- Details
-
Category: 3. Sống & Chia Sẻ Lời Chúa
Bằng kinh nghiệm cá nhân, ai cũng biết, trong cuộc đời có nhiều điều rất khó giải thích, nhất là tình yêu. Một người mẹ thức đêm chăm con bệnh, một người cha âm thầm hy sinh cho gia đình, hay một người bạn chí tình vẫn ở bên lúc ta gặp khó khăn nhất. Nếu hỏi vì sao họ làm thế, câu trả lời nhiều khi chỉ có thể là: “Vì họ yêu.” Tình yêu được hiểu bằng trái tim hơn là bằng lý luận.
Mầu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi cũng vậy. Con người luôn muốn hiểu Thiên Chúa, nhưng càng đến gần Ngài, họ càng nhận ra Ngài vượt quá trí hiểu giới hạn của mình. Con người có thể cảm nhận tình yêu và sự hiện diện của Thiên Chúa, nhưng không thể đóng khung Ngài trong những công thức lý trí.
Có câu chuyện đại ý như sau: thánh Augustinô đang khi đi dạo bên bờ biển và suy niệm về Chúa Ba Ngôi, ngài thấy một cậu bé dùng vỏ sò múc nước biển đổ vào một cái lỗ nhỏ, với mong muốn múc cạn hết được nước biển. Thánh nhân liền nói điều đó không thể thực hiện được. Cậu bé đáp: “Việc ngài đang muốn dùng trí óc nhỏ bé để hiểu biết trọn vẹn Thiên Chúa lại càng không thể thực hiện được.” Câu chuyện nhắc chúng ta rằng Thiên Chúa là mầu nhiệm Tình Yêu để cảm nghiệm, để sống với, chứ không phải là bài toán để giải đáp.
- Một Thiên Chúa duy nhất trong tình yêu
Hội Thánh dạy rằng chỉ có một Thiên Chúa, nhưng có Ba Ngôi vị: Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Ba Ngôi khác biệt nhưng cùng chung một bản tính thần linh: “Chúng ta không tuyên xưng ba Thiên Chúa, nhưng một Thiên Chúa duy nhất có Ba Ngôi: Ba Ngôi đồng bản thể. Các Ngôi Vị Thiên Chúa không chia nhau một thần tính duy nhất, nhưng mỗi Ngôi Vị đều là Thiên Chúa trọn vẹn: Chúa Cha là gì thì Chúa Con là thế ấy, Chúa Con là gì thì Chúa Cha là thế ấy, Chúa Cha và Chúa Con là gì thì Chúa Thánh Thần là thế ấy, nghĩa là một Thiên Chúa duy nhất theo bản tính” (GLHTCG số 253). Đây là mầu nhiệm lớn nhất của đức tin Kitô giáo.
Lý trí con người quen với những con số rõ ràng, nhưng nơi Thiên Chúa, chúng ta không gặp một phép toán nhưng gặp một mầu nhiệm, mầu nhiệm tình yêu. Thiên Chúa không cô độc, nhưng là sự hiệp thông hoàn hảo.
Dù từ “Ba Ngôi” không xuất hiện trong Kinh Thánh, toàn bộ Tân Ước đều dẫn chúng ta đến chân lý ấy. Trong biến cố Truyền Tin, Chúa Cha sai thiên thần đến với Mẹ Maria, Chúa Con nhập thể và Chúa Thánh Thần ngự xuống trên Mẹ (Lc 1, 26-38). Khi Chúa Giêsu chịu phép rửa tại sông Giođan, Chúa Thánh Thần hiện xuống như chim bồ câu và tiếng Chúa Cha vang lên từ trời: “Khi Chúa Giêsu chịu phép rửa xong, vừa ở dưới nước lên, thì các tầng trời mở ra. Người thấy Thần Khí Thiên Chúa đáp xuống như chim bồ câu và ngự trên Người. Và có tiếng từ trời phán: Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người” (Mt 3, 16-17).
