3. Sống & Chia Sẻ Lời Chúa

Chúa Ba Ngôi trong đời sống người tín hữu

Phụng vụ Giáo hội hôm nay mừng kính trọng thể Một Đức Chúa Trời có Ba Ngôi, Ngôi Nhất là Cha. Ngôi Hai là Con. Ngôi Ba là Thánh Thần. Câu hỏi được đặt ra là: Làm sao chúng ta có thể hiểu được Một Đức Chúa Trời có Ba Ngôi.

Bài giáo lý thuộc lòng   

Thủa thiếu thời, trước khi bước vào Thánh lễ Chúa nhật, sau phần Kinh Sáng Tối, mọi người lại cùng nhau cất lên : Bổn dạy những lẽ cần cho được rỗi linh hồn. Phần thứ I… bắt gặp câu :

Hỏi. Có mấy sự mầu nhiệm rất cần phải tin cho được rỗi linh hồn?

Thưa. Có Ba Sự Mầu Nhiệm này : một là sự Đức Chúa Trời Ba Ngôi...

Lớn lên tôi mới hiểu đây là Một trong Ba Mầu Nhiệm phải tin cho được rỗi linh hồn. Thảo nào, những câu hỏi mà người học ai cũng được hỏi và buộc phải trả lời chính xác là :

Hỏi. Có nhiều Đức Chúa Trời chăng ?

Thưa. Có một Đức Chúa Trời mà thôi.

Đức Chúa Trời có mấy Ngôi?

Đức Chúa Trời có Ba Ngôi : Ngôi Nhất là Cha. Ngôi Hai là Con : Ngôi Ba là Thánh Thần.

Ngôi Nhất là Cha, có phải Đức Chúa Trời chăng ?

Phải.

Ngôi Hai là Con, có phải Đức Chúa Trời chăng ?

T.Phải.

H.Ngôi Ba là Thánh Thần, có phải Đức Chúa Trời chăng ?

Phải.                                          

Nếu vậy có phải ba Đức Chúa Trời chăng ?

Chẳng có, vì Ba Ngôi cũng một tính, một phép, vậy có một Đức Chúa Trời mà thôi.

Ba Ngôi, có Ngôi nào trước, Ngôi nào sau, Ngôi nào hơn, Ngôi nào kém chăng ?

Ba Ngôi cũng bằng nhau. (Sách Bổn Địa Phận Hà Nội tr. 11)

Những câu hỏi thưa nói trên là bản tóm tắt tuyệt vời đầy đủ, dễ hiểu về Thiên Chúa Ba Ngôi. Ba Ngôi bình đẳng, đồng tồn tại vĩnh cửu, tuy riêng biệt nhưng cùng một bản thể và một uy quyền ngang nhau, nên Ba Ngôi chỉ là một Thiên Chúa mà thôi.

Một Đức Chúa Trời có Ba Ngôi

Khi bước vào khoa Thần học, tôi được dạy và đọc thấy các nhà thần học suy tư về Một Thiên Chúa có Ba Ngôi. Chúa Cha là Thiên Chúa độc nhất. Chúa Con sinh bởi Đức Chúa Cha từ trước muôn đời. Chúa Thánh Thần phát xuất từ Chúa Cha và Chúa Con tự đời đời như một Nguyên lý duy nhất, Ba Ngôi nhưng là Một Thiên Chúa hòa quyện vào nhau một cách hoàn hảo trong Tình Yêu và hành động, cùng tác động trên thế giới. Thật khó có thể hiểu được, nếu Thiên Chúa không ban ơn cho ta biết được mầu nhiệm ấy khi Ngài tự mạc khải là Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần.

Theo thánh Augustinô thì : “Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần thuộc về một bản thể duy nhất và đồng nhất, là Thiên Chúa sáng tạo, là Ba Ngôi toàn năng” (x.Giáo lý về Chúa Ba Ngôi, IV, xxi, 30). Do thuộc cùng một bản thể, Ba Ngôi ngang hàng với nhau đến nỗi “Chúa Cha không lớn hơn Chúa Con về thần tính, Chúa Cha và Chúa Con cùng với nhau cũng không lớn hơn Chúa Thánh Thần, từng Ngôi riêng biệt cũng không kém hơn chính Ba Ngôi” (x.Giáo lý về Chúa Ba Ngội, VIII ). Chúa Cha là Thiên Chúa, Chúa Con là Thiên Chúa, Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa. Tuy nhiên đó không phải là ba Thiên Chúa, nhưng chỉ có một Thiên Chúa duy nhất là chính Ba Ngôi (x.Giáo lý về Chúa Ba Ngôi, V, viii, 9).

Tương quan giữa Ba Ngôi phân biệt, nhưng không phân chia sự duy nhất. Chúa Cha luôn luôn là Cha và Chúa Con luôn luôn là Con. Nếu có lúc Chúa Con bắt đầu là Con thì một ngày nào đó sẽ thôi là Con. Nếu Chúa Cha có khởi đầu là Cha thì có lúc thôi là Cha. Chúa Cha chỉ được gọi là Cha do Ngài có một người Con, và Chúa Con chỉ được gọi là Con do Người có một người Cha. Vì vậy, cho dù có sự khác nhau giữa việc làm Cha và làm Con, bản thể lại không khác nhau, vì các Ngài không được gọi như thế xét về bản thể, nhưng là về tương quan, và tương quan này không phải là một tùy thể vì nó không thay đổi” (x.Giáo lý về Chúa Ba Ngôi, V, v, 6).

Lễ này là dịp tốt để chúng ta ý thức được sự hiện diện của Ba Ngôi bao trùm toàn bộ đời sống người Kitô hữu chúng ta.

