3. Sống & Chia Sẻ Lời Chúa

LỜI CHÚA (Mt 9, 36-10, 8) & SUY NIỆM CHÚA NHẬT 11 THƯỜNG NIÊN NĂM A

Lời Chúa:

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu (Mt 9, 36-10, 8): Khi ấy, Chúa Giêsu thấy đoàn lũ dân chúng, liền động lòng xót thương họ: vì họ tất tưởi bơ vơ như những con chiên không có người chăn, Người liền bảo môn đệ rằng: “Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt thì ít. Các con hãy xin chủ ruộng sai thợ đi gặt lúa”. Và Người liền triệu tập mười hai môn đệ, ban cho họ quyền năng trên các thần ô uế, để họ xua đuổi chúng, và chữa lành mọi bệnh hoạn tật nguyền. Ðây là tên của mười hai tông đồ: trước hết là Simon cũng gọi là Phêrô, rồi đến Anrê em ông; Giacôbê con của Giêbêđê và Gioan em ông; Philipphê và Bartôlômêô; Tôma và Matthêu người thu thế; Giacôbê con của Alphê và Tađêô; Simon người Cananêô và Giuđa Iscariốt, kẻ nộp Người. Chúa Giêsu sai mười hai ông này đi và truyền lệnh cho các ông rằng: “Các con đừng đi về phía dân ngoại, và đừng vào thành các người Samaritanô. Nhưng tốt hơn, các con hãy đi đến cùng chiên lạc của nhà Israel trước đã, và rao giảng rằng: “Nước Trời đã đến gần”. Hãy chữa lành người liệt, phục sinh kẻ chết, chữa lành người phung, và xua trừ ma quỷ. Các con đã lãnh nhận nhưng không, thì hãy cho nhưng không. Ðó là Lời Chúa

Suy Niệm Lời Chúa:

Thánh Phanxicô Xaviê, trong một bản tường trình đã viết như sau: “Nhiều người ở đây đã không thể trở thành Kitô hữu, chỉ vì chẳng có ai được chuẩn bị để đảm nhận sứ vụ giảng dạy cho họ. Con cảm thấy bị thôi thúc muốn đến các đại học Âu Châu, đặc biệt là đại học Sorbonne ở Paris, để la lên, như một gã điên, cho những người giàu trí thức hơn là thiện chí, yêu cầu họ xử dụng trí thức của họ làm sao cho lợi ích. Phải chi trong khi nghiên cứu các môn nhân văn, họ cũng nghiên cứu sổ kế toán về những điều Thiên Chúa sẽ đòi hỏi họ qua tài năng Ngài đã ban cho họ. Lúc đó nhiều người hẳn sẽ xúc động kêu lên: Lạy Chúa, này con đây, Chúa muốn con phải làm gì?

- Ý của bản tường trình của thánh Phan-xi-cô nói trên khiến cho chúng ta nhớ tới lại Chúa phán: Lúa chín thì nhiều mà thợ gặt thì ít, các con hãy xin chủ ruộng sai thợ đến gặt lúa của mình. Lời này từ năm 30 của thế kỷ 1 cho đến hôm nay, vẫn còn mang tính cách thời sự nóng bỏng của nó.

+/ Thợ là gì trong thời đại AI này? Thưa Thợ thì phải trau dồi cho lành nghề chuyên nghiệp, nếu không sẽ bị thất nghiệp. Kỷ thuật trình độ chuyên môn phải trau dồi cho ngày càng cao.

- Làm Thợ trong cánh đồng truyền giáo của giáo hội Chúa cũng phải chăm lo trau dồi chuyên nghiệp. Làm cho sắc bén ngày một hơn. Thợ Truyền Giáo là điều Chúa muốn nói qua Tin Mừng. Mỗi một ơn gọi đều phải trau dồi cho lành nghề chuyên nghiệp. Bởi vì mỗi người chúng ta tùy theo ơn Chúa gọi đều phải là một người Thợ gặt được sai đến trên cánh đồng truyền giáo bát ngát bao la. Mỗi người đều có một “cánh đồng” riêng như: gia đình, xóm làng, nơi làm việc, cộng đoàn… Nơi đó luôn có những con người đang chờ đợi một lời nâng đỡ, một cử chỉ yêu thương để đến với Chúa với ơn cứu độ.
- Ta suy niệm về mùa gặt sau khi đã suy niệm về thợ gặt. Mùa gặt là gì? xin thưa mùa gặt, hay mùa lúa chín là tất cả những người hiện đang tìm kiếm Chúa, tìm kiếm chân lý, tìm kiếm mục đích và ý nghĩa cuộc đời.

+/ Thế tại sao ngày hôm nay lại có quá ít thợ gặt như vậy?