Trước khi lên trời, Chúa Giêsu còn truyền cho các môn đệ làm phép rửa: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (Mt 28,19). Từ thời các Tông đồ, Hội Thánh đã sống trong niềm tin ấy, và các Công đồng Nixêa cùng Constantinôpôli đã long trọng xác tín giáo lý về Chúa Ba Ngôi. *
Tuy vậy, điều quan trọng nhất không phải là giải thích được giáo lý ấy đến mức độ nào, nhưng là nhận ra rằng Thiên Chúa của chúng ta là Thiên Chúa của tình yêu hiệp thông.
- Chúa Ba Ngôi hiện diện trong đời sống người Kitô hữu
Nhiều người nghĩ mầu nhiệm Ba Ngôi quá cao siêu, nhưng thật ra không có giáo lý nào gần gũi với đời sống Kitô hữu hơn thế. Ngay từ Bí tích Rửa tội, chúng ta đã thuộc về Chúa Ba Ngôi. Mỗi lần làm dấu Thánh Giá, chúng ta tuyên xưng đức tin vào Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần. Mọi Thánh lễ và các Bí tích đều được cử hành nhân danh Thiên Chúa Ba Ngôi.
Điều đó cho thấy Kitô giáo không chỉ tin Thiên Chúa hiện hữu, nhưng còn sống trong tương quan với Ngài. Chúa Cha tạo dựng và chăm sóc chúng ta. Chúa Con cứu chuộc chúng ta bằng thập giá và sự phục sinh. Chúa Thánh Thần thánh hóa và đồng hành với chúng ta mỗi ngày.
Thánh Phaolô viết: “Một khi đã được nên công chính nhờ đức tin, chúng ta được bình an với Thiên Chúa, nhờ Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Vì chúng ta tin, nên Đức Giêsu đã mở lối cho chúng ta vào hưởng ân sủng của Thiên Chúa… Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta” (Rm 5, 1-2, 4).
Ba Ngôi Thiên Chúa không ở trên cõi trời cao xa, nhưng hiện diện trong chính tâm hồn ta. Chúng ta sống trong Chúa Cha, vì chính Ngài là nguồn cội của sự sống và là Đấng gìn giữ toàn thể vũ trụ từng giây phút. Mọi loài hiện hữu là nhờ tình yêu và quyền năng của Chúa Cha. Chúng ta sống với Chúa Con, vì Chúa Giêsu là Emmanuel, nghĩa là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”. Ngài đã đến làm người, bước vào cuộc sống con người, chia sẻ niềm vui, nỗi đau và luôn đồng hành với chúng ta. Chúa Thánh Thần sống trong chúng ta như ánh sáng soi dẫn tâm hồn, giúp chúng ta nhận ra điều thiện, thêm sức mạnh để chúng ta yêu thương và dẫn chúng ta đến gần Thiên Chúa hơn mỗi ngày. Chúng ta sống trong Thiên Chúa Ba Ngôi, sống với Thiên Chúa Ba Ngôi, sống nhờ Thiên Chúa Ba Ngôi và Thiên Chúa Ba Ngôi sống trong chúng ta. Đó là điều kỳ diệu của đời người Kitô hữu.
- Chúa Ba Ngôi là mẫu gương cho các tương quan con người
Thế giới hôm nay đề cao chủ nghĩa cá nhân. Người ta dễ sống theo kiểu “tôi là trung tâm”, nên nhiều mối tương quan đổ vỡ vì ích kỷ, đố kỵ và ganh ghét.
Nhưng Chúa Ba Ngôi cho chúng ta thấy một lối sống hoàn toàn khác: hiệp thông và trao ban. Ba Ngôi Thiên Chúa luôn hướng về nhau trong tình yêu trọn vẹn. Không có ích kỷ hay thống trị, chỉ có hiệp nhất yêu thương.
Vì được dựng nên theo hình ảnh Thiên Chúa, con người chỉ thật sự hạnh phúc khi biết sống trong yêu thương hiệp nhất. Gia đình Kitô giáo được mời gọi phản chiếu hình ảnh ấy. Gia đình không hạnh phúc chỉ nhờ tiền bạc hay tiện nghi, nhưng nhờ tình yêu biết hy sinh, cảm thông và lắng nghe. Nhiều gia đình hôm nay tan vỡ không phải vì thiếu điều kiện tiền của để sinh sống, nhưng vì không biết sống cho nhau. Chúa Ba Ngôi mời gọi chúng ta bước ra khỏi cái tôi khép kín để sống cho nhau.
