3. Sống & Chia Sẻ Lời Chúa

Vị Tổng Thống nhảy múa

Một ngày nóng bức tháng bảy năm 1969 trên boong tàu một chiếc hàng không mẫu hạm ở Thái Bình Dương, các thuỷ thủ đang đưa ống dòm tìm kiếm trong vùng bầu trời phía trên chíêc mẫu hạm. Bỗng nhiên họ kêu lên. Có ba chiếc dù màu cam và trắng nở xoè ra trên bầu trời xanh thẳm, đong đưa phía dưới là vật giống như một trái banh. Ðó chính là đầu chiếc phi thuyền Apollo 11. Vài phút sau, chiếc phi thuyền đâm sâu vào dòng nước ấm áp của Thái Bình Dương. Nước biển tung toé lên đánh dấu sự kết thúc thành công của chuyến du hành mang ba người lên mặt trăng.

Khi các phi hành gia mỉm cười trồi lên từ chiếc phi thuyền nhỏ, Tổng Thống Nixon nhảy tung tăng trên boong chiếc mẫu hạm. Ông đã bay nửa vòng trái đất đến đây để chứng kiến giây phút làm nên lịch sử này. Tổng thống nói rằng vệt nước tung toé của chiếc phi thuyền đã đánh dấu sự kết thúc tuần lễ vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại kể từ cuộc tạo dựng.

Trong những tháng đầy phấn khích sau đó, ba phi hành gia đã thực hiện chuyến du lịch thiện chí vòng quanh thế giới. Họ đã thăm viếng 23 quốc gia trong vòng 45 ngày. Phi hành gia Ed Aldrin nói rằng: “Một trong những thời gian phấn khích nhất” của chuyến đi là cuộc thăm viếng Vatican. Các phi hành gia đặc bịêt xúc động khi nhận được những quà tặng khác thường của Ðức Giáo Hoàng Phaolô VI. Ed Aldrin viết trong quyển sách của mình tựa đề: Return to Earth (trở lại trái đất) như sau:

“Ðức Thánh Cha mở lớp vải gói ba bức tượng ba nhà đạo sĩ làm bằng sứ tuyệt đẹp. Người nói rằng ba vị đạo sĩ đã đến được với Chúa Giêsu Hài Ðồng là nhờ nhìn lên những vì sao, còn chúng tôi đã đạt đến đích của mình cũng là nhờ nhìn xem các vị sao như vậy”.

Khi chiêm ngắm các bức tượng bằng sứ tượng trưng cho ba nhà thông thái, ba phi hành gia liền nghĩ ngay đến câu chuyện họ đọc được trong bài Phúc âm hôm nay. Và chắc chắn, giống như chúng ta, họ cũng suy nghĩ về ý nghĩa sâu xa hơn ẩn giấu trong câu chuyện này.

Dĩ nhiên tất cả các học sinh đều biết được ý nghĩa câu chuyện này rồi. Ðây là việc Chúa Giêsu tự biểu lộ mình ra cho dân ngoại. Cho thế giới ngoài Do Thái Giáo. Chính vì thế, chúng ta gọi lễ này là lễ “Hiển Linh” (Epiphany). Từ ngữ Hiển Linh có nghĩa là “Thiên Chúa biểu lộ ra”.

Bởi vì Hiển Linh mừng kính việc Chúa Giêsu tự biểu lộ mình cho thế giới dân ngoại, nên một số quốc gia mừng lễ này còn trọng thể hơn lễ Giáng Sinh. Thực thế, Lễ Hiển Linh là lễ Giáng Sinh dành cho dân ngoại.

Ba nhà thông thái hay ba chiêm tinh gia từ phương Ðông đến ấy đã nhìn Chúa Giêsu thế nào? Họ nghĩ gì về Hài Nhi được hạ sinh trong trường hợp đặc biệt như thế?

Thánh Mathêu hình như cũng mang trong tâm trí câu hỏi khi người liệt kê những tặng vật mà các vị thông thái này dâng lên Chúa Giêsu. Thánh Matthêu viết: “Khi bước vào nhà và nhìn thấy hài nhi cùng Ðức Maria Mẹ Người, họ liền quỳ gối xuống tôn thờ Hài Nhi đoạn mang các tặng vật ra gồm vàng, nhũ hương và mộc dược dâng lên Người”.

Người xưa thường coi vàng là vua của mọi thứ kim loại. Vì thế, vàng là tặng vật lý tưởng cho một vị vua. Vì thế các Kitô hữu cắt nghĩa tặng vật vàng tượng trưng cho vương quyền của Chúa Giêsu. Về vương quyền của Chúa Giêsu, Thánh Phaolô có viết trong thư gởi tín hữu Ephêsô như sau: “Chúa Cha đã Phục Sinh Ðức Kitô từ cõi chết và đặt Ðức Kitô bên hữu Người trên Thiên Quốc. Ðức Kitô cai trị trên vạn vật… Thiên Chúa đã đặt mọi sự dưới chân Ðức Kitô”. (Ep 1: 20- 22)

Từ đó, chúng ta đề cập đến tặng vật thứ hai là nhũ hương. Người xưa thường dùng nhũ hương trong việc thờ phụng. Hương và khói bay lên trời biểu tượng những lời ca tụng và cầu nguyện dâng lên các thần linh. Các Kitô hữu cắt nghĩa tặng vật nhũ hương tượng trưng cho thiên tính của Ðức Giêsu. Khi nói về thiên tính Chúa Giêsu; thư gởi tín hữu Do Thái đã diễn tả như sau: “Chúa Giêsu phản chiếu sự chói lọi vinh quang của Thiên Chúa và là hình bóng bản thể của Thiên Chúa. Người lấy lời quyền phép của mình để nâng đỡ vạn vật” (Dt 1:3)

Ðiều này dẫn chúng ta đến tặng vật cuối cùng là mộc dược. Người xưa thường dùng mộc dược để ướp xác người chết trước khi an táng. Hãy nhớ lại các phụ nữ đã từng đem mộc dược đến mộ Chúa Giêsu. Vì chết là thân phận của con người, nên các Kitô hữu thường cắt nghĩa mộc dược tượng trưng cho nhân tính Chúa Giêsu. Bàn về nhân tính Chúa Giêsu, Thánh Phaolô đã viết trong thư gởi tín hữu Philipphê như sau: “Chúa Giêsu dù luôn mang bản tính Thiên Chúa, nhưng Người đã trở nên… như một con người… Người hạ mình vâng phục đến nỗi chịu chết chết trên Thập Giá” (Pl 2: 6-8)

Hơn mười lăm thế kỷ trước, Thánh Peter Chrysologus đã nói về lễ hôm nay như sau: “Ngày hôm nay, các vị đạo sĩ đã ngạc nhiên sâu sa trước điều họ chiêm ngắm: đó là trời ở trên đất, đất ở trong trời, con người trong Thượng Ðế, Thượng Ðế trong con người, Ðấng mà cả vũ trụ không thể chứa nổi giờ đang đựơc bó gọn trong một thân xác bé xíu. Khi ngắm nhìn họ đã tin và không hề thắc mắc, vì những tặng vật đầy tính tượng trưng của họ đã làm chứng điều ấy. Nhũ hương để tặng Thiên Chúa, vàng để tặng Vua và mộc dược để tặng cho một người sẽ phải chết.

Nói một cách thực tế, tất cả điều này có ý nghĩa gì đối với chúng ta hiện đang có mặt trong giáo đường nay?