- Lý do thứ nhất là vì chúng ta chưa thực hành triệt để điều Chúa đã truyền: Hãy xin chủ ruộng sai thợ đến gặt lúa của mình. Có bao nhiêu người trong chúng ta, thường xuyên cầu nguyện xin Chúa thôi thúc tâm hồn các bạn trẻ, để họ nghiêm chỉnh đáp trả ơn gọi của Chúa. Có bao nhiêu người trong chúng ta thường xuyên cầu nguyện xin Chúa thôi thúc tâm hồn những người đã lập gia đình, để họ nghiêm chỉnh dấn thân vào mùa gặt bằng lời cầu nguyện và bằng những giúp đỡ tài chính hoặc làm bất cứ việc gì có thể trong khả năng.

- Lý do thứ hai liên quan đến các gia đình. Liệu gia đình chúng ta có còn là thửa vườn ươm trồng ơn gọi hay không? Là những bậc làm cha mẹ, chúng ta đã nói cho con em chúng ta về việc chọn lựa đời sống tu trì như thế nào?

- Lý do thứ ba liên quan đến cá nhân mỗi người chúng ta, đó là chúng ta có sẵn sàng hiến dâng cho Chúa trong nếp sống tu thân tích đức? Có bao giờ chúng ta nghĩ đến việc phải làm một điều gì đó để trực tiếp giúp cho việc truyền giáo không?

- Từ Tin Mừng ta vừa nghe, Đức Giêsu đã nhận ra Ngài Cần những thợ gặt cho vụ mùa, cần mục tử để tiếp tục thay ngài chăm lo cho đàn chiên của Chúa. Chính vì thế Ngài đã kêu gọi Nhóm Mười Hai, cho họ quyền trên các thần ô uế, quyền chữa lành, rồi sai họ đến với dân Ítraen, là đàn chiên lạc. Sau khi Chúa về trời, Chúa Thánh Thần đã hiện xuống thay ngài phù trợ các môn đệ, thì Chúa Giê-su mới truyền cho các môn đệ truyền giáo cho dân ngoại và muôn dân nước khác ngoài Do-thái. Và đến hôm nay là nhiệm vụ truyền giáo của tất cả Giáo Hội chúng ta.

+/ Tông huấn Evangelii Nuntiandi (Loan Báo Tin Mừng) của Đức Thánh Cha Phaolô VI, tóm tắt chương 2 trong 7 chương, nội dung trọng tâm: Bản chất của việc Loan báo Tin Mừng. Đây là đặc sủng và ơn gọi riêng biệt của Giáo hội. Loan báo Tin Mừng là một tiến trình phức hợp bao gồm: đổi mới nhân loại, làm chứng bằng đời sống, rao giảng minh bạch, dạy giáo lý và cử hành các Bí tích.

- Chương 3. Nội dung của Tin Mừng. Trọng tâm: Giải thoát con người khỏi tội lỗi để hiệp thông với Thiên Chúa. Thăng tiến con người: Tin Mừng không tách rời các vấn đề trần thế như công lý, hòa bình và phát triển, nhưng không được giản lược truyền giáo thành một dự án chính trị hay xã hội thuần túy.

- Chương 4: Phương pháp Loan báo. Chứng tá đời sống: "Người thời nay tin vào các chứng nhân hơn là thầy dạy". Rao giảng: Lời nói vẫn đóng vai trò thiết yếu để giải thích ý nghĩa của đời sống chứng tá. Tiếp xúc cá nhân: Việc truyền giáo "từ người này sang người khác" trong cuộc sống thường nhật.

+/ Khoảng năm 65 thế kỷ 1 về sau, thánh Phao-lô trong Bài Ðọc II: Rm 5, 6-11, giảng rằng: Thiên Chúa chứng tỏ tình yêu của Người đối với chúng ta, nghĩa là trong lúc chúng ta còn là tội nhân, thì theo kỳ hẹn, Chúa Kitô đã chết vì chúng ta. Vậy phương chi bây giờ, chúng ta đã nên công chính trong máu của Người…Chúng ta phải có nhiệm vụ loan báo ơn cứu độ=truyền giáo=Cho nhiều người biết Chúa và Phúc Âm.

- Sau cùng, Lời bài giảng của thánh An-tôn Pa-đô-va, linh mục (lễ 13-06): Lời nói sẽ hùng hồn khi có việc làm minh chứng. Hãy im đi để cho việc làm lên tiếng. Chúng ta nói nhiều, nhưng làm chẳng bao nhiêu, vì thế mới bị Chúa nguyền rủa như Người đã nguyền rủa cây vả, khi thấy nó không sinh trái mà chỉ có lá thôi… Ai dùng việc làm mà phá huỷ đạo lý luật dạy, thì dù có dạy luật cũng chỉ là khoác lác ba hoa. Amen

 Linh mục Gb Nguyễn Ngọc Nga

ĐẾN VỚI CHÚA, RỒI ĐEM CHÚA ĐẾN CHO NGƯỜI KHÁC

Trong một thế giới vẫn còn nhiều bạo lực, ích kỷ và lạc hướng, người ta dễ cảm thấy rằng Thiên Chúa đứng xa nỗi khổ của con người. Thật ra, Thiên Chúa luôn chủ động bước vào lịch sử con người và cuộc đời từng người bằng tình yêu cứu độ. Các bài đọc hôm nay cho thấy điều ấy: từ núi Sinai, nơi Thiên Chúa quy tụ dân Ngài; đến miền Galilê, nơi Chúa Giêsu chạnh lòng thương đám đông bơ vơ. Tất cả cùng kể một câu chuyện: Thiên Chúa yêu thương, cứu độ và sai con người đi làm chứng nhân cho tình yêu của Ngài trong trần thế.