Giống như Chúa Cha, chúng ta được mời gọi xây dựng và trao ban sự sống. Giống như Chúa Con, chúng ta được mời gọi trở thành người hòa giải và chữa lành. Giống như Chúa Thánh Thần, chúng ta được mời gọi soi sáng, nâng đỡ và an ủi người khác. Kitô hữu không thể chỉ sống cho riêng mình, nhưng chỉ thực sự là chính mình khi biết yêu thương. Càng yêu thương chúng ta càng trở nên giống Chúa Ba Ngôi.
Khi được hỏi làm sao có thể phục vụ người nghèo suốt đời mà không kiệt sức, Mẹ Têrêsa nói đại ý rằng Mẹ nhìn mọi người như con cái của Thiên Chúa Cha, phục vụ Chúa Kitô nơi chính họ, và cầu xin Chúa Thánh Thần ban sức mạnh mỗi ngày. Đó là linh đạo Ba Ngôi rất cụ thể: mọi sự bắt đầu từ Chúa Cha, qua Chúa Con và trong sức mạnh của Chúa Thánh Thần.
- Sống như đền thờ của Chúa Ba Ngôi
Một trong những điều đẹp nhất của đức tin Kitô giáo là Thiên Chúa không chỉ ở trên trời cao xa, nhưng còn ngự trong lòng chúng ta. Thánh Phaolô nói rằng thân xác chúng ta là Đền thờ của Chúa Thánh Thần (1 Cr 6,19).
Nếu thật sự tin điều đó, chúng ta sẽ biết quý trọng bản thân hơn, không để tội lỗi làm hoen ố tâm hồn mình. Đồng thời, chúng ta cũng biết tôn trọng người khác hơn, vì mỗi con người đều mang hình ảnh Thiên Chúa.
Niềm tin vào Chúa Ba Ngôi còn đem lại sức mạnh trong thử thách. Các vị tử đạo thời đầu đã can đảm bước vào pháp trường vì xác tín rằng Thiên Chúa ở cùng họ. Ngày nay cũng vậy, giữa bao áp lực và bất an, người Kitô hữu có thể đứng vững vì biết rằng Chúa Cha luôn yêu thương mình, Chúa Con luôn đồng hành với mình và Chúa Thánh Thần luôn nâng đỡ mình.
Mầu nhiệm Chúa Ba Ngôi mãi mãi vượt quá trí hiểu con người. Nhưng điều quan trọng không phải là hiểu hết, mà là để mình được cuốn vào tình yêu của Thiên Chúa. Người Kitô hữu không chỉ tin vào Thiên Chúa Ba Ngôi như một tín điều, nhưng còn sống mối tương quan thân tình với từng Ngôi mỗi ngày.
Với Chúa Cha, người tín hữu sống tâm tình của người con: tin tưởng, phó thác và trở về với Ngài trong mọi hoàn cảnh. Chúng ta gọi Ngài là “Cha” vì biết mình được yêu thương và chăm sóc. Với Chúa Con, người Kitô hữu sống tâm tình của người môn đệ học biết yêu thương, tha thứ và vác thập giá với niềm cậy trông, như Chúa Giêsu là Đấng đã làm người, đi vào cuộc đời chúng ta. Với Chúa Thánh Thần, người tín hữu học lắng nghe Ý Chúa và để mình được Ngài soi dẫn. Chính Chúa Thánh Thần soi sáng lương tâm, ban sức mạnh vượt thắng yếu đuối và giúp chúng ta ngày càng trở nên giống Chúa Kitô hơn.
Một nữ tu lớn tuổi chia sẻ rất đơn sơ: “Mỗi sáng tôi thức dậy với Chúa Cha. Tôi làm việc với Chúa Giêsu. Tôi chịu đựng người khác nhờ Chúa Thánh Thần.”
Xin Chúa Cha ôm lấy chúng con trong tình yêu của Ngài. Xin Chúa Con dẫn chúng con bước đi trong sự thật vĩnh cửu. Xin Chúa Thánh Thần biến đổi tâm hồn chúng con mỗi ngày, để chúng con luôn sống như những người con trong gia đình của Thiên Chúa Ba Ngôi. Amen.