Nó có nghĩa như sau:

Chúng ta phải tiếp tục những gì Chúa Giêsu đã khởi sự khi Người còn ở dương thế. Nếu mọi dân tộc nhận biết được sứ điệp của Chúa Giêsu thì đó là nhờ chính nổ lực của chúng ta. Chúng ta phải chia sẻ với họ “tin mừng” là Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa đã mang lấy nhục thể và đã sống giữa chúng ta. Chúng ta phải chia sẻ cho họ “tin mừng” là Chúa Giêsu đã đi vào lịch sử, không chỉ cho riêng dân Do Thái mà là cho tất cả mọi người. Chúng ta phải chia Sẻ với họ “tin mừng” là Chúa Giêsu đã đến khánh thành vương quốc Thiên Chúa. Người đến để thiết lập nên một trật tự thế giới mới. Một trật tự trong đó sẽ không còn khổ đau phiền muộn, một trật tự trong đó kẻ túng thiếu sẽ tìm được bạn bè thân thương thay vì chỉ tìm thấy những kẻ xa lạ trong đêm tối.

Ðó là “Tin Mừng” mà chúng ta phải mang đến cho thế gian… Ðó là sứ điệp thực tế của Lễ Hiển Linh. Ðó là sứ điệp mời gọi mỗi Kitô hữu chúng ta dấn thân vào hành động.

Chúng ta hãy kết thúc với những lời do một Kitô hữu vô danh viết ra để tóm tắt sứ điệp thực tế của Lễ Hiển Linh bằng một hình ảnh tuyệt đẹp như sau:

Khi khúc hát các vị thiên sứ lặng yên,
khi sao trời lịm tắt,
Khi vua chúa, hoàng tử trở về nhà,
Khi mục đồng cùng bầy gia súc về đến chuồng,
thì việc Gíang Sinh bắt đầu khởi sự:
là cho kẻ đói ăn
Thả kẻ tù tội
Dựng xây các dân tộc
Mang hoà bình đến giữa mọi người
và reo ca bằng tâm hồn mình
”.

Lm. Mark LinK SJ.

ÁNH SÁNG CHÚA KITÔ CHIẾU SOI MUÔN DÂN

Lễ Hiển Linh là ngày Giáo Hội mừng Chúa Giêsu biểu lộ vinh quang Thiên Chúa cho muôn dân, được đại diện bởi các nhà chiêm tinh từ phương Đông. Các bài đọc Kinh Thánh hôm nay mặc khải mầu nhiệm cứu độ phổ quát: Chúa Kitô là Ánh Sáng không chỉ dành riêng cho Israel, nhưng cho mọi dân tộc. Hành trình của các nhà chiêm tinh là cuộc kiếm tìm ánh sáng chiếu soi muôn dân, vì kể cả dân ngoại cũng được thừa kế gia nghiệp cùng với Israel trong Chúa Kitô.

  1. Các nhà chiêm tinh tìm kiếm và thờ lạy Chúa

Tin Mừng Mátthêu kể: “Khi Chúa Giêsu ra đời tại Bêlem, miền Giuđê, thời vua Hêrôđê trị vì, có mấy nhà chiêm tinh từ phương Đông đến Giêrusalem, và hỏi: Đức Vua dân Do thái mới sinh, hiện ở đâu? Chúng tôi đã thấy vì sao của Ngài xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Ngài” (Mt 2:1-2).

Các nhà chiêm tinh đại diện cho muôn dân ngoại giáo tìm kiếm Thiên Chúa. Họ theo ngôi sao, biểu tượng ánh sáng Thiên Chúa, dẫn dắt những tâm hồn thành tâm thiện chí. Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI dạy rằng: “Khi xét đến thực tế rằng ngay từ thuở ban đầu, nam nữ ở mọi nơi, mọi châu lục, với mọi nền văn hóa, tư tưởng và lối sống khác nhau, đều đang trên đường đến với Chúa Kitô, thì ta có thể thực sự nói rằng cuộc hành hương này và cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa dưới hình hài một Hài nhi là một sự mặc khải về sự tốt lành và tình yêu thương của Thiên Chúa dành cho nhân loại” (Bài giảng lễ Chúa Hiển linh, 6 tháng Giêng, năm 2013).

Các nhà chiêm tinh dâng vàng, tượng trưng cho vương quyền của Ấu vương Giêsu; nhũ hương, tượng trưng cho thiên tính của Hài Nhi Giêsu; và một dược tượng trưng cho cho nhân tính của Chúa Hài Đồng, cũng mang trong mình bản tính của loài người, cũng biết đói, biết đau, biết buồn, biết khóc, và trở nên mọi sự như chúng ta, kể cả cái chết, ngoại trừ tội lỗi (Dt 4:15). Thánh Lêô Cả dạy: “Như tiên tri Isaia đã nói: dân ngoại, những người ngồi trong bóng tối, đã thấy một ánh sáng lớn, và đối với những người ở trong vùng bóng tối của sự chết, một ánh sáng đã ló rạng. Dân ngoại, là những người không biết Chúa, sẽ cầu khẩn Chúa, và các dân tộc, là những người không biết Chúa, sẽ nương náu nơi Chúa. Tất cả các dân tộc mà Chúa đã tạo dựng nên sẽ đến và quỳ xuống thờ phượng trước mặt Chúa, và tôn vinh danh Chúa. Một lần nữa, Chúa đã bày tỏ ơn cứu rỗi của Ngài; trước mắt các dân tộc, Ngài đã tỏ ra sự công chính của Ngài. Điều này đã được ứng nghiệm, như chúng ta biết, từ khi ngôi sao gọi ba nhà thông thái ra khỏi xứ sở xa xôi của họ và dẫn họ đến nhận biết và thờ phượng Vua trời đất.” [1] Hành trình của ba nhà chiêm tinh nhắc nhở chúng ta rằng hành trình tìm kiếm Thiên Chúa cần phải nỗ lực, vượt qua mưu chước đen tối của quyền lực thế gian mà Hêrôđê là tượng trưng, và khi gặp Ngài, phải thờ lạy và thay đổi lối sống: “đi lối khác mà về xứ mình” (Mt 2: 12).

Thánh Augustinô khẳng định: “Thưa anh em, ngày lễ chúng ta cử hành không phải là một sự kiện bình thường. Đây là ngày mà Đấng Cứu Độ trần gian được tỏ ra cho muôn dân” (Bài giảng 202, 1). Trong bài giảng này, ngài cũng nhấn mạnh rằng các mục đồng và các nhà thông thái, đến từ những hoàn cảnh khác nhau, đều hội tụ trong Chúa Kitô như là hòn đá góc tường: “Các mục đồng là người Israel; các nhà thông thái là dân ngoại; Các mục đồng từ những nơi gần mà đến; các nhà thông thái từ những nơi xa mà đến; nhưng cả hai đều gặp nhau nơi hòn đá góc tường” (đã dẫn trên). Thánh Augustinô cũng coi các nhà thông thái là hình mẫu của cuộc tìm kiếm tâm linh. Ngài viết: “Họ từ phương xa đến để thờ lạy Đấng mà họ đã biết bằng đức tin trước khi nhìn thấy Ngài bằng mắt thường” (Chú giải Thánh vịnh 72, Enarrationes in Psalmos 72:10). Thánh nhân diễn tả các nhà thông thái đi theo sự dẫn lối của một ngôi sao, một “ngôn ngữ từ trời” nói với họ về Chúa Kitô: “Chưa thể nói bằng ngôn ngữ trần gian, Ngài đã nói với họ từ trời qua ngôi sao” (Bài giảng 202:2). Thánh nhân tuyên bố: “Chúa Kitô đã tỏ mình ra cho các mục tử của Israel và các nhà thông thái của các dân tộc, cho thấy rằng ơn cứu độ dành cho tất cả mọi người” (De civitate Dei, XVII, 5 ).

