20. Những Bài Về Đức Mẹ

PHÚC VÀ TRÍ TRONG ĐẠO CHÚA

Kinh “ Lạy Nữ Vương Mẹ Nhân Lành” ( Salve Regina ) rất được hâm mộ và phổ biến cả trong Phụng Vụ lẫn Cộng  Đoàn. Tuy nhiên, về nguồn gốc, xuất xứ  cũng như ý nghĩa sâu xa của Kinh  Nguyện này thì  có thể cũng có  nhiều người chưa biết ?

Vào khoảng năm 1100, bên Đức có một gia đình sang trọng, đạo đức sinh được cậu con trai, đặt tên là Herman. Được cha mẹ thương yêu, nhưng từ khi mới lọt lòng, cậu đã mang tật nguyền…Về hình dáng thì thấp bé, miệng mồm méo xệch, lớn lên với cái lưng còng, đi lại khó khăn. Về tâm trí thì  tối tăm, ngờ nghệch. Cha mẹ có phần xấu hổ, không muốn con mình tiếp xúc với ai.

Khi lên 12 tuổi, cha mẹ đón  một thầy dòng  về nhà  để dạy dỗ, nhưng suốt  02 năm trời cậu  học trước quên sau, chỉ nhớ được vài lẽ đạo thông thường như  có một Thiên Chúa Ba  Ngôi dựng nên trời đất muôn vật. Ngôi Hai xuống thế làm người sinh bởi Đức Mẹ Maria để chuộc tội cho thiên hạ !

Khi lên 16 tuổi, chàng thanh niên ấy nhận thấy mình tàn tật như thế nên sinh ra buồn bã, than thân, tủi phận. Thầy dòng thấy vậy thì khuyên  học trò mình hãy  chạy đến kêu van cùng Đức Mẹ, xin Người cứu giúp nhưng dù có cố gắng, tình trạng cũng chẳng có gì chuyển biến. Mặc dù vậy, chàng vẫn không nản lòng nên được Đức Mẹ dủ lòng hiện ra sáng láng và  hứa cho cậu được chọn  trong hai điều: Một là được hết tật nguyền phần xác, hai là có  được trí thông minh, sáng suốt.

Sau một lát chần chừ, cậu đã xin với Đức Mẹ cho được trí thông minh. Điều cầu xin này rất đẹp lòng Đức Mẹ và thế là  Ngài đã ban cho cả hai, vừa khỏi tật nguyền vừa được trí thông minh ! Sau đó, Herman đã chăm chỉ học hành vượt xa  chúng bạn và xin được vào Tu trong một nhà dòng, tại đó thầy đã nghiên cứu và viết được nhiều tác phẩm có giá trị, ca ngợi lòng nhân từ của Đức Mẹ  cũng như để lại một Kinh  Nguyện đơn sơ, chân thành nhưng rất có giá trị về mặt tâm linh được truyền tụng mãi cho tới tận ngày nay !

Qua sự kiện  trên đây  cho thấy hai điều quan trọng: Một là con người ta chỉ thành tâm và kiên trì cầu nguyện  khi đã ý thức được hoàn cảnh khổ đau của mình, thế gian không thể cứu giúp, và hai là lời cầu xin được trí thông minh   sở dĩ  đẹp lòng Đức Mẹ bởi vì nó đáp ứng được  với  Kế Hoạch  Cứu Độ của Thiên Chúa qua Đức Maria, Đấng Vô Nhiễm  Nguyên Tội Trung Gian  Các Ơn.

Trong tư cách là  Hội Viên Tán Trợ của Legio, tôi hoàn toàn nhất trí với quan điểm Thiên Chúa Cứu Độ qua Trung Gian Đức Maria, vì như thánh G. Monfort nói: Ngài là Bạn Chí Thiết của Chúa Thánh Thần:

“ Con xin Chúa đến với con và cho con đầy Ơn Chúa. Nhờ quyền năng  của Chúa bảo trợ các hoạt động yếu đuối của con. Con được biến thành dụng cụ thực hiện kế hoạch vĩ đại của Chúa. Nhưng con biết Chúa là Đấng đã đến  tái sinh thế giới trong Chúa Ki Tô. Chúa chỉ muốn  thực hiện công cuộc này  qua Đức Maria thôi. Không có Mẹ, chúng con không thể biết và mến Chúa. Chúa chỉ ban  những thiên tài, đức hạnh và ân sủng cho ai, lúc nào, bao nhiêu, cách nào đều tùy Mẹ và nhờ Mẹ” ( Kinh Tuyên Hứa – TB, chương 15, C 167 ).

Lý do khiến  Legio  tuyên xưng: Chúa chỉ muốn thực hiện  Kế Hoạch Cứu Độ qua Đức Maria vì Ngài chính là cái khuôn đúc nên Con Thiên  Chúa theo như  nhận định  của  thánh Augustin:“ Đức Maria là cái khuôn sống động của Chúa, có nghĩa Thiên Chúa Làm  Người  được hình thành con người  đầy đủ về mặt tự nhiên mà cũng không thiếu nét nào của Bản Tính Thiên Chúa. Cũng vậy, chỉ nơi Đức Maria mới đúc tạo nên giống Thiên Chúa  nhờ Ơn Chúa Ki Tô và tùy  mức độ của sức loài người  có thể thu nhận được” ( Sách Vàng – Sống Tận Hiến Thánh Monpho ).

Đức Maria là cái khuôn mẫu…đúc nên Con Thiên Chúa là Chúa Giê Su, vì thế những ai đã lãnh nhận Bí Tích Thánh Tẩy, từ trong tiềm năng cũng đều là Con Thiên Chúa và là anh em với Chúa Giê Su: “ Quả vậy, phàm ai được thần khí soi sáng đều là con cái Thiên Chúa. Phần anh em, anh em đã không  lãnh nhận  Thần Khí khiến anh em trở thành nô lệ và phải sợ sệt  như xưa nhưng là Thần Khí làm cho  anh em nên nghĩa tử, nhờ đó chúng ta kêu lên: Abba, Cha ơi ! Chính Thần Khí chứng thực cho tâm trí chúng ta  là con cái Thiên Chúa. Vậy, đã là con thì cũng là thừa kế  mà đã được  Thiên Chúa cho thừa kế  thì tức là đồng thừa tự với Đức Ki Tô vì một khi đã cùng chịu khổ với  Người, chúng ta cũng sẽ được hưởng vinh quang với Người. Phần tôi, tôi nghĩ rằng  những đau khổ đời này  chẳng có thể sánh được  với vinh quang  Chúa sẽ tỏ ra  cho chúng ta trong đời sau” ( Rm 8, 14 -18 ).

Người đời mê mải tìm kiếm hạnh phúc mà không hề để tâm suy nghĩ về lẽ vô thường, chóng qua của  cõi đời hư ảo này. Đang khi đó, chúng ta những  con cái Chúa cần  luôn nhớ rằng qua Bí Tích Thánh Tẩy, mình đã chết đi tính xác thịt để được cùng sống lại với Đức Ki Tô: “ Vậy, nếu anh em  đã được đồng sống lại  với Đấng Ki Tô thì hãy  lo tìm kiếm các sự ở trên trời, nơi Đức Ki Tô ngự bên hữu Chúa Cha. Hãy để tâm trí xu hướng  về các sự ở trên, đừng xu hướng về những sự dưới đất. Vì anh em đã chết, sự sống của anh em  đã giấu nơi Đấng Ki Tô trong Thiên Chúa Cha. Khi nào Đấng Ki Tô  là sự sống của chúng ta  hiện ra, bấy giờ anh em cũng sẽ   cùng hiện ra với Ngài trong sự vinh hiển” ( Cl 3, 1 -4 ).

Cùng chết với Đức Ki Tô, để cùng sống lại với Ngài ! Là  môn đệ Chúa Ki Tô thì  ngày càng phải nên giống Thầy mình, như vậy mới thật  là người có phúc: “ Nhưng phúc cho mắt các ngươi vì thấy được, cho tai các ngươi vì nghe được. Quả thật, Ta nói cùng các ngươi, có nhiều tiên tri và người công chính đã ước ao thấy  điều các ngươi thấy mà  chẳng  được thấy, ước ao nghe điều các ngươi nghe mà  chẳng  được nghe” ( Mt 13, 16 -17 ).

“ Thấy” ở đây là thấy Đấng Cứu Thế Giê Su xuất sinh nơi đời. Còn “ Nghe” có nghĩa  là  tin nhận Tin Mừng mà Ngài rao giảng. Có…thấy được Đức Ki Tô như đúng thực Ngài Là thì mới có thể tin nhận được Tin Mừng, ngược lại thì không ! Chính bởi lẽ  đó, “ Thấy” được Đức Ki Tô là một vấn đề hết sức quan hệ  cho  đời sống tâm linh của người tín hữu !

Trong Kinh “ Lạy Nữ Vương Mẹ Nhân Lành” mà người Công Giáo chúng ta vẫn tụng đọc hàng ngày trong đó có câu: “ Xin cho chúng con được thấy Đức Chúa Giê Su, Con lòng Bà gồm phúc lạ”. Theo tinh thần của Kinh Nguyện thì việc “ Thấy” ấy chỉ diễn ra sau khi  chết chứ không phải  ngay  trong  cõi  đời này. Thế nhưng, nếu  trong cõi  đời này mà không cầu xin  và làm các việc lành phúc đức  để  được “ Thấy” Chúa Giê Su  thì  cũng chẳng làm sao  có thể  “ Thấy” được Chúa  trong đời sau vô cùng ấy !

“ Hỡi con, khi đứng trước giờ chết, con có sợ  như cây vả không trái kia mà Chúa đã quở trách: “ Anh coi, đã ba  năm nay, tôi ra cây vả này  tìm trái mà không thấy” ( Lc 13, 7 ). Con ơi, con đã sinh ra không phải  mới ba năm. Có khi đã nhiều năm rồi, nhưng con đã sinh ra được trái nào  chưa ? Thánh Benado đã nói: Con hãy biết, Chúa không chỉ tìm hoa mà thôi đâu, Chúa lại tìm trái nữa, nghĩa là nếu con chỉ ước ao và dốc lòng làm lành  mà thôi thì chưa lấy làm đủ, Chúa còn đòi con phải làm việc lành phúc đức nữa Chúa mới chịu” Thánh An Phong – Việc Rỗi Linh Hồn ).

Trong lãnh vực tâm linh, Chúa không có ý tìm hoa mà là tìm trái. Hoa ở đây  tượng trưng cho Phúc Đức còn Trái là  Công Đức. Để phân biệt sự khác nhau giữa Phúc Đức và Công Đức, thiết nghĩ không gì hơn là trưng dẫn  cuộc đối đáp giữa  tổ Đạt Ma và vua Lương Võ Đế:

“ Thứ sử thưa với lục tổ Huệ Năng: Đệ  tử  nghe Tổ Đạt Ma khi mới đến gặp vua Lương Võ Đế, vua hỏi: Trẫm một đời cất chùa, độ tăng, bố thí, thiết trai có những công đức gì ? Tổ Đạt Ma bảo: Thật không có công đức. Đệ tử chưa thấu được lẽ này, cúi mong hòa thượng vì tôi nói:

Tổ bảo: Thật không có công đức, chớ nghi lời của tiên thánh. Võ Đế tâm tà, không biết chánh pháp, cất chùa, độ tăng, bố thí, thiết trai đó gọi là cầu phước  chớ không thể đem phước  đổi làm công đức. Công Đức là ở trong Pháp Thân, không phải do tu phước mà  được. Tổ lại nói: Thấy Tánh  ấy là Công, bình đẳng ấy là  đức. Mỗi niệm không ngưng trệ, thường thấy Bản Tánh chân thật, diệu dụng  gọi là công đức.. Trong tâm khiêm hạ ấy là công, bên ngoài hành lễ, phép ấy là đức…

…Công đức phải là nơi tự tánh mà thấy, không phải do bố thí cúng dường  mà cầu được. Ấy là phước đức cùng công đức khác nhau. Võ Đế không biết chân lý chứ không phải tổ sư ta có lỗi” ( Pháp Bửu Đàn Kinh – Phẩm Nghi Vấn ).

Lục tổ Huệ Năng  phân tích rõ ràng sự khác nhau giữa Phúc Đức và Công Đức, mục đích là  để khai sáng con đường đốn ngộ  Thiền Tông. Đối với Đạo Chúa cũng vậy, cũng cần nhận ra sự khác biệt ấy mới có thể thực hiện có kết quả Con Đường Giải Thoát  của Đức Ki Tô:

“ Bấy giờ có người đến thưa với Ngài rằng: Tôi phải làm việc lành chi  để được sự sống đời đời ? Chúa Giê Su đáp: Sao ngươi hỏi Ta về việc lành ? Chỉ có một Đấng Trọn Lành mà thôi. Nếu anh muốn vào cõi sống  thì hãy giữ các giới răn. Người ấy hỏi: Giới răn nào ? Chúa đáp: Chớ giết người, chớ gian dâm, chớ trộm cắp, chớ làm chứng dối. Hãy hiếu kính cha mẹ và hãy yêu kẻ làm ơn cho mình. Gã thanh niên đó thưa rằng: Mọi điều đó tôi đã vâng giữ rồi, còn thiếu chi nữa không ? Chúa phán: Nếu ngươi muốn nên trọn lành  thì hãy về, bán hết của cải ngươi bố thí cho kẻ nghèo thì ngươi sẽ có của báu  trên trời rồi hãy theo Ta. Nhưng khi gã trai trẻ ấy  nghe lời ấy thì buồn rầu bỏ đi vì người có tài sản nhiều lắm” ( Mt 19, 16 -22 ).