Phêrô Phạm Văn Trung
* https://www.dcvphanxicoxavie.com/vn/Than-Hoc/Ba-Ngoi-Trong-Chung-Ta-Cua-Giao-Hoi-So-Khai-Khung-Hoang-Arius-Va-Cac-Cong-Dong.html
- Details
-
Category: 3. Sống & Chia Sẻ Lời Chúa
Bảy ơn Chúa Thánh Thần là một điểm giáo lý khá quan trọng, dù không phải là một tín điều. Nguồn gốc của khái niệm “7 ơn Thánh Thần” này là I-sai-a 11,1-2. Nguyên tác Hip-ri chỉ nói đến 6 ơn, thánh Giê-rô-ni-mô khi dịch Cựu Ước ra tiếng La-tinh thành bản Vulgata (Phổ thông), đã thêm một ơn nữa, là “pietatis” (thường dịch là “đạo đức”)[1].
Đi từ bản văn I-sai-a này, các nhà thần học thời Trung Cổ đã xây dựng cả một nền thần học về bảy ơn Chúa Thánh Thần, nghĩa là về các cánh buồm và các cột ăn-ten thiêng liêng giúp Ki-tô hữu nhận được các sứ điệp và các thúc đẩy của Thiên Chúa Ngôi Ba.
Trước tiên xin được phép trích nguyên văn La ngữ và bản dịch Pháp ngữ câu trên (Is 11,2) vì cần để diễn giải sau này: “Spiritus sapientiae et intellectus, spiritus consilii et fortitudinis, spiritus scientiae et pietatis, spiritus timoris Domini” – “Esprit de sagesse et de discernement, esprit de conseil et de vaillance, esprit de connaissance et de crainte du Seigneur” (TOB, Bản dịch Đại kết Công giáo, Chính thống, Tin lành). Nhóm Các Giờ Kinh Phụng Vụ dịch từ tiếng Hip-ri ra tiếng Việt là: “Thần khí khôn ngoan và minh mẫn, thần khí mưu lược và dũng cảm, thần khí hiểu biết và kính sợ Đức Chúa”. Sách Giáo lý xưa viết về 7 ơn Chúa Thánh Thần như sau: “Một là ơn khôn ngoan, hai là ơn hiểu biết, ba là ơn thông minh, bốn là ơn khéo liệu, năm là ơn mạnh bạo, sáu là ơn đạo đức, bảy là ơn kính sợ Đức Chúa Trời”. Sách Giáo lý (nay) của Hội thánh Công giáo ấn bản tiếng Việt năm 2009 có nhắc tới 7 ơn này hai lần với lối dịch riêng, một trong phần Nghi thức bí tích Thêm sức (số 1299) và một trong phần Hiệu quả bí tích (số 1303), nhưng chỉ liệt kê chứ không có một dòng giải thích nào: “Xin ban cho họ thần trí khôn ngoan và thông hiểu, thần trí lo liệu và sức mạnh, thần trí suy biết và đạo đức, xin ban cho những người này đầy ơn kính sợ Chúa” (số 1299).
Thú thật nhiều tín hữu, thậm chí linh mục và giáo lý viên, cho biết khó nhớ các ơn ấy, rồi không sao phân biệt nổi sự khác nhau giữa một số trong chúng, nhất là khôn ngoan, thông hiểu (minh mẫn) và suy biết (thông minh). Ba ơn này xem ra na ná nhau, vì đều nói tới khả năng của trí tuệ. Ngoài ra, hai từ “khôn ngoan” và “đạo đức” cũng có một nghĩa rất rộng, càng rộng vì được dùng cả trong ngôn ngữ trần đời.
Còn hai vấn đề nữa khi diễn giải 7 ơn này. Trước hết, thiết tưởng phải quy chúng về Thiên Chúa, nghĩa là các ơn Thánh Thần ban chủ yếu hướng ta lên Chúa, giúp gia tăng sự hiệp thông với Người[2]. Thứ đến là tìm cho ra mối liên kết và hướng tiến triển của các ơn ấy, có như thế mới dễ nhớ, dễ hiểu và dịch sát nghĩa.
