đồng Ephesus năm 431 đã tuyên tín Mẹ là Mẹ Thiên Chúa.
Công Đồng Vatican II tuyên bố: “Một cách rõ ràng từ những thời gian của buổi ban đầu, Trinh Nữ Rất Thánh đã được tôn vinh dưới danh hiệu Mẹ Thiên Chúa.” Và ngay từ đầu Giáo Hội Công Giáo Rome đã cử hành lễ kính Mẹ vào ngày 1 tháng Giêng tính theo tuần bát nhật Giáng Sinh. Theo Tin Mừng Luca 2:21, đó cũng là thời gian Con Trẻ được cắt bì và được đặt tên là Giêsu.
Thế kỷ 13 hoặc 14, ngày Con Trẻ được cắt bì và đặt tên được cử hành tại Rome, Tây Ban Nha, và Gaul.
Từ năm 1751, lễ Cắt Bì cho Con Trẻ được Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XIV cho phép Giáo Hội Bồ Đào Nha cử hành vào Chúa Nhật I của tháng Năm. Lễ này lan rộng đến nhiều quốc gia trong hai thế kỷ kế tiếp.
Thánh Giáo Hoàng Gioan XXIII, theo lịch chung Roma năm 1950 đã bỏ không nói đến việc cắt bì Chúa Giêsu, và đã gọi ngày 1 tháng Giêng là cuối tuần Bát Nhật Giáng Sinh. Và năm 1974, Thánh Giáo Hoàng Phaolô VI thay thế lễ Chúa Chịu Cắt Bì bằng lễ trọng kính Đức Maria Mẹ Thiên Chúa. Ngày 1 tháng Giêng cũng được gọi là Ngày Hòa Bình Thế Giới.
LỄ KÍNH
Lễ Mẹ Thiên Chúa được cử hành long trọng trên toàn thể Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ, và một số các giáo hội khác.
1 tháng Giêng bởi Giáo Hội Công Giáo.
16 tháng Giêng bởi Giáo Hội Chính Thống Coptic và Giáo Hội Chính Thống Nguyên Thủy (Oriental Orthodox).
15 tháng Tám bởi Cộng Đồng Anh Giáo.
26 tháng Mười Hai bởi Giáo Hội Byzantine, nghi lễ Tây Syriac cũng gọi là Nghi Lễ Syro-Antiochian, Đông theo nghi lễ Syriac cũng còn gọi là Nghi Lễ Edessan, Assyrian, Persian, Chaldean, và Nestorian…Mỗi nghi lễ đại diện cho một ngành Tín Hữu Đông Phương với lịch sử mở mang và thực hành của nó.
Kính chào Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa, kho tàng quý giá của toàn thể vũ trụ, ngọn đèn không bao giờ tắt, vương miện của sự đồng trinh, nâng đỡ đức tin chân thật, đền thờ không thể phá hủy, nơi ngự trị của đấng các tầng trời không thể chứa nổi. Ôi Mẹ và Đấng Đồng Trinh! Qua Mẹ tất cả mọi Phúc Âm đều tôn vinh Đấng đã đến nhân danh Thiên Chúa.
Ngày đầu năm, mọi dân nước rộn rã hân hoan đón chào một sự khởi đầu mới. Chúng ta cùng dâng lời tạ ơn Chúa cho một năm qua với nhiều ân sủng và những niềm vui, cả những nỗi buồn. Nhìn lại năm cũ để tính toán sổ sách cuộc đời và hướng tới năm mới để dự phóng những chương trình và mơ ước cho tương lai. Ôn cố tri tân. Đối với con người đang lữ hành, thời gian là hồng ân có quá khứ, hiện tại và tương lai. Thêm một năm, mỗi người cộng thêm một tuổi trong ân sủng của Chúa.
Hôm nay Giáo Hội Công Giáo mừng kính lễ Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa. Đức Maria được Thiên Chúa tuyển chọn trong muôn vàn phụ nữ để cưu mang Con Chúa. Qua lời xin vâng, trinh nữ Maria đã thụ thai và sinh hạ Con Thiên Chúa. Dựa vào Kinh Thánh mạc khải, truyền thống, suy tư thần học và tâm tình con thảo, Giáo Hội đã tuyên tín: Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa. Tước hiệu Mẹ Thiên Chúa quá nhiệm mầu và cao cả.
Đức Maria không tự mình nhận tước hiệu này, nhưng Maria chỉ nhận là nữ tỳ của Chúa và là tôi tớ xin vâng như lời thiên thần truyền. Tước hiệu Mẹ Thiên Chúa được các Công Đồng, các thánh Giáo Phụ và toàn thể Giáo Hội cùng tin nhận. Vì Đức Mẹ là mẹ của Chúa Giêsu và là đầu nhiệm thể. Chúa Kitô là đầu và chúng ta là chi thể. Khi Maria đi thăm viếng người chị họ Isave, bà qúa vui mừng đã thốt lên lời ca ngợi rằng bởi đâu tôi được mẹ của Chúa tôi đến viếng thăm. Là Mẹ của con Thiên Chúa nhưng Đức Maria sống rất khiêm tốn và âm thầm. Mẹ Maria đã sinh ra Chúa Giêsu con người toàn vẹn với hai bản tính Thiên Chúa và loài người.Có Chúa ở cùng là một niềm vui hoan lạc. Mẹ có Chúa Giêsu hiện diện ngay bên để chia sẻ cuộc sống gia đình. Cuộc sống của Maria cũng giống như cuộc đời của các phụ nữ khác. Hằng ngày cũng lao động để lo miếng cơm manh áo nuôi sống gia đình. Mẹ an vui chu toàn bổn phận của người vợ và người mẹ trong gia đình.
Đức Maria cũng trải qua mọi ngày với những công việc bình thường như các bà mẹ trong gia đình. Mỗi việc làm với ý thức và tình yêu sẽ trở thành việc vĩ đại. Vĩ đại không phải vì to lớn nhưng vĩ đại vì tâm của con người vĩ đại. Mẹ làm tất cả vì con và cho con. Không có cung lòng nào có phúc hơn cung lòng của mẹ. Mẹ được diễm phúc ở bên cạnh Con Chúa cho tới khi Chúa hoàn tất sứ mệnh. Mẹ được chăm lo, săn sóc và yêu thương Con Chúa hết mình. Mẹ chung vui và xẻ buồn cùng Con trên mọi nẻo đường. Mẹ cũng lo buồn và sầu héo khi Con Chúa bị người đời khinh dể, xua đuổi, chối từ và tẩy chay. Mẹ luôn đồng hành với Con trong mọi bước đường, ngay cả khi Con bị bắt, bị vác thánh giá ngã gục trên đường lên núi sọ. Mẹ đứng dưới chân thập giá nhìn Con hấp hối và trút hơi thở cuối cùng. Có ai đứng đó để chia sẻ nỗi đớn đau và tan nát tâm can như mẹ. Mẹ xứng đáng lãnh nhận tất cả mọi tước hiệu ca khen của Giáo Hội.
Giáo Hội đã dâng kính Mẹ nhiều tước hiệu cao cả. Đức Mẹ là Mẹ Chúa Kitô và Mẹ Giáo Hội. Mẹ là Hòm bia Thiên Chúa và là cửa thiên đàng. Mẹ là Nữ Vương các thiên thần và các thánh. Nữ Vương chẳng hề mắc tội tổ tông và được hồn xác lên trời. Đức Mẹ bầu chữa kẻ có tội và yên ủi kẻ âu lo. Có Mẹ, chúng ta sẽ tìm được sự bình yên và an lạc. Chúng ta dễ dàng đến với Mẹ để tâm sự và cầu nguyện. Đôi khi có những người thắc mắc rằng tại sao Giáo Hội đặt vị trí của Đức Maria cao quá vậy? Giáo Hội còn lưu giữ hình ảnh, bút tích, phép lạ và những việc lạ lùng Đức Maria đã thực hiện qua suốt sự thăng trầm của lịch sử. Đã nhiều lần Đức Mẹ hiện ra để an ủi, khuyên dạy và kêu gọi sám hối. Mẹ là trung gian chuyển cầu ơn Chúa cho chúng ta. Tất cả mọi sự đều được qui về Chúa Giêsu Kitô, Con của Mẹ.
Mỗi khi chúng ta đọc kinh Kính Mừng Maria đầy ơn phúc, Đức Chúa Trời ở cùng Bà, Bà có phúc lạ hơn hơn mọi người nữ, chúng ta tôn vinh Mẹ vì ân sủng Chúa ban. Mẹ là ánh sao dẫn đường chúng ta đến với Chúa. Tất cả những ai chạy đến cầu xin cùng Mẹ sẽ không bị thất vọng. Lạy Chúa, chúng con có Chúa và có Mẹ. Chúng con có mái ấm gia đình là Giáo Hội. Đức Maria là Mẹ Giáo Hội. Giáo Hội sinh chúng ta ra làm con cái Thiên Chúa. Chúng con bước đi trong tự do của con cái Thiên Chúa.