Người thanh niên ấy không thể theo Chúa bởi còn chấp giữ vào tài sản, cho tất cả những thứ  đó  là…thật có. Đang khi ấy, bước đường theo Chúa đòi hỏi cần có sự từ bỏ và từ bỏ, theo nghĩa sâu xa nhất đó là Bỏ Mình tức bỏ đi hai cái chấp. Một là chấp cho xác thân này là mình, hai là chấp những nghĩ suy, lo lường,  phân biệt  là mình.

Sở dĩ Chúa nói cần bỏ đi hai cái chấp ấy bởi chúng chỉ giả có chứ không  thật có. Ngược  lại, nếu  nó…thật có thì  cần gì phải bỏ mà  bỏ sao được ? Dẫu vậy, Bỏ Mình là việc rất khó, Nếu không biết  ý nghĩa và mục đích của việc làm ấy, chúng ta không bao giờ có thể  thực hành trong đời sống mình được !: “ Chúa Giê Su bèn phán với những người Do Thái đã tin Ngài rằng: Nếu các ngươi cứ ở trong Đạo Ta , các ngươi sẽ biết sự thật  và sự thật sẽ giải thoát các ngươi” ( Ga 8, 31 -32 ).

Có bỏ được mình tức bỏ Ngã Chấp đi thì mới có thể nhận biết Sự Thật và Sự Thật đó chính  là mỗi người trong chúng ta đều  được tác tạo là Hình Ảnh Thiên Chúa là Con Thiên Chúa ( St 1, 26 ). Được tác tạo là Con, nhưng thật sự thì phàm nhân chúng ta không một ai  có  được sự nhận biết Thiên Chúa như là Đấng Cha của mình. Tuy  vậy, sự nhận biết ấy lại vô cùng cần thiết vì sẽ  đem lại sự sống đời đời cho mình “ Chúa Giê Su nói những điều ấy rồi thì ngước mắt lên trời, nguyện rằng: Cha ơi, giờ đã  đến, xin Cha hãy tôn vinh Con Cha  để Con Cha lại tôn vinh Cha cũng như  Cha đã ban quyền bính cho Con trên mọi xác thịt hầu hễ ai  Cha đã ban cho Con  thì Con ban cho họ sự sống đời đời. Còn sự sống đời đời là nhận biết  Cha là Thiên Chúa thật cùng Giê Su mà Cha đã sai đến” ( Ga 17, 1 -3 ).

Thiên Chúa là Đấng Cha của mỗi người, hơn nữa còn là nguyên lý thành toàn  của muôn loài chúng sinh, vạn vật. Nếu có thể có một hình tượng nào để hình dung ra Nguyên Lý ấy, chúng ta có thể ví Thiên Chúa như là chất cây để làm nên các vật dụng trong nhà như bàn, ghế, giường, tủ v.v…Các vật dụng ấy có thể khác nhau về hình dáng cũng như công dụng nhưng cũng được làm từ chất cây hoặc chất nhựa, nhôm, sắt v.v…Không có những nguyên liệu ấy thì không thể nào làm ra các vật dụng ! Thêm một ví dụ khác cho dễ hiểu, ví như chất bột làm nên các thứ bánh như bánh mì, bánh chưng, bánh Ít…Các thứ bánh tuy khác nhau về hình dáng, mùi vị, màu sắc nhưng đều được làm từ chất bột mà nên….

Nói theo ngôn ngữ  Phật Học thì Thiên Chúa chính là Chân Tâm, là Tánh Biết  hay  còn gọi là Giác Tánh là Phật Tánh  hằng hữu ở nơi mỗi người. Chúa Giê Su Ki Tô được sai đến để  mạc khải về Đấng Cha, chân lý ấy quả là vĩ đại  nhưng lại rất khó để tin.“ Người Do Thái vây quanh Chúa Giê Su  và nói: Thầy còn để chúng tôi  vơ vẩn cho đến chừng nào, nếu thầy là Đấng Ki Tô thì hãy nói tỏ tường cho chúng tôi đi ? Chúa đáp: Ta đã nói cho các ngươi mà các ngươi không tin. Những việc Ta nhân danh Cha Ta mà làm đều làm chứng cho Ta. Nhưng các ngươi không tin Ta  vì các ngươi  chẳng thuộc về đoàn chiên của Ta. Chiên Ta thì nghe tiếng Ta, Ta biết chúng và chúng theo Ta. Ta ban cho chúng sự sống đời đời,  chúng hẳn chẳng bị hư mất bao giờ, chẳng ai có thể giật chúng khỏi tay Ta. Cha Ta là Đấng đã ban  chúng cho Ta, vốn lớn hơn hết, chẳng ai có thể giựt chúng  khỏi tay Cha Ta. Ta với Cha là một” ( Ga 10, 24 – 30 ).

Người Do Thái nêu thắc mắc về thân phận  Chúa Giê Su, Ngài có phải là Đấng Ki Tô hay không  nhưng Ngài đã  thẳng thừng  đáp: Các ngươi không thể  biết  vì lẽ các ngươi  không thuộc đoàn chiên của Ta, chiên Ta thì nghe tiếng Ta !. Qua lời Chúa đây cho thấy, để nhận biết Đức Ki Tô như thật Ngài Là thì  cần  hai điều kiện. Một là phải  thuộc  đoàn chiên tức  ở  trong Giáo Hội Tông Truyền và hai là phải lắng nghe và thực hành Lời Chúa.

Trong hai điều kiện ấy, thì  việc lắng nghe và thực hành Lời Chúa là quan hệ bậc nhất  mang tính quyết định  phần rỗi của mỗi người: “ Khi Chúa Giê Su đang giảng dạy thì trong đám đông có một phụ nữ cất tiếng: Phúc cho  người mẹ nào  đã cưu mang Thầy và đã cho Thầy bú mớm. Nhưng Chúa  đáp lại rằng: Đúng vậy, nhưng còn có phúc hơn kẻ nào biết lắng nghe và thực  thi Thánh Ý Chúa” ( Lc 11, 27 -28 ).

Có nhiều nhà thần học  cho rằng lời Chúa  đây đã tôn vinh công trạng của  Đức Maria tới hai lần. Một là Đức Mẹ đã  có công cưu mang và sinh hạ  Chúa Giê Su về phần xác, hai là đã không giữ lại Người Con Chí Thánh ấy cho riêng mình mà đã dâng  vào đền thờ như một của lễ hy sinh  để rồi  nghe  tiên tri Simeon tiên báo về cuộc khổ nạn của Đấng  Cứu Thế  cũng như  đau khổ tột cùng  mà Người Mẹ ấy sẽ  chịu ( Lc 2, 34 -35 ).

“ Tuy vậy, Đức Maria đã nhận con lại và đem về Nazareth. Mẹ sống  cuộc đời gia đình êm ấm  với Chúa. Nhưng chắc là Mẹ  không quên lời tiên tri  của Simeon. Mẹ sống trong ý tưởng  hiến tế của Chúa Giê Su, trong viễn ảnh Núi Sọ. Cụ già thánh thiện kia  đã dựng thập giá  lên trước mặt Mẹ và Mẹ đã không ngừng  nhìn ngắm. Là Mẹ rất dịu hiền, Mẹ lo săn sóc  cho con lúc thơ ấu cả lúc thiếu thời, song như một vị thầy cả  sửa soạn lễ vật làm lễ hy sinh. Như Apraham  leo núi nơi Người sẽ phải tế lễ con. Maria mỗi ngày cũng tiến về Núi Sọ. Ngày dâng con vào đền thờ, Đức Mẹ thật đã lập lại lời ưng thuận  sống mầu nhiệm cao cả: Nhận hy sinh Con Mẹ để cho ta được rỗi. Chính vì ta mà Mẹ  đã phải đau khổ” ( M.V Bernado O.P – Mẹ Trong Đời Tôi ).

Đức Maria đã…chịu khổ vì vâng theo Thánh Ý Chúa để lo lắng  phần rỗi  cho  mỗi  người, đồng thời  để  ta có  được  lòng cậy trông cần thiết  trong giờ phút lâm chung, hấp hối: “ Những ai trung thành Lần Chuỗi Mân Côi khi sống và nhất là trong giờ chết sẽ được ánh sáng của Chúa soi dẫn với đầy dẫy ơn huệ của Ngài. Và khi lâm tử, họ sẽ được tham dự vào những công nghiệp của các thánh trên Thiên Đàng” ( Lời hứa thứ  tám trong  15 Lời Hứa đã được ban cho thánh Đa Minh ).

Đức Mẹ đã ban lời hứa vô cùng quý giá  cho những ai siêng năng Lần Chuỗi Mân Côi. Thế nhưng thử hỏi  trong số những người Công Giáo được kể là…ngoan đạo hôm nay còn có mấy ai  tin tưởng và thực hành Kinh Nguyện này  để được ơn ích như  Đức Mẹ đã  khuyên nhủ  trong nhiều lần hiện ra  trên khắp thế giới ?

Nguyên nhân khiến việc  sống đạo  nói chung và  thực hành Kinh Mân Côi  nói riêng hiện trong cơn khủng hoảng  trầm  trọng đó là vì người ta  đã  không biết được ý nghĩa  cũng như mục đích  của việc làm ấy là gì ? Có biết được triết lý ( Lý ) của Kinh Mân Côi thì người ta mới hâm mộ thực hành ( Sự ). Trong lãnh vực tâm linh giữa Lý và Sự cần phải viên dung thì mới có cơ thành tựu, ngược lại thì không !

Kinh Mân Côi thuộc về Tâm Pháp, bởi đó việc thực hành Kinh  Nguyện này phải phát khởi từ ở nơi Tâm chứ không thể chỉ ở ngoài môi miệng như Chúa Giê Su đã truyền dạy: “ Còn ngươi, khi cầu nguyện, hãy vào phòng, đóng kín cửa lại  rồi cầu nguyện Cha ngươi là Đấng thấy trong chỗ ẩn mật sẽ báo đáp cho ngươi” ( Mt 6, 6 ).

Vào phòng, đóng kín cửa lại  có nghĩa khi cầu nguyện thì phải thu thúc lục căn ( Mắt, Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, Ý ) đừng cho nó phóng xuất ra bên ngoài nơi  hiện tượng giới. Mục đích của việc….thu thúc ấy  chính là để làm  sao  cho ta có thể  an trụ được hai  Thánh Danh  Giê Su và Maria  trong tâm tưởng mình và khi ấy chính Thánh Danh Giê Su sẽ cứu ta thoát khỏi  cám dỗ của kẻ thù  Sa Tan hòng  lôi kéo ta vào vòng trói buộc  vô cùng  độc hại  của nó: “ Cũng vì cớ đó, nên Thiên Chúa đã nhắc Ngài  lên rất cao, ban cho Ngài Danh vượt trên mọi danh, hầu cho mọi đầu gối trên trời, dưới đất, bên dưới đất  đều  nhơn  Danh Giê Su  mà quỳ gối xuống và mọi lưỡi  đều  thừa nhận Giê Su Ki Tô là Chúa để quy phục Thiên Chúa là Cha” ( Pl 2, 9 – 11 )./.

Phùng  Văn  Hóa

 

BÔNG HOA ĐẸP NHẤT DÂNG MẸ MARIA: LÒNG YÊU MẾN BÍ TÍCH THÁNH THỂ

Lòng sùng kính Mẹ Maria là một điều rất gần gũi nhưng cũng rất đậm sâu với người tín hữu Việt Nam. Cụ thể hơn, trong tháng Năm này, tháng dành riêng cho Mẹ, chúng ta tự hỏi: làm sao để yêu mến Mẹ đúng cách? Món quà nào là quý giá nhất mà chúng ta có thể dâng cho Mẹ?

  1. Chúng ta cần phải làm gì cho Mẹ Maria?

Hàng năm, vào ngày 10 tháng 5, Giáo hội lại nhớ đến Thánh Gioan Avila. Ngài là vị thánh bảo trợ của các linh mục ở Tây Ban Nha. Ngài nổi tiếng là người lập ra nhiều trường học và trung tâm đào tạo. Nhưng trên hết, ngài là một người yêu mến Mẹ Maria hết lòng. Trong các bài viết của mình, thánh nhân đã để lại những lời khuyên rất thực tế để làm vui lòng Mẹ Maria. Thánh Gioan Avila từng tự hỏi một câu mà có lẽ chúng ta cũng hay tự hỏi: “Tôi phải làm gì cho Đức Trinh Nữ Maria đây? Chúa đã ban cho tôi bao nhiêu điều tốt qua tay Mẹ rồi.”

Đây là một tâm tình rất tự nhiên. Khi chúng ta nhận được ơn lành, chúng ta muốn đền đáp. Nhưng Đức Mẹ là Nữ Vương Thiên Đàng, Mẹ có thiếu thốn gì đâu? Mẹ không cần vàng bạc, không cần những lời khen suông. Vậy Mẹ cần gì?

Thánh Gioan Avila đã tìm ra câu trả lời ngay trong Kinh Thánh. Đó là câu chuyện về tiệc cưới Cana. Đám cưới đang vui thì hết rượu. Mẹ Maria thấy vậy liền nói với Chúa Giêsu: “Họ hết rượu rồi” (Ga 2,3). Dù lúc đó Chúa nói “Thưa bà, chuyện đó can gì đến bà và tôi? Giờ của tôi chưa đến” (Ga 2, 4), nhưng Mẹ vẫn tin tưởng tuyệt đối. Mẹ quay sang bảo những người giúp việc một câu ngắn gọn: “Ngài bảo gì, các anh cứ việc làm theo” (Ga 2,5).