Vì các tác giả tu đức và các nhà thần học khá là khác nhau trong cách chuyển ngữ (dịch từ) và sắp xếp 7 ơn ấy (xin xem lại các bản dịch Kinh Thánh, hai câu giáo lý xưa và nay, cũng như nhìn 2 hình minh họa ngay trên), nên xin độc giả thử lối chuyển ngữ và xếp đặt sau đây.


Chúng ta sẽ không khởi đầu từ “ơn khôn ngoan” và kết thúc với “ơn kính sợ” như thường thấy, gần đúng theo thứ tự văn bản Kinh Thánh (5 ơn ở giữa thì tùy nhà diễn giải), mà đi từ ơn thứ bảy, ơn cuối cùng: kính sợ Thiên Chúa, hay vắn tắt là kính sợ (từ Hán Việt là úy kính). Điều này cũng có lý do của nó. Kính sợ là một tâm tình mà con người tạo vật cảm nhận đầu tiên khi đứng trước Thiên Chúa Tạo Hóa, và có thể nói là tác động trước hết của Tinh thần Thiên Chúa (tức Thánh Thần) lên tinh thần con người[3]. Sách Châm Ngôn 9,10 nói: “Kính sợ Đức Chúa là bước đầu của khôn ngoan”. Công vụ Tông đồ (10,2.22; 13,16) gọi những “cảm tình viên” của đạo mới hoặc sắp gia nhập đạo mới là những “người kính sợ Thiên Chúa”.
Nhưng Chúa đâu có muốn ta kính sợ Người như một chủ tể luôn tỏ uy quyền, một quân vương sẵn sàng trừng phạt. Không, Người muốn chúng ta kính sợ Người trong ý thức phụ từ tử hiếu, “nên đã sai Thần Khí của Con mình vào trong lòng chúng ta mà kêu lên: Áp-ba, Cha ơi!” (Gl 4,6; x. Rm 8,15). Và đó là ơn hiếu thảo hay long trọng hơn là sùng hiếu (pietas, piété trong tiếng Pháp). Từ “pietas, piété” thường được dịch theo nghĩa thứ hai là “đạo đức”[4] ; nhưng “đạo đức” là một khái niệm hàm nghĩa rất rộng, thành ra mông lung, và dễ khiến ta chỉ nghĩ tới chuyện siêng đi nhà thờ, năng đọc kinh sách, hay sống theo lương tâm, làm điều phải lẽ.
Lòng hiếu thảo là sự bổ túc cần thiết cho lòng kính sợ, vì như thánh Phanxicô Salêdiô nói vui, chúng ta phải tiến về Chúa với hai cái nạng: khiêm tốn và tin tưởng. Hơn nữa, con chiên đã cảm nghiệm bản chất mỏng dòn của mình là tạo vật thì rất sung sướng tiến tới để được đặt trên đôi vai của Mục tử mình. Tại đó, bao nhiêu nỗi sợ của nó biến tan.
Mà muốn tỏ ra hiếu tử thì phải nắm rõ đạo làm con, tức là cần được Thánh Thần cho biết những điều phải thi hành để Từ Phụ vui sướng. Người dạy chúng ta biết cầu nguyện thế nào cho phải hầu tìm ra ý và làm đẹp lòng Chúa Cha (x. Rm 8,26). Và đó là ơn chỉ giáo, tiếng La-tinh là consilium, tiếng Pháp là conseil, tức là ơn cho ta biết đâu là ý Chúa trong từng trường hợp cụ thể. Cụ Đào Duy Anh, trong “Pháp-Việt Từ Điển (chú thêm chữ Hán)” đã dịch conseil là lời chỉ bảo, demander conseil là thỉnh giáo[5]. Ơn chỉ giáo mang lại cho chúng ta điều mà tu đức, linh thao gọi là sự “nhận định/phân định thiêng liêng”. Trong kinh “Xin ngự đến, lạy Thánh Thần sáng tạo” (Veni Creator), chúng ta đọc thấy: “Xin Ngài chiếu sáng hầu mở mang trí não…”. Lối dịch “lo liệu” xem ra chỉ một hoạt động đa dạng của con người và lại chưa nêu bật tác động đặc biệt của Thần khí. Còn dịch là “mưu lược” có giúp gì hơn trong chuyện tìm ra ý Chúa chăng?