Đối với Thánh Augustinô, lễ Hiển Linh cũng là dịp để suy ngẫm về phản ứng của chúng ta trước sự hiện diện của Chúa Kitô. Ngài cảnh báo: “Chỉ nhìn thấy ngôi sao thôi chưa đủ, cần phải theo đuổi nó. Chỉ biết Chúa Kitô thôi chưa đủ, cần phải tôn thờ Ngài” (Bài giảng 203, 3). Hơn nữa, ngài còn nhấn mạnh rằng sự thay đổi đường lối của các nhà thông thái tượng trưng cho sự hoán cải: “Thay đổi đường lối là thay đổi cuộc sống” (Bài giảng 202, 4). [2]

  1. Ánh sáng Chúa chiếu soi muôn dân

Ngôn sứ Isaia từng tiên báo: “Chư dân sẽ đi về phía ánh sáng của ngươi, vua chúa hướng về ánh bình minh của ngươi mà tiến bước…Trước cảnh đó, mặt mày ngươi rạng rỡ, lòng ngươi rạo rực, vui như mở cờ, vì nguồn giàu sang sẽ đổ về từ biển cả, của cải muôn dân nước sẽ tràn đến với ngươi. Lạc đà từng đàn che rợp đất, lạc đà Mađian và Êpha: tất cả những người từ Sơva kéo đến, đều mang theo vàng với trầm hương, và loan truyền lời ca tụng Chúa” (Is 60: 1-6). Lời tiên tri này, viết trong thời lưu đày Babylon, loan báo Giêrusalem trở thành trung tâm ánh sáng thu hút muôn dân. Lời ấy hôm nay ứng nghiệm qua Chúa Kitô chính là ánh sáng ấy.

Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo dạy: “Hiển Linh là sự tỏ mình ra của Chúa Giêsu, như Đấng Messia của Israel, là Con Thiên Chúa, và là Đấng Cứu Độ trần gian. Lễ này mừng kính việc “các đạo sĩ” từ phương Đông đến thờ lạy Chúa Giêsu. Nơi các “đạo sĩ” này, là đại diện cho các tôn giáo lương dân lân cận, Tin Mừng nhận ra những hoa quả đầu mùa của các dân tộc sẽ đón nhận Tin Mừng cứu độ nhờ mầu nhiệm Nhập Thể” (GLHTCG, số 528).

Việc Chúa Giêsu, vị Vua Hài nhi, tỏ mình ra cho các nhà thông thái dân ngoại là một mầu nhiệm trong kế hoạch cứu độ Của Thiên Chúa. Thánh Phaolô giải thích mầu nhiệm: “Hẳn anh em đã được nghe biết về kế hoạch ân sủng mà Thiên Chúa đã uỷ thác cho tôi, liên quan đến anh em. Ngài đã mặc khải để tôi được biết mầu nhiệm Chúa Kitô…Mầu nhiệm đó là: trong Chúa Kitô Giêsu và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại được cùng thừa kế gia nghiệp với người Do thái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa” (Ep 3:2-3,6). Thánh Phaolô nhấn mạnh: “Tôi đã trở nên người phục vụ Tin Mừng đó, nhờ ân sủng đặc biệt Thiên Chúa ban cho tôi” (Ep 3: 7) và tự nhận mình là “kẻ rốt hết trong toàn thể dân thánh, thế mà Thiên Chúa đã ban cho tôi ân sủng này là loan báo cho các dân ngoại” (Ep 3: 8).

Giáo Lý Hội Thánh nhấn mạnh: “Việc các đạo sĩ đến Giêrusalem để bái lạy Vua dân Do Thái có nghĩa là các dân ngoại có thể gặp được Chúa Giêsu và thờ lạy Ngài là Con Thiên Chúa và là Đấng Cứu độ trần gian, bằng cách hướng về dân Do Thái và nhờ dân ấy mà lãnh nhận lời hứa về Đấng Mêsia như đã được ghi chép trong Cựu Ước. Cuộc Hiển Linh cho thấy đông đảo dân ngoại được gia nhập vào gia đình của các Tổ Phụ, và được hưởng “phẩm giá của Israel” (GLHTCG, số 528). 

  1. Trở nên ánh sáng cho muôn dân

Lễ Hiển Linh không chỉ là kỷ niệm lịch sử, mà là lời mời gọi chúng ta trở thành ngôi sao dẫn muôn dân đến với Chúa Kitô. Đức Giáo Hoàng Phanxicô kêu gọi: “Chúng ta hãy cầu xin lòng can đảm để tiếp tục cuộc hành trình của mình, và hãy kết thúc trong sự thờ phượng! Chúng ta đừng sợ hãi, vì đây là con đường của các nhà thông thái, con đường của tất cả các thánh nhân trong suốt lịch sử: đón nhận sự bồn chồn của mình, lên đường và thờ phượng. Nguyện xin chúng ta đừng bao giờ gián đoạn cuộc hành trình của mình, bị sự thờ ơ hay tiện nghi khuất phục; và trong cuộc gặp gỡ với Chúa, nguyện xin chúng ta hãy phó thác mình cho sự kỳ diệu của sự thờ phượng. Khi đó, chúng ta sẽ khám phá ra rằng một ánh sáng vẫn chiếu rọi ngay cả trong những đêm tối tăm nhất: ánh sáng của Chúa Giêsu, ngôi sao mai rạng rỡ, mặt trời công lý, vinh quang đầy lòng thương xót của Thiên Chúa, Đấng yêu thương mọi người nam nữ và tất cả các dân tộc trên trái đất” (Bài giảng Lễ Hiển Linh, ngày 6 tháng 1 năm 2023).

Trong thế giới hôm nay đầy bóng tối chiến tranh, chia rẽ, chúng ta được mời gọi “Đứng lên, bừng sáng lên!” (Is 60: 1), mang ánh sáng Chúa Kitô đến mọi dân tộc. Theo bước các nhà chiêm tinh, chúng ta tìm kiếm Chúa trong cầu nguyện, dâng tiến Ngài những gì quý giá nhất, thời gian, tài năng, cuộc đời, hoán cải “đi lối khác mà về xứ mình” (Mt 2: 12) và sống đời chứng tá. Xin Chúa Hiển Linh ban ơn để chúng ta trở nên ánh sáng cho thế giới, dẫn muôn dân đến thờ lạy Ngài.

Phêrô Phạm Văn Trung

[1] http://www.solonstmary.org/uploads/1/0/3/9/10392661/epiphany_st_leo_the_great.pdf   

[2] https://agustinosrecoletos.com/2025/01/06/epiphany-the-light-of-christ-enlightening-the-nations/?lang=en

 

Đây Là Chiên Thiên Chúa, Đây Đấng Xóa Bỏ Tội Trần Gian

Giữa dòng chảy cuồn cuộn của lịch sử cứu độ, bên bờ sông Gio-đan đầy nắng và gió, một khoảnh khắc vĩnh cửu đã được khắc ghi vào tâm khảm nhân loại, không phải bằng sấm chớp hay uy quyền rung chuyển đất trời, mà bằng một lời giới thiệu, một cái chỉ tay đầy khiêm cung nhưng xác quyết của Gio-an Tẩy Giả. "Đây là Chiên Thiên Chúa." Câu nói ấy vang lên giữa một đám đông đang khao khát, đang chờ đợi, và có lẽ đang lầm tưởng về dung mạo của Đấng Mêsia. Trong bầu khí tĩnh lặng nhưng sục sôi của hy vọng ấy, hình ảnh một "Con Chiên" xuất hiện như một cú sốc, một mầu nhiệm, và là chìa khóa mở ra toàn bộ kho tàng tình yêu của Thiên Chúa dành cho con người. Hôm nay, chúng ta hãy cùng nhau trầm lắng tâm hồn, để từng lời Tin Mừng thấm đẫm vào thớ thịt, nhịp tim, để chiêm ngắm Đấng mà Gio-an đã thấy, và để chính chúng ta cũng thốt lên lời tuyên xưng đức tin sâu thẳm nhất về Đấng Cứu Độ của mình.