  1. Thiên Chúa luôn yêu thương, bảo vệ và chăm sóc dân Ngài

Trong bài đọc thứ nhất, Thiên Chúa nhắc dân Israel nhớ lại hành trình giải thoát khỏi Ai Cập: “Ta đã mang các ngươi như trên cánh chim bằng, mà đem đến với Ta” (Xh 19,4). Đây là một trong những hình ảnh đẹp nhất của Cựu Ước. Cánh chim bằng trong Kinh Thánh tượng trưng cho sức mạnh, sự bảo vệ và tình yêu chăm sóc. Thiên Chúa không nói: “Các ngươi hãy tự mình tìm cách thoát ra khỏi Ai Cập” nhưng Ngài nói: “Ta đã mang các ngươi.”

Đó là kinh nghiệm của mọi tín hữu. Nhìn lại cuộc đời, chúng ta sẽ nhận ra điều mà các thánh luôn xác tín: Thiên Chúa có thể “vẽ những đường thẳng bằng những đường cong.” Có những thất bại trở thành bài học, những đau khổ trở thành cơ hội trưởng thành, những lúc tưởng như gục ngã lại giúp ta khám phá sức mạnh của ân sủng. Bởi vì như thánh Augustinô đã nói: “Thiên Chúa Toàn Năng, và chính Ngài cũng là Đấng vô cùng nhân từ, Ngài sẽ không bao giờ cho phép bất cứ điều ác nào tồn tại trong các công trình của Ngài, nếu Ngài không toàn năng và nhân từ đủ để có thể tạo ra điều tốt đẹp ngay cả từ điều ác.” [1]

Điều quan trọng là Thiên Chúa giải thoát Israel không chỉ để họ được tự do, nhưng để họ thuộc về Ngài: “Các ngươi sẽ là sở hữu riêng của Ta… một dân thánh” (Xh 19,5-6). Vì thế, dân Chúa được tuyển chọn không phải để hưởng đặc quyền ích kỷ, nhưng để sống cho Thiên Chúa và làm chứng cho Ngài. Người Kitô hữu cũng vậy: chúng ta được rửa tội không để tự cho mình đạo đức hơn người khác, nhưng để trở nên dấu chỉ tình yêu Thiên Chúa giữa thế gian.

Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI từng nói: “Trở thành Kitô hữu không phải là kết quả của một lựa chọn đạo đức hay một ý tưởng cao cả, mà là cuộc gặp gỡ với một sự kiện, một con người, mang đến cho cuộc sống một chân trời mới và một hướng đi quyết định” (Thông điệp Deus Caritas Est, số 1). Chính cuộc gặp gỡ ấy biến đổi cuộc đời và trao cho chúng ta một sứ mạng.

  1. Lòng thương xót dẫn tới sứ vụ

Thánh Matthêu kể: “Chúa Giêsu thấy đám đông thì chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt” (Mt 9,36).

Nếu bài đọc thứ nhất cho thấy Thiên Chúa yêu thương dân Ngài, thì Tin Mừng hôm nay cho thấy trái tim yêu thương ấy nơi Chúa Giêsu. Động từ “động lòng thương” trong nguyên ngữ Hy Lạp ἐσπλαγχνίσθη – esplanchnisthē, bắt nguồn từ danh từ σπλάγχνα – splagchna, nghĩa đen là nội tạng, ruột gan. Đối với người Do Thái và Hy Lạp cổ đại, cảm xúc sâu thẳm nhất của con người không nằm ở trái tim như cách chúng ta nghĩ ngày nay, mà nằm ở “ruột gan”.

Vì thế, khi Tin Mừng nói Chúa Giêsu “động lòng thương”, nghĩa là ruột gan của Chúa Giêsu quặn thắt lại, lòng dạ Ngài bị động chạm đến, cả con người Ngài rung động và cảm nhận sâu sắc những nỗi đau khổ của con người. Ngài cảm nhận nỗi đau của người khác, không phải là sự thương hại ngoài miệng, nhưng là cảm giác đau xót, co thắt, thấu cảm những nỗi đau khổ của con người như nỗi đau của chính Ngài, và bị thôi thúc phải hành động để cứu giúp. Qua Chúa Giêsu, lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa chuyển thành hành động: “Rồi Chúa Giêsu gọi mười hai môn đệ lại, để ban cho các ông quyền trên các thần ô uế, để các ông trừ chúng và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền” (Mt 10, 1).

Ngày nay, nếu Chúa Giêsu bước vào thành phố, làng mạc, khu xóm của chúng ta, có lẽ Ngài cũng sẽ nhìn thấy rất nhiều “con chiên không người chăn”. Đó là người trẻ mất phương hướng giữa vô vàn lựa chọn. Đó là người lao động kiệt sức vì gánh nặng cơm áo. Đó là những gia đình đổ vỡ. Đó là những cụ già cô đơn. Đó là những người đang sống bên ngoài ánh sáng Tin Mừng.