Thánh Gioan Avila nói rằng, câu nói đó của Mẹ Maria chính là một bài giảng. Một bài giảng vắn gọn nhưng mạnh mẽ nhất. Mẹ không nói dài dòng. Mẹ chỉ hướng chúng ta về phía Chúa Giêsu. Thánh Gioan Avila ví câu nói của Mẹ quan trọng như lời của các tiên tri Isaia hay các thánh tông đồ. Mẹ như muốn nhắn nhủ chúng ta rằng: “Các con ơi, nghe Mẹ nói này. Nếu các con yêu Mẹ, hãy làm theo lời Con của Mẹ.”

Vậy là đã rõ. Món quà tốt nhất, bông hoa đẹp nhất, công việc tốt nhất mà chúng ta có thể làm cho Mẹ Maria không phải là điều gì xa xôi. Đó chính là việc làm theo Lời Chúa Giêsu.

  1. Làm theo Lời Chúa cách cụ thể

Thánh Gioan Avila dạy rằng làm theo Lời Chúa khó hơn việc chỉ lắng nghe. Ngài đưa ra những hành động cụ thể để chúng ta thực hành đức tin thông qua lòng yêu mến Mẹ Maria.

Tha thứ cho người làm mình tổn thương. Có ai đó nói xấu bạn? Có ai đó lừa dối bạn? Bạn đang giận run người? Thay vì trả đũa, bạn hãy chọn tha thứ. Hãy nói: “Lạy Mẹ, con tha thứ cho người này vì con yêu Mẹ.” Đó là một món quà tuyệt vời dâng Mẹ.

Từ bỏ một tình yêu không phù hợp. Đôi khi chúng ta vướng vào những mối quan hệ độc hại. Hoặc một tình cảm mà chúng ta biết rõ là trái với ý Chúa. Buông tay thì đau lắm. Nhưng nếu bạn dám từ bỏ vì lòng yêu mến Mẹ, Mẹ sẽ mỉm cười với bạn.

Học cách giữ im lặng. Trong thế giới ồn ào này, giữ im lặng là một thử thách. Im lặng khi định buông lời chỉ trích. Im lặng khi muốn khoe khoang. Im lặng để lắng nghe tiếng Chúa. Sự im lặng này quý giá hơn muôn lời kinh đọc vội.

Làm những việc khiến mình “khó chịu” nhất. Có những việc Chúa bảo làm mà chúng ta ngại. Ví dụ như đi thăm một người bệnh khó tính. Hoặc phải nhịn ăn, nhịn tiêu để giúp người nghèo. Thánh Gioan Avila bảo rằng điều gì làm bạn cảm thấy khó khăn nhất, đau nhất mà bạn vẫn làm vì Chúa, thì hãy dâng điều đó cho Mẹ.

Thánh nhân nhấn mạnh một điểm rất quan trọng: chỉ nói yêu Mẹ mà không bắt chước Mẹ thì chẳng ích gì. Mẹ khiêm nhường, chúng ta cũng phải tập khiêm nhường. Mẹ vâng phục, chúng ta cũng phải tập vâng phục. Mẹ là khuôn mẫu để chúng ta theo đó hun đúc nên những nhân đức cho mình, trong đó nhân đức lớn lao nhất Mẹ Maria muốn giúp chúng ta có được đó là lòng yêu mến Chúa Giêsu, nhất là nơi Bí tích Thánh Thể.

Nhiều người nghĩ việc yêu mến Mẹ Maria và tôn sùng Thánh Thể là hai việc đạo đức riêng biệt. Nhưng không phải vậy. Các thánh đều khẳng định: Mẹ Maria luôn kết hiệp với Chúa Giêsu Thánh Thể. Thánh Julien Aymard, tông đồ Thánh Thể và đấng lập dòng Thánh Thể, nói: “Chúa đã dẫn tay tôi đến với cộng đoàn Bí tích Thánh Thể… Đức Trinh Nữ Maria đã giữ cho cảm giác này luôn sống động trong lòng tôi; chính Mẹ là người đầu tiên dẫn tôi đến với Chúa Giêsu Thánh Thể của tôi.” [1] Thánh nhân khẳng định: “Những người tôn thờ Thánh Thể chia sẻ đời sống và sứ mệnh cầu nguyện của Mẹ Maria dưới chân Bí tích Thánh Thể. Đó là sứ mệnh đẹp nhất trong tất cả các sứ mệnh, và không hề có hiểm nguy. Đó là sứ mệnh thánh thiện nhất, vì trong đó tất cả các nhân đức đều được thực hiện.” [2] Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II nói: “Trên hết, chúng ta hãy lắng nghe Đức Mẹ Maria Rất Thánh, nơi Mẹ mà mầu nhiệm Thánh Thể hiện ra, hơn bất cứ ai khác, như một mầu nhiệm ánh sáng. Khi chiêm ngưỡng Đức Mẹ, chúng ta nhận biết được sức mạnh biến đổi hiện diện trong Thánh Thể” (Thông điệp Ecclesia de Eucharistia, số 62).

Vì thế việc kính mến Mẹ Maria và tôn sùng Thánh Thể luôn song hành với nhau. Yêu mến Mẹ mà không tôn thờ Thánh Thể, hoặc ngược lại, là một đức tin lệch lạc. Sự song hành này bắt nguồn từ mầu nhiệm Nhập Thể: Mình và Máu Chúa Giêsu được hình thành từ chính máu thịt của Mẹ Maria. Khi linh mục dâng lễ, Mình và Máu Chúa Giêsu lại hiện diện trên bàn thờ. Ngôi Lời đã trở thành xác phàm trong lòng Mẹ thế nào, thì Ngôi Lời cũng tiếp tục trở thành Mình và Máu trong tấm bánh và chén rượu như vậy.

  1. Thông điệp Fatima mời gọi sự tôn sùng và đền tạ

Tại Fatima, Mẹ Maria hiện ra để kêu gọi loài người sám hối và ăn năn đền tội. Lời kêu gọi đền bù tội lỗi bằng Bí tích Thánh Thể là một phần rất quan trọng trong sứ điệp Fatima. Trước khi Mẹ Maria hiện ra với ba trẻ chăn cừu là Lucia, Phanxicô và Giaxinta, thiên thần hiện đến với các em, chuẩn bị các em đón nhận sự hiện ra của Mẹ, bằng cách dạy các em cầu nguyện và ban Bí tích Thánh Thể cho các em. Thiên thần dạy các em lời cầu nguyện:

  • Lạy Ba Ngôi Cực Thánh – Ngôi Cha, Ngôi Con và Ngôi Thánh Thần – con cung kính thờ lạy Chúa, con xin dâng lên Chúa Mình và Máu thánh cực trọng, linh hồn và bản tính Thiên Chúa của Chúa Giêsu Kitô đang ngự trong các nhà chầu trên khắp hoàn cầu để đền tạ vì những tội bội bạc, thờ ơ, xúc phạm đến Ngài. Cậy vì công nghiệp vô cùng của Trái Tim Cực Thánh Chúa Giêsu và Trái Tim Vẹn Sạch Mẹ Maria, xin Chúa cho kẻ có tội được ăn năn trở lại.”

Mẹ kêu gọi chúng ta kính mến, tôn thờ và đền tạ Chúa Giêsu Thánh Thể, là trung tâm của việc hoán cải thế giới. Khi chúng ta tôn thờ Thánh Thể, chúng ta đang thực hiện đúng ý muốn của Mẹ. Các tín hữu nên được khuyến khích nêu tên của mình và của những người thân yêu để cầu nguyện trước Thánh Thể, tận hiến bản thân và những người thân yêu cho Chúa Giêsu Thánh Thể, qua Mẹ Maria, cầu xin cho những người đã bỏ đạo, những người đang lạc lối được quay về. Tất cả những lời cầu xin đó được dâng lên Trái Tim Vô Nhiễm Nguyên Tội của Mẹ. Mẹ sẽ là người chuyển cầu mạnh mẽ nhất để Chúa Thánh Thể chạm đến những tâm hồn đó.

Xã hội ngày nay đầy rẫy hận thù và chia rẽ vì con người dần rời xa Thánh lễ, đánh mất tâm điểm của thực tại. Thánh Thể là nơi chúng ta kết hiệp mật thiết nhất với Chúa Kitô. Khi bỏ Thánh lễ, chúng ta như cành nho lìa cành, trở nên khô héo và dễ sa ngã.

Phương thuốc duy nhất cho thế giới chính là Chúa Giêsu Thánh Thể. Nhờ tham dự Thánh lễ sốt sắng và sự dẫn dắt của Mẹ Maria, chúng ta sẽ được biến đổi và kín múc sức sống từ quyền năng cùng vinh quang của Chúa.

Yêu mến Mẹ Maria không bao giờ làm lu mờ Chúa Giêsu. Mẹ như tấm gương trong suốt, không giữ lại gì cho mình mà chỉ phản chiếu ánh sáng của Chúa Giêsu đến chúng ta. Các thánh hiểu rằng càng yêu mến Mẹ, lòng sùng kính Thánh Thể càng thêm sâu đậm. Chúa Giêsu không bao giờ ganh tị với Mẹ Ngài; trái lại, khi thấy chúng ta tôn kính Mẹ, Chúa Giêsu sẽ ban cho chúng ta nhiều ân sủng hơn nữa.

  1. Hãy bắt đầu từ những việc nhỏ

Vậy, hôm nay chúng ta sẽ dâng món quà gì cho Mẹ? Có thể là một nụ cười với người đồng nghiệp khó ưa. Có thể là một phút thinh lặng để không cãi nhau với người thân. Có thể là một quyết tâm đi lễ ngày thường nếu có thể, hoặc đơn giản là một lời thưa: “Lạy Mẹ, con làm việc này vì yêu Chúa và yêu Mẹ.”

Thánh Gioan Avila nói: Việc phục vụ tốt nhất là làm theo lời Chúa dạy. Khi chúng ta sống khiêm nhường và thực hành các nhân đức như Mẹ, chúng ta đang mở ra con đường đón nhận ân sủng. Và từ ân sủng đó, chúng ta sẽ được dẫn tới vinh quang muôn đời. Mẹ Maria luôn đồng hành cùng chúng ta trong hành trình tôn sùng Thánh Thể. Mẹ muốn chúng ta được chữa lành, được hoán cải và được hợp nhất. Nắm lấy tay Mẹ, chúng ta sẽ được Mẹ dẫn đến tận bàn thờ, nơi Chúa Giêsu Thánh Thể đang chờ đợi chúng ta với tất cả tình yêu.

Xin Mẹ Maria giúp chúng con gần gũi hơn với Mẹ trong lòng yêu mến Bí tích Thánh Thể, nhờ đó chúng con luôn sống bình an bên Mẹ trong Chúa. Amen.

Phêrô Phạm Văn Trung

[1] https://missiomagazine.com/lady-blessed-sacrament-part-2-saint-peter-julian-eymard/

[2] https://www.eucharisticadorationquotes.org/st%20peter%20julian%20eymard.htm  

 

TẤM  LÒNG  NGƯỜI  MẸ

Chỉ khi đã là một… “người ông”, tôi mới thật sự có lòng thương yêu và biết ơn hai đấng sinh thành ra mình. Lý do bởi  đã tận mắt  thấy những đứa con gái, con dâu của mình yêu thương, chăm sóc, lo lắng cho những đứa con bé bỏng của chúng ! Từ đó, tôi suy ra rằng mình cũng đã từng được  mẹ, cha yêu thương như vậy và có lẽ còn hơn thế nhiều bởi  hãy tưởng tượng xem  trong một hoàn cảnh nghèo khó, thiếu thốn  mọi bề  như thế thì cha mẹ phải vất vả, khổ cực đến chừng nào  mới có thể sinh ra rồi nuôi nấng những đứa con của mình thành  người ?

Mẹ tôi sinh năm 1901, phải nói là thuộc thế hệ rất cổ xưa và cũng như bao phụ nữ thời đó, bà không biết chữ. Tuy không có chữ nghĩa gì cả  nhưng lại thuộc Kinh, Bổn làu làu. Có điểm mà ngày nay nhớ lại tôi  cho là rất đặc biệt  đó là tuy không biết chữ nhưng bà lại rất hâm mộ chữ nghĩa. Sở dĩ tôi tin như thế là bởi lần kia có lẽ vào khoảng lên chín hay lên mười… tôi được bà dẫn bộ lên tận tỉnh Sơn ( Sơn Tây ) cách làng gần mười  cây số  và không biết làm sao bà lại biết đến một tiệm, dò hỏi và mua cho tôi mấy cuốn sách, có lẽ là Sách Cách Trí gì đó ?

Đến năm 1954, di cư vào Nam, định cư được một năm tại Khu Ngã Ba Ông Tạ ( Sài Gòn ) chính bà lại dẫn tôi đến nhập học tại Trường Tiểu Học Thánh Tâm gần nhà do frere  Alexis làm hiệu trưởng. Qua  mấy  lời  thăm  hỏi  với thầy chẳng biết căn cứ vào đâu bà lại xin cho tôi vào lớp nhất tức là lớp năm cấp một bây giờ ! Thú thật trong mấy năm học hành  khi còn ở ngoài Bắc, cũng như bao đứa trẻ trong làng khác, chẳng có chương trình, lớp lang gì cả. Khoảng hơn  mười đứa chúng tôi, tuổi từ chín đến mười  lăm  có cả bên lương lẫn bên giáo được thầy Văn ( Sau làm linh mục ) được cử từ ĐCV về  dạy, buổi  đực  buổi cái, có khi nghỉ cả   tuần vì…chạy loạn!