Xin cho chúng con cùng được chia phần gia nghiệp trong Nước Chúa. Chúng ta cùng nguyện rằng: Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời cầu cho chúng con khi nay và trong giờ lâm tử. Amen.
Lạy Mẹ Maria ! Con xin Mẹ cho phép con được kể lại một vài biến cố xảy đến trong đời con có bàn tay của Mẹ nâng đỡ, chở che và yêu thương . Trước hết là để tri ân Mẹ, ngợi khen Mẹ, và cũng để mọi người nhận ra được tình thương của Mẹ thật cao cả vô bờ. Từ đó họ cũng chạy đến với Mẹ mỗi khi gặp gian truân nhờ Mẹ ra tay cứu giúp. Vì xưa nay chưa từng thấy có ai đến với Mẹ mà về không bao giờ. ».
Tôi xin viết lại những hàng tâm sự dưới đây như một lời tri ân đối với Mẹ Maria ; Người đã luôn ở bên tôi trong mọi hành trình của cuộc sống. Vì những biến cố vui buồn xảy ra trong đời tôi luôn luôn có bóng dáng và sự che chở của Mẹ.
Khi vừa mới lọt lòng mẹ chưa đầy tháng, thì người mẹ yêu quý của tôi đã vĩnh viễn giã từ cuộc đời. Kể từ đó tôi phải sống cảnh đời mồ côi mẹ. Đến nay tuổi đời đã trên 50 nhưng tôi chưa hề được thưởng nếm sự dịu ngọt của tình mẹ mà người ta vẫn thường ca ngợi.Chắc hẳn các bạn coi tôi là một người thật đáng thương và tội nghiệp. Xét về mặt nhân loại, thì đúng là đáng thương thật đấy. Nhưng không đâu ! Vì tuy người mẹ trần gian của tôi đã từ giã cõi đời, nhưng tôi lại có một tình mẹ cao cả yêu thương vô bờ đó là Mẹ Maria. Mẹ Hằng Cứu Giúp.
Ngay từ thuở bé, khi còn là học sinh nội trú tại một trường Công Giáo ; các Sœur Dòng Đa Minh đã trau dồi cho tôi lòng sùng kính Đức mẹ và Thánh Cả Giuse cách rất sâu xa. Lúc đó, với tâm hồn thơ trẻ, tôi chẳng biết phải cầu nguyện như thế nào. Nhiều lúc thấy mình quá cô đơn và cảm thấy tủi thân, tôi bắt chước lời cầu nguyện của Thánh trẻ Đa Minh Saviô. Một vị Thánh mới 14 tuổi đời thuộc Dòng Đa Minh đã thưa chuyện với Đức Mẹ khi Đa Minh Saviô nghe tin mẹ ruột của Ngài qua đời : « Lạy Mẹ Maria, từ đây con vĩnh viễn không còn người mẹ trần gian nữa. Xin Mẹ hãy là Mẹ của con, nâng đỡ và dìu dắt con mọi ngày trên dương thế này. Cuộc đời con xin trao gửi cho Mẹ». Ý thức mình cũng là đứa bé mồ côi như Đa Minh Saviô, tôi cũng thân thưa với Mẹ Maria : « lạy Mẹ, xin Mẹ hãy đón nhận con là con của Mẹ. Xin cho con được lòng yêu mến Mẹ và cho con ngày sau được rỗi Linh Hồn…Cuộc đời con hoàn toàn phó thác trong tay Mẹ.. » Tôi cầu xin với Mẹ mỗi ngày cũng chỉ với lời cầu xin mà tôi bắt chước của Thánh Đa Minh Saviô mà thôi.Và trong suốt quãng đời thơ ấu, Mẹ đã ra tay cứu giúp tôi rất nhiều lần thoát khỏi biết bao nguy hiểm.
Tôi còn nhớ, ngày còn bé, lúc đó tôi không biết bơi và cho đến bây giờ tôi cũng vẫn không biết bơi. Tôi đã nghe theo mấy đứa bạn rủ đi tắm sông Đồng Nai vào mỗi buổi chiều. Một lần ôm cây chuối để tập bơi một mình, cây chuối trượt ra khỏi người tôi, thế là tôi bị dòng nước cuốn trôi.Miệng thì uống nước sặc sụa. Tôi cố vùng vẫy để thoát hiểm mà cũng không sao ngoi được lên khỏi mặt nước. Cũng chẳng có gì ở chung quanh lúc bấy giờ để tôi bám víu.Tôi chắc trăm phần trăm là cái chết đã gần kề. Tôi bỗng nhớ đến Mẹ Maria. Tôi thầm thĩ kêu lên « Mẹ Maria ơi, xin cứu con » rồi tiếp tục vật lộn với dòng nước. Bỗng nhiên có một người đàn ông vô tình đi ngang qua nhìn thấy và nhảy xuống cứu tôi, đưa tôi vào bờ. Sau khi lên bờ người ấy nói với tôi : « May mà hôm nay tao tự dưng lại đi qua ngõ này. Đang đi tao thấy đau bụng, tính vào mé sông để giải quyết thì gặp mày đang ngấp ngoái dưới sông nên tao nhảy xuống cứu mày đó. Mà kỳ lạ ; cứu mày xong tao cũng hết đau bụng luôn. Nếu không thì hôm nay mày bị đem tế cho Hà Bá rồi cháu ạ ». Ông tên là Nguyễn Bân. Cựu sĩ quan của chế độ cũ Sài Gòn.Tôi rối rít cám ơn ông.Còn tôi, tôi biết chắc là Đức Mẹ dã ra tay cứu giúp tôi.
Nhưng tôi nào đã biết sợ. Cũng vẫn chứng nào tật nấy để theo bạn bè đi tắm sông.Lần khác, không biết bơi mà tôi dám cả gan ôm cây chuối để thằng bạn đẩy tôi qua sông. Ra đến giữa giòng trúng ngay chỗ xoáy. Thế là lại thêm một lần ngụp lặn uống nước giữa giòng. May mà đám bạn cứu vớt kịp thời. Tôi còn chêt đuối thêm hai lần nữa. Nhưng lần nào cũng được cứu thoát vào phút cuối cùng.
Lớn dần theo năm tháng. Niềm tin yêu của tôi dành cho Mẹ cũng lớn theo. Không một chuyện to nhỏ nào mà tôi không đến thân thưa với với Mẹ. Tôi thì cũng chẳng đạo đức thánh thiện gì cho cam. Có thời gian tôi cũng lơ là việc lẫn chuỗi Mân Côi đấy chứ. Tuy vậy tôi vẫn luôn trung thành để cố gắng đọc lấy ba Kinh Kính mừng. Nên mỗi khi gặp khó khăn nguy hiểm là có Mẹ cũng ra tay cứu vớt . Về việc học hành, Mẹ cũng đã soi sáng cho trí tuệ tôi được thông minh, học hành tấn tới. Thi đâu đậu đó, mặc dù có những lúc tôi cũng rất lười ôn bài. Nhưng Mẹ ban cho tôi trí nhớ thật tốt. Chỉ cần nghe ông thầy giảng một lần là tôi nhớ không hề quên. Vì vậy khi ôn bài tôi cũng chỉ cần ôn sơ là nhớ hết.
Sau năm 1975, lúc kinh tế của cả nước đang gặp khó khăn, tôi đi làm lơ xe để kiếm sống qua ngày. Một lần xe đang đổ dốc với tốc độ khá cao. Xe bỗng mất thăng bằng khi gặp một khúc quẹo gắt,tôi đã bị hất văng ra khỏi xe rớt xuống vệ đường. Với tốc độ cao của chiếc xe đang đổ dốc,mọi người nghĩ rằng thế nào tôi cũng bị gẫy chân hoặc bị thuơng tích chứ chẳng chơi. Vậy mà tôi không hề bị thương tích hay gẫy dập chân tay gì cà.. Vì vừa lúc văng ra khỏi xe, tôi thấy như có một sức mạnh vô hình nào đó đỡ lấy tôi. Tôi thấy mình từ từ đặt chân xuống đường cách nhẹ nhàng như người nhảy từ chiếc ghế đẩu xuống đất vậy. Hoàn hồn tôi thầm thĩ : « Con xin cảm tạ Mẹ.