Chúa Giêsu không chỉ thương cảm. Ngài hành động. Ngài nói với các môn đệ: “Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về” (Mt 9,37-38). Vấn đề của thế giới hôm nay không phải là thiếu tiền của hay các phương tiện để cứu giúp những người đau khổ, nhưng thiếu người có thiện chí sẵn sàng bước tới để chữa lành những đau khổ ấy.

  1. Chúa mời gọi những con người bình thường

Sau lời mời gọi cầu nguyện, Chúa Giêsu lập tức chọn mười hai tông đồ. Danh sách ấy thật đặc biệt. Có ngư phủ, có người thu thuế, có người nóng nảy, có người nhút nhát, có cả người sẽ phản bội. Không ai đạt yêu cầu, nếu cứ theo tiêu chuẩn tuyển chọn nhân sự của người đời. Nhưng chính họ được chọn. Điều đó mang lại niềm hy vọng lớn lao cho chúng ta, là những người không hoàn hảo.

Thiên Chúa không yêu cầu chúng ta hoàn hảo. Ngài sẽ làm cho những người Ngài gọi nên hoàn thiện dần dần. Thánh Têrêsa Calcutta từng nói: “Chúa không đòi hỏi tôi phải thành công. Chúa đòi hỏi tôi phải trung thành.” [2] Nhiều người nghĩ mình không đủ khả năng phục vụ Chúa vì thiếu kiến thức, thiếu thời gian nhưng lại nhiều yếu đuối. Nhưng nhìn vào nhóm Mười Hai, người ta thấy rằng điều Chúa cần trước hết không phải là tài năng nhưng là một tấm lòng mở ra, đáp lại mong ước xót thương của Ngài. Người biết tín thác vào Chúa, dù yếu đuối nhưng không tin vào sức riêng của mình, vẫn có thể làm nên những điều kỳ diệu.

Cứ nghe nói tới thánh Gioan Vianney là người ta lại nghĩ ngay tới một sinh viên thần học dốt nhất thế giới. Gioan Vianney gặp rất nhiều khó khăn trong việc học tiếng Latinh, triết học và thần học. Học dốt, thua các bạn đến độ có những lúc cảm thấy tủi với thầy, nhục với bạn. Tiêu chuẩn xét duyệt cho thầy Vianney chịu chức linh mục chỉ là những tiêu chuẩn dành cho một giáo dân bình thường: thầy có lòng đạo, biết lần chuỗi và kính mến Đức Trinh Nữ.

Với lòng khiêm tốn, kiên trì cầu nguyện và tín thác nơi Chúa, thầy Gioan Vianney đã trở thành linh mục, rồi được sai đến giáo xứ Ars nhỏ bé heo hút, một giáo xứ gần như nguội lạnh đức tin. Cha Gioan Vianney không dựa vào khả năng riêng nhưng dựa vào đời sống cầu nguyện liên lỉ và tình yêu phó thác nơi Chúa. Không chỉ giáo dân xứ Ars, mà nhiều khách đến xứ Ars, thấy một linh mục gầy ốm, xanh xao, hãm mình phạt xác, thức khuya dậy sớm, miệt mài với việc giải tội. Hơn ba mươi năm, cha Gioan Vianney đã ngồi tòa hơn 172.000 giờ với khoảng hơn 100.000 người đã xưng tội với cha, và làm hồi sinh đức tin của biết bao người. Gioan Vianney học dốt thế nhưng lại là một người làm lay chuyển không chỉ giáo xứ Ars, mà cả nước Pháp, không chỉ chinh phục được giới bình dân mà cả Lacordaire (1802-1861), vị linh Mục thuyết giảng nổi tiếng người Pháp thành công vượt trội tại Nhà Thờ Chính Tòa Đức Bà Paris trong hai Mùa Chay liên tiếp 1835 và 1836, rất có công trong việc chấn chỉnh Tỉnh dòng Đa Minh tại Pháp. Cuộc đời của thánh Gioan Vianney cho thấy Thiên Chúa không cần những con người hoàn hảo, nhưng cần những tâm hồn sẵn sàng để Thiên Chúa hành động. Những ai biết cậy dựa vào Chúa có thể làm được những điều vượt xa khả năng của mình. [3]

  1. Nhận nhưng không, thì trao ban nhưng không

Toàn bộ đời sống Kitô hữu được tóm gọn trong câu: “Các con đã lãnh nhận nhưng không, thì hãy cho nhưng không” (Mt 10,8). Đây là một trong những câu Tin Mừng đẹp nhất.

Chúng ta đã nhận lãnh biết bao điều nhưng không: sự sống, gia đình, đức tin, ơn cứu độ, tình yêu, sự tha thứ. Không ai mua được những điều ấy. Tất cả đều là hồng ân. Vì thế, người Kitô hữu không thể sống khép kín. Ai đã nhận được tình yêu thì phải trao ban tình yêu. Ai đã được tha thứ thì phải biết tha thứ. Ai đã được nâng đỡ thì phải biết nâng đỡ người khác.