Xóm giáo của tôi cũng là của nhà văn MC nổi tiếng Nguyễn Ngọc Ngạn  ngày đó  tuy cũng có cha xứ là linh mục sau là giám mục  Phê Rô Nguyễn Huy Quang nhưng cũng chỉ là một…họ lẻ. Cả bọn chúng tôi, khi đó Nguyễn Ngọc Ngạn thua tôi  03 tuổi không ở trong nhóm. Như đã nói  việc học hành của chúng tôi rất là….tơ lơ mơ, thường chỉ được học 04 Phép Toán Cộng Trừ Nhân Chía,  đôi khi được thầy Văn đọc chính tả cho chép, vậy thôi!

Việc học là như  vậy, thế nên tôi rất…đuối khi di cư vào Nam,  lên  bậc trung học kể cả mấy năm  Tiểu Chủng Viện. Nói đến việc…Đi Tu, không thể không nhắc đến bà mẹ tội nghiệp của tôi. Trong lòng bà, dường như luôn có một nỗi ước ao là thấy con mình được vinh dự ở trong “ Nhà Chúa” là nơi chỉ toàn là những người…giỏi dang, thánh thiện ? Nhưng, thật đáng tiếc, tôi chỉ ở chủng viện vỏn vẹn có 03 năm  rồi phải về vì học lực kém ! Xách vali về nhà, chắc mẹ buồn lắm nhưng không nói gì!

Trong  nhiều năm sau đó, cứ  đến  lễ hai thánh tông đồ  Phê Rô – Phao Lô  bà lại sửa soạn quà cáp đơn sơ từ chiều hôm trước, giục dã tôi đến thăm  cha  Dư Tác Thiện, chánh xứ Tân Hưng ( Xóm Mới ), ngủ đêm tại nhà xứ để sáng sớm hôm sau mừng lễ ! Thật tình lòng tôi không muốn  chút nào  nhưng mẹ dường như  cứ nài ép  phải đi cho bằng được!

Ngoại trừ những năm sống đời lính tráng xa nhà không đến mừng lễ quan thầy cha bố  nhưng trong nhiều năm  sau khi đã lập gia đình, hàng năm  trong các dịp lễ, Tết, tôi đều nhớ và  đem vợ con đến thăm cha  như để  tỏ lòng biết ơn đến người cha  đỡ đầu trong đời sống tâm linh và  làm như thế, quả thật tôi đã phần  nào  trả được món nợ yêu thương  đối với người mẹ trần gian  của mình. Từ khi được Ơn Chúa cho trở lại, tôi đã dấn bước trên con đường tu tập Thiền Định  bằng  Kinh Mân  Côi  cho tới  ngày nay!

Sau biến cố bảy lăm, tôi đưa cả gia đình về khu vực Hố Nai sinh sống. Ông thì ở với vợ chồng tôi còn bà thì ở với gia đình người chị gái. Cả hai ông bà đã theo nhau về với Chúa, cách nhau chỉ một năm. Khi bà lìa đời, tôi vẫn chưa được Ơn Trở Lại thế nên chỉ ngồi kề bên giường, lặng lẽ nhìn mà chẳng biết làm gì cả!

Tuy vậy, với những khoảnh khắc lặng lẽ ấy, tôi đã có một cảm nghiệm sâu xa về  sự chết và dường như  người mẹ ấy dù thân xác bất động  nhưng linh hồn bà  vẫn dõi theo, âm thầm như  nhắc nhở  một điều gì đó rất đỗi thẳm sâu và linh thiêng đang chờ đợi  tôi ở phía trước!

Tấm lòng của người mẹ đối với những đứa con của mình luôn là một cái gì đó khó bề diễn tả bằng ngôn từ nhất là trong  khi gặp những hoàn cảnh hiểm nguy  không lường trước được. Cha Lê Quang Uy, Dòng Chúa Cứu Thế  trong nhiều trang sách đã nhắc nhớ đến người mẹ của mình vừa như để biết ơn vừa có phần rất đỗi tự hào:

“ Chiều 28 tháng 4, 1975, vừa kết thúc Thánh Lễ bên nhà thờ Phan Xi Cô  Đakao, cha chủ sự chúc bình an xong và mời mọi người chạy xuống khu nội cấm của Tu Viện. Tôi lúc ấy 16 tuổi, không biết sợ là gì, chỉ nghĩ đến gia đình mình bây giờ chắc  đang bấn cả lên vì không thấy thằng con út đâu. Tôi đã vượt thoát  ra cổng nhà thờ, nép sát lề đường để chạy vội về nhà mình. Vào được nhà rồi, tôi chạy ào vào phòng giữa, nơi có đặt bàn thờ gia đình, tôi thấy ba tôi, các chị và anh tôi đang ngồi sụp xuống nền nhà, nép sát vào nhau đọc kinh râm ran. Còn mẹ tôi mừng rỡ chạy đến ôm chầm lấy tôi mừng rỡ…

…Mẹ tôi chưa kịp hoàn hồn thì tới phiên chị Năm của tôi cũng vừa về tới. Mẹ tôi lại ôm  chầm lấy chị tôi, miệng vẫn đang đọc rất to: “ …cầu cho chúng con là kẻ có tội…” Tôi thấy mẹ tôi  giống như đang điểm danh từng  người con trong nhà, khi thấy chỉ thiếu  có mỗi chị Cả  tôi đang ở với chồng con bên Phú Nhuận, mẹ tôi mới tạm yên tâm để kết thúc  lời Kinh với Mẹ Maria: “ Lạy Chúa Giê Su, xin tha tội  cho chúng con, xin cứu chúng con….Amen” ( Lm Lê Quang Uy C.SsR – Chuyến Đi Vạn Hành – Tập 5 ).

Người mẹ nào thì cũng thương yêu con  mình và  với những bà mẹ có con trai, phần đông đều muốn chúng yên bề gia thất, có con để nối dõi tông đường…Riêng với  mẹ của cha Uy thì khác, bà chỉ muốn đứa  con trai của bà…  đi Tu và  tỏ ra dứt khoát khi từ chối việc cưới hỏi  tưởng  như  đã  gần  kề:

“ Đấy, cái giai thoại trong gia đình về…tôi là như thế. Tôi cứ ngỡ chỉ là giai thoại, ngờ đâu đến một ngày, năm tôi 27 tuổi, đứng khoanh tay ngỏ ý xin ba mẹ tôi  đi hỏi cưới người bạn gái đã “ thâm niên” thì mẹ tôi xoay ngang câu chuyện, gạt phắt đi, chẳng phải vì không ưng ý cô ấy vốn  là một thiếu nữ nết na, gia giáo mà chỉ vì: “ Cậu phải đi tu, tôi đã mơ như thế là đúng như thế”

…Kinh khủng quá ! Đã thế, ba tôi mọi khi có tiếng nói quyết định của một gia trưởng  uy quyền, lần này lại lẳng lặng đứng lên đi làm một…điếu thuốc lào ! Thật khổ thân tôi…

…Dằng dai mãi, bên ấy không thấy động tĩnh gì, chắc cũng sốt ruột. Cô bạn gái của tôi nhờ người quen biết gia đình tôi hỏi han và cuối cùng  cũng biết được đầu đuôi. Cô ấy không lộ chuyện ra, âm thầm xin đi Linh Thao  cả tuần. Đùng một cái, cô ấy mời tôi đến nhà và thổ lộ tất cả: “ Uy đi tu là đúng rồi đấy ! Mà mình cũng sẽ đi tu ! Mình đã cầu nguyện và lắng nghe được Tiếng Chúa. Uy và mình  sẽ chẳng lập gia đình với bất cứ ai. Chỉ có con đường TU  mới đem lại hạnh phúc cho cả hai và cho mọi người…” Thế là chấm hết ! Chấm than hẳn hoi” ( Chuyến Đi Vạn Hành đã dẫn ).

Bà mẹ nằm mơ thấy con mình không những…phải đi TU mà còn phải trở thành một  linh mục Dòng Chúa Cứu Thế ? Chàng thanh niên đang là sinh viên  Đại Học Kiến Trúc ấy tìm hiểu ơn gọi  là một ứng sinh  ĐCV  thánh Giu Se  nhưng  phải thi hành nghĩa vụ Thanh Niên Xung Phong trước đã. Thế nhưng khi nói với mẹ chuyện ấy thì bà  tỏ ra không vừa ý:

“ Lại trở về với chuyện của mẹ tôi. Khi biết tôi đã quy phục  và được nhận vào vào Đại Chủng Viện, bà vẫn  cằn nhằn: Tôi nằm mơ rõ ràng cậu vào DCCT  chứ có phải đi chủng viện đâu ? Tôi chỉ biết chống chế: “ Tu đâu cũng là tu, mẹ ơi ! Sao lại phải đi tu Chúa Cứu Thế  mới được ?  Các cha bên ấy đang còn phải đi …tĩnh tâm dài hạn, ai mà  dám nhận người vào Dòng đâu ?  Có lẽ mẹ tôi sợ cậu út  lại giở chứng, giở quẻ nên đành im lặng chờ cơ hội !...

…Cho đến năm 1989, bất ngờ tôi gặp một anh đang  tìm hiểu Ơn Gọi DCCT , tôi bán tín bán nghi, hỏi thăm cha Tiến Lộc  mới biết Nhà Dòng  vẫn đang âm thầm  nhận người đi tu. Tôi mừng quá, vội xin chuyển hướng, cha Vũ Khởi Phụng nhận ngay vào Khóa Dự Tập. Đến lúc ấy  tôi mới thấy tin vào lời giải mộng của mẹ tôi, kỳ diệu thật !...

…Ngày tôi báo tin vui được nhận vào Nhà Tập DCCT  thì ba tôi đã qua đời tròn ba năm, mẹ tôi rớm nước mắt  bảo: “ Thôi, bây giờ mẹ có đi theo ba về với Chúa cũng được rồi” ( Chuyến Đi Vạn Hành – đã dẫn ).

Nghe  câu nói của bà mẹ cha Uy, bất giác  tôi  liên tưởng tới lời tiên tri  Simeon khi gặp Đức Maria và thánh Giu Se  dâng con vào đền thờ: “ Lạy Chúa, giờ đây  đầy tớ Chúa được ra đi bình an vì con mắt tôi đã thấy ơn cứu rỗi, Chúa đã dành cho Dân  Người” ( Lc 2, 29 -31 ). Việc…nằm mơ của  người mẹ ấy, tôi cho đó cũng chính là Thánh Ý Chúa đã quan phòng xếp đặt cho  công tác Mục Vụ thích hợp  của cha Uy sau này  đó là Bảo Vệ Sinh Sản, Tĩnh Tâm cho Giới Trẻ về những vấn đề gai góc của thời đại  v.v…

Tôi quan niệm rằng cả trong lãnh vực đời thường cũng như đời tâm linh, không có gì là ngẫu nhiên, tình cờ, tất cả đều tuân thủ theo định luật Nhân Duyên Quả Báo. Sự ra đời và hiện hữu  của bất cứ con người nào đều có duyên phận của nó và thánh Augustin, tiến sĩ Hội Thánh  với bà mẹ Monica nổi tiếng của ngài là một trong những trường hợp đó.

Thánh Augustin ( 354 – 430 ) là một  giáo phụ trổi vượt  về lãnh vực nội tâm, đã được triết gia Karl Jaspers hết lời ca ngợi: “ Ở đây  thấy muôn vàn kiểu nói bất hủ về đời sống tâm linh; ra như  những gì thuộc tâm linh sâu kín đã được diễn tả thành ngôn ngữ linh động. Thực vậy, đây là một triết lý về nội tâm  được suy tư rất sâu xa và rất thú vị mà triết học xưa  chưa hề biết tới” ( GS Lê Tôn Nghiêm – LSTHTP. Q.II ).

Mỗi thời đại, đều có những thánh nhân xuất hiện và  ẩn khuất phía sau vị thánh ấy là…những bà mẹ. Bà Monica là tấm gương sáng rỡ của Giáo Hội Công Giáo về  sự kiên trì cầu nguyện và lòng cậy trông  cho Ơn Gọi của con mình ngay cả trong  những  giấc chiêm bao: “ Và từ trên cao, Chúa đã giơ tay kéo linh hồn con ra khỏi  vực sâu tăm tối đó; đang khi mẹ con là nữ tỳ  trung tín của Chúa, khóc lóc  trước mặt Chúa về con nhiều hơn các bà mẹ khóc con mình đã chết. Vì nhờ tinh thần đức tin  mà người đã lãnh nhận nơi Chúa, người thấy con đã chết. Và Chúa đã nghe lời người, Lạy Chúa, Chúa đã nghe lời người  và đã không khinh chê nước mắt mà người đã đổ ra  tưới mặt đất  dưới chân người, khắp nơi người cầu nguyện. Chúa đã nghe lời người…Vì bởi đâu  mà có giấc chiêm bao, để Chúa yên ủi người, đến nỗi người lại thỏa thuận  cho con sống cùng nhà, ăn cùng bàn với người ? Ban đầu, người không muốn điều đó, vì gớm ghét và ghê tởm những xúc phạm do lạc thuyết của con gây nên. Vậy, trong giấc chiêm bao, người đã thấy mình đứng trên một cái thước gỗ, một thanh niên sáng rực đi với người, vui vẻ và  tươi cười với người, đang khi người  buồn rầu, chán nản. Thanh niên hỏi người  về lý do buồn rầu đó và nước mắt hàng ngày, để dạy bảo người, như sự  có thường xảy đến, người khóc cho sự hư đi của con. Thì thanh niên truyền cho người hãy yên tâm và bảo người hãy để ý mà nhìn xem: người ở đâu con cũng ở đó. Người nhìn xem và thấy rằng: Con đứng cùng  người trên cùng một cái thước…

…Bởi đâu có cuộc chiêm bao đó, nếu không phải là vì Chúa  đã để tai nghe lòng dạ người sao ? Ôi ! Thiên Chúa  tốt lành và toàn năng ! Chúa chăm sóc từng người chúng con như thể Chúa  chỉ chăm sóc có một mình nó. Và Chúa chăm sóc mọi người như từng người một” ( Saint Augustin – Tự Thuật ).