Đến năm 1983, tôi đi vượt biên. Chuyến vượt biên bất thành. Tôi bị công an bắt giam tại Khám Bà Rịa. Lúc đó vợ tôi đang có thai đứa con thứ hai. Biết vậy mà tôi cũng vẫn cứ vượt biên. Vượt biên để tìm một lối sống cho gia đình …Nếu đi thoát thì vợ tôi chắc cũng sẽ vui. Giờ bị ngồi tù, trong khi vợ gần đến ngày sinh nở tôi cảm thấy áy náy lương tâm và lo lắng vô cùng vì biết nhờ ai mà chăm sóc cho hai mẹ con. Tôi cầu nguyện để xin Mẹ giúp tôi tìm cách giải quyết. Và Mẹ đã ra tay khi tôi tâm sự nỗi lo âu của mình cho một anh bạn cùng phòng. Anh là người thuộc giáo xứ Hải Sơn Bà Rịa. Anh cũng can tội vượt biên giống tôi. Nhưng vì ở tù lâu năm nên anh được tin tưởng cho ra ngoài làm những công tác lặt vặt. Anh đã để ý từng đường đi nước bước của cán bộ giám thị trại giam và tìm cách giúp tôi vượt trại. Vào một buổi trưa, khi cả trại đang nghỉ ngơi dưới nắng hè oi bức, tôi được anh bạn dẫn ra ngoài và chính anh làm bệ cho tôi bước lên người anh để nhảy qua hàng rào của trại. Tôi trốn thoát cách an toàn mà không hề ai hay biết. Khoảng 1 giờ sau, toàn trại tập trung để điểm danh trước khi đi lao động buổi chiều người ta mới phát hiện ra tôi trốn trại ( Sau này gặp anh bạn kia ở Hải Sơn, anh có kể lại cho tôi) . Khi được thông báo có người trốn trại, công an tung ra đi lùng kiếm. Nhóm thì chạy xe díp (Deep). Nhóm thì đi hon đa. Tất cả đều nhắm hướng bến xe và các ngõ hẻm lân cận để tìm kiếm. Lúc đó tôi đang ngồi trên một chiếc xích lô đạp. Run lắm. Sợ hãi vô cùng. Nhưng cũng phải cố làm ra vẻ bình tĩnh.Tôi cầu xin Mẹ cứu tôi. Tôi thấy rõ hai chiếc xe công an hú còi inh ỏi chạy qua chiếc xe xích lô của tôi. Một anh công an còn nhoài người ra xe để ra dấu cho các xe dạt vào lề để họ làm nhiệm vụ. Anh công an đó nhìn thấy tôi nhưng Đức mẹ đã che chở tôi nên anh công can đó đã không nhận ra tôi. không hiểu vì sao anh lại không nhận ra tôi. Và tôi đã về đến nhà bằng an, gặp lại vợ và đứa con mới chào đời được hơn tuần lễ. Tôi âm thầm ngước nhìn lên tượng Mẹ dâng lời tri ân tự đáy lòng.
Về đến nhà nào tôi có được yên thân, Lệnh truy nã gửi về địa phương. Công an khu vực truy tìm tôi thật gắt gao. Tôi phải lẩn trốn đi nơi khác để sinh sống. Lúc đó tôi sinh sống bằng nghề đạp xích lô. Giấy tờ tuỳ thân chẳng có. Hộ khẩu cũng không. Tôi mướn một căn nhà nhỏ nằm sát cạnh nhà của anh Trưởng Du Kích Phường. Thời gian đạp xích lô cũng hai năm. Vừa đạp mà vừa sợ bị phát hiện. Biết bao lần đối mặt với công an tôi tưỏng là sẽ có nguy cơ. Nhưng mọi chuyện đều qua đi an toàn.
Thế rồi, một hôm tôi liều mạng về thăm gia đình, không biết ai đã nhìn thấy và đi cấp báo cho công an. Một lúc sau , đang lúc tôi đang bồng đứa con thứ hai thì một nhóm công an và du kích ập vào nhà. Họ chỉ cách tôi khỏang 3 mét. Tôi nghĩ : « Thôi tới số nữa rồi. Lần này là chết chắc ». Vì khoảng cách quá ngắn làm sao tôi có thể thoát thân. Lúc đó tôi lại đang ở trong nhà. Chạy ra cửa thì công an và du kích đứng chặn ngang. Trốn đâu bây giờ..Tôi lại cầu cứu Mẹ : « Mẹ ơi con phó thác cho Mẹ, xin Mẹ cứu con ». Đọc xong lời cầu vắn đó, tôi trao vội thằng con cho đứa em gái tôi rồi chạy ra sau nhà. Ở sau nhà cũng không lối thoát vì có bức tường cao hai mét rưỡi vây quanh. Tôi phóng mình lên bám vào hàng rào kẽm gai, cố sức đu lên và vượt thoát được ra ngoài. Phía sau tôi, có mấy anh du kích đuổi theo. Không hiểu sao khi đến bức tường họ khựng lại không đuổi theo mà quay sang hướng khác là tìm kiếm trong những bụi chuối và những thùng phuy bỏ trống ở sau nhà. Lục lọi một hồi không thấy tất cả ra về. Đức Mẹ đã cứu tôi một bàn thua trông thấy chỉ trong gang tấc. Mẹ làm cho ba anh du kích không thấy tôi trong khi tôi chạy trước mặt các anh với khoảng cách quá ngắn. Và Mẹ cũng cho họ nghĩ là làm sao tôi có thể nhảy qua bức tường cao thế kia chỉ trong tích tắc.Tất cả là do quyền năng của Mẹ. Nếu không tôi đã bị dính trấu ngày hôm đó rồi.
Thoát hiểm xong chừng hơn tháng sau, tôi lại ra đi vượt biên lần thứ hai. Lần này thuận buồm xuôi gió. Các cửa khẩu đóng chốt ngoài biển của công an đều vượt qua cách an toàn vì Ban tổ chức chuyến đi đã tổ chức thật chu đáo. Con thuyền bé nhỏ mong manh vậy mà chứa đựng đến 94 thuyền nhân. Mỗi khi gặp bão phủ ập xuống, con thuyền tưởng như có thể sẽ bị nhận chìm làm mọi người đều hoảng hốt lo sợ. Ra khơi được 4 ngày, trên thuyền ai cũng đều nghĩ rằng đã ra đến hải phận quốc tế. Nào ngờ đến ngày thứ 5 thuyền của chúng tôi lại giáp mặt với Côn Đảo Vũng tàu. Lúc bấy giờ mới vỡ lẽ hoa tiêu của chúng tôi thuộc loại hoa tiêu dzổm không biết một chút gì về cách xử dụng hải bàn và cách vượt biển. Loanh quanh mấy ngày cũng vẫn là Côn Đảo. Trên thuyền lúc này đã bắt đầu bàn tán xôn xao. Có người còn dự tính ném ông hoa tiêu dzổm này xuống biển, cũng may là vợ ông ta mới chết , anh em trên thuyền cũng vừa mới làm lễ thủy táng cho bà ta vào ngày hôm trước, nên cả thuyền cảm thông và tha thứ. Đến hôm nay đã là ngày thứ 7 của cuộc hải trình vượt biển.Lương thực đã cạn. Nhiên liệu đã hết, tất cả đồng ý là quay về dù có bị bắt cũng cam chịu chứ cứ loanh quanh thế này chỉ làm mồi nuôi cá. Thật là trớ trêu. Chính lúc quay mũi trở về lại là lúc quay mũi để ra đi. Đi được hai hôm nữa thì nhiên liệu không còn đến một giọt. Đành phải để cho thuyền lênh đênh muốn trôi dạt về đâu thì tùy. Lúc đó sóng gió lại nổi lên. Con thuyền chao đảo. Từng cơn sóng đập vào mạn thuyền kêu cót két tưởng chiếc thuyền sẽ bị vỡ tung. Ai nấy đều phó linh hồn lần cuối. Lương thực lại cạn sạch. Không nước uống. Không thực phẩm. Tất cả đều nằm chờ chết. Thuyền chúng tôi lần lượt làm lễ thủy táng cho 7 người để tiễn họ về bên kia thế giới. Lúc mới lên thuyền tôi bị say sóng nên nằm chết dí trong phòng máy. Nhưng giờ phút này tôi lại là người nhanh nhẹn, linh hoạt đi động viên tinh thần của cả thuyền. Tôi đi lần lượt từ boong thuyền xuống hầm máy để giúp mọi người cầu nguyện và kêu gọi họ hãy vững tin vào Mẹ Maria. Nhiều người đến giờ phút đó thất vọng não nề không còn biết cầu nguyện ra sao, tôi đã đến bên để cầu nguyện chung với họ. Riêng tôi thì vẫn âm thầm cầu xin với Mẹ « Mẹ ơi, chẳng lẽ ra đến đây rồi Mẹ bỏ chúng con sao ? Thà Mẹ để con chết chứ đừng cho thuyền dạt về Việt Nam, con sợ đi tù lắm Mẹ ơi.. » .
Và từ đó, mỗi lúc bóng đêm bao đại dương bao la, gần 90 người trên con thuyền nhỏ bé mong manh chung lời cầu nguyện thật tha thiết :« Mẹ ở bên hồn con luôn mãi. Dù thuyền con đã buông tay lái ; sóng vỗ tư bề đang thét gào. Nhưng có bóng Mẹ con chẳng nao.» (Đường Đời Vương)
Thuyền chúng tôi cứ thế lênh đênh suốt 9 ngày tiếp theo không một giọt nước để uống, và một miếng gì để ăn lót dạ. Cả con thuyền đều hết lòng trông cậy phó thác. Và Mẹ đã động lòng thương ra tay cứu giúp.