Nhưng điều gì cho chúng ta sức mạnh để yêu thương như thế? Thánh Phaolô trả lời: “Chúa Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi” (Rm 5,8). Thiên Chúa yêu chúng ta không phải vì chúng ta xứng đáng, nhưng vì Ngài yêu trước và yêu đến cùng. Thập giá là bằng chứng lớn lao nhất của tình yêu ấy: một tình yêu dám hy sinh và có sức biến kẻ thù thành bạn hữu. Nếu Thiên Chúa đã tha thứ và hòa giải chúng ta với Ngài, thì chúng ta cũng được mời gọi đem yêu thương và hòa giải đến cho người khác, ngay trong gia đình, nơi làm việc, trường học, khu xóm và trên mạng xã hội hôm nay, nơi có biết bao người đang cần được yêu thương và cảm thông.

Một lần, các nữ tu của Mẹ Têrêsa Calcutta cứu một người hấp hối bị bỏ rơi bên đường. Các nữ tu mang ông về chăm sóc. Trước khi qua đời, ông nói: “Tôi đã sống như một con vật ngoài đường phố, nhưng tôi chết như một người được yêu thương.” Đó chính là Tin Mừng: chúng ta có thể giúp một người cảm nhận được tình yêu Thiên Chúa qua bàn tay chăm sóc của chính chúng ta. Thế giới hôm nay không chỉ cần những người nói về Thiên Chúa, mà còn cần những người làm cho người khác cảm nhận được rằng Thiên Chúa vẫn đang yêu thương họ.

Xin Chúa ban cho mỗi người chúng con biết mở mắt nhìn thấy những con người ấy chung quanh mình, biết mở lòng để cảm được nỗi đau của họ, và biết mở đôi tay nâng đỡ để trở thành khí cụ thương xót của Chúa.

Phêrô Phạm Văn Trung

[1] https://sjvlaydivision.org/greater-good/

[2] https://www.catholicmom.com/articles/lessons-from-saint-teresa-of-calcutta-on-her-feast-day

[3] https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/linh-dao-cua-thanh-gioan-maria-vianney-42431

Tấm Bánh Tình Yêu

Mỗi khi chiêm ngắm Thánh Thể Chúa, tôi không ngừng ngỡ ngàng trước tình yêu của Người. Tình yêu ấy vô cùng cao cả nhưng lại rất đỗi đơn sơ. Đơn sơ như hình ảnh tấm bánh.

Tấm bánh, tình yêu gần gũi.

Sao Chúa không hoá thân làm viên kim cương quý giá mà lại làm một tấm bánh? Tấm bánh bình thường, quen thuộc quá. Từ khi kinh tế phát triển, bánh càng ngày càng xuống giá, bớt được quý trọng.

Tuy bình thường, nhưng bánh vẫn là lương thực cần thiết cho con người. Cũng như khí trời, như nước, bánh đi vào sinh hoạt hằng ngày của con người. Bình thường lắm nhưng không có không được.

Chúa trở thành tấm bánh để gần gũi với loài người, để đi vào sinh hoạt đời thường của con người. Con người có thể đến với Chúa dễ dàng, không e ngại, sợ sệt. Chỉ là một tấm bánh vừa tầm tay mọi người. Chỉ là một tấm bánh sẵn sàng đáp ứng nhu cầu của con người. Thật khiêm nhường mà đầy ý nhị.

Thật đơn sơ nhưng cũng thật sâu xa vì tấm bánh nói lên tình yêu tự hiến.

Tấm bánh, tình yêu tự hiến.

Bánh sẽ chẳng còn ý nghĩa nếu chỉ để trưng bày cho người ta chiêm ngắm. Bánh chỉ có ý nghĩa khi được sử dụng. Được sử dụng là bị bẻ ra, bị nghiền nát, bị tan biến, bị tiêu hoá. Vì thế, trở thành tấm bánh là chấp nhận chịu đau đớn, chịu huỷ hoại. Đây không phải là một chấp nhận bất đắc dĩ, vì tấm bánh bao giờ cũng mời mọc tiêu thụ.

Khi xưng mình là bánh bởi trời, Chúa Giêsu bày tỏ một tình yêu tha thiết, sẵn sàng chịu nghiền nát, tan biến, chịu chết cho nhân loại. Chúa chịu chết cho ta được sống. Chúa chịu huỷ hoại cho ta được lành lặn các thương tích. Chúa bé nhỏ đi cho ta được lớn mạnh.

Tấm bánh bị tiêu hoá để thực hiện một tình yêu hiệp thông.

Tấm bánh, tình yêu hiệp thông.

Chúa Giêsu tha thiết với sự hiệp thông. Người không ngừng mời gọi con người đến sống thân mật với Người. Người tự nhận mình là cây nho và mời gọi mọi người hãy trở thành cành nho gắn kết với cây nho.