Quả thật, Thiên Chúa là Đấng nhân từ, cao cả và quyền năng, Ngài chăm sóc từng người, không hề bỏ sót một ai  dù kẻ ấy có tội lỗi, xấu xa đến đâu. Mặc dầu vậy, Thiên Chúa vẫn đòi hỏi  ở nơi mỗi người  lòng tin và sự cậy trông  bền  vững. Chính đức tin và lòng cậy trông ấy  đã khiến cho thánh Monica  có thể  vượt qua bao gian lao, nguy hiểm  để cộng tác với Ơn Chúa cho việc trở lại của con mình:

“ Ôi, Chúa là hy vọng của con từ tuổi thanh xuân. Đối với con, lúc đó Chúa ở đâu và Chúa ẩn mình nơi  nào ?  Há chẳng phải Chúa đã dựng nên con , đã làm cho con khác loài  thú bốn chân và khác hơn chim trời hay sao ? Nhưng lang thang  trong tăm tối và trên con đường trơn trượt, con tìm kiếm Chúa ở ngoài con  nên con không gặp được Chúa của lòng con. Con đã chìm tận đáy biển và đã mất hết tín nhiệm và hy vọng tìm được chân lý…

…Được lòng đạo thêm sức mạnh, mẹ con đã đến với con, ngài vượt biển hàng ngàn  để theo con và trong mọi cơn nguy khốn, ngài được Chúa  hộ phù. Vì trong những lúc gian nan  của cuộc vượt biển, ngài đã khích lệ các hành khách chưa quen vượt biển. Khi họ lo sợ, ngài đã hứa  với họ là sẽ được tới bến bình an, vì Chúa đã hứa cho ngài sự ấy trong một thị kiến.” ( Thánh Augustin – Tự Thuật ).

Trong cuộc hành trình  đức tin của Dân Chúa, chúng ta thấy luôn có những thị kiến hay nói theo  đời thường  là  giấc mộng. Đối với  Monica, bà tin những giấc mộng ấy đến từ Chúa  và chính vì tin  tưởng như thế nên bà đã có được  vững tâm trong những ước nguyện của mình là muốn con được Ơn Trở Lại và…làm Thánh:

“ Người ta hằng thúc giục con kết bạn. Con đã cầu hôn và hai bên đã ước hôn. Trong việc này, mẹ con hành động  mạnh nhất, hầu sau khi kết bạn, con được chịu Phép Thánh Tẩy Cứu Độ. Ngài  vui mừng thấy con  mỗi ngày một xứng đáng  với Nhiệm Tích đó và trong đức tin của con, ngài nhìn nhận là ước nguyện của ngài và lời hứa của Chúa đã được thực hiện…

…Thật vậy, theo lời con xin và theo ước nguyện của mẹ con, hàng ngày, ngài khẩn khoản kêu xin Chúa  dùng một thị kiến  tỏ cho ngài biết  một chút về cuộc hôn phối  tương lai của con nhưng Chúa đã không  hề ưng thuận. Ngài đã  nhìn thấy những hình ảnh hư ảo và kỳ quái, như khi tâm thần người ta  yên trí quá  về việc gì thì  thường phát xuất những hiện tượng như vậy. Ngài kể cho con nghe, nhưng ngài không tin tưởng  như thường lệ, khi Chúa mạc khải cho ngài, ngài còn khinh thường  các hình ảnh đó nữa. Ngài bảo là ngài nhận thấy con không biết do một cảm thức nào mà lời  nói không thể tả được, một sự khác biệt  giữa các mạc khải do  Chúa mà đến và các mơ mộng của tâm thần ngài…

…Tuy nhiên, người ta thúc giục kết hôn nhưng còn thiếu hai năm mới tới tuổi kết bạn. Vì chị ta vừa ý con, nên chỉ còn chờ đợi” ( Thánh Augustin – Tự Thuật ).

Con đường thực hiện tâm linh, tất cả  chỉ  hệ tại ở việc  biết vâng theo Thánh Ý Chúa. Tuy nhiên việc vâng theo Thánh Ý ấy  thật sự không hề  dễ dàng chút nào bởi lẽ nó hoàn toàn trái ngược với những dự tính, nguyện vọng của con người. Thánh Augustin khi chưa được Ơn Trở Lại, ngài vẫn tính đến chuyện kết hôn và sống cuộc sống như bao người khác. Thế nhưng Ý Chúa nhiệm mầu đã dẫn dắt vị giám mục tương lai này đi theo Con Đường  hoàn toàn khác  đó là  Con Đường Từ Bỏ của Đức Ky Tô:

“ Vậy con vội vã trở lại chỗ Alypius ngồi vì khi đứng dậy ra đi, con đã để sách Tông Đồ lại đó. Con cầm lấy, mở ra  và đọc thầm đoạn thứ nhất mắt con bắt gặp: Không phải trong chè chén say sưa, trong dâm dật và phóng đãng, trong kình địch và ghen tương. Nhưng anh em hãy mặc lấy Chúa Giê Su Ky Tô và đừng lo toan về xác thịt cho thỏa các đam mê. Và con không muốn  đọc thêm nữa vì thấy không cần. Thật vậy, con vừa đọc xong câu đó thì như có một  ánh sáng an bình tràn vào lòng con, làm tan biến  mọi tối tăm của sự nghi ngờ” ( Thánh Augustin – Tự Thuật đã dẫn ).

Cái khoảnh khắc đánh động tâm trí thánh Augustin theo như lời kể của ngài là khi đọc  được đoạn Kinh Thánh về sự Từ Bỏ để theo Đức Ky Tô. Thế nhưng  thực ra  để có được sự… đánh động đó hoàn toàn không có chi là  ngẫu nhiên, hay  tình cờ mà  ngài  đã phải  trải qua một quá trình nỗ lực tìm kiếm  lâu dài cùng với ước nguyện lớn lao của người mẹ. Có thể nói, nếu không có ước nguyện lớn lao  cùng với đức tin và lòng cậy trông của người mẹ  kiên cường ấy  thì con đường Nên Thánh của Augustin  cũng  khó mà thành tựu?

Việc trở lại và nên thánh của Augustin có phần đóng góp to lớn  của bà Monica là điều không thể phủ nhận và  cũng vì điều đó đã khiến bà được chung phần niềm vui cao cả với  người con yêu dấu của mình:

“ Chúng con đã bỏ đó mà đi tới chỗ mẹ con và kể cho người biết để người vui mừng. Chúng con đã kể công việc đã xảy ra như thế nào: Người hân hoan, đắc chí và tán tụng Chúa, Đấng “ quyền năng làm được mọi sự”  một cách phong phú  hơn điều chúng con cầu xin và nghĩ tưởng vì nơi Con Chúa  đã ban cho người  nhiều hơn người đã xin, qua những lời than thở và bao nước mắt thống khổ. Vì Chúa đã làm cho con trở lại với Chúa một cách hoàn toàn, đến nỗi con không còn  mơ màng gì đến  vợ con  hay một hy vọng nào nữa, con đã đứng trên “ Luật Đức Tin” mà bao năm trước đây, Chúa đã cho người thấy  trong một thị kiến. Chúa đã đổi tang tóc của người ra vui mừng quá đỗi, quá điều người ước ao và quý giá, thanh tịnh hơn  niềm vui mừng mà người chờ đợi ở  con cháu phần xác của con” (Thánh Augustin – Tự Thuật  đã dẫn ).

Theo lời kể của chính thánh Augustin thì việc trở lại của ngài là do  được thúc  đẩy  bởi  lời thánh Phao Lô về sự từ bỏ, nguyên văn  như sau: “ Phải như thế  vì anh em biết  chúng ta đang sống trong thời nào. Đã đến lúc anh em phải thức dậy vì hiện nay ngày Thiên Chúa Cứu Độ  đã gần hơn trước kia, khi chúng ta mới tin đạo. Đêm sắp tàn, ngày gần đến. Vậy chúng ta hãy loại bỏ những việc làm đen tối và cầm lấy vũ khí  của sự sống để chiến đấu. Chúng ta hãy ăn ở cho  cho đúng đắn  như người đang sống giữa ban ngày, không chè chén say sưa, không chơi bời dâm đãng cũng không cãi cọ, ghen tương. Nhưng anh em hãy  mặc lấy  Chúa Giê Su Ky Tô và đừng chiều theo  tính xác thịt mà thỏa mãn các dục vọng” ( Rm 13, 11 -14 ).

Để sống đời từ bỏ tức “ Mặc lấy Chúa Giê Su Ky Tô” thì không có cách nào khác ngoài ra là phải coi  thế gian, ngay cả thân xác này cũng  chỉ là thứ hư phù, sinh diệt, có đấy rồi liền mất đấy: “ Sự sống của anh em là chi ? Chẳng qua  chỉ như  một chút hơi nước. Hiện ra một lát rồi lại tan mất” ( Gc 4, 14 ).

Sự sống vật chất, thế gian chỉ là hư ảo, bởi vậy thánh Augustin khi trở lại  như ngài nói không màng gì đến chuyện vợ con cũng như có chút hy vọng gì ở cõi đời này nữa. Với thánh Monica cũng vậy, trước đây ngài vẫn ước ao được chôn cất tại quê hương bản quán, nhưng sau việc trở lại của thánh Augustin và với  Ơn Chúa, ngài đã từ bỏ ý định ấy:

Trong  giờ phút lâm chung, thánh Monica đã trối lại cho các con đang tề tựu bên giường: “ Các con hãy chôn mẹ  các con ở đây”. Con thinh lặng và ứa nước mắt. Nhưng em con nói  mấy lời tỏ ý  ước ao thấy  ngài chết tại quê nhà hơn là ở nơi tha hương này. Nghe thấy vậy, ngài tỏ vẻ không bằng lòng, ngài quắc mắt nhìn em con, vì đã có những ý tưởng như vậy, rồi ngài nhìn con mà nói: “ Con xem, nó nói như vậy đó. Đoạn ngài bảo cả hai chúng con: Các con chôn xác này ở đâu cũng được, các con đừng quá lo về nó, mẹ chỉ xin các con một điều  là bất cứ các con ở đâu, các con hãy nhớ đến mẹ trước bàn thờ Chúa” ( Thánh Augustin – Tự Thuật ).

Cả một đời vất vả, gian lao chỉ với  niềm  ước ao là thấy con mình  bỏ  đường tà vạy để trở về với Chúa nhưng người mẹ ấy  trong giây phút lìa đời lại chỉ xin các con một điều là hãy nhớ đến mình trong lời cầu nguyện trước Bàn Thờ Chúa. Ôi, đức tin  và tấm lòng của người mẹ ấy  mới  đẹp lòng Chúa biết bao ? Bởi suy cho cùng, con người ta sinh ra trong cõi đời này rồi ra ai mà  chẳng phải chết. Nhưng chết rồi đi đâu ? Về đâu ? Thánh Augustin và mẹ ngài là bà Monica đã trải qua cuộc đời dương thế  với tất cả lòng tin và niềm cậy trông, giờ đây đang hưởng vinh phúc trên Thiên Đàng, đó  chẳng phải là niềm hy vọng của tất cả những tâm hồn thiện lương  trong bất cứ  truyền thống tâm linh nào hay sao ?

Các truyền thống tâm linh đều  có cùng một mục đích đó là  để giải quyết rốt ráo vấn đề sinh tử, tử sinh. Đại sư Hám Sơn ( 1546 – 1623 ) tục danh Đức Thanh  là một thiền sư danh tiếng của cả hai truyền thống Thiền Tông và Tịnh Độ Tông vào  cuối  thời nhà Minh ( Trung Quốc ). Ngài được coi là một Thánh Tăng ngang hàng với  04 vị đại sư khác là Từ Bá Đạt Quán, Vân Thê Châu Hoàng và  Ngẫu Ích Tri Húc. Sau khi nhập diệt, sư đã để lại nhục thân không bị hư thối và hiện  đặt tại Chùa Tào Khê  cùng với nhục thân của đức lục tổ Huệ Năng  cho tín hữu thập phương chiêm bái.