Mà ý Chúa thì rất đòi hỏi, vì Người là thánh. Thực hiện thiên ý chẳng phải là điều dễ dàng vì buộc chúng ta chiến đấu và chiến thắng quỷ dữ, thế gian lẫn xác thịt (tức bản thân ích kỷ và bản năng lồng lộn). Chúa Giêsu từng nói : “Hãy đi qua cửa hẹp mà vào [Nước Trời]” (Mt 7,13), “Từ thời ông Gio-an Tẩy Giả cho đến bây giờ, Nước Trời phải đương đầu với sức mạnh, ai mạnh sức thì chiếm được” (Mt 11,12). Rồi “Không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15,5). Thành ra cần ơn dũng cảm (có khi dịch là “sức mạnh”, “mạnh bạo”) mới thực thi được ý Chúa một khi đã biết ý này. Gương các Thánh Tử đạo là một bằng chứng. Trong lời nguyện nhập lễ Tuần I mùa Thường niên, chúng ta đọc: “Lạy Chúa nhân từ, này dân Chúa đang hiệp lời cầu khẩn; nguyện xin Chúa dủ thương chấp nhận, để giúp chúng con biết nhìn thấy những việc phải làm và đủ sức thi hành trọn vẹn”.
Nhưng biết Chúa (tôn ý Người lẫn bản thân Người) có mấy kiểu? Và đó là ba ơn còn lại vốn đều liên hệ đến chữ BIẾT. Song mỗi ơn cho ta biết Chúa mỗi cách.
Thấp nhất là scientia mà Từ điển Gaffiot có dịch là connaisance scientifique (tri thức khoa học); lời nguyện của Bí tích Thêm sức và Giáo lý Hội thánh Công giáo thì dịch là suy biết, đang khi có tác giả lại dịch ra “hiểu biết” hay “thông minh”. Đây là ơn nhận ra có Chúa, Chúa như thế nào, ơn thấy Chúa đang hoạt động giữa thế gian, vừa trong các tạo vật thiên nhiên vừa trong các biến cố lịch sử. Nghĩa là từ chuyện chiêm ngưỡng vũ trụ (không gian lẫn thời gian) mà ta suy ra có Ông Trời, có Tạo Hóa, suy ra Người toàn năng, thông minh và nhân hậu, Người can thiệp vào cuộc sống nhân loại (tức quan phòng: Mưu sự tại nhân, thành sự tại Thiên; Trời sinh voi, Trời sinh cỏ…). Cách biết Chúa bằng lối này, Thánh Thần ban cho rất nhiều người, kể cả những người chưa nhập đạo, nếu họ có lương tri. Thành thử lối dịch “suy biết” thiết tưởng là dễ hiểu và đạt nghĩa hơn cả.
Nhưng đó mới chỉ là ơn biết Thiên Chúa qua thụ tạo, nhờ ngũ quan, nhờ suy nghĩ tự nhiên, nhờ khoa học. Cách biết Chúa cao hơn là biết qua mạc khải mà chính Người đã ban cho chúng ta nơi Sách Kinh Thánh và trong Lịch sử Thánh. Đây chính là ơn thấu hiểu, La ngữ là “intellectus” mà Từ điển Gaffiot dịch là compréhension, action de comprendre (sự thấu hiểu, hành động hiểu thấu). Lối dịch “minh mẫn” có giúp được gì trong chuyện này chăng? Ơn thấu hiểu là ơn giúp ta biết rõ những gì Thiên Chúa đã làm trong thế giới loài người qua lịch sử Tuyển dân và lịch sử Giáo hội, ngoài ra còn được biết thấu tận những gì thâm sâu hơn nơi Thiên Chúa như các mầu nhiệm Ba Ngôi, Nhập Thể, Thánh Thể v.v… Thánh Thần dẫn chúng ta đến Chân lý toàn vẹn là vậy! (x. Ga 16,13).