Hôm nay, Người còn chủ động trở thành tấm bánh để hoà vào từng giòng máu, từng thớ thịt của con người trong một kết hiệp sâu xa. Người tự tiêu huỷ mình để trở thành thịt máu của con người. Không còn sự kết hợp nào sâu xa khăng khít hơn nữa.

Tấm bánh gợi lên một bàn tiệc tại đó anh em quây quần trong tình thương, chia sẻ lương thực và chia sẻ tâm tình. Không còn gì đẹp hơn. Chính Chúa Kitô tự hiến mình để quy tụ chúng ta. Chính Chúa Kitô bị bẻ ra để cho tình huynh đệ nhân loại được mặn mà thắm thiết.

Với những gợi ý như thế, Chúa hướng dẫn tôi trong tình yêu mến, trong cử hành và trong cách sống Bí tích Thánh Thể.

Yêu mến Bí tích Thánh Thể là gì nếu không phải là trở nên hiền lành khiêm nhường, sống gần gũi với những người nhỏ bé nghèo hèn?

Cử hành Bí tích Thánh Thể là gì nếu không phải là chấp nhận hao mòn, quên mình, thiệt thòi vì Chúa và vì anh em?

Sống Bí tích Thánh Thể là gì nếu không phải là xây dựng tình đoàn kết, tình huynh đệ với những người sống quanh ta, trong mọi môi trường cuộc sống?

Lạy Chúa Giêsu Thánh Thể, con cảm tạ tình yêu vô biên của Chúa. Con chúc tụng ngợi khen Chúa muôn đời. Amen.

GỢI Ý CHIA SẺ

1) Khi dâng lễ, tấm bánh có gợi lên cho bạn điều gì về tình yêu của Đức Giêsu không?

2) Khi bạn rước lễ, bạn có cảm nghiệm được tình yêu của Chúa không?

3) Phép Thánh Thể thôi thúc bạn làm gì?

ĐTGM. Giuse Ngô Quang Kiệt

TÌNH CHO KHÔNG

Nền kinh tế hàng hóa càng phát triển theo các quy luật thị trường thì việc bán mua, trao đổi thường dựa trên việc thuận mua vừa bán. Tiền nào của đó (you get what you pay). Chuyện tiền trao cháo múc được xem như chuyện tất yếu, đương nhiên. Và thế là dần dà hình thành trong nghĩ suy và trong cung cách ứng xử, một sự đòi hỏi “có qua có lại”, “đôi bên cùng có lợi”. Chuyện cho không, biếu không, đúng là chuyện viễn vông hay của thời quá khứ xa xưa. Đây là một trong những nguyên cớ làm phát sinh sự vị kỷ, tâm lý thực dụng cá nhân chủ nghĩa.

Chia sẻ, trao ban cho tha nhân những gì mình là, mình có, một cách vô cầu, không chút điều kiện quả thật không dễ chút nào. Thế mà Chúa Kitô lại truyền dạy các môn đệ xưa và Kitô hữu chúng ta mọi thời rằng “Anh em đã lãnh nhận nhưng không thì hãy trao ban nhưng không” (Mt 10,8). Làm sao để vượt qua nỗi khó khăn này hầu thực thi lời Chúa phán dạy? Chúa Kitô đã cho chúng ta chiếc chìa khóa để giải quyết vấn nạn:

Anh em đã lãnh nhận cách nhưng không: Vấn đề nan giải là ở điểm này. Người ta thường tự hào về những gì tốt đẹp mình có. Vì nghĩ rằng mọi sự mình đang có đều là do bởi công sức mình tạo nên. Và lắm khi còn lầm nghĩ rằng chính sự hiện hữu của mình cũng do mình dệt thành. Có nhiều điều mới thoạt nhìn thì xem chừng như là sản phẩm của riêng mình, nhất là khi chúng trở thành một thứ hàng hóa được pháp luật bảo hộ. Đó là những phát minh, những sáng chế trong văn học nghệ thuật hay trong lãnh vực khoa học công nghệ. Không ai được quyền xâm phạm bản quyền sản phẩm tôi làm ra nếu không có sự thỏa thuận, sự đồng ý của tôi, vì đó là của riêng tôi, do bởi tài năng, công sức riêng tôi. Để bảo vệ quyền tác giả, các quốc gia lẫn quốc tế có những luật lệ nghiêm nhặt. Tuy nhiên bên cạnh đó cũng có luật chống độc quyền. Dù sao đi nữa thì cái môi sinh mang tính thị trường hiện nay đã góp phần hình thành tâm lý vị kỷ và tự tin thái quá, nghĩa là quy về mình mọi thành công đạt được.

Dưới cái nhìn Kitô giáo thì mọi sự đều là hồng ân. Cái nhìn này khởi đi từ việc tin nhận sự hiện hữu mọi loài, sự hiện hữu của chính mình là do bởi tình yêu và quyền năng của Thiên Chúa. Nếu Chúa rút hơi lại thì mọi loài sẽ trở về hư vô. Và vì thế “Ví như Chúa chẳng xây nhà, thợ nề vất vả cũng là uổng công” (Tv 126,1). Chẳng một ai bỏ ra chút công sức nào để được làm người trên thế gian này. Cũng chẳng một ai phải trả đồng nào cho mặt trời mọc lên hay cho mỗi ngày có đủ đầy 24 giờ chẳng thiếu một giây. Người vô tín thì cho là chuyện tự nhiên, còn người có niềm tin thì nhìn nhận có một Đấng nào đó trao ban mà Kitô hữu gọi là Thiên Chúa.