Sự can thiệp đầy quyền năng của Mẹ đến với chúng tôi vào một buổi trưa ngày thứ 17 của cuộc hải trình. Trưa hôm đó, vì quá khát và đói lả nên tôi mệt lử người và ngủ thiếp đi trên khoang thuyền. Trong lúc mơ màng trong giấc ngủ trưa vì kiệt sức. Tôi thấy có một người Đàn Bà mặc áo choàng trắng lướt đi trên biển tiến lại phía con thuyền chúng tôi đang trôi dạt và nói « Tàu vớt đến rồi kìa. » Chỉ có vậy thôi rồi bóng hình người Đàn Bà ấy biến mất. Tôi không còn biết gì nữa và tiếp tục ngủ. Một lúc sau bị đánh thức bởi những tiếng ồn ào nhốn nháo của mọi người trên thuyền. Tôi ngồi dậy xem có chuyện gì. Thật bàng hoàng xúc động, ngay lúc đó tôi đã tin chắc chắn rằng người Đàn Bà mặc chiếc áo choàng trắng trong giấc mơ không ai khác hơn chính là Đức Mẹ. Mẹ đã đến báo tin vui cho các con cái đang tuyệt vọng của Mẹ. Vì kìa, trước mắt tôi con tàu chở dầu khổng lồ của Na Uy , sừng sững như một lâu đài nguy nga giữa biển khơi đang quay mũi tàu để cứu vớt chúng tôi. Mắt tôi bỗng trào lệ và nói « Lạy Mẹ Maria, Con xin cảm tạ Mẹ đã cứu chúng con.Con biết nói sao cho hết sự xúc động này vì Mẹ đã thương đến thuyền của chúng con ».
Tàu Na Uy phát hiện để cứu chúng tôi lúc 3 giờ chiều. Nhưng mãi đến 5 giờ chiều cả thuyền mới lên hết được tàu lớn. Lên đến tàu lớn, nhiều ngưòi vẫn chưa hoàn hồn vì cứ tưởng đang sống trong mơ. Có nhiều người đã khóc vì xúc động khi biết mình đã thoát khỏi lưỡi hái tử thần của 17 ngày lênh đênh. Hôm đó là ngày 23.10.1985.
Khi lên trên tàu lớn, ông thuyền trưởng người Na Uy có cho chúng tôi hay là họ mới rời cảng Philippine, ra đến hải phận thì gặp chúng tôi. Nếu không cứu chúng tôi thì đêm nay chúng tôi sẽ phải đụng với một cơn bão lớn khó mà chống cự được. Nếu có chống cự được thì con thuyền nhỏ bé của chúng tôi cũng sẽ bị dạt ra Biển Đông. Rơi vào vùng đó thì coi như mất tích như biết bao con thuy ền vượt biên đi trước chúng tôi đã bị trôi dạt vào đó, để rồi không còn thấy một ai đến được bến bờ. Vì theo ông ta, đó là vùng chết, không có tàu thuyền nào lai vãng hoặc đi qua lại vùng đó cả. Ôi Quyền năng và tình thương của Mẹ Maria thật cao cả tuyệt vời biết bao. Sau này lên Singapore, nhóm người trong tàu chúng tôi lo về Phụng Vụ và ca đoàn. Chúng tôi cũng tổ chức rước kiệu Đức Mẹ đi chung quanh trại vào đúng ngày 08.12 ngày lễ Mẹ Vô Nhiễm để cảm tạ Mẹ. Theo như Cao Ủy Tỵ Nạn, và Cha Francis người Canada tuyên úy của trại cho biết thì từ ngày thành lập trại vào năm 1976 đến ngày chúng tôi nhập trại, thì chưa hề có rước kiệu và thánh lễ rửa tội cũng như Rước Lễ Lần Đầu nào được tổ chức tại trại tỵ nạn này. Chúng tôi tổ chức những việc đạo đức đó để tri ân Mẹ vì Mẹ đã cứu cả tàu chúng tôi đến bến bờ bằng an.
Đặt chân lên đất Pháp, cuộc sống gặp rất nhiều khó khăn, có những lúc tôi đã sống như một đứa con hoang đàng. Quên mất những gì Mẹ đã yêu thương ra tay chở che cứu giúp. Vậy mà Mẹ vẫn không bỏ tôi. Mỗi khi ốm đau bệnh hoạn, hoặc gặp sự cố gì tôi cũng đều thấy có bàn tay Mẹ chở che nâng đỡ.
Vào năm 1988, lúc đó hoàn cảnh gia đình tôi thật bi đát và thiếu thốn trăm bề. Nhà 6 miệng ăn mà chỉ có mình tôi đi làm. Thời gian đó tôi lại bị căn bệnh phổi hành hạ phải nằm bệnh viện gần tháng trời mới khỏi. Những lúc ở trong bệnh viện, tôi thường vào nhà nguyện của bệnh viện qùy dưới chân Đức mẹ để cầu nguyện và phó thác tất cả cho Mẹ. Xuât viện về đến nhà, tôi nhận được hoá đơn tiền điện của mấy tháng trời chưa thanh toán. Cơ sở điện lực thông báo nếu không thanh toán trong vòng 5 ngày họ sẽ đến cắt điện. Lúc đó con cái còn bé nếu cắt điện gas thì làm sao mà sống. Vợ tôi nói tôi cầm hoá đơn lên xin cơ quan điện lực thông cảm cho chúng tôi được trả làm nhiều lần. Đến đường cùng rồi đành phải vậy chứ sao. Trước khi mang hoá đơn đi xin trả góp, tôi đứng dưới chân Đức Mẹ và nói « Mẹ ơi, xin ra tay cứu con với Mẹ ơi. Con lấy tiền đâu mà trả đây. Mẹ soi sáng cho người ta thông cảm để họ đồng ý cho con được trả góp Mẹ nhé ». Cầu nguyện xong tôi ra đi.Bước vào văn phòng tôi đưa hoá đơn ra và cũng trình bày với người thư ký văn phòng điện lực như vậy. Cô ta cầm hoá đơn, bấm mã số khách hàng của gia đình tôi lên thì cô ta nói : « Cách đây 10 phút có một người đàn bà đã đến, trả cho ông rồi. » tôi hoảng hồn kinh ngạc. Ai là người trả cho tôi ? Vì tôi có cho ai biết là gia đình tôi đang thiếu tiền để đóng tiền điện. Mà có đi trả thì cũng phải mang theo hoá đơn thì người ta mới biết mà thanh toán chứ. Hoá đơn tôi đang cầm trên tay đây. Vậy làm sao người đàn bà đó lại có hoá đơn của tôi ? Bao nhiêu câu hỏi được đặt ra trong đầu nhưng không sao lý giải được. Tôi vội chạy về nhà nói cho vợ tôi biết « Họ nói có một người đàn bà vừa mới đến trả hết tiền cho mình xong. Em có cho ai biết là mình thiếu tiền điện không ? « Vợ tôi trả lời : Không. Và cũng kinh ngạc không kém. Chúng tôi tin chắc rằng Mẹ lại ra tay cứu gia đình chúng tôi lần nữa.
Đến năm 2002, tôi bị căn bệnh sạn thận thật đau đớn kéo dài suốt ca mấy tháng trời. Đi tiểu lúc nào cũng ra máu, lưng thì đau nhói không sao đứng thẳng lên được nhưng vẫn cứ phải đi làm. Một hôm đangkhi làm việc cơn đau dữ dội xảy đến khiến tôi phải nằm lê lết trên nền nhà ở trong sở. Mọi người đều hoảng hốt dìu tôi ra xe và cô thư ký được giao nhiệm vụ chở tôi về nhà. Đau quá tôi chỉ biết rên la không sao nói được. Điện thoại cho bác sĩ cũng phải nhờ đến cô thư ký gọi dùm. Bác sĩ gia đình xác nhận tôi bị sạn thận rất nặng đang trong thời gian điều trị. Vì bác sĩ mới khám cho tôi ngày hôm trước vẫn thấy tôi còn đi tiểu ra máu nên bác sĩ đã gọi xe cấp cứu để đưa tôi vào bệnh viện để chữa trị hoặc giải phẫu. Tôi đau đớn đến cùng cực. Nằm quằn quại trên sàn nhà. Lúc đau qúa tôi nhìn lên bức ảnh Đức Mẹ mà tôi nhặt được ở thùng rác về và nói « Mẹ ơi , con đã đưa Mẹ ra khỏi thùng rác thì bây giờ Mẹ cứu con đi » .