Hãy hình dung khung cảnh ấy. Gio-an Tẩy Giả, người ngôn sứ của hoang địa, với áo lông lạc đà và thức ăn đạm bạc, là hiện thân của sự khắc khổ và mong chờ của Cựu Ước. Ông đứng đó, đôi mắt rực sáng lửa nhiệt thành nhưng cũng đầy vẻ chiêm nghiệm. Ông đã thấy biết bao nhiêu người đến chịu phép rửa, bao nhiêu tội nhân cúi đầu sám hối dưới dòng nước. Nhưng hôm nay, ánh mắt ông dừng lại. Một Người đang tiến đến. Không kèn trống, không quân lính hộ vệ, không y phục hoàng gia. Người ấy bước đi trong sự bình dị đến kinh ngạc. Và chính trong sự bình dị ấy, Gio-an đã nhận ra sự siêu việt. "Đây là Chiên Thiên Chúa." Tại sao lại là Chiên? Tại sao không phải là "Đây là Sư Tử dũng mãnh của chi tộc Giu-đa"? Tại sao không phải là "Đây là Đại Tướng của đạo binh Thiên Quốc"?

Dân Do Thái thời bấy giờ, và có lẽ cả chúng ta ngày nay, thường mong đợi một Thiên Chúa của sức mạnh, của sự áp đảo, một Đấng sẽ đến để dẹp tan kẻ thù bằng gươm giáo và quyền lực. Nhưng Thiên Chúa, trong sự khôn ngoan nhiệm mầu của Ngài, đã chọn biểu tượng của sự hiền lành, sự hy sinh và sự thinh lặng. Hình ảnh con chiên gợi nhớ về đêm Vượt Qua tại Ai Cập, khi máu chiên bôi trên khung cửa đã cứu dân Israel khỏi cái chết và mở đường cho cuộc giải phóng vĩ đại. Con chiên ấy đã chết để dân được sống. Hình ảnh ấy cũng gợi nhớ về người Tôi Trung đau khổ trong sách ngôn sứ I-sai-a: "Như chiên bị đem đi làm thịt, như cừu câm nín khi bị xén lông, người chẳng mở miệng kêu ca." Đức Giê-su chính là sự trọn vẹn của những hình bóng ấy. Ngài đến không phải để thống trị, mà để hiến dâng. Ngài là Chiên Thiên Chúa, nghĩa là Con Chiên do chính Thiên Chúa cung cấp, Con Chiên thuộc về Thiên Chúa, và là Con Chiên duy nhất đẹp lòng Thiên Chúa trọn vẹn.

Cụm từ "Đấng xóa bỏ tội trần gian" đi liền ngay sau đó mở ra chiều kích cứu độ phổ quát và sâu thẳm của sứ mạng Đức Giê-su. "Tội trần gian" ở đây không chỉ là những lỗi lầm cá nhân riêng lẻ, mà là cả một khối nặng nề của sự phản nghịch, của bóng tối, của sự dữ đang đè nặng lên vai nhân loại từ thuở hồng hoang. Đó là "mầu nhiệm của sự gian ác" mà thánh Phao-lô sau này đã nhắc đến. Con người, dù có nỗ lực đến đâu, cũng không thể tự mình nhấc bỏ tảng đá ngàn cân ấy. Chúng ta loay hoay trong vũng lầy của kiêu ngạo, tham lam, và hận thù. Càng vùng vẫy, chúng ta càng lún sâu. Và rồi, Chiên Thiên Chúa đến. Động từ "xóa bỏ" trong nguyên ngữ còn có nghĩa là "nhấc lên", "mang lấy". Đức Giê-su không xóa tội như người ta xóa một dòng chữ trên bảng phấn. Ngài xóa tội bằng cách ghé vai mình vào gánh lấy. Ngài "mang lấy" tội lỗi của chúng ta vào chính thân thể Ngài mà đưa lên cây thập giá. Sự xóa bỏ ấy đổi bằng Máu, bằng sự đau đớn tột cùng, và bằng tình yêu vô biên.

Nhìn vào Chiên Thiên Chúa là nhìn vào tình yêu tự hủy. Một tình yêu dám trở nên yếu đuối để người mình yêu được mạnh mẽ. Một tình yêu dám chết đi để người mình yêu được sống. Trong thế giới hôm nay, khi người ta tôn sùng sức mạnh, sự thành công, sự nổi tiếng, và cái tôi vĩ đại, thì hình ảnh Chiên Thiên Chúa trở nên một lời mời gọi lội ngược dòng đầy thách thức. Chúng ta có dám trở nên "như chiên" giữa bầy sói không? Chúng ta có dám sống hiền lành, khiêm nhường, chịu thiệt thòi để gìn giữ hòa bình và tình yêu không? Hay chúng ta vẫn muốn làm sư tử, muốn cắn xé, muốn thống trị người khác? Chiêm ngắm Đức Giê-su là Đấng xóa tội trần gian, chúng ta được mời gọi nhìn lại gánh nặng tội lỗi của chính mình. Đừng sợ hãi, cũng đừng tuyệt vọng. Vì đã có Đấng mang gánh nặng ấy cho ta rồi. Vấn đề là ta có dám trao gánh nặng ấy cho Ngài, qua bí tích Hòa Giải, qua sự sám hối chân thành, hay ta vẫn cố chấp giữ lấy để rồi ngã gục?

Gio-an Tẩy Giả tiếp tục lời chứng của mình bằng một sự khiêm tốn lạ lùng: "Chính Người là Đấng tôi đã nói tới khi bảo rằng: Có người đến sau tôi, nhưng trổi hơn tôi, vì có trước tôi." Lời tuyên bố này xác định thiên tính của Đức Giê-su. Về mặt con người, Đức Giê-su sinh sau Gio-an sáu tháng. Gio-an thi hành sứ vụ trước Đức Giê-su. Nhưng về nguồn gốc thần linh, Đức Giê-su "có trước" Gio-an, vì Ngài là Ngôi Lời vĩnh cửu, "có từ ban đầu nơi Thiên Chúa". Gio-an ý thức rất rõ vị trí của mình. Ông chỉ là tiếng hô, còn Đức Giê-su là Lời. Ông chỉ là ngọn đèn, còn Đức Giê-su là Ánh Sáng. Ông chỉ là phù rể, còn Đức Giê-su là Chàng Rể. Sự vĩ đại của Gio-an nằm ở chỗ ông biết mình là ai và biết Đấng đến sau mình là ai. Ông không ghen tị, không tranh giành ảnh hưởng, không cố bám víu lấy đám đông môn đệ. Ông sẵn sàng nhỏ đi để Đức Giê-su được lớn lên. Đây là bài học tuyệt vời cho mỗi người tông đồ, mỗi linh mục, tu sĩ và giáo dân chúng ta. Mọi việc chúng ta làm, mọi chức vụ chúng ta giữ, đều chỉ có một mục đích duy nhất: làm cho Đức Ki-tô được nhận biết và yêu mến. Nếu chúng ta làm lu mờ hình ảnh Chúa bằng cái tôi to đùng của mình, thì chúng ta đã thất bại, dù công việc có vẻ thành công vang dội đến đâu.

"Tôi đã không biết Người." Câu nói này được Gio-an lặp lại hai lần, như một điệp khúc của sự thành thật và mầu nhiệm. Gio-an và Đức Giê-su là anh em họ hàng, chắc chắn họ biết nhau về mặt huyết thống. Nhưng "biết" ở đây là sự thấu hiểu về bản tính Thiên Chúa và sứ mạng Cứu Thế của Đức Giê-su. Ngay cả vị Tiền Hô vĩ đại nhất cũng cần được mặc khải mới có thể nhận ra Đấng Mêsia. Đức tin không phải là sản phẩm của suy luận logic hay sự thông thái trần gian. Đức tin là ân ban, là sự vén màn của Thiên Chúa. Gio-an đã không tự mình bịa ra danh hiệu "Chiên Thiên Chúa". Ông nhận ra điều đó nhờ dấu chỉ mà Đấng sai ông đi đã báo trước: "Ngươi thấy Thần Khí xuống và ngự trên ai, thì người đó chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần."