Trở về với dòng lịch sử cứu độ chúng ta càng thấy rõ tính nhưng không, vô điều kiện này. Israel, dân Chúa xưa thường được các ngôn sứ nhắc nhủ rằng họ chẳng là gì cả. Họ là một dân nhỏ bé, thế mà Giavê Thiên Chúa đã chọn làm dân riêng, làm dân thánh, chỉ vì tình yêu của Người mà thôi. Thánh Tông đồ dân ngoại khẳng định với chúng ta: “Thưa anh em, khi chúng ta không có sức làm được gì, vì còn là hạng người vô đạo, thì theo đúng kỳ hạn, Đức Kitô đã chết vì chúng ta. Hầu như không ai chết vì người công chính, họa may có ai dám chết vì người lương thiện chăng. Thế mà Đức Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi; đó là bằng chứng Thiên Chúa yêu thương chúng ta” (Rm 5,6- 8).

Trong số mười hai vị Tông Đồ mà Chúa Giêsu chọn gọi để cộng tác với Người để thực thi chương trình cứu độ, thử hỏi có vị nào đáng mặt anh hùng theo các giá trị nhân bản. Dưới cái nhìn đạo đức của Do Thái giáo thời bấy giờ thì các ngài hẳn chưa đủ điểm trung bình, nếu chưa muốn nói là còn quá yếu kém nhiều phương diện. Thế mà Chúa Giêsu đã chọn các ngài sau một đêm thức trắng để cầu nguyện (x.Lc 6,12-16). Người chọn các vị không phải để trang trí cho một vở tuồng sân khấu mà là để “ban cho các ông quyền trên các thần ô uế, để các ông trừ chúng và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền” (Mt 10,1). Không phải các ông đã chọn Thầy Giêsu nhưng chính Thầy Giêsu đã chọn các ông, một sự chọn gọi xuất phát từ một tình yêu vô điều kiện và chỉ có thế thôi (x.Ga 15,16).

Hãy trao ban cách nhưng không những gì đã lãnh nhận cách nhưng không: Chúa Kitô đã làm gương cho chúng ta về động thái trao ban này. Vì đã lãnh nhận tất cả từ Chúa Cha, Chúa Kitô sẵn sàng hiến dâng tất cả trong sự vâng phục tuyệt đối đến độ Người xác nhận “Lương thực của Người là làm theo ý Đấng đã sai Người” (x.Ga 4,34). Vào trần gian, Chúa Cha đã trao ban cho người một thân xác và Người đã hiến dâng lại cho Cha qua hiến tế thập giá (x.Lc 26-3,46). Sống vâng phục là một cách thế trao ban sự hiện hữu của mình cách hoàn hảo. Khi ta vâng nghe Lời Chúa phán dạy là ta đang hiến dâng chính cả con người chúng ta cho Đấng dựng nên chúng ta từ hư vô.

Thật là khó khi tự nguyện trao ban cho tha nhân một cách vô điều kiện những điều tốt đẹp ta có như của cải vật chất, công sức, thời giờ… Tâm lý thường tình “bánh ít trao đi thì mong bánh nhì gửi lại”. Thực tế thì hình như ít có ai “cho không”, “biếu không”, ngay cả trong các chương trình viện trợ không hoàn lại của các chính phủ hay các tổ chức, tập thể xã hội. Trao ban cách nhưng không đó là trao ban chỉ vì hạnh phúc người được trao ban, đồng thời chính người trao ban sẵn sàng tự hủy mình đi một cách nào đó. Một điều dường như là không tưởng nhưng thời sẽ thành hiện thực nếu ta biết kết hiệp với Đấng vốn là Thiên Chúa đã tự hủy mình ra không vì chúng ta (x.Phil 2,6-11).

Để có thể yêu thương, hiến dâng, trao ban cho tha nhân những gì mình là, những gì mình có một cách vô cầu, thiết tưởng cần có một đời sống cầu nguyện sâu lắng và chuyên chăm kết hiệp với Thiên Chúa. Chính khi kết hiệp với Thiên Chúa qua sự cầu nguyện chúng ta mới có cơ may nhận ra những gì ta đang là, đang có, đều do bởi đã lãnh nhận cách nhưng không. Thánh sử Maccô làm rõ chân lý này khi tường thuật việc Chúa Giêsu chọn gọi mười hai tông đồ: “Người lên núi và gọi đến với Người những kẻ Người muốn. Và các ông đến với Người. Người lập Nhóm Mười Hai, để các ông ở với Người và để Người sai các ông đi rao giảng, với quyền trừ quỷ” (Mc 3,13-15).

Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa – Ban Mê Thuột

Ngài bẻ ra, trao cho các môn đệ

Thi sĩ Tagore từng viết: “Tình Ngài yêu con không bờ không bến nhưng có thấy bóng Ngài đâu”. Dù không thấy, nhưng bằng lòng yêu mến của mình, Tagore dám khẳng định: “Tình Ngài yêu con không bờ, không bến”.

Yêu như thế nào mà Tagore lại bảo là “không bờ, không bến”? Quay về với nội dung Tin Mừng kể lại việc Chúa làm phép lạ nuôi đám đông dân chúng đi theo người (Mt 14, 13-21), bạn và tôi có thể cảm nghiệm như Tagore: “Tình Ngài yêu con”…

Một lần, Chúa Giêsu tìm vào hoang địa vắng vẻ. Nhưng dân chúng nghe biết thì đi theo Người. Họ theo đông lắm, có đến trên năm ngàn người! Đến chiều, dẫu đã đói, họ vẫn cứ theo. Vì thương họ, Chúa làm phép lạ hóa bánh ra nhiều để nuôi họ. Tin Mừng kể rằng, Chúa cầm bánh và cá mà các môn đệ mang đến, rồi “dâng lời chúc tụng, bẻ ra, trao cho các môn đệ”, để các ông phân phát cho dân.

Một phép lạ phi thường: Chỉ một hành động “bẻ ra” đã trở nên lương thực nuôi một đám người không thể tưởng tượng: trên năm ngàn nugười mà vẫn dư!

Nhưng phép lạ ấy không thuộc về quá khứ. Ngày hôm nay, để nuôi linh hồn, nuôi dưỡng đời sống thiêng liêng của ta, Chúa đã bẻ chính cuộc đời của Người, bẻ chính thân xác Người.

Là Thiên Chúa, Chúa Giêsu hạ mình làm người ngang hàng với ta, không là một sự bẻ ra hay sao? Bị thù nghịch, bị giết chết, chết ô nhục như một tên tử tội, chết tức tưởi trên cây gỗ giá, không là bẻ ra đó sao?

Nơi bí tích Thánh Thể, Chúa là tấm bánh nuôi hồn ta, cũng chính là sự tự bẻ ra.

Mãi mãi Chúa Giêsu là Thiên Chúa tự bẻ chính mình, bẻ chính cuộc đời, bẻ chính sự sống của Người cho ta, vì ta, yêu ta.

Trong mỗi thánh lễ, linh mục chủ tế sẽ bẻ tấm bánh mà mọi tín hữu đều tin đó chính là Mình Thánh Chúa.

Chủ tế nâng cao Mình Thánh và nói: “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây là Đấng xóa tội trần gian”. Dấu chỉ bẻ Mình Thánh từ tay linh mục là dấu chỉ Chúa Kitô tự bẻ chính mình trong bí tích Thánh Thể.

Thánh Thể là lời nói chung quyết, mạnh mẽ của tình yêu, là sự bẻ ra tuyệt đỉnh mà chỉ có một mình Chúa chúng ta mới làm thế. Người bẻ ra vì yêu ta không bờ, yêu không bến.

Trong khi suy tôn Mình Thánh trên tay mình, chủ tế còn mời gọi: “Phúc cho ai được mời dự tiệc Chiên Thiên Chúa”.

Bạn có yêu mến Chúa Giêsu không?  Nếu yêu mến, ta hãy cung kính rước Người vào tâm hồn mình.

Nếu lỡ biết mình bất xứng, lo xưng tội ngay và giục lòng thống hối, quyết tâm chừa tội để được rước Chúa vào linh hồn mình.

Khi đến nhà thờ, không trừ ai, mọi người cùng vào bên trong nhà thờ dự lễ sốt sắng, dự lễ trọn vẹn từ đầu đến cuối, cũng là dấu chứng tỏ lòng mến của ta đối với Thánh Thể.

Hay lễ xong, ngồi lại năm phút, ba phút để cảm tạ Chúa đã ban Thịt Máu Người cho ta và để cầu nguyện cho nhau, cho gia đình, cho bản thân... Đó cũng là dấu chứng tỏ lòng mến đối với Thánh Thể.

Chúa bẻ cuộc đời Người ra, đó là sự tự xóa mình, cho không từng người, vì sao ta không nhận? Người xóa mình để làm bằng chứng tình yêu, vì sao ta từ chối tình yêu đó?

Nhân lễ Mình Máu Thánh Chúa, nhắc lại cho nhau việc Chúa làm phép lạ hóa bánh ra nhiều để nuôi đám đông xưa, chúng ta cùng suy niệm về Thánh Thể để thêm yêu mến Người.

Ước gì từ hôm nay, mỗi lần đến nhà thờ, ta bước vào trong nhà thờ dự lễ trang nghiêm, sốt sắng. Và ước gì trong từng thánh lễ, ta luôn luôn cảm nghiệm rằng: tình Chúa thương ta không bờ, không bến như Tagore đã từng cảm nghiệm.

Lm JB NGUYỄN MINH HÙNG

Subcategories