Cuối cùng và cao hơn hết là ơn mà người ta thường dịch là “khôn ngoan”. Theo Từ điển tiếng Việt của Trung tâm Từ điển học Vietlex, Nxb Đà Nẵng, 2011, “khôn ngoan” có nghĩa là “Khôn trong cách xử sự, biết tránh cho mình những điều không hay – Khôn ngoan đối đáp người ngoài. Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau (Ca dao)”. Hiển nhiên đây không phải là điều mà nguyên ngữ “sapientia” trong Kinh Thánh (Is 11,2) muốn nói. Cần phải tìm ý nghĩa chữ này trong chính sách Khôn Ngoan và sách Huấn Ca, nơi sự khôn ngoan được ngôi vị hóa nên được gọi là “Đức Khôn Ngoan”: “Đức Khôn Ngoan phản chiếu ánh sáng vĩnh cửu, là tấm gương trong phản ánh hoạt động của Thiên Chúa, là hình ảnh lòng nhân hậu của Người… Đức Khôn Ngoan ngự vào những tâm hồn thánh thiện, biến họ nên bạn hữu của Thiên Chúa” (Kn 7,26-27). “Xin rộng ban cho con Đức Khôn Ngoan hằng ngự bên tòa Chúa… Đức Khôn Ngoan ở kề bên Chúa, biết những việc Chúa làm” (Kn 9,4.9). “Tất cả sự khôn ngoan đều phát xuất từ Đức Chúa, và khôn ngoan vẫn ở với Người đến muôn đời” (Hc 1, 1).
Vậy ơn “sapientia” (sagesse tiếng Pháp) dịch cho đúng trong bối cảnh này thiết tưởng là ơn thượng trí (có người dịch là ơn cao minh. x. Lm Ngô Minh và Lm Nguyễn Thế Minh, Từ vựng Triết-Thần căn bản Pháp Việt – Anh Việt, chữ “sagesse”), tức là ơn biết Thiên Chúa một cách sâu xa, đích thực, nhờ được sống thân mật, sống kết hợp, sống cận kề Chúa, cảm nếm được Người. Ơn thượng trí này, ơn có trí hiểu cao vời này, Chúa Thánh Thần ban cho một số tín hữu tuy còn ở trần gian, trong thân xác, nhưng tâm trí “được đưa lên tới tầng trời thứ ba… lên tới thiên đàng và đã nghe những lời khôn tả” (x. 2Cr 12,1-6; x. 1Cr 2,9-10). Nhiều vị thánh khác cũng được ơn ngất trí như vậy khi họ cầu nguyện, đặc biệt là các thánh nữ, chẳng hạn thánh Têrêxa Avila, Maria Mađalêna Pazzi…. Cuối kinh Veni Creator, chúng ta cầu với Thánh Thần: “Xin Ngài dạy cho biết Cha từ ái, cùng am tường về Thánh Tử khoan nhân”.
Nhìn lại, nếu để ý kỹ, ta thấy các ơn đi từng cặp :
– Ơn hiếu thảo làm cho ta kính sợ Chúa như con kính sợ Cha. Hai ơn này thúc giục chúng ta đặt mình trước mặt Thiên Chúa, với niềm tôn kính hãi sợ đồng thời với dạ tin tưởng mến yêu.
– Ơn dũng cảm làm cho ta dám thực hiện ý Chúa mà ơn chỉ giáo cho thấy ở đây và lúc này. Hai ơn này giúp chúng ta điều chỉnh bản thân theo ý Chúa, bằng cách khám phá (nhờ Thánh Thần soi dẫn) và cương quyết hoàn tất thánh ý này (nhờ Thánh Thần trợ lực).