Cũng như những vị thiền sư nổi tiếng khác, ngay từ khi còn rất nhỏ, Đức Thanh  đã  có nỗi  ưu tư về  lẽ sống chết  ở  đời : “  Khi tôi lên bảy, mẹ tôi cho tôi đi học. Khi ấy tôi có một người cậu thương tôi lắm. Một hôm, trước khi tôi đi học về, cậu chết. Khi tôi thấy cậu nằm bất động trên giường, cố dấu tôi về cái chết của cậu, mẹ tôi nói: Cậu ngủ, con muốn đánh thức cậu dậy cũng được. Nghe vậy, tôi lên tiếng gọi cậu mấy lần nhưng cậu chẳng hề đáp. Thấy vậy, mợ tôi quá đau khổ, gào lên: Hỡi trời ơi, mình đã đi đâu rồi ? Bàng hoàng quá, tôi hỏi mẹ: Cậu nằm ngay đó mà sao mợ lại bảo là cậu đã đi ? Lúc ấy, mẹ tôi nói: Cậu con chết rồi ! Chết rồi về đâu ? Tôi hỏi và từ đó câu hỏi ấy  đã ăn sâu vào tâm trí tôi” ( Chang Chen Chi – Thiền Đạo Tu Tập ).

Chính câu hỏi: “Chết rồi về đâu” ?  ấy  đã khiến  cậu bé Đức Thanh dấn bước trên con đường  Tu Tập để tìm  cho ra câu trả lời. Tuy nhiên, đó là câu chuyện về sau  và câu chuyện này có liên quan mật thiết đến bà mẹ tuyệt vời của đại sư Hám Sơn:

“ Khi lên tám, tôi được gửi trọ  tại nhà một người họ hàng ở bên kia sông để gần trường học hơn. Mẹ tôi cấm không  cho về nhà  nhiều hơn là mỗi tháng một lần. Thế nhưng một hôm, sau ngày nghỉ hàng tháng, tôi không chịu trở lại trường. Khi tôi bảo tôi không thể rời bà được, bà nổi xung thiên, bà đánh tôi và đuổi tôi ra bờ sông. Nhưng tới đó tôi vẫn không chịu rời bà để lên đò. Đang cơn giận, mẹ tôi túm lấy tóc tôi và ném tôi xuống sông, rồi quay về  nhà mà không  một lần ngoái lại. Bà tôi có mặt  gần đó kêu cứu, nhờ thế tôi thoát chết. Cuối cùng, khi tôi về nhà, mẹ tôi hét: Để cái đồ vô tích sự  đó sống làm gì ? Thà nó chết chìm còn hơn ! Sau đó bà đánh đòn tôi  và định đuổi tôi đi. Lúc ấy, tôi cho rằng mẹ tôi quá nghiêm khắc  và tàn nhẫn, nên tôi quyết không về nhà nữa…

…Sau đó, tôi được biết rằng mẹ tôi nhiều lần đứng khóc một mình trên bờ sông. Khi bà tôi biết việc đó,bà quở trách mẹ tôi. Lệ tuôn trào  lên má, mẹ tôi đáp: Con phải làm cho nó  vượt qua được cái tính quá đa cảm để nó có thể học hành nghiêm nghị” ( Chang Chen Chi – Thiền Đạo Tu Tập đã dẫn ).

Bà mẹ để tâm đến việc học hành của con, muốn nó được công thành danh toại với thiên hạ. Thế nhưng với  Đức Thanh, ngay  khi chỉ là một thiếu niên đã có chí hướng  thoát tục  để bước vào Con Đường Tâm Linh hầu vĩnh viễn thoát khổ. Trong một lần kia khi theo mẹ lên chùa, chợt nghe một ông tăng tụng Kinh Phổ Môn ( Pháp Hoa ) và nhờ  vậy đã có một ý thức  dù còn mờ nhạt về sự vô ích của con đường học vấn mà mẹ  muốn mình theo đuổi:

“ Vào năm 1555, tôi lên mười. Mẹ tôi ép tôi học dữ quá, khiến tôi buồn lắm. Tôi hỏi bà: Sao con phải học ? Bà đáp: Để đạt được một địa vị cao trong chính phủ ! Tôi hỏi tiếp: Thế sau này con có thể đạt được địa vị như thế nào ? Bà đáp: Con có thể bắt đầu bằng một địa vị thấp và rồi biết đâu có thể lên tới Tể Tướng. Tôi nói: Dù cho con có trở thành Tể Tướng đi, rồi sao nữa ? Bà đáp: Người ta chỉ có thể lên tới đó !

Nghe mẹ nói như vậy, Đức Thanh thoáng suy nghĩ rồi  đáp: “Làm một công chức cao cấp  thì có ích gì ? Làm việc cả đời, vất vả, khổ cực  để chẳng được gì  thì thật là vô ích. Con muốn đạt được một cái gì đó  có giá trị vĩnh cửu”. Với một cậu bé  mới lên mười mà đã có quan niệm về giá trị đích thực của hạnh phúc như thế quả là hy hữu. Tuy nhiên quan niệm ấy lại rất tương ưng với  Lão Tử, một bậc đại triết  sống cách  đó  đã  hàng ngàn năm về  Con Đường Đạo:

“ Theo học, ngày càng  thêm

Theo Đạo, ngày càng bớt

Bớt rồi lại bớt, đến mức vô vi”

(  Vi học nhật ích – Vi Đạo nhật tổn, tổn chi hựu tổn, Dĩ chí ư vô vi )

ĐĐK  chương 48

Cái học của người đời mục đích chỉ để thu thập kiến thức tức…thêm vào. Trái lại, theo Đạo thì cần phải bớt, bớt  mãi  đến chỗ Vô Vi có nghĩa có làm nhưng không hề chấp chước vào việc làm tức không còn thấy…có một Cái Tôi ( Ngã Chấp ) nữa…

Vào năm Đức Thanh 12 tuổi có ý xuất gia, tuy cha không đồng ý nhưng mẹ lại chấp thuận và từ đó Hám Sơn dấn thân trên đường tu tập, trải qua vô số trở ngại, bệnh tật, tù đầy, bị đánh đập, tra khảo  nhưng vẫn bền tâm nuôi dưỡng lòng khát khao lìa bỏ thế giới khổ đau này. Trong một giấc mộng, ngài được đưa lên tới  Cung Trời Đâu Xuất nghe Bồ Tát Di Lặc giảng kinh:

“ Theo chân ông tăng, tôi leo những bậc  lên một bục cao, tôi đứng lặng ở đó, mắt nhắm, thấy vừa hồi hộp  vừa hoan hỉ. Nghe tiếng chuông ngân, tôi thấy Di Lặc Bồ Tát đã  lên gần đến  Tòa. Tôi đảnh lễ, gương mặt Ngài  rực rỡ ánh vàng, không gì trên thế gian có thể sánh được. Rõ ràng tôi là khách danh dự và Di Lặc Bồ Tát  sẽ giảng kinh này đặc biệt cho tôi. Tôi quỳ xuống và mở  Cuốn Kinh ra thì nghe Ngài nói: Phân Biệt là Thức. Vô Phân Biệt là Trí. Dựa vào Thức là Nhiễm. Dựa vào Trí là Tịnh. Nhiễm tất có sinh tử. Tịnh chẳng có chư Phật. Bỗng nhiên cả thân lẫn tâm  thấy rỗng không và tôi  tỉnh giấc  với tiếng Ngài còn vẳng bên tai. Từ ấy, tôi thấu triệt  được sự dị biệt giữa Thức và Trí. Tôi hiểu tôi đã lên tới Cõi Trời Đâu Xuất, cung điện của Đức Di Lặc” ( Thiền Đạo Tu Tập đã dẫn ).

Đại sư Hám Sơn tu và đắc đạo, được vua ban cho Đại Tạng Kinh  và ngài    cũng muốn về thăm song thân khi ấy vẫn còn sống. Vào năm 1589 khi  ấy đại sư đã 40 tuổi, ngài làm một bài kệ, tỏ ra đã chứng đắc thâm sâu về Thiền:

“ Ngày ngày sóng nổi ngập thái không

Chim cá cùng bơi một kính trong

Đêm qua trăng bỗng rụng bên trời

Sáng bừng như lẫn ngọc ly long”

Lập tức, tôi gọi thị giả và bảo ông ta: Bây giờ tôi có thể về quê, thăm cha mẹ được rồi. Báo Ân Tự ở quận nhà tôi, từ lâu nay đã xin  trọn bộ Đại Tạng. Vào tháng mười tôi đi kinh sư  để xin cho người đồng xứ. Hoàng đế ban cho  trọn Bộ Đại Tạng. Theo hộ tống đến Long Giang, về đến Báo Ân Tự  vào tháng mười một. Trước khi tôi về tới tháp, trong  Chùa phóng quang suốt  mấy ngày. Vào ngày Kinh về tới, ánh sáng hiển linh như một chiếc cầu vồng trải từ trời xuống đất. Tất cả tăng chúng  đến nghênh Kinh đều đi qua ánh sáng này. Suốt các buổi lễ  An Kinh, ánh sáng chiếu mỗi ngày không hề gián đoạn. người đến xem lên đến trên vạn mỗi ngày, từ khắp nơi đến chứng kiến phép lạ này. Tất cả đều cho đó là  điềm hiếm có và lành…

…. Trong khi đó, mẹ già nghe tin tôi về, bà sai người đến hỏi xem khi nào tôi về thăm nhà ? Để trả lời, tôi nói là Triều Đình phái tôi hộ tống Kinh chứ không phải để về nhà. Tuy nhiên, nếu mẹ tôi có thể tiếp tôi một cách vui vẻ, không hề  khổ não, như thể tôi chưa từng rời bà thì tôi sẽ ở lại nhà hai  đêm. Khi mẹ tôi nghe những lời ấy, bà thốt lên: Đây thật là  cuộc gặp gỡ “ bất ngờ” giống như tìm lại được một người nhà  trong một kiếp khác. Quá hoan hỉ, làm sao tôi  còn có thì giờ để đau khổ ?  Ô, ta sẽ rất hài lòng gặp  con ta dù chỉ trong một khoảnh khắc. Hai đêm ở nhà hơn ta mong  mỏi quá nhiều…

….Khi tôi về đến nhà, mẹ tôi vui quá, bà chẳng lộ vẻ  buồn khổ gì cả. Nơi bà, tôi chỉ thấy niềm vui, điều này làm tôi ngạc nhiên lắm ! Vào buổi chiều, các huynh trưởng trong họ hàng đến, một người trong họ hỏi: Thầy đến bằng thuyền  hay bằng đường bộ ? Mẹ tôi lập tức trả lời: Nói bằng thuyền hay bằng đường bộ là ngụ ý gì vậy ? Người họ hàng nói: Điều tôi thực sự muốn biết  là thầy ấy từ đâu về nhà ? Mẹ tôi đáp: Từ “ Không” trở về với chúng ta. Tôi  rất ngạc nhiên khi nghe bà nói vậy, trong cơn ngạc nhiên tôi nói: Chẳng lạ gì mà bà cụ cho tôi  Đi Tu ! Đoạn tôi hỏi bà: Từ khi con đi khỏi nhà, mẹ có nghĩ tới con không ? Bà nói: Sao không cho được ? Tôi bèn hỏi: Thế mẹ làm gì để khuây khỏa ? Bà đáp: Thoạt đầu mẹ cũng không biết làm gì ! Rồi nghe người khác bảo rằng  con đang ở Ngũ Đài Sơn. Mẹ hỏi  một thầy tăng, nơi đó ở đâu ? Thầy bảo, ở ngay dưới Bắc Đẩu. Thế là mẹ đảnh lễ Sao Bắc Đẩu  và niệm Danh Hiệu Bồ Tát. Sau đó mẹ thấy khuây khỏa hơn và không còn nghĩ tới con nữa ! Rồi thì mẹ cho là con đã chết rồi, với mẹ không còn  khổ não, không còn nghĩ đến con. Bây giờ mẹ gặp con  như thể trong một kiếp khác.” ( Thiền Đạo Tu Tập – đã dẫn ).

Qua 03 câu chuyện về 03 người  mẹ  tuyệt vời  trên  đây  cho thấy  chính tình thương yêu của các bà  dành cho con của mình đã giúp  họ trở nên những con người xuất chúng, hơn nữa…là những vị Thánh ! Tuy nhiên  có một Bà Mẹ còn trên cả tuyệt vời nữa  bởi vì Ngài  khác hơn mọi bà mẹ  khác. Những bà mẹ trần gian quả  là có tình yêu thương con cái  nhưng chỉ là khi chúng còn  thơ ấu, bé nhỏ, biết vâng lời… nhưng khi đã lớn khôn, lập gia đình riêng thì khi ấy hầu như tình yêu thương không còn ! Mặt khác những người mẹ trần gian này dù thương con  đến  mấy nhưng lại không có khả năng đầy đủ  để giúp chúng khi cần. Trái lại Đức Maria là một Người Mẹ  vừa có lòng từ bi vô hạn lại có quyền lực mạnh mẽ  hầu  cứu giup con cái  mọi lúc, mọi nơi khi chúng  ta kêu cầu đến Ngài !