Hình ảnh Thần Khí tựa chim bồ câu từ trời xuống và ngự trên Đức Giê-su là đỉnh cao của cuộc thần hiển này. Đây là khoảnh khắc Ba Ngôi Thiên Chúa cùng xuất hiện: Chúa Cha sai Thần Khí xuống, Thần Khí ngự trên Chúa Con, và Chúa Con là Đấng tiếp nhận để thi hành sứ vụ. Chim bồ câu, biểu tượng của sự hòa bình, của sự giao hòa (như sau cơn Đại Hồng Thủy thời Nô-ê), và cũng là biểu tượng của tình yêu dịu ngọt trong sách Diễm Ca. Thần Khí ngự xuống trên Đức Giê-su không phải để tẩy rửa Ngài (vì Ngài vô tội), nhưng để xức dầu tấn phong Ngài làm Đấng Mêsia – Đấng được xức dầu. Sự kiện này đánh dấu sự chuyển giao từ Cựu Ước sang Tân Ước, từ phép rửa bằng nước của sự sám hối sang phép rửa trong Thánh Thần của sự tái sinh. Gio-an làm phép rửa trong nước để chuẩn bị lòng người, nhưng nước ấy không thể tẩy sạch bản thể tội lỗi, không thể ban sự sống đời đời. Chỉ có Đấng đến sau ông, Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần, mới có quyền năng biến đổi con người từ bên trong, biến kẻ nô lệ tội lỗi thành con cái Thiên Chúa.

Gio-an Tẩy Giả đã thấy và đã làm chứng. Động từ "thấy" của Gio-an không phải là cái nhìn thoáng qua hời hợt, mà là cái nhìn thấu suốt, cái nhìn của một tâm hồn chiêm niệm luôn hướng về Thiên Chúa. Và từ cái "thấy" sâu sắc đó dẫn đến hành động "làm chứng". Sứ mạng của người Ki-tô hữu chúng ta cũng bắt nguồn từ quy trình này: Thấy và Làm chứng. Chúng ta không thể làm chứng cho Chúa nếu chúng ta chưa từng "thấy" Chúa, chưa từng gặp gỡ Ngài trong cầu nguyện, trong Bí tích, và trong tha nhân. Một người làm chứng mà không có kinh nghiệm cá vị về Đức Giê-su thì lời chứng ấy chỉ là sáo rỗng, là tiếng phèn la inh ỏi. Ngược lại, nếu chúng ta nói rằng mình đã gặp Chúa mà lại im lặng, không dám sống và rao giảng về Ngài, thì đức tin ấy là đức tin chết.

Lời chứng của Gio-an mạnh mẽ vì nó xuất phát từ sự xác tín tuyệt đối: "Người đó chính là Con Thiên Chúa." Đây là đích đến của mọi lời rao giảng. Gio-an không giới thiệu một nhà cải cách xã hội, một triết gia lỗi lạc, hay một lương y tài ba. Ông giới thiệu Con Thiên Chúa. Chỉ có Con Thiên Chúa mới có khả năng nối kết trời và đất, mới có đủ thẩm quyền để tha tội và ban sự sống vĩnh cửu. Nhận biết Đức Giê-su là Con Thiên Chúa đòi hỏi chúng ta phải thay đổi hoàn toàn thái độ sống. Chúng ta không thể coi Ngài như một thần tượng để chiêm ngưỡng từ xa, mà phải tôn thờ Ngài, vâng phục Ngài và bước đi theo Ngài.

Cuộc đời của chúng ta, thưa anh chị em, cũng là một hành trình đi tìm và nhận diện Chiên Thiên Chúa giữa dòng đời tấp nập. Có những lúc Chúa đến với chúng ta trong hình hài của sự thành công, may mắn, chúng ta dễ dàng tạ ơn. Nhưng có những lúc Chúa đến trong hình hài của sự thua thiệt, của thập giá, của "Con Chiên bị đem đi làm thịt", liệu chúng ta có nhận ra Ngài không? Liệu chúng ta có dám chỉ vào những biến cố đau thương, những thất bại, những bất công mà mình đang gánh chịu và nói: "Đây là dấu vết của Chiên Thiên Chúa, đây là con đường của Đấng xóa tội trần gian" không? Hay chúng ta sẽ than trách và tháo lui? Đức tin trưởng thành là đức tin nhận ra Chúa ngay cả khi Ngài im lặng, ngay cả khi Ngài có vẻ yếu đuối nhất.

Hơn thế nữa, mỗi ngày trong Thánh Lễ, khi vị linh mục nâng Bánh Thánh và Chén Thánh lên, lời của Gio-an Tẩy Giả lại vang lên một lần nữa, sống động và hiện thực hơn bao giờ hết: "Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian..." Đó không còn là lời kể lại một câu chuyện quá khứ, mà là lời công bố một hiện tại mầu nhiệm. Đức Giê-su đang hiện diện thực sự, sống động, bằng xương bằng thịt, bằng trọn vẹn thần tính và nhân tính của Ngài trên bàn thờ. Ngài vẫn đang tiếp tục hiến mình, vẫn đang tiếp tục "xóa tội", vẫn đang tiếp tục chờ đợi để đi vào tâm hồn chúng ta. Chúng ta có cảm thấy rúng động khi nghe lời đó không? Hay chúng ta nghe nó như một thói quen vô hồn? Lúc đó, chúng ta có thực sự thấy mình bất xứng như viên đại đội trưởng: "Lạy Chúa, con chẳng đáng Chúa ngự vào nhà con" không? Và chúng ta có khao khát Ngài như nai khát nước suối nguồn không?

Chiên Thiên Chúa không chỉ là đối tượng để tôn thờ, mà còn là mẫu mực để noi theo. Là môn đệ của Chiên Thiên Chúa, chúng ta được mời gọi sống linh đạo của Con Chiên. Đó là linh đạo của sự hiến dâng không đòi đền đáp. Trong gia đình, đó là người cha, người mẹ chấp nhận vất vả, hy sinh những sở thích riêng tư để lo cho con cái, đó là sự nhẫn nại trước những lầm lỗi của người bạn đời. Trong cộng đoàn, đó là sự phục vụ âm thầm, là sự tha thứ cho những xúc phạm, là việc "gánh lấy" những trách nhiệm mà người khác đùn đẩy. Thế giới này đầy rẫy những "con sói" của bạo lực, gian dối và ích kỷ. Nếu chúng ta dùng nanh vuốt của sói để đối lại với sói, thế giới sẽ trở thành hỏa ngục. Nhưng nếu chúng ta dám sống như Chiên Thiên Chúa, lấy nhu thắng cương, lấy tình yêu hóa giải hận thù, thì Nước Trời sẽ hiện diện ngay giữa thế gian này.

Gio-an Tẩy Giả đã hoàn thành sứ mạng của mình một cách tuyệt hảo khi ông giới thiệu Chúa cho các môn đệ của mình, và rồi để họ đi theo Chúa. Ông không giữ họ lại cho riêng mình. Ông chấp nhận cô đơn, chấp nhận bị lãng quên, thậm chí chấp nhận cái chết trong ngục tối, miễn là "Người phải nổi bật lên, còn tôi phải lu mờ đi". Tâm tình này cần thiết biết bao trong thời đại hôm nay. Chúng ta cần những bậc cha mẹ biết hướng con cái về Chúa hơn là về danh vọng tiền tài. Chúng ta cần những giáo lý viên, những người tông đồ biết dẫn đưa người khác đến gặp gỡ Chúa chứ không phải để họ lệ thuộc vào mình. Sự thành công của người loan báo Tin Mừng là khi người ta quên mình đi để chỉ còn nhớ đến Chúa.

"Tôi đã thấy Thần Khí... ngự trên Người." Một chi tiết quan trọng là Thần Khí không chỉ xuống, mà còn "ngự" lại. Điều này diễn tả sự hiệp nhất bền vững, vĩnh cửu. Đức Giê-su luôn luôn hoạt động trong quyền năng của Thánh Thần. Và chúng ta, những người đã lãnh nhận Bí tích Rửa Tội và Thêm Sức, chúng ta cũng có Thánh Thần ngự trong mình. Thân xác chúng ta là đền thờ của Chúa Thánh Thần. Nhưng liệu chúng ta có để cho Thánh Thần dẫn dắt, hay chúng ta thường dập tắt tiếng nói của Ngài bằng những ồn ào của dục vọng? Để có thể giới thiệu Chúa cho người khác như Gio-an, chúng ta phải là người đầy tràn Thánh Thần. Chỉ có lửa mới châm được lửa. Chỉ có người say mê Chúa mới làm cho người khác say mê Chúa được.