Ba Ngôi trong đời sống người tín hữu

Trước khi lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy, mỗi người chúng ta đều được ghi Dấu Thánh Giá nhân danh Thiên Chúa Ba Ngôi. Liền sau đó sẽ được thẩm vấn và đòi buộc tuyên xưng niềm tin vào Chúa Ba Ngôi, có tin Chúa Cha Toàn Năng, Đấng tạo dựng trời đất… có tin Chúa Con là Đức Giêsu Kitô, Con Một Thiên Chúa, sinh bởi Đức Chúa Cha…có tin kính Đức Chúa Thánh Thần là Thiên Chúa ? Câu trả lời cho cả ba câu hỏi trên sẽ là, “Thưa có.” Vẫn Nhân Danh Cha và Con và Thánh Thần khi cử hành Bí tích Hôn nhân, người nam và người nữ được ràng buộc nên vợ nên chồng khi trao nhẫn cho nhau. Vào cuối đời, chúng ta cầu nguyện nhân Danh Thiên Chúa Cha đã tạo dựng, Chúa Con đã cứu chuộc và Chúa Thánh Thần đã thánh hóa ban cho người qua đời được hưởng phúc trường sinh.

Và cứ thế, hằng ngày, biết bao lần chúng ta tuyên xưng Thiên Chúa Ba Ngôi, từ khi thức dậy cho đến khi đi ngủ, bước vào nhà thờ cho đến lúc nhận lãnh phép lành, trước và sau khi ăn, khi đi ngang qua Thánh Giá, vườn thánh, trước cơn cám dỗ nguy hiểm … chúng ta đọc kinh Vinh Danh, kinh Sáng Danh, kinh Tin Kính… nhất là chúng ta làm Dấu Thánh Giá nhân danh Thiên Chúa Ba Ngôi, cho thấy toàn thể thân xác cũng như linh hồn ta, tất cả con người ta được thánh hiến nhân danh Một Chúa Ba Ngôi và Thiên Chúa Ba Ngôi bao trùm toàn bộ đời sống ta.

Xin dâng lời tôn vinh chúc tụng, Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, xin tôn vinh chúc tụng muôn đời. Amen.

Lm. An-tôn Nguyễn Văn Độ

Dấu Ấn Ba Ngôi

Mỗi ngày ta ghi dấu thánh giá lên thân thể mình đi liền với việc tuyên xưng mầu Nhiệm một Chúa Ba Ngôi nhiều lần.

Như vậy, khi ghi hình thánh giá đồng thời với việc tuyên xưng, chúng ta vừa ghi khắc Thánh Danh cực trọng, vừa ước nguyện được Chúa Ba Ngôi là Cha, Con và Thánh Thần lưu dấu sự thánh thiện của Người trên thân thể, trên mọi hoạt động và trên cả cuộc đời của ta.

Chúa Giêsu dạy ta biết mầu nhiệm một Chúa duy nhất Ba Ngôi. Cha là Đấng yêu Con và hằng sinh ra Con. Con là Đấng được yêu và được Cha sai vào thế gian. Thánh Thần là tình yêu nối kết Cha Và con.

Như vậy Thiên Chúa của Kitô giáo không phải là một ngôi vị đơn độc, nhưng là Ba Ngôi hiệp thông chặt chẽ với nhau. Ba Ngôi chia sẻ cho nhau mọi sự mình có: “Mọi sự Cha có đều là của Thầy” (Ga 16, 15).

Thiên Chúa vừa là một, vừa là ba. Hội Thánh cũng vừa duy nhất, vừa đa dạng. Nhờ đó sự duy nhất của Hội Thánh không đơn độc, không nghèo nàn, và sự đa dạng cũng không trở thành cớ chia rẽ.

Nếu sống là sống với tha nhân, sống cho tha nhân, sống nhờ tha nhân, thì Ba Ngôi là mẫu mực cho ta. Mỗi Ngôi đều không tìm mình, nhưng luôn hướng đến hai Ngôi còn lại và hướng về thụ tạo để trao ban chính mình cho thụ tạo. Từ đó tạo ra kuôn mặt riêng của từng Ngôi vị.

Mừng lễ Chúa Ba Ngôi, chúng ta chiêm ngắm sự hiện diện của Ba Ngôi ở nơi chính mình. Vì Chúa Giêsu đã từng nói: “Cha của Thầy và Thầy sẽ đến và ở lại nơi các con” (Ga 14, 23); “Thánh Thần ở bên và ở trong các con” (Ga 14, 17). Đây là tin mừng quá đỗi lớn lao: Thiên Chúa siêu việt, xa thẳm lại ở rất gần chúng ta, ở kề bên chúng ta. Chỉ cần quay vào nội tâm của chính mình, ta sẽ gặp được Ngài.

Dù đang sống trên trần thế, mỗi người cần ghi khắc: mình có vận mạng đời sau. Vận mạng ấy cắm chặt vào tình yêu, sự hiện diện, quyền năng của Ba Ngôi.

Vì thế, hôm nay còn sống trên đời, chúng ta cần đặt Thiên Chúa trước mắt mình, trong trung tâm của đời sống mình, để bất luận làm gì, nghĩ gì, thể hiện điều gì, thì luôn là những hoạt động trong Chúa, hoạt động với tình yêu, hoạt động để càng ngày càng tiến tới sự thánh thiện, và nhằm đích đến là muôn đời sống trongThiên Chúa.

Hãy nhớ, chỉ những hoạt động nhân danh Ba Ngôi tình yêu, được khơi nguồn từ chính nguồn mạch tình yêu Ba Ngôi, được thúc đẩy bởi tình yêu Ba Ngôi, được nuôi dưỡng bằng tình yêu Ba Ngôi, được thực hiện vì tình yêu tuyệt đối ấy, ta mới thực sự được giải phóng khỏi mọi cám dỗ, khỏi sự dữ gieo rắc tội lỗi, từ đó bản thân mới có thể đổi mới mình, đổi mới xã hội, và mang lại cho trần đời sự sống và hạnh phúc đích thực.

Khi làm được những điều ấy, ta mới thực sự sống mầu nhiệm Ba Ngôi một cách đúng đắn và tích cực. Và chỉ như thế, mầu nhiệm cực trọng này mới trở thành trung tâm niềm tin của chính bản thân ta.

Lạy Chúa Ba Ngôi, Ngài là mẫu mực của tình yêu. Xin cho chúng con biết yêu thương nhau, để tình yêu của chúng con cũng trở thành mẫu mực của tình yêu cho thế giới.