– Ơn suy biết giúp ta nhìn ra Chúa qua vũ trụ thiên nhiên để rồi nhờ ơn thấu hiểu, ta nắm được những gì Người ngỏ với chúng ta qua Kinh Thánh và Lịch sử cứu rỗi. Hai ơn này giúp cho chúng ta có một hiểu biết đúng đắn về Thiên Chúa, từ công trình tạo dựng của Người rồi từ lời Người mạc khải
– Cuối cùng, đỉnh cao của sự hiểu biết chính là được đi vào kết hiệp thâm sâu thân tình với Thiên Chúa nhờ ơn thượng trí, qua việc chiêm niệm. Ơn này giúp chúng ta cảm nếm được chính Người trong tận đáy con tim và như thế hưởng trước trên trái đất cái gì đó của niềm vui cõi trời. Tu đức học cũng đồng giọng khi nói đó là con đường thứ ba: hiệp đạo, đường kết hiệp (voie unitive) sau con đường thứ nhất: luyện đạo, đường thanh luyện (voie purgative) và con đường thứ hai: minh đạo, đường giác ngộ (voie illuminative).
Do đó, như để minh họa, chúng ta có thể phân bố chúng theo từng cặp và trên các nhánh của một cây đèn 7 ngọn, nghĩa là ta sẽ đặt trên nhánh giữa -nhánh quan trọng nhất, thắp sau cùng- ơn thượng trí, ơn hỗ trợ sự vươn lên của đời sống chiêm niệm.

Cuối cùng, xin có vài câu thơ vụng, để giúp trẻ em học giáo lý:
Một là úy kính Chúa Trời
Biết sợ Tạo Hóa giữa đời trần gian.
Hai là giữ đạo làm con,
Tức ơn thảo hiếu, chu toàn với Cha.
Chỉ giáo, ấy ơn thứ ba,
Giúp rõ ý Chúa trên ta mỗi lần.
Thứ tư, dũng cảm, ơn cần.
Để đem thiên lệnh thi hành chẳng ngơi.
Suy biết: qua ngắm đất trời,
Nhận ra Tạo Hóa cao vời chí tôn.
Thứ sáu, thấu hiểu trong hồn
Lời Chúa mạc khải để luôn tin vào.
Cuối cùng, thượng trí, ơn cao:
Kết hợp với Chúa, dạt dào tình yêu.
Sau hết là một ước vọng nho nhỏ: đề nghị Sách Giáo lý Hội thánh Công giáo trong những lần tái bản tới, dịch lại tên 7 ơn ấy cho dễ hiểu, dễ nhớ và sát nghĩa, nếu những lời diễn giải của tác giả trên đây không bị các đấng coi là tào lao hay lạc đạo[6]!
Lễ Chúa Thánh Thần hiện xuống 28-05-2023
Linh mục Phê-rô Phan Văn Lợi, Tu hội Thánh Tâm Chúa Giê-su, TGP Huế
Tham khảo:
– Pierre Descouvemont. Guide des difficultés de la foi catholique. Éditions du Cerf, Paris, 1993. p. 423-425: Les dons du Saint-Esprit.
– 7 ơn của Chúa Thánh Thần và ý nghĩa mỗi ơn. https://conggiaovn.com/7-on-cua-chua-thanh-than-va-y-nghia-moi-on/
[1] x. Kinh Thánh, bản dịch của Nhóm CGKPV, ấn bản 2011, trang 1568, chú thích x.
[2] Thành ra không biết có nên chăng khi diễn giải: “Ơn Khôn Ngoan: giúp ta phân biệt được phải-trái, thật-hư. Ơn Lo Liệu: giúp ta biết giải quyết đúng đắn các khó khăn của cuộc sống. Ơn Sức Mạnh: giúp ta vượt qua mọi khó nguy trong cuộc sống và chu toàn được các bổn phận của mình”. (Internet).
[3] Con vật vì không có hồn thiêng (tinh thần) nên chỉ có một nỗi sợ theo bản năng là sợ khổ và sợ chết.
[4] Xem chữ Pietas trong Félix Gaffiot, Dictionnaire abrégé Latin-Français illustré, Hachette, 1936. và chữ Piété trong Đào Duy Anh, Pháp-Việt Từ điển (chú thêm chữ Hán), Minh Tâm xb, 1952. Lm Ngô Minh và Lm Nguyễn Thế Minh, Từ vựng Triết-Thần căn bản Pháp Việt – Anh Việt, Nxb Phương Đông, cũng đưa hai cách dịch: Sùng hiếu – Đạo đức.
[5] Cũng xin xem chữ Consilium trong Félix Gaffiot (nghĩa II)