Kết thúc bài Tin Mừng, Gio-an khẳng định lại một lần nữa: "Tôi đã thấy và tôi làm chứng." Cuộc đời người Kitô hữu gói gọn trong việc làm chứng này. Thế giới hôm nay có thể không tin vào những lý thuyết giáo điều khô khan, nhưng họ sẽ tin vào những chứng nhân. Họ sẽ tin khi thấy một người Công giáo sống lương thiện giữa một môi trường gian dối. Họ sẽ tin khi thấy một gia đình Công giáo yêu thương nhau giữa một xã hội đầy rẫy ly tán. Họ sẽ tin khi thấy những người trẻ Công giáo dám sống khiết tịnh và dấn thân phục vụ giữa một lối sống hưởng thụ buông thả. Chính cuộc sống của chúng ta phải là ngón tay chỉ vào Đức Giê-su và nói với thế giới: "Đây là Chiên Thiên Chúa." Lời nói của chúng ta có thể hùng hồn, nhưng chính cách sống của chúng ta mới là lời chứng thuyết phục nhất.

Hôm nay, khi gập lại trang Tin Mừng, xin cho hình ảnh Chiên Thiên Chúa in đậm trong trái tim mỗi người. Xin cho chúng ta cảm nhận được sức nặng của tình yêu mà Chúa đã gánh lấy vì tội lỗi chúng ta. Xin cho chúng ta, giống như Gio-an Tẩy Giả, có một đôi mắt đức tin nhạy bén để nhận ra Chúa trong mọi hoàn cảnh, một trái tim khiêm nhường để luôn đặt Chúa lên trên hết, và một lòng nhiệt thành không mệt mỏi để giới thiệu Chúa cho anh chị em mình. Ước gì mỗi ngày sống của chúng ta đều là một bài ca tụng: "Lạy Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian, xin thương xót chúng con. Lạy Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian, xin ban bình an cho chúng con." Amen.

Lm. Anmai, CSsR

Thiên Chúa tỏ mình và con người tự che mắt

Thiên Chúa không bao giờ ngừng tỏ mình. Vấn đề không nằm ở chỗ Ngài có nói hay không, mà ở chỗ con người có còn đủ tĩnh để nghe, đủ nghèo để thấy, và đủ khiêm hạ để đón nhận hay không.

Trong mầu nhiệm Hiển Linh, điều gây ngạc nhiên không phải là việc Thiên Chúa xuất hiện, nhưng là phản ứng rất khác nhau của con người trước cùng một mạc khải.

Có người chỉ thấy một ánh sao nhỏ bé giữa bầu trời mênh mông, nhưng lại nhận ra Chân Lý và sẵn sàng lên đường.

Có người nắm trong tay cả Kinh Thánh, cả lịch sử cứu độ, cả quyền bính tôn giáo, nhưng vẫn đứng yên, thậm chí khép chặt đôi mắt, khép chặt lòng mình trước chính Thiên Chúa đang ở rất gần.

Hiển Linh vì thế không chỉ là lễ Thiên Chúa tỏ mình, mà còn là lễ vạch trần lòng người.

Nơi đó, ánh sáng không chỉ chiếu rọi Hài Nhi Bêlem, mà còn soi rõ một sự thật âm thầm nhưng cay đắng: Có những con người che mắt mình ngay giữa lúc Thiên Chúa đang tỏ mình rõ nhất.

1. MỘT ÁNH SAO VÀ MỘT TÂM HỒN ĐÃ SẴN SÀNG.

Trong đêm tối của lịch sử, Thiên Chúa không chọn những tiếng sấm, cũng không giương cao những dấu lạ làm chao đảo trời đất. Thiên Chúa chỉ đặt một ánh sao nhỏ bé trên bầu trời. Chỉ thế thôi.

Nhưng chính ánh sao ấy đã đủ để làm cho những con người ở rất xa, rất xa – những nhà đạo sĩ phương Đông – lên đường, băng qua sa mạc, vượt qua hiểm nguy, bỏ lại sau lưng sự an toàn của mình, để đi tìm một điều họ chưa hề thấy bằng mắt, chưa hề nắm chắc trong tay.

Ánh sao, mạc khải tự nhiên, không đến từ sách vở, không từ đền thờ, không từ chức danh hay quyền bính tôn giáo. Chỉ là dấu chỉ rất nhỏ, cộng với một tâm hồn đủ nghèo để không khinh thường điều bé nhỏ.

Các đạo sĩ bắt gặp Chân Lý không phải vì họ thông thái hơn người, mà vì họ đã có “tâm hồn” trước khi có dấu chỉ.

Họ nghèo, không phải nghèo tiền bạc, nhưng nghèo vì: Không tự mãn với những gì mình biết, không khép kín trong hệ thống mình đang có, và đủ khiêm tốn để tin rằng: Có một Ánh Sáng vượt quá mình.

Chính tinh thần nghèo khó ấy đã làm cho ánh sao, vốn ai cũng có thể thấy, trở thành lời gọi riêng đối với họ.

2. KINH THÁNH TRONG TAY NHƯNG THIÊN CHÚA KHÔNG Ở TRONG LÒNG.

Trái ngược hẳn là khung cảnh tại Giêrusalem. Ở đó không thiếu gì cả. Ở đó có Đền Thờ nguy nga, có Kinh Thánh, có hàng tư tế, kinh sư, có truyền thống, luật lệ, học vấn và quyền lực tôn giáo.

Khi các đạo sĩ hỏi: “Vua dân Do Thái mới sinh hiện ở đâu?”, người ta trả lời rất chính xác: Bêlem.

Đó là mạc khải siêu nhiên, mạc khải ở bậc cao, mạc khải qua Lời Chúa, qua lịch sử cứu độ, qua Kinh Thánh được đọc, được học, được giảng dạy.

Nhưng điều bi thảm là: Họ biết mà không đi; Họ nói mà không tìm; Họ dạy người khác về Chúa, nhưng không để cho mình được Chúa dẫn đi.

Hêrôđê và những người “có đạo” ấy: thờ Chúa mà không có Chúa, đọc Kinh Thánh mà không yêu Đấng ban Kinh Thánh, phụng sự tôn giáo nhưng thực ra phụng sự chính mình.

Mạc khải siêu nhiên, thay vì dẫn họ đến quỳ gối, lại trở thành công cụ để bảo vệ quyền lực, và sau cùng, mở đường cho sự tàn bạo.

3. KHI MẠC KHẢI KHÔNG CÒN CỨU ĐỘ, MÀ TRỞ THÀNH ÁN PHẠT.

Hiển Linh cho thấy một nghịch lý rất đau: Không phải ai có mạc khải cũng gặp được Thiên Chúa. Có những người: càng biết nhiều về Chúa, càng xa Chúa; càng nắm luật chặt chẽ, càng thiếu lòng thương xót; càng đứng ở trung tâm tôn giáo, càng sợ mất ngai vàng của cái tôi.

Lòng kiêu ngạo, sự không trung tín, và lối sống không tình yêu đã làm cho mạc khải, vốn để cứu độ, trở thành “con dao hai lưỡi“, khiến con người thủ đoạn hơn, nham hiểm hơn, và sẵn sàng giết chết sự sống vô tội để giữ lấy quyền lợi của mình.

Hêrôđê không đi Bêlem. Khoảng cách từ Giêrusalem đến Bêlem chỉ vài cây số, nhưng đó là khoảng cách không thể vượt qua đối với một trái tim không còn nghèo trước mặt Thiên Chúa.