Lạy Chúa Ba Ngôi, xin cho chúng con tin vào sự hiện diện của Chúa sâu thẳm trong tâm hồn chúng con, để khi biết rằng chính Chúa ngự trong tâm hồn mình, chúng con biết xa lánh tội lỗi, xa lánh mọi cám dỗ. Nhờ đó chúng con xứng đáng lãnh nhận hồng ân sự sống Ba Ngôi và có thể chứng minh tình yêu của Chúa cho thế giới chúng con đang đồng hành.

Lm JB NGUYỄN MINH HÙNG

KHÔNG SỢ CHÚA - SỢ ĐÁM ĐÔNG

Thứ Bảy Tuần 8 Thường Niên A

“Chúng tôi không biết!”.

Khi cả nước tuyên thệ trước Henry VIII, công nhận vua là thủ lãnh tối cao của Giáo Hội Anh Quốc, Thomas More vẫn cự tuyệt. Ông chấp nhận mất địa vị, tự do và cả mạng sống hơn là phản bội lương tâm. More hiểu rằng vấn đề không nằm ở sự thật, nhưng ở nỗi sợ.

Kính thưa Anh Chị em,

Trong Tin Mừng hôm nay, các thượng tế, kinh sư và kỳ mục không trả lời câu hỏi của Chúa Giêsu bằng một lập luận, nhưng bằng một câu thoái lui: “Chúng tôi không biết!”. Thực ra, họ biết nhiều hơn điều họ dám nói. Họ ‘không sợ Chúa’, nhưng ‘sợ đám đông’. Vấn đề không nằm ở sự thật, nhưng ở nỗi sợ!

Câu hỏi của các thượng tế xuất hiện ngay sau khi Chúa Giêsu thanh tẩy Đền Thờ, đụng chạm trực tiếp đến trung tâm quyền lực tôn giáo tại Giêrusalem. Khi hỏi Ngài lấy quyền nào mà làm các điều ấy, họ không thực sự tìm kiếm một câu trả lời. Trong Marcô, exousia là quyền bính đến từ Thiên Chúa. Vấn đề là họ hiểu quá rõ hệ quả của câu trả lời ấy. Thừa nhận quyền bính của Chúa Giêsu cũng đồng nghĩa với việc phải xét lại quyền bính của chính mình. Vì thế, vấn đề của họ không phải là thiếu bằng chứng, nhưng là sợ hệ quả của bằng chứng. Giả vờ ‘không biết’ trước đòi hỏi của Tin Mừng là một hình thức phản bội tinh vi. “Chân lý không được quyết định bởi biểu quyết của số đông!” - Fulton Sheen.

Điều trớ trêu là câu trả lời “Chúng tôi không biết!” lại phát xuất từ những người biết quá nhiều. Họ không thiếu dữ kiện để kết luận, nhưng thiếu can đảm để kết luận. Vì thế, “không biết” ở đây không còn là một tình trạng tri thức, nhưng trở thành một nơi trú ẩn. Họ chọn sự an toàn của dư luận hơn sự đòi hỏi của chân lý.

Từ góc độ Kinh Thánh, nỗi sợ luôn đi theo khát vọng. Con người sẽ bảo vệ điều họ yêu thích và sợ mất nhất. Vì thế, giới lãnh đạo sợ đám đông vì họ đã gắn đời mình với quyền lực và sự công nhận. Trái lại, Thánh Vịnh đáp ca cho thấy một trật tự khác: “Linh hồn con đã khao khát Chúa!”. Khi Thiên Chúa trở thành khát vọng tối hậu, Ngài cũng trở thành nền tảng tối hậu, “Đấng có quyền năng gìn giữ anh em khỏi sa ngã và cho anh em đứng vững” - bài đọc một. Chỉ lúc đó, những nỗi sợ khác mới mất quyền chi phối. Vì nơi nào có nỗi sợ lớn nhất, nơi đó chính là ngẫu tượng bạn đang thờ lạy.

Anh Chị em,

Đức Kitô là phản đề của giới lãnh đạo tôn giáo. Ngài không cần ai xác nhận mình là ai. Khi dân chúng muốn tôn Ngài làm vua, Ngài lánh đi; khi đám đông hô “Đóng đinh nó đi!”, Ngài không thay đổi. Đức Kitô không sống bằng tiếng vỗ tay, cũng không chết vì những tiếng la ó. Ngài chỉ tìm và thi hành ý muốn của Cha. Chỉ khi Thiên Chúa là Đấng chúng ta yêu nhất, bạn và tôi mới thôi ‘sợ đám đông’ để biết ‘sợ Chúa’. “Tôi chết như một bề tôi trung thành của nhà vua, nhưng trước hết là của Thiên Chúa!” - Thomas More.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con núp sau những câu ‘con không biết!’. Cho con đủ can đảm để sống điều con đã biết và làm điều con phải làm!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

 

SỐNG TRONG TÌNH YÊU CỦA THIÊN CHÚA BA NGÔI

Bằng kinh nghiệm cá nhân, ai cũng biết, trong cuộc đời có nhiều điều rất khó giải thích, nhất là tình yêu. Một người mẹ thức đêm chăm con bệnh, một người cha âm thầm hy sinh cho gia đình, hay một người bạn chí tình vẫn ở bên lúc ta gặp khó khăn nhất. Nếu hỏi vì sao họ làm thế, câu trả lời nhiều khi chỉ có thể là: “Vì họ yêu.” Tình yêu được hiểu bằng trái tim hơn là bằng lý luận.

Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi cũng vậy. Con người luôn muốn hiểu Thiên Chúa, nhưng càng đến gần Ngài, họ càng nhận ra Ngài vượt quá trí hiểu giới hạn của mình. Con người có thể cảm nhận tình yêu và sự hiện diện của Thiên Chúa, nhưng không thể đóng khung Ngài trong những công thức lý trí.

Có câu chuyện đại ý như sau: thánh Augustinô đang khi đi dạo bên bờ biển và suy niệm về Chúa Ba Ngôi, ngài thấy một cậu bé dùng vỏ sò múc nước biển đổ vào một cái lỗ nhỏ, với mong muốn múc cạn hết được nước biển. Thánh nhân liền nói điều đó không thể thực hiện được. Cậu bé đáp: “Việc ngài đang muốn dùng trí óc nhỏ bé để hiểu biết trọn vẹn Thiên Chúa lại càng không thể thực hiện được.” Câu chuyện nhắc chúng ta rằng Thiên Chúa là mầu nhiệm Tình Yêu để cảm nghiệm, để sống với, chứ không phải là bài toán để giải đáp.