Tôi xin mở ngoặc ở đây để nói về bức ảnh : Cạnh nhà tôi có một bà già. Gia đình dòng họ bà đều theo đạo Hồi. Bà bị nan y hay bệnh gì đó tôi không rõ chỉ biết là gia đình con cháu đã hết lòng chạy chữa mà không khỏi. Có người bày với con cháu của bà là đưa bà đi Lourdes (Lộ Đức) để khấn xin Đức Mẹ. Họ cũng nghe theo và đi Lộ Đức. Sau khi khấn xin họ còn mua một bức ảnh Đức Mẹ mang về để tiếp tục cầu xin. Bệnh của bà có hết hay không thì tôi không rõ. Nhưng tôi thấy bà có vẻ khoẻ khoắn vì thương xuyên thấy bà đi ra ban công đùa giỡn với đứa cháu. Rồi bỗng một hôm tôi thấy người ta khiêng chiếc quan tài từ nhà bà đi ra. Hỏi ra thì mới biết là bà đã qua đời.Sau khi bà qua đời con cháu bà là những người theo Hồi Giáo đã đập vỡ tượng Mẹ và ném vào thùng rác. Tôi gom những mảnh vỡ đó về và ráp lại thành một bức ảnh như cũ đành rằng cũng còn thấy rõ những đường chắp nối. Tôi treo lên và thờ kính. Hôm nay khi cơn đau dữ dội đến với tôi, tôi bỗng nhớ lại và cầu xin Mẹ. Khi xe cấp cứu tới nơi, thấy tôi vật vã đau đớn, họ tính trói tôi vào băng ca để mang đi dễ dàng. Tôi khoát tay nói « Không cần đâu cứ để tôi nằm thế này cũng được » Vợ tôi lúc đó cũng được thông báo nên đã được chef của cantine cho về để theo tôi vào bệnh viện. Trên đường đến bệnh viện, Tôi không ngớt cầu xin Mẹ cứu tôi và cho tôi thoát khỏi cơn bệnh quái ác này. Lúc đó tự nhiên tôi thấy muốn đi tiểu, và như có một luồng điện chạy suốt người tôi dọc theo xương sống. Xe vừa tới bệnh viện, tôi tự động bước xuống băng ca và xin những người đang săn sóc tôi để đi tiểu. Họ ngạc nhiên khi thấy tôi khi nãy đang vật vã đau đớn như họ đã chứng kiến, giờ lại thản nhiên bước đi cách thoải mái như không hề có bệnh gì. Tôi vào toilette đi tiểu và thấy nước tiểu tự nhiên trong như nước lọc không còn ra máu nữa. Tôi bước ra nói với mọi người rằng « Đức mẹ đã cứu tôi ». Tuy tôi đã nói là tôi đã hết đau, các bác sĩ vẫn bắt tôi vào phòng khám để xét nghiệm. Cuộc xét nghiệm kéo dài từ 12 giờ trưa đến 5 giờ chiều mà không tìm ra được một dấu vết bệnh tật nào. Và từ đó đến nay cơn đau đã không hề tái phát và tôi đã được lành từ đó.
Hai năm sau, cơn bệnh khác lại đến với tôi đó là bệnh ung thư gan. Lúc đó da và mắt tôi rất vàng võ. Một hôm đi làm thấy trong người quá mệt. Mệt đến độ tôi không thể bước nổi một bước. Đi xét nghiệm máu thì bác sĩ cho biết tôi có vấn đề về gan. Bác sĩ liền gửi tôi vào bệnh viện để chụp hình và siêu âm. Kết quả cho thấy lá gan bên phải có 2 cục u lớn và kết luận tôi bị ung thư. Bác sĩ bệnh viện yêu cầu tôi phải giải phẫu, nếu cần thì thay gan khác nếu không thì thời gian tôi chỉ sống được vài ba tháng là cùng. Nhưng trước khi giải phẫu ghép gan, tôi phải ký vào tờ cam kết của bệnh viện. Con gái tôi khóc ròng vì nghe tôi nói tôi sẽ chẳng còn sống bao lâu.
Ngày hẹn giải phẫu đã đến. Trong thời gian chờ đến ngày vào bệnh viện, tôi hằng cầu xin với Mẹ là cứu chữa tôi thêm lần nữa và Mẹ đã nhận lời. Tôi trở lại bệnh viện với tâm trạng thật thoải mái vì không còn thây mệt nhọc như những ngày trước đây.Bước vào phòng khám, khi đưa dụng cụ vào để khám nghiệm lần chót thì các bác sĩ ngạc nhiên là hai cục u tự nhiên đã biến mất không để lại dấu vết nào. Trước sự kiện lạ lùng này, bệnh viện bát tôi phải trở lại thêm nhiều lần nữa để họ kiểm nghiệm thật kỹ lưỡng xem có sự nhầm lẫn nào không. Tôi trở lại nhiều lần trong vòng 1 tháng. Kết quả vẫn không có dấu bết bệnh tật nào dù cho hồ sơ bệnh lý trước đây từ việc xét nghiệm máu và siêu âm đều có ghi rõ ràng tôi bị chứng bệnh nan y về gan.
Và còn nhiều lần nữa,lần nào tôi cũng được Mẹ cứu chữa cách nhiệm mầu như bướu trong ruột già và căn bệnh ung thư tuyến tiền liệt.
Trong suốt cuộc đời, mỗi khi tôi cầu xin Mẹ ơn gì, tôi đều đọc Kinh Hãy Nhớ và hát bốn câu sau :
Mẹ nguồn cậy trông, chưa thấy ai xin Mẹ về không Hỡi Mẹ Thiên Chúa xin hãy lắng nghe con nài van. Mẹ nguồn an vui, ôi Nữ Trinh là nguồn an vui Hết tình kêu khấn, con tin chắc Mẹ thương nhận lời. (Nguồn Cậy Trông)
Tất cả đều là Hồng Ân Mẹ đã ban cho con. Con xin hết lòng tri ân Mẹ và nguyện suốt cuộc đời làm tông đồ của Mẹ để cao rao Danh Mẹ và truyền bá lòng sùng kính Mẹ đến với mọi người. Để tất cả cùng quây quần dưới nhan Mẹ ca tụng, ngợi khen và cầu khấn mỗi khi thử thách gian truân đau khô vây bọc cuộc đời, Để Mẹ ra tay nâng đỡ và thi ân giáng phúc cho tất cả các con cái của Mẹ.
Cứ mỗi khi hè về, tôi lại nhớ đến bài hát “Nỗi Buồn Hoa Phượng” với câu mở đầu: “Mỗi năm đến hè lòng man mác buồn…” với biết bao kỷ niệm tuổi học trò. Nhớ nhất là mùa hè năm 1979, cuối năm lớp 12, khi chúng tôi chuẩn bi thi tốt nghiệp Trung Học Phổ Thông và thi vào Đại Học. Lúc ấy tôi đang học ở Trường Trung Học Nguyễn Thượng Hiền ở Quận Tân Bình, Sài-gòn. Ở cổng trường chúng tôi có trồng mấy cây phượng thật to đang nở hoa đỏ màu rực rỡ. Đây là mùa hè cuối đời học trò và có nhiều cảm xúc nhất, vì sau mùa hè này, bạn bè cùng lớp sau ba năm cùng nhau chung học với bao kỷ niệm buồn vui sẽ phải chia tay nhau, nhiều khi là mãi mãi. Người thì tiếp tục theo học Đại Học, người thì vượt biên, người thì lập gia đình, người thì đi quân dịch phục vụ chiến trường Camphuchia, người thì phải lo đi làm kiếm sống vì cần tiền để sống hay vì không thi đậu vào Đại Học. Năm ấy có lẽ là năm đầu và cũng là năm duy nhất mà nhiều bạn trong lớp chúng tôi có làm lưu bút để có chút gì “để nhớ để thương”. Đúng là:
“Đo đỏ ngoài sân hoa phượng nở
Lưu bút truyền tay ai đang mở
Ghi vào quyển vở nét thương thương
Bài thơ kỷ niệm vấn vương buồn.”
Thế mà nay đã hơn 40 năm trôi qua. Bạn bè không biết ai còn ai mất. Và nay tôi đã bắt đầu bước vào tuổi thọ! Dường như ai cũng có ít nhiều kỷ niệm thời thơ ấu, thời đi học, thời mới lớn, như một tác giả nào đã viết trong một bài học lớp Việt văn: “Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường. Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ: Ai bảo chăn trâu là khổ. Tôi mơ màng nghe chim hót trên cây. Có cô bé nhà bên nhìn tôi cười khúc khích…” Nhưng tôi có dịp được trực tiếp lắng nghe một kỷ niệm thuở học trò thật đẹp, thật chất ngát yêu thương của tình bạn chân thành; hơn nữa, còn gợi lòng yêu mến trông cậy vào tình thương và quyền năng của Đức Mẹ và tinh thần tông đồ. Đó là một kỷ niệm đầy chứng từ đức tin của Chị Theresa Nguyễn (Oanh) đã chia sẻ với mọi người ngày Thứ Bảy 12/10/1996 dịpTam Nhật Kính Đức Mẹ do Cộng Đoàn Anphong-Whittier, CA tổ chức. Thấy câu chuyện thật ý nghĩa, tôi xin Chị viết lại để chia sẻ với mọi người gần xa. Chị đã gắng viết lại và được đăng trên Nguyệt San Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp số 126 tháng 01 năm 1997. Tựa đền của bài viết là “Lời kinh dâng Mẹ,” được dùng làm chủ đề in trên trang bìa của tờ báo mang hình Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp.