4. HAI CON ĐƯỜNG – HAI SỐ PHẬN.

Hiển Linh đặt trước mắt chúng ta hai con đường đối lập:

– Một bên là con đường xa xôi, đầy gian khổ, không chắc chắn, nhưng có ánh sao và có tấm lòng chân thành. Một bên là khoảng cách rất ngắn, đầy đủ phương tiện, dư thừa tri thức, nhưng trái tim đã khép kín.

– Một bên là: những người đi tìm, những người dám ra khỏi mình, những người quỳ xuống trước Hài Nhi nghèo hèn. Một bên là: những kẻ đứng yên, những kẻ tính toán, những kẻ không quỳ gối trước Thiên Chúa, nhưng bắt Thiên Chúa phải phục vụ mình.

Hiển Linh không lên án người không biết, nhưng vạch trần sự nguy hiểm của kẻ tưởng mình đã biết tất cả.

5. BÀI HỌC THẲNG THẮN CHO NGƯỜI TÍN HỮU HÔM NAY.

Lễ Hiển Linh buộc chúng ta phải tự hỏi, rất thẳng và rất hiện sinh:

– Tôi có Chúa, hay chỉ có đạo?

– Tôi nghèo trước mặt Chúa, hay giàu có trong cái tôi của mình: giàu hiểu biết, giàu chức vị, giàu tiếng nói, giàu ảnh hưởng?

– Tôi đi tìm Chúa, hay chỉ dùng Chúa để củng cố chỗ đứng của mình?

– Tôi đọc Kinh Thánh để hoán cải, hay để chứng minh mình đúng?

Tâm hồn có Chúa là tâm hồn dám quỳ, dám để mình được dẫn đi, dám để ánh sao nhỏ bé của Chúa làm xáo trộn những tính toán an toàn của mình.

Tâm hồn không có Chúa là tâm hồn: đứng rất gần mạc khải, nhưng rất xa tình yêu; nói nhiều về Chúa, nhưng sợ mất chính mình.

6. ÁNH SAO HÔM NAY VẪN CÒN ĐÓ.

Thiên Chúa vẫn đang hiển linh hôm nay: Trong những con người bé nhỏ, trong những hoàn cảnh âm thầm, trong những tiếng gọi không ồn ào.

Nhưng chỉ những ai nghèo đủchân thành đủ, và can đảm đủ để lên đường, mới có thể nhận ra ánh sao ấy.

Xin cho chúng ta đừng trở thành những người biết rất rõ Chúa sinh ở đâu, nhưng cả đời không bao giờ chịu bước tới đó.

Lm JB NGUYỄN MINH HÙNG

LỜI CHÚA (Mt 2,13-15.19-23) VÀ SUY NIỆM LỄ THÁNH GIA NĂM A

Tin Mừng Chúa Giê-su Ki-tô theo thánh Mát-thêu: (Mt 2,13-15.19-23):13 Khi các nhà chiêm tinh đã ra về, thì sứ thần Chúa hiện ra báo mộng cho ông Giu-se rằng : “Này ông, dậy đem Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai-cập, và cứ ở đó cho đến khi tôi báo lại, vì vua Hê-rô-đê sắp tìm giết Hài Nhi đấy !” 14 Ông Giu-se liền trỗi dậy, và đang đêm, đưa Hài Nhi và mẹ Người trốn sang Ai-cập. 15 Ông ở đó cho đến khi vua Hê-rô-đê băng hà, để ứng nghiệm lời Chúa phán xưa qua miệng ngôn sứ : Ta đã gọi con Ta ra khỏi Ai-cập. 19 Sau khi vua Hê-rô-đê băng hà, sứ thần Chúa lại hiện ra với ông Giu-se bên Ai-cập, 20 báo mộng cho ông rằng : “Này ông, dậy đem Hài Nhi và mẹ Người về đất Ít-ra-en, vì những kẻ tìm giết Hài Nhi đã chết rồi.” 21 Ông liền trỗi dậy đưa Hài Nhi và mẹ Người về đất Ít-ra-en. 22 Nhưng vì nghe biết Ác-khê-lao đã kế vị vua cha là Hê-rô-đê, cai trị miền Giu-đê, nên ông sợ không dám về đó. Rồi sau khi được báo mộng, ông lui về miền Ga-li-lê, 23 và đến ở tại một thành kia gọi là Na-da-rét, để ứng nghiệm lời đã phán qua miệng các ngôn sứ rằng : Người sẽ được gọi là người Na-da-rét. Đó là Lời Chúa

Suy Niệm Lời Chúa:

+/ Thầy Mạnh Tử, thuở nhỏ, nhà ở gần nghĩa địa, thấy người đào, chôn, lăn, khóc, về nhà cũng bắt chước đào, chôn, lăn ra khóc. Bà mẹ thấy thế, nói: –  Chỗ này không phải chỗ con ta ở. Rồi dọn nhà ra gần chợ. Thầy Mạnh Tử ở gần chợ, thấy người buôn bán điên đảo, về nhà cũng bắt chước cách buôn bán đảo điên. Bà mẹ thấy thế lại nói:- Chỗ này cũng không phải chỗ con ta ở. Bèn dọn nhà đến ở cạnh trường học. Thầy Mạnh Tử ở gần trường học, thấy trẻ đua nhau học tập lễ phép, về nhà cũng bắt chước học tập lễ phép. Bấy giờ bà mẹ mới vui lòng nói:- Chỗ này là chỗ con ta ở. Một hôm, thầy Mạnh Tử thấy nhà hàng xóm giết heo, về nhà hỏi mẹ:- Người ta giết heo làm gì thế? Bà mẹ nói đùa:- Để cho con ăn đó. Nói xong, bà nghĩ lại, hối hận nên nói:- Ta nói lỡ rồi. Con ta thơ ấu, tri thức mới mở mang mà ta nói dối nó, thì chẳng ra ta dạy nó nói dối hay sao?. Rồi bà đi mua thịt heo, đem về cho con ăn thật. Lại một hôm thầy Mạnh Tử đang đi học, bỏ học về nhà chơi. Bà mẹ đang ngồi dệt cửi, trông thấy, liền cầm dao cắt đứt tấm vải đang dệt trên khung, mà nói rằng:- Con đang đi học, mà bỏ học, thì cũng như mẹ đang dệt tấm vải này mà cắt đứt như vậy. Từ ngày đó, thầy Mạnh Tử học tập rất chuyên cần. Về sau thành một bậc đại hiền nhân.

-Được như thế là nhờ công giáo dục quý báu của bà mẹ.

+/ Sách Gương Phúc có kể chuyện như sau: Một Cha sở ở miền núi trước khi lên giường ngủ quỳ xuống quay mặt về hướng nghĩa địa và cầu nguyện. Đêm yên lặng, những nấm mộ chập chờn trong bóng tối, những cây thánh giá lô nhô trong nghĩa địa. Tất cả những cái đó làm cho ngài cầu nguyện sốt sắng. Một đêm kia ngài nghe có tiếng chân người và tiếng đá rơi. Trong bóng tối ngài thấy một hình người đang trèo lên thành nghĩa địa và đi giữa những nấm mồ. Ngài tự hỏi:-Một kẻ trộm chăng? Hay một người điên? Qua đêm thứ tư, ngài núp sau một cây, ngài thấy rõ người lạ mặt đến quỳ trước ngôi mộ và khóc than thảm thiết rằng:-Cha ơi, cha có tha cho con không? Cha nói đi, cha nói đi. Cha sở nhìn kỹ và biết đó là một người bổn đạo trong xứ đạo. Người này đã ngỗ nghịch làm cho người cha phiền muộn quá đến chết đi. Ngài nói:-Ồ con, con còn bị cắn rứt không thể nào ngủ được sao? Người bổn đạo khiếp sợ quá nhưng khi nhận ra tiếng cha sở thì định thần lại nói:- Thưa cha, con không được bằng an chút nào cả. Hình ảnh cha con đang tức giận luôn theo dõi con.