  1. Một Thiên Chúa duy nhất trong tình yêu

Hội Thánh dạy rằng chỉ có một Thiên Chúa, nhưng có Ba Ngôi vị: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Ba Ngôi khác biệt nhưng cùng chung một bản tính thần linh: “Chúng ta không tuyên xưng ba Thiên Chúa, nhưng một Thiên Chúa duy nhất có Ba Ngôi: Ba Ngôi đồng bản thể. Các Ngôi Vị Thiên Chúa không chia nhau một thần tính duy nhất, nhưng mỗi Ngôi Vị đều là Thiên Chúa trọn vẹn: Chúa Cha là gì thì Chúa Con là thế ấy, Chúa Con là gì thì Chúa Cha là thế ấy, Chúa Cha và Chúa Con là gì thì Chúa Thánh Thần là thế ấy, nghĩa là một Thiên Chúa duy nhất theo bản tính” (GLHTCG số 253). Đây là mầu nhiệm lớn nhất của đức tin Kitô giáo.

Lý trí con người quen với những con số rõ ràng, nhưng nơi Thiên Chúa, chúng ta không gặp một phép toán nhưng gặp một mầu nhiệm, mầu nhiệm tình yêu. Thiên Chúa không cô độc, nhưng là sự hiệp thông hoàn hảo.

Dù từ “Ba Ngôi” không xuất hiện trong Kinh Thánh, toàn bộ Tân Ước đều dẫn chúng ta đến chân lý ấy. Trong biến cố Truyền Tin, Chúa Cha sai thiên thần đến với Mẹ Maria, Chúa Con nhập thể và Chúa Thánh Thần ngự xuống trên Mẹ (Lc 1, 26-38). Khi Chúa Giêsu chịu phép rửa tại sông Giođan, Chúa Thánh Thần hiện xuống như chim bồ câu và tiếng Chúa Cha vang lên từ trời: “Khi Chúa Giêsu chịu phép rửa xong, vừa ở dưới nước lên, thì các tầng trời mở ra. Người thấy Thần Khí Thiên Chúa đáp xuống như chim bồ câu và ngự trên Người. Và có tiếng từ trời phán: Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người” (Mt 3, 16-17).

Trước khi lên trời, Chúa Giêsu còn truyền cho các môn đệ làm phép rửa: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (Mt 28,19). Từ thời các Tông đồ, Hội Thánh đã sống trong niềm tin ấy, và các Công đồng Nixêa cùng Constantinôpôli đã long trọng xác tín giáo lý về Chúa Ba Ngôi. *

Tuy vậy, điều quan trọng nhất không phải là giải thích được giáo lý ấy đến mức độ nào, nhưng là nhận ra rằng Thiên Chúa của chúng ta là Thiên Chúa của tình yêu hiệp thông.

  1. Chúa Ba Ngôi hiện diện trong đời sống người Kitô hữu

Nhiều người nghĩ mầu nhiệm Ba Ngôi quá cao siêu, nhưng thật ra không có giáo lý nào gần gũi với đời sống Kitô hữu hơn thế. Ngay từ Bí tích Rửa tội, chúng ta đã thuộc về Chúa Ba Ngôi. Mỗi lần làm dấu Thánh Giá, chúng ta tuyên xưng đức tin vào Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Mọi Thánh lễ và các Bí tích đều được cử hành nhân danh Thiên Chúa Ba Ngôi.

Điều đó cho thấy Kitô giáo không chỉ tin Thiên Chúa hiện hữu, nhưng còn sống trong tương quan với Ngài. Chúa Cha tạo dựng và chăm sóc chúng ta. Chúa Con cứu chuộc chúng ta bằng thập giá và sự phục sinh. Chúa Thánh Thần thánh hóa và đồng hành với chúng ta mỗi ngày.

Thánh Phaolô viết: “Một khi đã được nên công chính nhờ đức tin, chúng ta được bình an với Thiên Chúa, nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Vì chúng ta tin, nên Đức Giêsu đã mở lối cho chúng ta vào hưởng ân sủng của Thiên Chúa… Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta” (Rm 5, 1-2, 4).

Ba Ngôi Thiên Chúa không ở trên cõi trời cao xa, nhưng hiện diện trong chính tâm hồn ta. Chúng ta sống trong Chúa Cha, vì chính Ngài là nguồn cội của sự sống và là Đấng gìn giữ toàn thể vũ trụ từng giây phút. Mọi loài hiện hữu là nhờ tình yêu và quyền năng của Chúa Cha. Chúng ta sống với Chúa Con, vì Chúa Giêsu là Emmanuel, nghĩa là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”. Ngài đã đến làm người, bước vào cuộc sống con người, chia sẻ niềm vui, nỗi đau và luôn đồng hành với chúng ta. Chúa Thánh Thần sống trong chúng ta như ánh sáng soi dẫn tâm hồn, giúp chúng ta nhận ra điều thiện, thêm sức mạnh để chúng ta yêu thương và dẫn chúng ta đến gần Thiên Chúa hơn mỗi ngày. Chúng ta sống trong Thiên Chúa Ba Ngôi, sống với Thiên Chúa Ba Ngôi, sống nhờ Thiên Chúa Ba Ngôi và Thiên Chúa Ba Ngôi sống trong chúng ta. Đó là điều kỳ diệu của đời người Kitô hữu.

  1. Chúa Ba Ngôi là mẫu gương cho các tương quan con người

Thế giới hôm nay đề cao chủ nghĩa cá nhân. Người ta dễ sống theo kiểu “tôi là trung tâm”, nên nhiều mối tương quan đổ vỡ vì ích kỷ, đố kỵ và ganh ghét.

Nhưng Chúa Ba Ngôi cho chúng ta thấy một lối sống hoàn toàn khác: hiệp thông và trao ban. Ba Ngôi Thiên Chúa luôn hướng về nhau trong tình yêu trọn vẹn. Không có ích kỷ hay thống trị, chỉ có hiệp nhất yêu thương.