Chị Theresa viết lại kỷ niệm đáng nhớ ấy như sau:
“…Khi nghe Cha H. và quí vị hiện diện trong cuộc tĩnh tâm hôm đó thảo luận về sự đọc kinh Mân Côi. Tôi nhớ ngay đến một ơn đặc biệt mà Đức Mẹ đã ban cho tôi khi tôi đọc kinh Mân Côi. Tôi đã cố gắng gạt bỏ tính nhút nhát ngại ngùng ra một bên để đứng lên chia sẻ với quí cụ ông cụ bà và quí cô bác anh chị em, và đây cũng là một dịp để ca tụng, tạ ơn Đức Mẹ, và để chứng minh rằng “Mẹ nguồn cậy trông xưa từng nghe có người nào chạy đến cùng Mẹ mà Mẹ chẳng thương nhận lời.”
Trước đây có một dạo tuy tôi đọc kinh Mân Côi hàng ngày nhưng miệng đọc mà lòng không suy, không tin, tôi nghi ngờ chẳng biết mình đọc kinh Mân Côi hoài có được ích gì không, chẳng biết Đức Mẹ có nhận lời hay không? Tôi chỉ đọc vì thói quen, lời kinh mà mẹ tôi đã dạy tôi đọc từ khi tôi mới bập bẹ tập nói. Tôi đọc mà chưa hiểu gì về ý nghĩa của lời kinh, nên tôi thường hay chia trí lo ra, nhưng cũng có lúc tôi đọc với tất cà tấm lòng thành, theo lời kinh tôi xin Mẹ Maria cầu cùng Chúa thay cho tôi vì thôi thơ dại chẳng biết cầu nguyện làm sao!
Năm tôi lên mười sáu, một biến cố xảy đến với chị bạn của tôi: Một buổi chiều kia trong lớp học, tôi nghe tiếng khóc nức nở của Huỳnh Mai. Bạn tôi vừa khóc vừa nói với cô giáo: “Cô ơi, em muốn tự tử chết cho rồi!” Cô giáo mở to đôi mắt ngạc nhiên hỏi Huỳnh Mai: “Chuyện gì vậy, em hãy bình tĩnh kể cho cô nghe nào?”
“Em vừa khám ra sự bí mật của đời em!” Huỳnh Mai kể trong tiếng nấc nghẹn ngào: “Tuần trước về quê nội, một ông bác đã nói một câu ám chỉ em chỉ là con nuôi của ba má em hiện tại. Khi nghe qua lời này, trời đất như tan tành trước mặt em. Trời ơi! Còn chi đau khổ cho bằng trong phút chốc mình khám phá ra chính mình chỉ là một đứa con rơi được người ta lượm đem về nuôi. Trời! Tôi là đứa trẻ mồ côi thật sao? Hai người mà tôi thường kính yêu như cha mẹ, thì họ không phải là đấng sinh thành ra tôi. Mười tám năm qua tôi những tưởng mình sống hạnh phúc trong tình yêu thương của cha mẹ, tôi tưởng mình là đứa con có phúc được sống gần bên cha mẹ, dù cha mẹ tôi nghèo nhưng đã hết lòng yêu thương tôi, nhưng bây giờ…Trời ơi! Thực tế quá phũ phàng! Cha mẹ ơi! Giờ này cha mẹ ở đâu? Cha mẹ có còn sống trên cõi đời này không, tại sao cha mẹ lại bỏ con?”
Cô giáo tôi sững sờ nhìn Mai khóc, lòng cô cũng đau điếng khi nghe qua tâm sự đau buồn của đứa học trò.
Huỳnh Mai thổn thức: “Cô ơi, chắc em chết mất, em không thể sống nổi với mối tủi nhục của một kẻ không cha không mẹ!”
Chiều hôm ấy cả lớp tụi tôi ngưng học, bang hoàng trước nỗi đau buồn to lớn nhất của đời Mai. Cô giáo dịu dàng hỏi Mai: “Em có hỏi ba má em cho biết sự thực ra sao chưa, hay đây chỉ là một tin đồn?”
“Dạ có, em đã khóc hỏi má em, nhưng bà hoàn toàn thinh lặng không nói một câu.” Mai ngừng lại lau nước mắt, nhưng hai hàng nước mắt lại chảy chan hòa. Mai thổn thức kể tiếp: “Cô ơi! Phải chăng sự thinh lặng của má em chính là bà đã thú nhận sự thật đúng như vậy”
Cô giáo cũng chỉ biết thinh lặng thôi, nếu khi ấy chỉ một cái gật đầu nhẹ của cô thôi cũng đủ làm lòng Huỳnh Mai tan nát.
“Cô à, em đã quì xuống van lạy má em, em vừa khóc vừa nói với bà: Má ơi, mẹ con bây giờ ở đâu? Xin má hãy cho biết để mẹ con dù ở chân trời góc biển nào con cũng quyết đi tìm gặp người dù chỉ một lần thôi để con được quỳ lạy người đã cưu mang và sinh ra con, rồi con sẽ trở lại đây để phụng dưỡng ba má cho tới lúc tuổi già, để đền đáp công ơn ba má đã nuôi dưỡng con bao nhiêu năm qua, má đừng sợ mất con, con không bỏ ba má đâu?”
“Nghe vậy rồi má em nói sao?” Cô giáo hỏi. “Bà ngồi khóc thôi chứ không nói gì cả.”
Giờ tan học, tôi nắm tay Huỳnh Mai không biết nói gì để an ủi bạn. Ra tới cổng trường khi chia tay tôi nói với Mai: “Huỳnh Mai, hãy hy vọng để mà sống! Đừng tự tử, giết mình có tội trọng đấy!”
Những ngày sau đó Mai phải nghỉ học vì tinh thần bị khủng hoảng. Thương Mai tôi vội viết cho bạn một lá thư. Đó là bức thư đầu tiên của đời tôi.
“Huỳnh Mai thương thương ơi!
“Oanh rất cảm thông với nỗi đau buồn của Mai. Hiện Mai buồn vì không có người mẹ ruột, nhưng Mai biết không, Mai còn có người Mẹ rất thương Mai, mặc dù Mai không biết Người, cũng như Mai chưa hề biết mẹ ruột của Mai là ai, thế mà Người mẹ này vẫn yêu thương Mai. Người hằng quan tâm đến Mai, sẵn sàng cứu giúp Mai nữa. Người Mẹ ấy chinh là Đức Trinh Nữ Maria-Mẹ của Chúa Giêsu, Mẹ của nhân loại, Mẹ của Oanh và của Mai nữa. Hiện nay đang Mẹ ở trên Trời, song chúng ta có thể đến với Mẹ qua lời cầu nguyện. Mai có tâm sự gì buồn thì có thể tâm sự với Mẹ. Đức Mẹ sẽ nghe hết.
“Oanh chỉ cho Mai cách cầu nguyện với Đức Mẹ như vầy nè: ‘Kính mừng Maria đầy ơn phúc, Đức Chúa Trời ở cùng Bà, Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ và Giêsu con lòng Bà gồm phúc lạ. Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời cầu cho chúng con là kẻ có tội khi nay và trong giờ lâm tử. Amen.’
“Mỗi khi Mai buồn nhớ đến cha mẹ ruột của mình, Mai hãy cầu xin Mẹ an ủi Mai. Mỗi tối Mai hãy nhìn lên Trời đọc một kinh KÍNH MỪNG như trên để cầu cho cha mẹ Mai và Mai gặp lại nhau. Oanh xin Mai nhớ mỗi ngày đọc một kinh này để dâng cho Đức Mẹ và xin Đức Mẹ giúp Mai. Biết đâu có ngày Đức Mẹ sẽ cho Mai tìm gặp được cha mẹ ruột của mình.
“Thương nhiều. Oanh”
Tôi viết thư chỉ cách cho bạn tôi khi đọc kinh KÍNH MỪNG thì nhìn lên Trời mà đọc, vì bạn tôi là Phật tử và vì thuở bé mẹ tôi thường dắt tôi đến trước bức tượng Đức Mẹ hay trước bức chân dung Đức Mẹ để đọc kinh cầu nguyện. Còn gia đình của Mai thì có bàn thờ Phật và Tổ tiên nên tôi ngây thơ tin rằng Đức Mẹ của tôi đang ở mãi tận trên Trời. Tôi gửi thư trao tận tay cho Mai và thỉnh thoảng tôi soạn một số báo Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp cũ cho Mai đọc vì tôi biết bạn tôi rất thích đọc sách báo. Nhưng trong thâm tâm tôi thật tình muốn giới thiệu Chúa Kitô và Mẹ Maria cho bạn tôi, vì tôi biết mình vụng về chẳng biết nói sao cho bạn tôi nhận biết Chúa và Đức Mẹ, tôi đành phải nhờ qua sách báo Công giáo vậy.