Con biết con đã xử tệ với cha con, con cái của con cũng sẽ xử tệ với con như vậy. Ngày mai con đem con cái đến đây và xin chúng đừng bắt chước gương xấu của con đã làm. 10 năm sau, người bổn đạo đó chết và được chôn cất trong nghĩa địa ấy. Trong khi cha sở đang làm phép mộ, con cái ông ta lên tiếng nhạo báng và chửi rủa.

-Thánh Gia là mẫu gương giáo dục tuyệt vời cho các gia đình Công Giáo của ta. Thánh Gia là trường huấn luyện cho Chúa Giê-su, chuẩn bị ngày lãnh nhận sứ mạng Chúa Cha trao phó. Thánh Gia là chuẩn mực chính xác nhất cho các người cha, người mẹ và con cái trong gia đình.

+/ Ta hãy suy niệm một số điều sau đây:

1) Thánh Giuse: Gương mẫu của người trưởng gia đình.

a) Tinh thần trách nhiệm lo cho gia đình và luôn cậy trông Thiên Chúa. Được sứ thần mộng báo, Giuse đã lập tức trỗi dậy ngay lúc đêm tối, đem vợ con chạy trốn sang Ai-cập. Sau khi Hê-rô-đê băng hà, Giuse lại một lần nữa vâng lệnh sứ thần mộng báo, đem Thánh Gia trở về làng Na-da-rét, để tránh bị ông vua mới là Ác-khê-lao tàn ác không kém vua cha giết hại. -Qua sự kiện này, ta thấy ngày hôm nay dù có Chúa ở cùng, nhưng chắc chắn chúng ta cũng không tránh khỏi những cơn phong ba bão tố vùi dập cuộc đời. Có điều là thánh Giuse đã không bao giờ ngã lòng trông cậy, để nêu gương cậy trông cho chúng ta.

b) Vợ chồng cùng nhau cộng tác vượt qua nghịch cảnh. Thánh Giuse và Đức Ma-ri-a trong một gia đình cũng không tránh khỏi có những lúc sóng gió, tưởng như con thuyền gia đình sắp tan vỡ.Chẳng hạn: Giuse đã từng suy nghĩ ngày đêm và quyết định bỏ Ma-ri-a; Cũng có lúc hai ông bà rơi vào hoàn cảnh khốn cùng, như khi hai người về quê khai nhân danh, vừa tới thành Bê-lem thì Ma-ri-a cũng tới lúc sinh con, mà Giuse không sao tìm được một chỗ trọ cho hai người; Có những lúc Giuse Ma-ri-a phải lo lắng, chạy đôn chạy đáo đi tìm Hài nhi bị lạc mà phải mất tới ba ngày mới tìm thấy con trong Đền Thờ. Nhất là có lúc Đức Ma-ri-a phải chịu dao sắc thâu qua trái tim, khi đứng dưới chân bên cây thập giá, chứng kiến người con yêu bị hấp hối và sau khi chết còn bị lưỡi đòng đâm thâu cạnh sườn.

-Như vậy, Thánh Gia cũng chẳng được ưu đãi hơn so với các gia đình khác, cũng phải trải qua nhiều nghịch cảnh, để nêu gương cho các gia đình tín hữu chúng ta hôm nay. Trong bất cứ hoàn cảnh nào dù khó khăn đến mấy, chúng ta cũng không được ngã lòng thất vọng, nhưng luôn phải vững tin vào tình thương và quyền năng của Chúa quan phòng. Người sẽ mau biến sự dữ ra sự lành.

2) Những nguyên nhân gây ra đổ vỡ hạnh phúc gia đình. Các gia đình hôm nay cũng có nhiều nguy cơ đổ vỡ hạnh phúc:

a) Có thể do ham bài bạc, như đánh đề cá độ gây nợ nần, dẫn đến lục đục, hay nhà tan cửa nát, vợ chồng ly tán, con cái nheo nhóc bỏ học để đi bụi đời.

b) Có thể do thái độ ích kỷ và vô trách nhiệm không quan tâm lo cho gia đình dẫn đến sự bất bình khinh thường nhau và tranh cãi giận hờn nhau.

c) Có thể do thói hư như rượu chè, cờ bạc, trai gái hút chích, hoặc do cách ứng xử thiếu lịch sự tế nhị với nhau và với cha mẹ họ hàng đôi bên, do lối ứng xử độc đoán không tôn trọng nhau, không bàn hỏi khi quyết định những vấn đề quan trọng, không thống nhất về việc nuôi nấng dạy dỗ con cái.

d) Có thể do thiếu lòng mến Chúa yêu người.

-Trong một cuộc phỏng vấn, mẹ thánh Tê-rê-sa Can-quýt-ta đã nói về vấn đề này như sau: “Tôi nghĩ rằng không phải ai cũng ý thức về tầm quan trọng của gia đình. Nếu chúng ta yêu thương nhau thì chắc chắn thế giới này sẽ đổi khác”.

-Thế giới băng hoại dần dần là vì có quá nhiều gia đình thiếu vắng tình thương. Giới trẻ hiện nay rơi vào nhiều thói xấu nghiện ngập, phần lớn là do cha mẹ đã thiếu quan tâm dạy dỗ chúng.

3) Làm thế nào để gia đình luôn sống hòa hợp hạnh phúc?

a) Học và tập sống nhân bản và giáo lý: Phải làm thế nào để con em chúng ta được giáo dục về các đức tính tự nhiên, đi đôi với việc giáo dục đức tin. Các bạn trẻ sắp bước vào đời sống hôn nhân gia đình cần được học tập về bổn phận trách nhiệm của mỗi thành viên gia đình, biết đúc rút kinh nghiệm từ các đôi vợ chồng hạnh phúc hay bất hạnh, để phòng tránh và chuẩn bị cho cuộc sống chung sau này.

b) Mỗi người phải có tinh thần trách nhiệm, sống đúng vai trò của mình trong gia đình là chồng, vợ, hay con cái.

c) Vợ chồng cần nuôi dưỡng tình yêu: Tình yêu có đặc điểm là hy sinh cho nhau. Cây tình yêu của hai vợ chồng rất cần được quan tâm khử trừ những con sâu ích kỷ khi chỉ nghĩ đến mình. Con sâu độc đoán hẹp hòi, gàn dở khi cố chấp không chịu nhận lỗi và sửa sai, con sâu lười biếng bổn phận của mình và vô trách nhiệm không chịu lo kiếm tiền lo cho gia đình, con sâu tình cảm ngang trái vụng trộm, hoặc hay ghen bóng ghen gió. Tình yêu vợ chồng cũng cần được tưới bón bằng Lời Chúa, lời cầu nguyện, bằng những lời khen tặng thành thật, bằng những lời yêu thương và những sự quan tâm và cử chỉ âm yếm dành riêng cho nhau.

d) Vợ chồng phải tôn trọng nhau, thể hiện qua việc biết trao đổi bàn bạc với nhau trong mọi việc:Phải một lòng một ý về việc cư xử với tha nhân, về việc nuôi dạy con cái, về việc mua sắm đồ dùng trong nhà, và việc làm ăn sinh sống. Vì “Thuận vợ thuận chồng, tát bể Đông cũng cạn”, và: “Phu phụ hòa, gia đạo thịnh”.

e) Sau hết, Gia đình phải có Chúa hiện diện: Nếu gia đình thực sự có đức tin, có lòng đạo đức, thì sẽ thương yêu và nhường nhịn nhau.

-Cần dọn bàn thờ Chúa ở nơi trang trọng nhất và cao nhất (…) năng đọc kinh chung gia đình sáng tối khi có thể.

-Nếu gia đình có Chúa là Tình Yêu ngự trị thì chắc sẽ vượt qua mọi thử thách gặp phải trong cuộc sống hôn nhân gia đình. Amen

 

Linh Mục G.B Nguyễn Ngọc Nga

Subcategories