Vì được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa, con người chỉ thật sự hạnh phúc khi biết sống trong yêu thương hiệp nhất. Gia đình Kitô giáo được mời gọi phản chiếu hình ảnh ấy. Gia đình không hạnh phúc chỉ nhờ tiền bạc hay tiện nghi, nhưng nhờ tình yêu biết hy sinh, cảm thông và lắng nghe. Nhiều gia đình hôm nay tan vỡ không phải vì thiếu điều kiện tiền của để sinh sống, nhưng vì không biết sống cho nhau. Chúa Ba Ngôi mời gọi chúng ta bước ra khỏi cái tôi khép kín để sống cho nhau.

Giống như Chúa Cha, chúng ta được mời gọi xây dựng và trao ban sự sống. Giống như Chúa Con, chúng ta được mời gọi trở thành người hòa giải và chữa lành. Giống như Chúa Thánh Thần, chúng ta được mời gọi soi sáng, nâng đỡ và an ủi người khác. Kitô hữu không thể chỉ sống cho riêng mình, nhưng chỉ thực sự là chính mình khi biết yêu thương. Càng yêu thương chúng ta càng trở nên giống Chúa Ba Ngôi.

Khi được hỏi làm sao có thể phục vụ người nghèo suốt đời mà không kiệt sức, Mẹ Têrêsa nói đại ý rằng Mẹ nhìn mọi người như con cái của Thiên Chúa Cha, phục vụ Chúa Kitô nơi chính họ, và cầu xin Chúa Thánh Thần ban sức mạnh mỗi ngày. Đó là linh đạo Ba Ngôi rất cụ thể: mọi sự bắt đầu từ Chúa Cha, qua Chúa Con và trong sức mạnh của Chúa Thánh Thần.

  1. Sống như đền thờ của Chúa Ba Ngôi

Một trong những điều đẹp nhất của đức tin Kitô giáo là Thiên Chúa không chỉ ở trên trời cao xa, nhưng còn ngự trong lòng chúng ta. Thánh Phaolô nói rằng thân xác chúng ta là Đền thờ của Chúa Thánh Thần (1 Cr 6,19).

Nếu thật sự tin điều đó, chúng ta sẽ biết quý trọng bản thân hơn, không để tội lỗi làm hoen ố tâm hồn mình. Đồng thời, chúng ta cũng biết tôn trọng người khác hơn, vì mỗi con người đều mang hình ảnh Thiên Chúa.

Niềm tin vào Chúa Ba Ngôi còn đem lại sức mạnh trong thử thách. Các vị tử đạo thời đầu đã can đảm bước vào pháp trường vì xác tín rằng Thiên Chúa ở cùng họ. Ngày nay cũng vậy, giữa bao áp lực và bất an, người Kitô hữu có thể đứng vững vì biết rằng Chúa Cha luôn yêu thương mình, Chúa Con luôn đồng hành với mình và Chúa Thánh Thần luôn nâng đỡ mình.

Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi mãi mãi vượt quá trí hiểu con người. Nhưng điều quan trọng không phải là hiểu hết, mà là để mình được cuốn vào tình yêu của Thiên Chúa. Người Kitô hữu không chỉ tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi như một tín điều, nhưng còn sống mối tương quan thân tình với từng Ngôi mỗi ngày.

Với Chúa Cha, người tín hữu sống tâm tình của người con: tin tưởng, phó thác và trở về với Ngài trong mọi hoàn cảnh. Chúng ta gọi Ngài là “Cha” vì biết mình được yêu thương và chăm sóc. Với Chúa Con, người Kitô hữu sống tâm tình của người môn đệ học biết yêu thương, tha thứ và vác thập giá với niềm cậy trông, như Chúa Giêsu là Đấng đã làm người, đi vào cuộc đời chúng ta. Với Chúa Thánh Thần, người tín hữu học lắng nghe Ý Chúa và để mình được Ngài soi dẫn. Chính Chúa Thánh Thần soi sáng lương tâm, ban sức mạnh vượt thắng yếu đuối và giúp chúng ta ngày càng trở nên giống Chúa Kitô hơn.

Một nữ tu lớn tuổi chia sẻ rất đơn sơ: “Mỗi sáng tôi thức dậy với Chúa Cha. Tôi làm việc với Chúa Giêsu. Tôi chịu đựng người khác nhờ Chúa Thánh Thần.”

Xin Chúa Cha ôm lấy chúng con trong tình yêu của Ngài. Xin Chúa Con dẫn chúng con bước đi trong sự thật vĩnh cửu. Xin Chúa Thánh Thần biến đổi tâm hồn chúng con mỗi ngày, để chúng con luôn sống như những người con trong gia đình của Thiên Chúa Ba Ngôi. Amen. 

Phêrô Phạm Văn Trung

* https://www.dcvphanxicoxavie.com/vn/Than-Hoc/Ba-Ngoi-Trong-Chung-Ta-Cua-Giao-Hoi-So-Khai-Khung-Hoang-Arius-Va-Cac-Cong-Dong.html

BẢY ƠN CHÚA THÁNH THẦN

Bảy ơn Chúa Thánh Thần là một điểm giáo lý khá quan trọng, dù không phải là một tín điều. Nguồn gốc của khái niệm “7 ơn Thánh Thần” này là I-sai-a 11,1-2. Nguyên tác Hip-ri chỉ nói đến 6 ơn, thánh Giê-rô-ni-mô khi dịch Cựu Ước ra tiếng La-tinh thành bản Vulgata (Phổ thông), đã thêm một ơn nữa, là “pietatis” (thường dịch là “đạo đức”)[1].

Đi từ bản văn I-sai-a này, các nhà thần học thời Trung Cổ đã xây dựng cả một nền thần học về bảy ơn Chúa Thánh Thần, nghĩa là về các cánh buồm và các cột ăn-ten thiêng liêng giúp Ki-tô hữu nhận được các sứ điệp và các thúc đẩy của Thiên Chúa Ngôi Ba.