Sở dĩ Đức Maria có quyền lực mạnh mẽ như thế  bởi vì Ngài  là Đấng Đồng Công Cứu Chuộc: “ Ngôi Hai bắt đầu việc Cứu Chuộc với sự ưng thuận  của Đức Mẹ, khi đã long trọng hỏi ý kiến  và Đức Mẹ đã đồng ý chấp nhận. Đến sau, Người cũng không thực hiện việc Cứu Độ  nếu không có sự ưng thuận  và sự chứng kiến  của Đức Mẹ; Bởi Đức Maria  đã cùng chịu khổ, cùng chung chí hướng  với Chúa Ky Tô. Đức Mẹ đã  xứng đáng  trở thành Vị Khôi Phục Thế Giới hư hỏng và là Đấng ban các ơn  mà Chúa Ky Tô đã tử nạn, đổ máu chuộc lại. Đứng kề Thánh Giá Chúa trên đồi Calve  Mẹ đại diện  cho toàn thể nhân loại. Trong các Thánh Lễ ngày nay, Chúa Cứu Thế  cũng thực hành  theo thể thức trên . Đức Maria, Người Nữ  đã được báo trước  từ Vườn Địa Đàng sẽ đạp giập đầu  rắn Sa Tan, đang có mặt và luôn luôn hành động  với Chúa Ky Tô. Muốn dự Thánh Lễ cho nên, cần phải thân mật kết hợp với Đức Mẹ” ( Thủ Bản Legio – Chương 8 câu số 88 ).

Tại  sao  cần  kết hợp với Đức Mẹ để được Ơn Cứu Rỗi ? Xin thưa đó là vì Đức Maria đã được tiên báo từ muôn thuở  là Người Nữ đạp giập đầu rắn Sa Tan: “ Đức Giehova phán với con rắn: Ta sẽ làm cho mày cùng Người Nữ. Dòng dõi mày cùng dòng dõi Người Nữ nghịch thù nhau. Người sẽ giày đạp đầu mày, còn mày thì sẽ rình cắn gót chân Người” ( St 3, 14 -15 ).

Lời tiên báo này cho thấy  một cuộc chiến tâm linh sẽ  diễn ra giữa dòng dõi Đức Maria Vô Nhiễm Nguyên Tội  và  dòng dõi  của quỷ Sa Tan. Dòng dõi Đức Maria bao gồm những người tin theo Đức Giê Su Ky Tô. Còn dòng dõi Sa Tan là những người không tin, phục Ngài. Cuộc chiến tâm linh ấy tuy âm thầm nhưng hết sức khốc liệt diễn ra trong suốt  lịch sử  Cứu Độ, từ ngày  xuất sinh nơi đời của Đức Giê Su Ky Tô cho tới  thời  tận cùng hiện nay.

Để khởi đầu cho công cuộc rao giảng Tin Mừng, Đức Giê Su đã kêu gọi  lòng tin và sự sám hối, ăn năn: “ Thời đã mãn, Nước Thiên Chúa đã gần, các ngươi hãy ăn năn sám hối và tin vào Tin Mừng” ( Mc 1, 15 ). Sám hối và tin vào Tin Mừng của Đức Ky Tô luôn gắn bó mật thiết với nhau. Có thực lòng sám hối ăn năn chừa cải tội mình thì mới có thể có được lòng tin vào Tin Mừng, lý do bởi  vì Tin Mừng của Đức Ky Tô là về Nước Trời Mầu Nhiệm Nội Tại ( Lc 17, 20 -21 ).

Việc ăn năn, sám hối tội mình đó chính là  Tu mà tu  tức là sửa là cải thiện đời sống mình chứ chẳng phải điều chi khác. Cần phải TU thì mới có thể tin vào Tin Mừng của Đức Ky Tô, trái lại thì không. Cũng chính bởi đã nhận thức được ý nghĩa của việc TU  như thế  nên  các bà mẹ  được nêu trong thiên luận này mới mong mỏi cho con mình theo đuổi  con đường  Tu Trì  hầu đạt đến hạnh phúc viên mãn Nước Trời.

Với các người mẹ trần gian đã  thế thì Đức Maria Người Mẹ Tâm Linh cũng vậy, nhưng trổi vượt hơn rất  nhiều. Ngài đã dâng Con Mình là Đức Giê Su để   nên  như một…tế vật  dù biết là Người Con Chí Thánh ấy sẽ bị người ta giết chết cách vô cùng đau đớn. Suy tư về mầu nhiệm lớn lao này, thánh Ambrosio  nói: “ Dưới chân Thánh Giá, khi Mẹ nhìn đến các thương tích  của  con  với cặp mắt Mẹ Hiền. Điều Mẹ nghĩ tưởng không phải là cái chết của con yêu dấu nhưng là phần rỗi nhân thế” ( M.V Bernadot O.P – Mẹ Trong Đời Tôi ).

Đức Maria đã dâng con mình là Chúa Giê Su lên Chúa Cha  như một…tế vật và   muốn chúng ta là dòng dõi của Ngài cũng phải hiến dâng cuộc đời mình  như vậy. Hiến dâng cuộc đời mình ở đây có nghĩa là TU mà Tu theo Chúa  có nghĩa là Bỏ Mình, vui lòng  vác thập giá theo Ngài ( Lc 9, 20 ).

Thập giá là một thứ khổ hình dành cho tử tội, như vậy, vác thập giá theo Chúa là  hành vi  hết sức khó. Tuy nhiên một khi Chúa Giê Su đã nói vậy thì phải đúng như vậy, có nghĩa phải vui lòng chịu khổ vì Chúa  trong mọi hoàn cảnh thì mới có thể  thoát khổ, không còn con đường nào khác ?

Trong những lần Đức Mẹ hiện ra trên khắp thế giới, Ngài chỉ có một  Thông Điệp duy nhất đó là kêu gọi con cái mình hãy  sám hối, ăn năn cải chừa tội lỗi, thế nhưng dường như người ta vẫn… bưng tai, nhắm mắt làm ngơ. Vào  ngày 13/10/ 1980, Đức Mẹ hiện ra tại  Nicaragua nói với  một nông dân tên là Bernado Martinez: “ Con đã xin những điều không quan trọng. Hãy xin đức tin, để mỗi chúng con có sức mạnh để vác thánh giá của chúng con. Những đau khổ của thế gian này không thể nào cất khỏi chúng con. Những đau khổ chính là  thánh giá chúng con phải chịu” ( Lm Rene’ Laurentin – Những Lần Hiện Ra Của Đức Trinh Nữ Maria ).

Đau khổ ở cõi thế gian này không thể kể xiết nhưng nếu  thực tâm tin vào Chúa Giê Su Ky Tô, Đấng đến để cứu vớt những kẻ tội lỗi, bất toàn và  hết lòng cậy trông nơi Đức Maria  thì  tất cả chúng ta sẽ được cứu thoát. Thánh Benado, tiến sĩ Hội Thánh nói: “ Theo chân Mẹ, bạn không lạc lối, kêu cầu Mẹ, bạn không thất vọng, nhớ tưởng Mẹ, bạn không mê lầm. Tựa váo Mẹ, bạn không sợ ngã. Mẹ chở che,  bạn không khiếp sợ. Mẹ dẫn dắt, bạn không nản lòng thối chí. Nhờ Mẹ, bạn về tới bến”  ( Sách Vàng  của thánh G. De Monfort – Senatus Sài Gòn Xuất Bản )./.

 

Phùng  Văn  Hóa

 

( Thân tặng cha Giu Se Lê Quang Uy DCCT )

 

 

 

 

 

 

 

THƠ: THÁNG NĂM – THÁNG HOA KÍNH MẸ MARIA

TỪ THÁNG NĂM ĐẾN THÁNG MƯỜI - HOA NGŨ SẮC MÂN CÔI DÂNG LÊN MẸ

Thưa quý vị và các bạn, Hoa Mân Côi chính là Hoa Hồng, hoa hồng tự nhiên có ngũ sắc, là hoa  hồng trắng, hoa hồng vàng, hoa hồng đỏ, hoa hồng hường, hoa hồng dương.

Ngũ sắc hoa hồng, tượng trưng cho năm Châu Lục, mỗi Châu Lục có một màu, màu đỏ tượng trưng cho Thiên Chúa, vì, Ngài là Tình Yêu, màu trắng tượng trưng cho sự trinh trắng, thánh khiết, màu vàng tượng trưng cho sự giàu sang, vương quyền, màu hồng, (hường) chỉ sự vui mừng, hân hoan, vui tươi, vui vẻ, màu của hy vọng, màu xanh dương tượng trưng cho nhân loại, thưởng chỉ cho màu áo Đức Bà. Thực ra, màu xanh dương, xanh nước biển, hay xanh da trời là màu chỉ cho nhân loại, vậy màu dương chỉ cho Đức Bà là Mẹ đại diện cho nhân loại.

Nhìn lên màu sắc, chúng ta đọc được sự phân biệt rõ ràng đặc tính của ý nghĩa. Tại sao màu xanh dương chỉ về Đức Mẹ là như vậy. Vì, Đức Mẹ là nhân loại, là thụ tạo, nhưng Mẹ là một thụ tạo đặc biệt và Mẹ đại diện cho nhân loại. Bầu trời cũng là một tạo vật, đại dương cũng là một tạo vật, nhưng , những tạo vật ấy không có sự sống Thần Linh, đó là linh hồn. Linh hồn là sự sống Thiên Tính từ Thiên Chúa gọi là Thần Khí, tức sự sống từ Thiên Chúa. Vì, Thiên Chúa là Chủ của Sự Sống, là Nguồn của Sự Sống và Sống Hằng Hữu.

Đức Mẹ được thông phần Thiên Tính với Thiên Chúa nhờ lời XIN VÂNG, và trung tín tuyệt đối với Thiên Chúa, Mẹ được đại diện nhân loại đáp lại sự cộng tác, tức hiệp thông với Thiên Tính Chúa Giê-su, Ngôi Hai Thiên Chúa, hầu Người trở nên phần Nhân Tính nhờ Đức Mẹ, là Mẹ của Người.

Mẹ sinh ra phần Nhân Tính của Một Ngôi Vị Thiên Chúa tự nguyện Nhập Thể Làm Người để Ờ CÙNG NHÂN LOẠI.

Thiên Chúa đã thể hiện một tình yêu tuyệt đối dành cho nhân loại. Nhờ sự mời gọi cộng tác, và lời đáp trả XIN VÂNG của Đức Trinh Nữ Maria, mà ƠN CỨU ĐỘ hình thành, tức MẦU NHIỆM TRUYỀN TIN và tiếng thưa “XIN VÂNG” cùng sự trung tín của Mẹ.

Từ đó, Mầu Nhiệm KINH MÂN CÔI là một CHUỖI HÀNH TRÌNH Truyền Tin – Nhập Thể- Nhập Thế Khổ Nạn – Cứu Chuộc và PHỤC SINH –Thăng Thiên – Ban Chúa Thánh Thần.

Và, Đức Mẹ được rước lên Trời Hồn – Xác, tức phần ân thưởng của Thiên Chúa trên Trời dành cho Mẹ.

Theo đó, mỗi chục của Kinh Mân Côi tượng trưng cho một màu sắc của Châu Lục để cầu nguyện cho thế giới. Như vậy, trên thế giới có năm Châu, thì ngũ sắc tượng trưng cho một Châu nơi mội chục Kinh Mân Côi.

Trước đây Chuỗi Kinh Mân Côi có Ba Mùa, VUI - THƯƠNG – MỪNG, Theo 150 Thánh Vịnh, nên có 150 Kinh Mân Côi, song Thánh Giáo Hoàng Giao Phaolo II đã sáng tác Mùa Thứ Bốn, đó là Mùa Sáng. Năm Sự Sáng nhắc nhớ Mầu Nhiệm Hành Trình Rao Giảng và Phép Lạ Thánh Thể mà Chúa Giê-su đã thiết lập.

Như vậy, hiện tại có Bốn Mùa VUI – SÁNG – THƯƠNG – MỪNG, chứ không phải Ba Mùa, rõ ràng , Chuỗi Mân Côi thích ứng với bốn mùa XUÂN – HẠ - THU – ĐÔNG, và hai trăm Hạt Mân Côi, chứ không phải là trăm năm mươi Hạt, và mỗi tràng năm mươi Hạt, của một Mùa, mỗi chục tượng trưng một sắc màu của một Châu Lục . Màu sắc giúp cho người đọc dễ lần Hạt, dễ nhớ cầu nguyện cho thế giới.

Tháng Năm, Tháng Hoa bắt đầu kính nhớ Kinh Mân Côi là kính nhớ Đức Mẹ, đã chi bảo đàng lành cho con cái nhân loại một phương pháp cầu nguyện bằng cách kính nhớ các Mầu Nhiệm của Phúc Âm. Và liên tiếp cho đến Tháng Mười, Tháng Mân Côi.

Như vậy,

Tháng Hoa ngũ sắc kính Mừng Mẹ

Từng chục lời Kinh Hoa Mân Côi

Năm chục ngũ sắc từng lời dâng

Mỗi chục một màu dễ nhắc nhớ

In đậm trong tim mỗi một màu

Từng Châu Lục Mẹ ơi, xin kính nhớ

Mỗi màu sắc nhớ từng Châu Lục

Xin Mẹ thương che chở và cầu bàu

Bốn Mùa VUI – SÁNG –THƯƠNG – MỪNG rất rõ

Như XUÂN – HẠ - THU – ĐÔNG rõ bốn mùa

Mỗi chục một sắc thật rực rỡ

Ôi, Kinh Mân Côi thật phép mầu

Siêng năng Lần Hạt quanh bốn mùa

VUI – SÁNG – THƯƠNG – MỪNG dù nắng mưa

XUÂN – HẠ - THU – ĐÔNG quanh ngày tháng

Hai mùa Thường Niên, một Mùa Chay

Một Mùa Giáng Sinh, Mùa Phục Sinh

Một Mùa Vọng, Mùa chờ mong Chúa đến

Kinh Mân Côi giúp sốt mến TIN –YÊU

Lời Kinh vang vọng sớm chiều

Lời Kinh điệp khúc TIN – YÊU hằng ngày

Kinh Mân Côi, lời Mẹ dạy

Siêng năng Lần Hạt đẹp thay lời cầu

Nhớ lời Đức Mẹ thật sâu

Hồn con thanh thoát lời cầu Mân Côi

Mân Côi phương tiện Nhiệm Mầu

Cầu cùng Đức Mẹ chuyển cầu ơn thiêng

Mân Côi Chuỗi Thánh diệu huyền

Càng Lần say mến, càng tăng lòng thành

Xin cho nhiều người siêng năng

Lần Hạt thật thắm, thật lòng  TIN – YÊU

Lần Hạt, Kinh mỗi sớm chiều

Thần tiên còn kém, nhân trần gì hơn?