Sau đó vì hoàn cảnh tôi phải đi xa. Ba năm sau tôi mới có dịp trở về quê nhà, tôi gặp lại Mai. Mai vui mừng kể cho tôi nghe:
Sau khi nghỉ học chữ, Mai đi học nghề uốn tóc. Cách đây hai năm hồi đó Mai đang làm việc tại tiệm uốn tóc Tứ Hải gần Phố chợ Long Thành. Chiều hôm ấy có một người khách từ Bình Lâm đến tiệm này để uốn tóc. Cô khách này dẫn theo một cô bé trạc 14, 15. Khi ấy Mai đang uốn tóc không để ý đến cô bé. Còn các bạn đồng nghiệp của Mai thì chăm chú nhìn cô bé. Cách ăn mặc của cô bé này giống người thành phố, mặt mày sáng sủa có vẻ thông minh nhanh nhẹn, dáng người cao thon, nước da trắng hồng mịn màng. Họ ngạc nhiên khi thấy cô bé này giống Huỳnh Mai, họ tỉ mỉ quan sát từng ngón chân đến đôi bàn tay của cô bé, nhỏ này cũng có đôi bàn tay búp măng giống y đôi tay búp măng của Huỳnh Mai nữa. “Chèn ơi, sao nhỏ này giống y chang Huỳnh Mai hà!” Huỳnh Mai quay lại nhìn cô bé, rồi nhìn mặt mình trong gương thì quả thật cô bé giống hệt mình. Huỳnh Mai nói với các bạn: “Ờ, há, em nhỏ này giống mình ghê ta.” Nhưng rồi Mai nghĩ người giống người đâu có gì lạ, vì thỉnh thoảng Mai gặp người này giống hệt người kia, hỏi họ có bà con với nhau không, thì họ nói không biết không quen.
Tới phiên người chị họ của cô bé cũng ngạc nhiên nhận ra cô em họ mình có nét đặc biệt giống cô thợ đang uốn tóc cho mình. Ngày hôm sau cô bé trở về nhà với bố mẹ cư ngụ tại Sài-gòn, cô bé vui miệng thuật lại cho bố mẹ nghe chuyện mình giống một cô thợ uốn tóc. Mẹ cô nghe xong và nói với cô: “Ngày mai con dẫn mẹ xuống Long Thành tới tiệm Tứ Hải để gặp cô thợ đó, nhá con.”
Trưa hôm sau, có hai ông bà trạc tuổi ngoài 50 tới tiệm Tứ Hải xin gặp Huỳnh Mai.
“Dạ thưa hai bác, cháu là Huỳnh Mai đây.” Huỳnh Mai lễ phép thưa.
“Cháu làm ơn dẫn hai Bác tới nhà để gặp ba má cháu có chuyện cần.”
Mai xin phép chủ tiệm và dẫn hai ông bà khách lạ về nhà mình. May mắn hôm ấy ba má đều ở nhà cả. Giới thiệu ông bà khách với ba má xong, Mai xuống bếp bắc ấm nước đun sôi để pha trà mời khách. Đang khi chờ nước sôi thì Mai nghe trên nhà ba má mình đang thú tội với ông bà khách là họ đã bắt cóc đứa con gái ông bà cách đây 19 năm!
Mai đứng dưới bếp nghe bàng hoàng. Sự thật hay chỉ là giấc mơ đây? Thì ra ngày trước má nuôi của Mai là người làm công cho ông bà khách này, bà là vú nuôi Mai. Vì hiếm muộn không có con nên bà lợi dụng khi ông bà chủ đi vắng nhà ôm bé Huỳnh Mai trốn đi từ đó tới nay.
Mai chạy ùa vào phòng ngủ mở chiếc va-ly nhỏ ra lấy bức thư của Oanh đã viết cho Mai cách đây gần một năm Mai xem lại: “…Mỗi tối Oanh xin Mai hãy đọc một kinh Kính Mừng để cầu xin với Đức Mẹ, biết đâu một ngày nào đó Chúa và Đức Mẹ sẽ cho Mai được gặp lại ba má ruột của mình…” Vừa đọc đến đây thì Mai nghe má gọi: “Huỳnh Mai, con!” “Dạ.”
Nghe tiếng gọi Huỳnh Mai vội chạy ra. Má nuôi của Mai một tay đưa lên lau nước mắt, tay kia chỉ về phía ông bà: “Con ơi, ông bà này chính là cha mẹ ruột của con đấy.”
“Mẹ! Cha!” Huỳnh Mai ôm lấy mẹ ruột của mình khóc òa lên vì mừng rỡ. Lần đầu tiên Mai được gọi tiếng Mẹ ơi! Ôi sung sướng biết bao! Mai chạy vào phòng ngủ quì xuống đất đọc một kinh Kính Mừng cảm ơn Đức Mẹ. “Chúa ơi, diễn biến xảy ra như Oanh viết cho mình vậy đó, Oanh à!”
Tôi xúc động xiết chặt tay Mai: “Chúc mừng Mai đã được gặp cha mẹ, thật Oanh không ngờ Chúa và Mẹ đã nhận lời tụi mình vượt quá sự mong ước Mai nhỉ?”
“Công nhận Chúa xếp đặt mọi sự đều tốt đẹp Oanh há?” Tôi gật đầu: “Đúng rồi, đối với Thiên Chúa mọi sự đều có thể cơ mà. Mai không biết cha mẹ ở đâu mà tìm, thì Chúa đã xếp đặt cho cha mẹ Mai đến tận nhà để tìm Mai, và lại tìm được Mai một cách hết sức dễ dàng!”
Tôi xòe bàn tay ra trước mặt Mai và đếm một, hai, ba, bốn, năm.. “Ồ bây giờ thì nhất Mai nhé, Mai là người hạnh phúc vì có được nhiều mẹ nhất nè, mẹ nuôi, mẹ ruột, mẹ” Mai ngắt ngang lời tôi: “Cảm ơn Chúa, chẳng những Mai đã tìm được cha mẹ ruột mà Mai còn diễm phúc tìm được người mẹ chân chính nữa, đó là điều Mai vui mừng nhất. Mai yêu quý Mẹ Maria nhều nhất vì chính Mẹ mà Mai được nhận biết Chúa. Mai còn nhỏ, ngày xưa Mai có thói quen cứ mỗi lần vấp té thì Mai thường thốt gọi: “Chúa ôi,” thì Oanh nói với mình: “Huỳnh Mai gọi Chúa, nhưng Huỳnh Mai có biết Chúa là ai?” Bây giờ thì mình đã được trở thành con Chúa rồi, sung sướng ghê! Ngày Mai được lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, Mai muốn báo tin mừng cho Oanh nhưng không biết Oanh ở đâu.
Tôi bỡ ngỡ như người đang trong giấc mơ, mình cầu cho Mai được nhận biết và tôn thờ Chúa, cầu cho Mai được tìm gặp cha mẹ đã bị thất lạc từ thuở đời nào ấy. Thế mà Chúa và Đức Mẹ đã nhận lời cầu của mình thật tình ta! Chính qua biến cố này Chúa đã đưa Mai về với Chúa và Chúa củng cố niềm tin của tôi.
Từ đó tôi xác tín rằng: “Mẹ là nguồn cậy trông chưa thấy ai xin Mẹ về không.”
***
Chứng từ “Lời kinh dâng Mẹ” của Chị Theresa đã giúp tôi được thêm lòng tin cậy kính yêu Mẹ. Nhân Ngày Hiền Mẫu, tôi muốn ghi lại chứng từ của Chị để giúp mọi người, nhất là các tín hữu Công giáo, một lần nữa nhận biết quyền năng tình thương tuyệt vời của Đức Maria –“người mẹ chân chính” -và “yêu quý Mẹ Maria nhiều nhất” như lời chia sẻ rất đơn sơ chân tình của Chị Mai trên đây.
Đây thực là một kỷ niệm tuyệt vời của tuổi học trò!
Một bản sao của tượng Đức Mẹ ở Luján, Argentina (Vatican Media)
Trong buổi đọc kinh Truyền Tin tại quảng trường thánh Phê-rô vào trưa Chúa Nhật 14/10/2021, khi suy tư về đoạn Tin Mừng thánh Marco thuật lại câu chuyện anh mù từ lúc mới sinh Báctimê đã cầu xin và được Chúa chữa lành, Đức Thánh Cha Phanxicô đã thuật lại sự kiện một bé gái bệnh nặng, không còn hy vọng chữa lành và sắp qua đời, đã được chữa lành nhờ sự kiên trì, cầu nguyện tha thiết cùng Đức Mẹ của người cha. Báo Quan sát viên Roma đã đăng bài viết của nữ nhà báo người Argentina, Virginia Bonard.