Trước tiên xin được phép trích nguyên văn La ngữ và bản dịch Pháp ngữ câu trên (Is 11,2) vì cần để diễn giải sau này: “Spiritus sapientiae et intellectus, spiritus consilii et fortitudinis, spiritus scientiae et pietatisspiritus timoris Domini” – “Esprit de sagesse et de discernement, esprit de conseil et de vaillance, esprit de connaissance et de crainte du Seigneur” (TOB, Bản dịch Đại kết Công giáo, Chính thống, Tin lành). Nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ dịch từ tiếng Hip-ri ra tiếng Việt là: “Thần khí khôn ngoan và minh mẫn, thần khí mưu lược và dũng cảm, thần khí hiểu biết và kính sợ Đức Chúa”. Sách Giáo lý xưa viết về 7 ơn Chúa Thánh Thần như sau: “Một là ơn khôn ngoan, hai là ơn hiểu biết, ba là ơn thông minh, bốn là ơn khéo liệu, năm là ơn mạnh bạo, sáu là ơn đạo đức, bảy là ơn kính sợ Đức Chúa Trời”. Sách Giáo lý (nay) của Hội thánh Công giáo ấn bản tiếng Việt năm 2009 có nhắc tới 7 ơn này hai lần với lối dịch riêng, một trong phần Nghi thức bí tích Thêm sức (số 1299) và một trong phần Hiệu quả bí tích (số 1303), nhưng chỉ liệt kê chứ không có một dòng giải thích nào: “Xin ban cho họ thần trí khôn ngoan và thông hiểu, thần trí lo liệu và sức mạnh, thần trí suy biết và đạo đức, xin ban cho những người này đầy ơn kính sợ Chúa” (số 1299).

Thú thật nhiều tín hữu, thậm chí linh mục và giáo lý viên, cho biết khó nhớ các ơn ấy, rồi không sao phân biệt nổi sự khác nhau giữa một số trong chúng, nhất là khôn ngoan, thông hiểu (minh mẫn) và suy biết (thông minh). Ba ơn này xem ra na ná nhau, vì đều nói tới khả năng của trí tuệ. Ngoài ra, hai từ “khôn ngoan” và “đạo đức” cũng có một nghĩa rất rộng, càng rộng vì được dùng cả trong ngôn ngữ trần đời.

Còn hai vấn đề nữa khi diễn giải 7 ơn này. Trước hết, thiết tưởng phải quy chúng về Thiên Chúa, nghĩa là các ơn Thánh Thần ban chủ yếu hướng ta lên Chúa, giúp gia tăng sự hiệp thông với Người[2]. Thứ đến là tìm cho ra mối liên kết và hướng tiến triển của các ơn ấy, có như thế mới dễ nhớ, dễ hiểu và dịch sát nghĩa.

Vì các tác giả tu đức và các nhà thần học khá là khác nhau trong cách chuyển ngữ (dịch từ) và sắp xếp 7 ơn ấy (xin xem lại các bản dịch Kinh Thánh, hai câu giáo lý xưa và nay, cũng như nhìn 2 hình minh họa ngay trên), nên xin độc giả thử lối chuyển ngữ và xếp đặt sau đây.

Chúng ta sẽ không khởi đầu từ “ơn khôn ngoan” và kết thúc với “ơn kính sợ” như thường thấy, gần đúng theo thứ tự văn bản Kinh Thánh (5 ơn ở giữa thì tùy nhà diễn giải), mà đi từ ơn thứ bảy, ơn cuối cùng: kính sợ Thiên Chúa, hay vắn tắt là kính sợ (từ Hán Việt là úy kính). Điều này cũng có lý do của nó. Kính sợ là một tâm tình mà con người tạo vật cảm nhận đầu tiên khi đứng trước Thiên Chúa Tạo Hóa, và có thể nói là tác động trước hết của Tinh thần Thiên Chúa (tức Thánh Thần) lên tinh thần con người[3]. Sách Châm Ngôn 9,10 nói: “Kính sợ Đức Chúa là bước đầu của khôn ngoan”. Công vụ Tông đồ (10,2.22; 13,16) gọi những “cảm tình viên” của đạo mới hoặc sắp gia nhập đạo mới là những “người kính sợ Thiên Chúa”.

Nhưng Chúa đâu có muốn ta kính sợ Người như một chủ tể luôn tỏ uy quyền, một quân vương  sẵn sàng trừng phạt. Không, Người muốn chúng ta kính sợ Người trong ý thức phụ từ tử hiếu, “nên đã sai Thần Khí của Con mình vào trong lòng chúng ta mà kêu lên: Áp-ba, Cha ơi!” (Gl 4,6; x. Rm 8,15). Và đó là ơn hiếu thảo hay long trọng hơn là sùng hiếu (pietas, piété trong tiếng Pháp). Từ “pietas, piété” thường được dịch theo nghĩa thứ hai là “đạo đức”[4] ; nhưng “đạo đức” là một khái niệm hàm nghĩa rất rộng, thành ra mông lung, và dễ khiến ta chỉ nghĩ tới chuyện siêng đi nhà thờ, năng đọc kinh sách, hay sống theo lương tâm, làm điều phải lẽ.

Lòng hiếu thảo là sự bổ túc cần thiết cho lòng kính sợ, vì như thánh Phanxicô Salêdiô nói vui, chúng ta phải tiến về Chúa với hai cái nạng: khiêm tốn và tin tưởng. Hơn nữa, con chiên đã cảm nghiệm bản chất mỏng dòn của mình là tạo vật thì rất sung sướng tiến tới để được đặt trên đôi vai của Mục tử mình. Tại đó, bao nhiêu nỗi sợ của nó biến tan.

Mà muốn tỏ ra hiếu tử thì phải nắm rõ đạo làm con, tức là cần được Thánh Thần cho biết những điều phải thi hành để Từ Phụ vui sướng. Người dạy chúng ta biết cầu nguyện thế nào cho phải hầu tìm ra ý và làm đẹp lòng Chúa Cha (x. Rm 8,26). Và đó là ơn chỉ giáo, tiếng La-tinh là consilium, tiếng Pháp là conseil, tức là ơn cho ta biết đâu là ý Chúa trong từng trường hợp cụ thể. Cụ Đào Duy Anh, trong “Pháp-Việt Từ Điển (chú thêm chữ Hán)” đã dịch conseil là lời chỉ bảo, demander conseil là thỉnh giáo[5]. Ơn chỉ giáo mang lại cho chúng ta điều mà tu đức, linh thao gọi là sự “nhận định/phân định thiêng liêng”. Trong kinh “Xin ngự đến, lạy Thánh Thần sáng tạo” (Veni Creator), chúng ta đọc thấy: “Xin Ngài chiếu sáng hầu mở mang trí não…”. Lối dịch “lo liệu” xem ra chỉ một hoạt động đa dạng của con người và lại chưa nêu bật tác động đặc biệt của Thần khí. Còn dịch là “mưu lược” có giúp gì hơn trong chuyện tìm ra ý Chúa chăng?