Phương tiện giúp ích linh hồn

Lần Hạt phương thế là phương trọn lành./.

 

AVE MARIA.

04/05/2026

P.A Trần Đình Phan Tiến

ĐỨC MARIA LÀ MẸ THIÊN CHÚA


Trong Kinh Tin Kính, chúng ta tuyên xưng: “Tôi tin kính một Thiên Chúa là Cha toàn năng, Đấng tạo thành trời đất muôn vật hữu hình và vô hình.” Điều này có nghĩa Ngài là Alpha và Omega - Nguyên Thủy và Cùng Đích - như vậy gọi Đức Maria là “mẹ” của Ngài có phải là xúc phạm và vô lý không? Nhưng cái vô lý đó lại là một tín điều mà người Công Giáo buộc phải tin, nếu không tin thì không phải là người Công Giáo. 

Theo lịch sử các tín điều về Thánh Mẫu Học, Thiên Chúa đã chuẩn bị cho Đức Trinh Nữ Maria 4 đặc ân vượt trên các thần thánh và mọi loài thụ tạo. Đây cũng là những hồng ân mà trí tưởng tượng và sự hiểu biết của con người không thể cắt nghĩa và hiểu nổi, nên phải dùng đến đức tin. Giáo Hội gọi đây là 4 tín điều thuộc về Đức Maria: 

1-Mẹ Thiên Chúa

2-Đầu Thai Vô Nhiễm Nguyên Tội

3-Trọn Đời Đồng Trinh

4-Hồn Xác Lên Trời

 

Tín điều thứ nhất Mẹ Thiên Chúa được Công Đồng Ephesus tuyên tín năm 431 A.D. Tín điều này nhằm phủ nhận tư tưởng của Nestorius, tổng giám mục Constantinople, chủ trương rằng Đức Maria chỉ nên được xưng tụng là Christotokos hay “Người sinh ra Đức Kitô”, nhưng không được xưng là Theotokos hay “Mẹ Thiên Chúa”. Trong tuyên tín của mình, Công Đồng xác tín rằng Đức Maria là mẹ của toàn Con Người của Chúa Giêsu Cứu Thế, không chỉ nguyên phần xác. Ba tín điều sau lần lượt được tuyên tín bởi các triều đại giáo hoàng khác nhau: 

Trọn Đời Đồng Trinh tuyên tín bởi Công Đồng Constantinople thứ hai năm 553 và Công Đồng Lateran năm 649. Tại Công Đồng năm 553, Đức Maria được tuyên xưng danh hiệu “Aeiparthenos” có nghĩa là “Trọn Đời Đồng Trinh”. Còn ở Công Đồng Lateran, Người được tuyên xưng là đồng trinh trước khi mang thai, đang khi mang thai, và sau khi sinh hạ Đức Giêsu. 

Đầu Thai Vô Nhiễm tuyên tín bởi Đức Giáo Hoàng Piô IX năm 1854. Đức Maria ngay từ giây phút đầu tiên trong lòng thân mẫu đã được miễn nhiễm Nguyên Tội. 

Lên Trời Cả Hồn Lẫn Xác tuyên tín bởi Đức Giáo Hoàng Piô XII năm 1950. Mẹ được Chúa đưa về trời cả hồn lẫn xác.   

KHÁI NIỆM VỀ MẸ THIÊN CHÚA 

Maria là Mẹ Thiên Chúa. Nghe thì khó hiểu mà đúng ra là chẳng ai có thể hiểu nổi. Chính Đức Maria đã thưa với tổng thần Gabriel trong ngày Truyền Tin: “Này tôi là nữ tỳ của Thiên Chúa.” (Luca 1:38). Vừa là nữ tỳ lại vừa là mẹ. Nhưng đã là đối tượng của đức tin thì trí khôn con người làm sao mà hiểu thấu! Chúa Giêsu khi nói về mối tương quan giữa trí khôn nhân loại và những việc làm của Thiên Chúa cũng đã nói với người Do Thái đương thời: “Nếu Ta nói với các ngươi những chuyện dưới đất, mà các ngươi không tin, làm sao các ngươi tin nổi nếu ta nói cho các ngươi những sự trên trời.” (Gioan 3:12) 

Tuy nhiên, nếu trí khôn con người không tìm được câu trả lời, thì với những tâm hồn đơn sơ lại có thể chấp nhận: “Vì Cha đã dấu những sự này với kẻ khôn ngoan và thông thái, mà lại mặc khải cho những kẻ bé mọn.” (Mátthêu 11:25) Điều này cũng tương tự như câu chuyện đã xảy ra không lâu tại nhà một người bạn.    

Hôm đó trong buổi họp mặt thân mật của một nhóm anh em thân hữu. Sau khi bữa tiệc xong đến phần mọi người ngồi uống nước trà, thì chủ nhà mới hỏi mọi người một câu mà có lẽ nhắm tới một trong hai anh trước đây đã từng có thời “ăn cơm Chúa” nhưng nay lại múa tối ngày cho “vợ”. Câu hỏi đại khái: “Mình hỏi các anh, tại sao Đức Mẹ là người thường mà lại được gọi là mẹ của Thiên Chúa? Không lẽ Đức Mẹ sinh ra Thiên Chúa?” 

Hai anh được hy vọng có câu trả lời đều ngồi im lặng, và mọi người cũng không ai trả lời. Bầu khí xem như hơi căng thẳng, và câu hỏi hơi đột ngột hôm ấy đã không có câu trả lời nếu một anh trong nhóm không lên tiếng.   

-Em xin góp ý theo sự hiểu biết bình thường của em, một tư tưởng không mang vốn liếng thần học, chỉ căn cứ vào niềm tin chân thành của một người. Nhưng trước hết, em cũng hỏi anh chủ nhà là đã có gia đình và được mấy con rồi?

-Hai đứa, một gái và một trai.

-Anh gọi hai đứa đó là gì?

-Là con.

-Và hai đứa đó gọi anh là gì?

-Là bố.

-Nhưng anh có sinh ra linh hồn hai đứa đó không?

-Làm sao được, vì linh hồn thiêng liêng và do Thiên Chúa tạo dựng.

 

Im lặng một chút, bạn tôi nói; 

-Vậy câu trả lời của em là như thế này: Anh không sinh ra được linh hồn các con của anh, nhưng hai đứa con ấy vẫn là con anh, và anh vẫn là bố của chúng nó. Tương tự vậy, Mẹ Maria không sinh ra thiên tính của Chúa Giêsu vì thiên tính ấy phát xuất từ Chúa Cha, nhưng Mẹ chính thật là mẹ của Chúa Giêsu đấng vừa là Thiên Chúa vừa là người thật. Đã là mẹ thì là mẹ toàn thể con người, và đó là lý do mà Thiên Chúa làm Con Đức Mẹ. Điều này vừa mang ý nghĩa thần linh, vừa có tính cách nhân loại. 

Ý tưởng về Mẹ Thiên Chúa là gì?

Tư tưởng của bạn tôi cũng phần nào nói lên quan điểm thần học, đó là khi Đức Maria sinh Chúa Giêsu Cứu Thế, Con Người Thần Linh (divine person). Dù Đức Maria không phải “nguyên thủy” (originate) hoặc “sinh ra” (generate) Thiên Chúa mà chỉ mang Ngài trong dạ và sinh Ngài ra, thì vẫn là Mẹ của Thiên Chúa. Công Đồng Ephesus năm 431 đã xác nhận điều này. 

Phúc Âm nói gì về Mẹ Thiên Chúa?

Mặc dù Kinh Thánh không nói đến từ “Mẹ Thiên Chúa”, nhưng chúng ta có thể tìm được ý nghĩa của từ này trong Tin Mừng của Thánh Luca khi chị họ là Elizabeth chào Đức Maria liền sau khi Người mang thai Chúa và đến thăm bà: “Bởi đâu tôi thật có phúc, là Mẹ của Chúa tôi đến thăm tôi.” (1:43) Danh xưng “Mẹ Thiên Chúa” căn bản trên giáo lý Nhập Thể, cũng có nguồn gốc trong thư Thánh Phaolô gửi Giáo Đoàn Galatians: “Nhưng khi thời gian viên mãn, Thiên Chúa sai Con của Ngài, sinh bởi một người nữ, sinh dưới chế độ luật.” (4:4) 

Thần Học Mẹ Thiên Chúa?

Căn cứ vào nguồn gốc Thánh Kinh, Sách Giáo Lý Giáo Hội Công Giáo dạy rằng “Maria thật sự là ‘Mẹ Thiên Chúa’ vì Mẹ là mẹ của người Con muôn thuở của Thiên Chúa nhập thể, Đấng là chính Thiên Chúa”. Theo lời dạy của Giáo Lý, từ nguồn Tin Mừng Gioan 1:1-14, Đức Maria không tạo dựng nên con người thần linh của Chúa Giêsu, Đấng hiện hữu với Chúa Cha từ muôn thuở. 

Vậy Đức Maria lại trở nên Mẹ Thiên Chúa có nghĩa là Người đã tạo dựng Thiên Chúa bằng cách sinh ra Chúa Giêsu. Một cách căn bản, Chúa Kitô là người thật và là Chúa thật. Là một phần trong chương trình đặc biệt được Thiên Chúa tuyển chọn, Đức Maria xứng đáng với danh hiệu đáng tôn kính là Mẹ Thiên Chúa. 

LỊCH SỬ LỄ MẸ THIÊN CHÚA 

Lịch sử Lễ Mẹ Thiên Chúa có thể tóm lược theo những biến cố từ sau Công Đồng Ephesus năm 431 đã tuyên tín Mẹ là Mẹ Thiên Chúa. 

Công Đồng Vatican II tuyên bố: “Một cách rõ ràng từ những thời gian của buổi ban đầu, Trinh Nữ Rất Thánh đã được tôn vinh dưới danh hiệu Mẹ Thiên Chúa.” Và ngay từ đầu Giáo Hội Công Giáo Rome đã cử hành lễ kính Mẹ vào ngày 1 tháng Giêng tính theo tuần bát nhật Giáng Sinh. Theo Tin Mừng Luca 2:21, đó cũng là thời gian Con Trẻ được cắt bì và được đặt tên là Giêsu. 

Thế kỷ 13 hoặc 14, ngày Con Trẻ được cắt bì và đặt tên được cử hành tại Rome, Tây Ban Nha, và Gaul.  

Từ năm 1751, lễ Cắt Bì cho Con Trẻ được Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XIV cho phép Giáo Hội Bồ Đào Nha cử hành vào Chúa Nhật I của tháng Năm. Lễ này lan rộng đến nhiều quốc gia trong hai thế kỷ kế tiếp.  

Thánh Giáo Hoàng Gioan XXIII, theo lịch chung Roma năm 1950 đã bỏ không nói đến việc cắt bì Chúa Giêsu, và đã gọi ngày 1 tháng Giêng là cuối tuần Bát Nhật Giáng Sinh. Và năm 1974, Thánh Giáo Hoàng Phaolô VI thay thế lễ Chúa Chịu Cắt Bì bằng lễ trọng kính Đức Maria Mẹ Thiên Chúa. Ngày 1 tháng Giêng cũng được gọi là Ngày Hòa Bình Thế Giới. 

LỄ KÍNH 

Lễ Mẹ Thiên Chúa được cử hành long trọng trên toàn thể Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ, và một số các giáo hội khác. 

1 tháng Giêng bởi Giáo Hội Công Giáo. 

16 tháng Giêng bởi Giáo Hội Chính Thống Coptic và Giáo Hội Chính Thống Nguyên Thủy (Oriental Orthodox). 

15 tháng Tám bởi Cộng Đồng Anh Giáo. 

26 tháng Mười Hai bởi Giáo Hội Byzantine, nghi lễ Tây Syriac cũng gọi là Nghi Lễ Syro-Antiochian, Đông theo nghi lễ Syriac cũng còn gọi là Nghi Lễ Edessan, Assyrian, Persian, Chaldean, và Nestorian…Mỗi nghi lễ đại diện cho một ngành Tín Hữu Đông Phương với lịch sử mở mang và thực hành của nó. 

Kính chào Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa, kho tàng quý giá của toàn thể vũ trụ, ngọn đèn không bao giờ tắt, vương miện của sự đồng trinh, nâng đỡ đức tin chân thật, đền thờ không thể phá hủy, nơi ngự trị của đấng các tầng trời không thể chứa nổi. Ôi Mẹ và Đấng Đồng Trinh! Qua Mẹ tất cả mọi Phúc Âm đều tôn vinh Đấng đã đến nhân danh Thiên Chúa.

 

Lễ Mẹ Thiên Chúa

1 Jan. 2025 

Tiến Sĩ Tâm Lý Trần Mỹ Duyệt