Một bé gái sắp qua đời đã được cứu sống nhờ lời cầu nguyện của người cha: đây là câu chuyện đã được Đức Thánh Cha Phanxicô kể lại tại buổi đọc kinh Truyền Tin trưa Chúa Nhật 24/10. Đức Thánh Cha nói về đoạn Tin Mừng thuật lại câu chuyện anh Báctimê, một người mù từ khi mới sinh đã nhận ra Đấng Mêsia, đã khẩn cầu lòng thương xót của Người, và xin Nguời xót thương anh, thương xót con người của anh. Người mù lớn tiếng cầu xin, với đức tin, anh la to lên. Đức Thánh Cha Phanxicô đã phân tích nội tâm của người ăn xin bị mù mà thánh Marcô đã thuật lại, và ngài suy tư:
Đức Thánh Cha nói: “Anh Báctimê không dùng nhiều lời nói. Anh ấy nói điều gì là cần thiết và phó thác mình cho tình yêu thương của Thiên Chúa, điều có thể làm cho cuộc sống của anh lại sinh hoa kết quả bằng cách làm điều mà con người không thể làm được. Đây là lý do tại sao anh không cầu xin Chúa bố thí, nhưng bày tỏ mọi điều – sự mù loà và đau khổ của anh, điều còn đau khổ hơn cả việc anh không thể nhìn thấy. Tình trạng mù loà của anh là phần nổi của tảng băng chìm; nhưng chắc hẳn trong lòng anh đã có những vết thương, những tủi nhục, những giấc mơ tan vỡ, những sai lầm, những hối hận. Anh cầu nguyện bằng trái tim của mình. Còn chúng ta thì sao? Khi chúng ta xin Chúa một ơn, chúng ta có đặt trong lời cầu nguyện cả lịch sử, những vết thương, sự sỉ nhục, ước mơ tan vỡ, lỗi lầm và hối hận của chúng ta không?”
Nhưng Đức Giáo hoàng suy tư sâu hơn nữa; ngài trở lại với kho tàng ký ức của riêng mình và trở lại một đêm mùa hè năm 2005 hoặc 2006, trước cổng đền thánh Đức Mẹ Luján, bổn mạng của Argentina, tại quê hương yêu dấu của ngài:
Đức Thánh Cha nói: “Rất nhiều người trong chúng ta, khi cầu nguyện, chúng ta không tin rằng Chúa có thể làm phép lạ. Tôi nhớ lại câu chuyện – mà tôi đã chứng kiến – về người cha được các bác sĩ cho biết rằng đứa con gái chín tuổi của ông sẽ không qua khỏi đêm đó; cô bé đang nằm bệnh viện. Và ông đã đón một chiếc xe buýt và đi bảy mươi cây số để đến Đền thánh Đức Mẹ. Khi ông đến nơi thì đền thánh đã đóng cửa. Ông bám chặt vào cổng đền thánh và đứng đó cầu nguyện suốt đêm: “Lạy Chúa, xin cứu con gái của con! Chúa ơi, xin ban cho con gái con được sống!” Ông đã cầu nguyện với Đức Mẹ, suốt đêm dài; ông khóc với Chúa, khóc từ thẳm sâu lòng mình. Sau đó, khi trời sáng, ông trở lại bệnh viện. Ông thấy vợ mình đang khóc. Và ông nghĩ: “Con bé đã chết rồi”. Nhưng vợ ông nói: “Không ai hiểu, không ai hiểu, các bác sĩ nói đó là một điều kỳ lạ, con bé dường như đã được chữa lành”. Chính Chúa, Đấng đã ban cho ông mọi điều, đã nghe thấy tiếng kêu cầu của người đàn ông cầu xin Người mọi điều. Đây không phải là một câu chuyện: chính tôi đã thấy điều này, ở giáo phận khác. Chúng ta có lòng can đảm như thế này khi cầu nguyện không?”
Điều gì đã xảy ra vào đêm đó ở Luján? Chúng ta muốn thưởng thức ân sủng đó và biết nó, thưởng thức nó để tiếp tục cảm nghiệm Lòng Nhân từ của Thiên Chúa và Mẹ của Người, về sự hiện diện và hành động của Người trong cuộc sống của chúng ta và trong lịch sử. Một linh mục người Argentina – người chọn cách trở nên bé nhỏ trước phép lạ và do đó đã giấu tên – đã kể cho chúng tôi nghe chi tiết về những gì đã xảy ra vào đêm mùa hè đó:
“Tôi là nhân chứng cho điều kỳ diệu đó. Khi tôi nói chuyện này với Đức Giáo hoàng, khi ngài còn là giám mục ở Buenos Aires, tôi đã nói với ngài rằng hãy luôn kể lại nó bằng ngôi thứ nhất, xin đừng nêu tên tôi. Ngài đã rất ngạc nhiên trước điều kỳ diệu này vì tôi đã kể cho ngài nghe rất nhiều về điều đó.
“Một đêm mùa hè, tôi đang từ nhà của những người họ hàng ở Luján trở về, tôi nghĩ chúng tôi đã có một bữa tiệc, và đi ngang qua quảng trường vào lúc nửa đêm, tôi gặp một người đàn ông trẻ tuổi đang vịn lan can bậc thang và cầm trên tay một bó hoa hồng. Tôi đến gần ông và hỏi xem có chuyện gì vậy. Người đàn ông nói với tôi rằng đứa con gái nhỏ của ông đang ở bệnh viện. Ông đã đi bộ từ thủ đô đến Luján, và bó hoa hồng đã được những người bạn đi cùng xe tặng cho ông; ông đã đặt bó hoa ở chỗ Đức Trinh Nữ.
“Tôi nói với ông ta, ‘Chúng ta hãy vào vương cung thánh đường’. Khi đó có lẽ đã mười hai giờ đêm. ‘Chỉ có anh, bạn bè của anh không thể vào, một mình tôi sẽ chịu trách nhiệm cho anh”. Chúng tôi đi vào vương cung thánh đường từ ngõ sau, đi qua ngôi nhà; tôi nói với người bảo vệ rằng tôi chịu trách nhiệm về người đàn ông đó; nếu có bất cứ điều gì xảy ra, tôi phải chịu trách nhiệm. Người cha này đã để bó hoa trong chiếc bình mà chúng tôi [các linh mục và người trông coi cung thánh] luôn đặt ở đó, và quỳ trước cung thánh, trong khi tôi ngồi trên chiếc ghế đầu tiên và bắt đầu cầu nguyện. Ông lặng lẽ quỳ xuống và tôi ngồi xuống, lần hạt Mân Côi cầu nguyện cho đứa con gái nhỏ của ông. Sau khi tôi cầu nguyện xong, hai mươi phút sau, người đàn ông bước ra, tôi chúc lành cho ông và chúng tôi chào tạm biệt. Điều đó xảy ra vào một ngày Chúa Nhật.
“Thứ Bảy tuần sau, khi tôi đang giải tội, người đàn ông này đến gặp tôi – tôi không nhận ra ông … với tất cả những người đi qua vương cung thánh đường và vào mùa hè, và hơn nữa – chính ông và cô con gái tóc vàng nhỏ bé của ông, khoảng 8 hoặc 9 tuổi. Ông ta nói với tôi, ‘Thưa cha, cha có biết con không?’ Tôi trả lời: ‘Anh là ai?’
“[Ông ấy trả lời], Con là người đàn ông đã cầu nguyện với cha vào ngày hôm trước. Đây là cô con gái nhỏ của con! Đức Mẹ đã làm phép lạ cho con! Khi con cùng cha cầu nguyện vào lúc 12 giờ đêm cho con gái nhỏ của con, con gái nhỏ của con đã ngồi dậy và đòi ăn. Sau chuyến đi, vào lúc bình minh, con đến để thăm con bé. Con hỏi ở phòng chăm sóc đặc biệt và họ nói với con rằng con gái con không còn ở đó nữa. Con tưởng con bé đã chết, nhưng không, con bé đang ở với mẹ nó trong một khu nhà”.
“Chúng ta hãy nhìn vào Phúc Âm: khi Chúa Giê-su Ki-tô chữa lành đầy tớ của viên đại đội trưởng khi còn ở từ đàng xa. Tin Mừng vẫn sống động, nó lặp lại chính nó và [làm như vậy] qua Đức Maria. Đây là những gì tôi muốn kể lại. Đây là câu chuyện có thật, và còn những câu chuyện khác mà tôi đã kể với Đức Phanxicô khi tôi ở Buenos Aires. Ngài yêu cầu tôi viết ra những điều này, và đó là những gì tôi đang làm, nhưng rất, rất chậm”.
Trong câu chuyện này, không có tên, nhưng có sự kiện. Vị linh mục, người chọn ẩn danh, không hề nghe tin tức gì về gia đình có đứa con gái được chữa lành. Rõ ràng trước mắt chúng ta là một chứng tá mạnh mẽ về sự dấn thân khiêm nhường đối với đức tin. Tin Mừng được thực hiện trong những điều kỳ diệu được lặp đi lặp lại này đưa chúng ta đối diện với mầu nhiệm của Thiên Chúa và các công việc của Ngài trong mọi thời đại. Người bạn linh mục của chúng ta nhắc lại những lời này trong đền thánh, “những phép lạ mà Đức Mẹ ban cho giống như lật từ trang này sang trang khác của Phúc Âm. Tôi không bao giờ lấy tên của những người đã nhận được phép lạ; tôi chỉ biết cảm ơn và ngợi khen Chúa. Với Đức Trinh Nữ Maria, kinh nghiệm mà tôi có được là sống theo Phúc Âm từng điểm một”.