Mà ý Chúa thì rất đòi hỏi, vì Người là thánh. Thực hiện thiên ý chẳng phải là điều dễ dàng vì buộc chúng ta chiến đấu và chiến thắng quỷ dữ, thế gian lẫn xác thịt (tức bản thân ích kỷ và bản năng lồng lộn). Chúa Giêsu từng nói : “Hãy đi qua cửa hẹp mà vào [Nước Trời]” (Mt 7,13), “Từ thời ông Gio-an Tẩy Giả cho đến bây giờ, Nước Trời phải đương đầu với sức mạnh, ai mạnh sức thì chiếm được” (Mt 11,12). Rồi “Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15,5). Thành ra cần ơn dũng cảm (có khi dịch là “sức mạnh”, “mạnh bạo”) mới thực thi được ý Chúa một khi đã biết ý này. Gương các Thánh Tử đạo là một bằng chứng. Trong lời nguyện nhập lễ Tuần I mùa Thường niên, chúng ta đọc: “Lạy Chúa nhân từ, này dân Chúa đang hiệp lời cầu khẩn; nguyện xin Chúa dủ thương chấp nhận, để giúp chúng con biết nhìn thấy những việc phải làm và đủ sức thi hành trọn vẹn”.

Nhưng biết Chúa (tôn ý Người lẫn bản thân Người) có mấy kiểu? Và đó là ba ơn còn lại vốn đều liên hệ đến chữ BIẾT. Song mỗi ơn cho ta biết Chúa mỗi cách.

Thấp nhất là scientia mà Từ điển Gaffiot có dịch là connaisance scientifique (tri thức khoa học); lời nguyện của Bí tích Thêm sức và Giáo lý Hội thánh Công giáo thì dịch  suy biết, đang khi có tác giả lại dịch ra “hiểu biết” hay “thông minh”. Đây là ơn nhận ra có Chúa, Chúa như thế nào, ơn thấy Chúa đang hoạt động giữa thế gian, vừa trong các tạo vật thiên nhiên vừa trong các biến cố lịch sử. Nghĩa là từ chuyện chiêm ngưỡng vũ trụ (không gian lẫn thời gian) mà ta suy ra có Ông Trời, có Tạo Hóa, suy ra Người toàn năng, thông minh và nhân hậu, Người can thiệp vào cuộc sống nhân loại (tức quan phòng: Mưu sự tại nhân, thành sự tại Thiên; Trời sinh voi, Trời sinh cỏ…). Cách biết Chúa bằng lối này, Thánh Thần ban cho rất nhiều người, kể cả những người chưa nhập đạo, nếu họ có lương tri. Thành thử lối dịch “suy biết” thiết tưởng là dễ hiểu và đạt nghĩa hơn cả.

Nhưng đó mới chỉ là ơn biết Thiên Chúa qua thụ tạo, nhờ ngũ quan, nhờ suy nghĩ tự nhiên, nhờ khoa học. Cách biết Chúa cao hơn là biết qua mạc khải mà chính Người đã ban cho chúng ta nơi Sách Kinh Thánh và trong Lịch sử Thánh. Đây chính là ơn thấu hiểu, La ngữ là “intellectus” mà Từ điển Gaffiot dịch là compréhension, action de comprendre (sự thấu hiểu, hành động hiểu thấu). Lối dịch “minh mẫn” có giúp được gì trong chuyện này chăng? Ơn thấu hiểu là ơn giúp ta biết rõ những gì Thiên Chúa đã làm trong thế giới loài người qua lịch sử Tuyển dân và lịch sử Giáo hội, ngoài ra còn được biết thấu tận những gì thâm sâu hơn nơi Thiên Chúa như các mầu nhiệm Ba Ngôi, Nhập Thể, Thánh Thể v.v… Thánh Thần dẫn chúng ta đến Chân lý toàn vẹn là vậy! (x. Ga 16,13).

Cuối cùng và cao hơn hết là ơn mà người ta thường dịch là “khôn ngoan”. Theo Từ điển tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học Vietlex, Nxb Đà Nẵng, 2011, “khôn ngoan” có nghĩa là “Khôn trong cách xử sự, biết tránh cho mình những điều không hay – Khôn ngoan đối đáp người ngoài. Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau (Ca dao)”. Hiển nhiên đây không phải là điều mà nguyên ngữ “sapientia” trong Kinh Thánh (Is 11,2) muốn nói. Cần phải tìm ý nghĩa chữ này trong chính sách Khôn Ngoan và sách Huấn Ca, nơi sự khôn ngoan được ngôi vị hóa nên được gọi là “Đức Khôn Ngoan”: “Đức Khôn Ngoan phản chiếu ánh sáng vĩnh cửu, là tấm gương trong phản ánh hoạt động của Thiên Chúa, là hình ảnh lòng nhân hậu của Người… Đức Khôn Ngoan ngự vào những tâm hồn thánh thiện, biến họ nên bạn hữu của Thiên Chúa” (Kn 7,26-27). “Xin rộng ban cho con Đức Khôn Ngoan hằng ngự bên tòa Chúa… Đức Khôn Ngoan ở kề bên Chúa, biết những việc Chúa làm” (Kn 9,4.9). “Tất cả sự khôn ngoan đều phát xuất từ Đức Chúa, và khôn ngoan vẫn ở với Người đến muôn đời” (Hc 1, 1).

Vậy ơn “sapientia” (sagesse tiếng Pháp) dịch cho đúng trong bối cảnh này thiết tưởng là ơn thượng trí (có người dịch là ơn cao minh. x. Lm Ngô Minh và Lm Nguyễn Thế Minh, Từ vựng Triết-Thần căn bản Pháp Việt – Anh Việt, chữ “sagesse”), tức là ơn biết Thiên Chúa một cách sâu xa, đích thực, nhờ được sống thân mật, sống kết hợp, sống cận kề Chúa, cảm nếm được Người. Ơn thượng trí này, ơn có trí hiểu cao vời này, Chúa Thánh Thần ban cho một số tín hữu tuy còn ở trần gian, trong thân xác, nhưng tâm trí “được đưa lên tới tầng trời thứ ba… lên tới thiên đàng và đã nghe những lời khôn tả” (x. 2Cr 12,1-6; x. 1Cr 2,9-10). Nhiều vị thánh khác cũng được ơn ngất trí như vậy khi họ cầu nguyện, đặc biệt là các thánh nữ, chẳng hạn thánh Têrêxa Avila, Maria Mađalêna Pazzi…. Cuối kinh Veni Creator, chúng ta cầu với Thánh Thần: “Xin Ngài dạy cho biết Cha từ ái, cùng am tường về Thánh Tử khoan nhân”.

Nhìn lại, nếu để ý kỹ, ta thấy các ơn đi từng cặp :

– Ơn hiếu thảo làm cho ta kính sợ Chúa như con kính sợ Cha. Hai ơn này thúc giục chúng ta đặt mình trước mặt Thiên Chúa, với niềm tôn kính hãi sợ đồng thời với dạ tin tưởng mến yêu.

– Ơn dũng cảm làm cho ta dám thực hiện ý Chúa mà ơn chỉ giáo cho thấy ở đây và lúc này. Hai ơn này giúp chúng ta điều chỉnh bản thân theo ý Chúa, bằng cách khám phá (nhờ Thánh Thần soi dẫn) và cương quyết hoàn tất thánh ý này (nhờ Thánh Thần trợ lực).

– Ơn suy biết giúp ta nhìn ra Chúa qua vũ trụ thiên nhiên để rồi nhờ ơn thấu hiểu, ta nắm được những gì Người ngỏ với chúng ta qua Kinh Thánh và Lịch sử cứu rỗi. Hai ơn này giúp cho chúng ta có một hiểu biết đúng đắn về Thiên Chúa, từ công trình tạo dựng của Người rồi từ lời Người mạc khải

– Cuối cùng, đỉnh cao của sự hiểu biết chính là được đi vào kết hiệp thâm sâu thân tình với Thiên Chúa nhờ ơn thượng trí, qua việc chiêm niệm. Ơn này giúp chúng ta cảm nếm được chính Người trong tận đáy con tim và như thế hưởng trước trên trái đất cái gì đó của niềm vui cõi trời. Tu đức học cũng đồng giọng khi nói đó là con đường thứ ba: hiệp đạo, đường kết hiệp (voie unitive) sau con đường thứ nhất: luyện đạo, đường thanh luyện (voie purgative) và con đường thứ hai: minh đạo, đường giác ngộ (voie illuminative).

Do đó, như để minh họa, chúng ta có thể phân bố chúng theo từng cặp và trên các nhánh của một cây đèn 7 ngọn, nghĩa là ta sẽ đặt trên nhánh giữa -nhánh quan trọng nhất, thắp sau cùng- ơn thượng trí, ơn hỗ trợ sự vươn lên của đời sống chiêm niệm.

Cuối cùng, xin có vài câu thơ vụng, để giúp trẻ em học giáo lý:

Một là úy kính Chúa Trời

Biết sợ Tạo Hóa giữa đời trần gian.

Hai là giữ đạo làm con,

Tức ơn thảo hiếu, chu toàn với Cha.

Chỉ giáo, ấy ơn thứ ba,

Giúp rõ ý Chúa trên ta mỗi lần.

Thứ tư, dũng cảm, ơn cần.

Để đem thiên lệnh thi hành chẳng ngơi.

Suy biết: qua ngắm đất trời,

Nhận ra Tạo Hóa cao vời chí tôn.

Thứ sáu, thấu hiểu trong hồn

Lời Chúa mạc khải để luôn tin vào.

Cuối cùng, thượng trí, ơn cao:

Kết hợp với Chúa, dạt dào tình yêu.

Sau hết là một ước vọng nho nhỏ: đề nghị Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo trong những lần tái bản tới, dịch lại tên 7 ơn ấy cho dễ hiểu, dễ nhớ và sát nghĩa, nếu những lời diễn giải của tác giả trên đây không bị các đấng coi là tào lao hay lạc đạo[6]!

Lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống 28-05-2023

Linh mục Phê-rô Phan Văn Lợi, Tu hội Thánh Tâm Chúa Giê-su, TGP Huế

            Tham khảo:

– Pierre Descouvemont. Guide des difficultés de la foi catholique. Éditions du Cerf, Paris, 1993. p. 423-425: Les dons du Saint-Esprit.

– 7 ơn của Chúa Thánh Thần và ý nghĩa mỗi ơn. https://conggiaovn.com/7-on-cua-chua-thanh-than-va-y-nghia-moi-on/

[1] x. Kinh Thánh, bản dịch của Nhóm CGKPV, ấn bản 2011, trang 1568, chú thích x.

[2] Thành ra không biết có nên chăng khi diễn giải: “Ơn Khôn Ngoan: giúp ta phân biệt được phải-trái, thật-hư. Ơn Lo Liệu: giúp ta biết giải quyết đúng đắn các khó khăn của cuộc sống. Ơn Sức Mạnh: giúp ta vượt qua mọi khó nguy trong cuộc sống và chu toàn được các bổn phận của mình”. (Internet).

[3] Con vật vì không có hồn thiêng (tinh thần) nên chỉ có một nỗi sợ theo bản năng là sợ khổ và sợ chết.

[4] Xem chữ Pietas trong Félix Gaffiot, Dictionnaire abrégé Latin-Français illustré, Hachette, 1936. và chữ Piété trong Đào Duy Anh, Pháp-Việt Từ điển (chú thêm chữ Hán), Minh Tâm xb, 1952. Lm Ngô Minh và Lm Nguyễn Thế Minh, Từ vựng Triết-Thần căn bản Pháp Việt – Anh Việt, Nxb Phương Đông, cũng đưa hai cách dịch: Sùng hiếu – Đạo đức.

[5] Cũng xin xem chữ Consilium trong Félix Gaffiot (nghĩa II)

Subcategories