3. Sống & Chia Sẻ Lời Chúa

Chúa Giêsu là ai?

"Đây là Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian" (Ga 1,29)

Sợi chỉ đỏ :

- Bài đọc I : Đấng Messia là Người Tôi Tớ của Thiên Chúa.

- Đáp ca : Đấng Messia đến để thực thi ý Thiên Chúa.

- Tin Mừng : Bắt đầu sứ vụ công khai của Chúa Giêsu. Gioan Tẩy giả giới thiệu : "Chính Ngài là Con Thiên Chúa."

I. DẪN VÀO THÁNH LỄ

Từ hôm nay bắt đầu mùa thường niên : Phụng vụ muốn dẫn chúng ta từng bước đồng hành với Chúa Giêsu. Việc đầu tiên là phải biết Đấng mà mình đồng hành là ai.

Xin Chúa cho chúng ta biết Ngài, yêu mến Ngài và gắn bó đi theo Ngài trọn cuộc hành trình dương thế của chúng ta.

II. GỢI Ý SÁM HỐI

- Tuy là môn đệ của Chúa Giêsu, nhưng chúng ta chưa cố gắng tìm hiểu để biết rõ Ngài.

- Chúng ta chưa "yêu mến Chúa trên hết mọi sự."

- Chúng ta thường đi theo đường lối của riêng mình chứ không đồng hành với Chúa trên con đường của Chúa.

III. LỜI CHÚA

1. Bài đọc 1 : Is 49,3.5-6

Ngôn sứ Isaia hình dung Đấng Messia là Người Tôi Tớ của Thiên Chúa. Đoạn trích này thuộc bài thứ hai trong 4 bài ca về Người Tôi Tớ :

- Người Tôi Tớ của Thiên Chúa được giao sứ mạng "quy tụ dân Israel trước mắt Thiên Chúa".

- Người Tôi Tớ của Thiên Chúa còn là "ánh sáng của các dân tộc", làm cho "ơn cứu độ của Thiên Chúa tràn lan khắp địa cầu".

Tất cả những nét Isaia mô tả Người Tôi Tớ đều được thực hiện nơi Chúa Giêsu.

2. Đáp ca : Tv 39

Tv này bày tỏ tâm tình của người tín hữu đối với Thiên Chúa : cậy trông nơi Thiên Chúa, hân hoan hát mừng ca tụng Ngài, và nhất là luôn thực thi thánh ý của Ngài.

Không ai ngoài Chúa Giêsu có những tâm tình hoàn hảo ấy.

3. Tin Mừng : Ga 1,29-34

Theo bố cục của Tin Mừng thứ tư, đây là lần đầu tiên Đức Giêsu xuất hiện trước dân chúng. Vì dân chúng chưa biết Đức Giêsu, nên Gioan Tẩy giả giới thiệu Ngài, bằng hai kiểu nói :

- Đức Giêsu là "Con Chiên Thiên Chúa" : Trong lễ nghi Đền tội của Do thái giáo, tội nhân đem một con chiên lên Đền thờ, úp tay mình xuống con chiên tỏ ý trút hết tội mình lên nó ; tiếp theo, tư tế sẽ giết con chiên. Nó chịu chết để đền tội thay cho tội nhân. Bao nhiêu tội lỗi của tội nhân đều được tẩy xóa. Ngay từ buổi đầu gặp Chúa Giêsu, Gioan Tẩy giả đã biết Ngài sẽ chịu chết để chuộc tội cho nhân loại, nên ông giới thiệu "Đây là Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian".

- Đức Giêsu là "Con Thiên Chúa" : Nhờ ơn soi sáng đặc biệt của Chúa Thánh Thần trong biến cố làm phép rửa cho Đức Giêsu, Gioan Tẩy giả còn được biết Đức Giêsu là Con Thiên Chúa. Thực ra, trong lịch sử, các vua Israel cũng xưng mình là con của Thiên Chúa. Nhưng đó chỉ là một cách nói, ngụ ý họ được Thiên Chúa nhận làm con nuôi, nghĩa tử. Riêng đối với Đức Giêsu, Gioan Tẩy giả giới thiệu Ngài là con ruột của Thiên Chúa và cũng chính vì thế cho nên Đức Giêsu sẽ làm phép rửa trong Chúa Thánh Thần.

4. Bài đọc 2 (chủ đề phụ) : 1 Cr 1,1-3

* Từ Chúa nhựt II đến Chúa nhựt VIII, bài đọc II đều trích từ thư 1 Côrintô. (Xin hãy đọc bài giới thiệu tổng quát về Thư 1 Côrintô ngay sau bài này)

Côrintô là một thành phố cảng với những nét đặc trưng là : dân cư hỗn tạp (nhiều sắc dân khắp nơi đến làm ăn), đời sống kinh tế và trí thức tương đối khá, nhưng không đoàn kết, xã hội có nhiều tệ đoan. Chính dân Côrintô đã đuổi Phaolô ra khỏi thành phố này.

Khi ở Êphêxô, Phaolô nghe nhiều tin tức không tốt về giáo đoàn này, nên ông viết bức thư này cho họ nhằm củng cố một số điểm giáo lý và sửa sai một số tệ nạn.

Đoạn này chỉ là những lời chào đầu thư Thánh Phaolô gởi đến các tín hữu Côrintô. Tuy vậy nó cũng xác định rõ tư cách của người viết thư và những người nhận thư :

- Người viết thư (Phaolô) là kẻ được Thiên Chúa kêu gọi làm tông đồ của Đức Giêsu Kitô.

- Những người nhận thư (tín hữu Côrintô) là những kẻ được kêu gọi nên thánh và được thánh hóa trong Chúa Giêsu Kitô.

IV. GỢI Ý GIẢNG

1. Độc hành hay đồng hành

Khi phải làm một chuyến hành trình dài, người ta cần có bạn đồng hành, để có bạn đường mà chia vui xẻ buồn, nói chuyện với nhau, và giúp đỡ nhau. Hai môn đệ hành trình Emmau nhờ đi chung với nhau nên đã san sẻ cho nhau nỗi buồn nặng trĩu sau những biến cố đau thương xảy ra tại Giêrusalem. Họ lại có được một bạn đồng hành nữa là Đức Giêsu phục sinh. Chính Người Bạn đồng hành này đã xóa tan mọi sầu lo của họ và làm cho niềm tin của họ sống lại.

Đời người trên dương thế là một cuộc hành trình dài thăm thẳm, không biết bao giờ mới xong, cũng không chắc sẽ đi đến đích hay không. Vậy mà có nhiều người cứ mãi độc hành : một mình tìm đường, một mình đi, một mình xoay trở trước những khó khăn… Thật là phiêu lưu !

Mùa thường niên của năm Phụng vụ cũng là một cuộc hành trình, nhưng không phải độc hành, mà là đồng hành với Chúa Giêsu : chúng ta cùng với Ngài đi qua những chặng đường từ Nadarét đến Galilê để tới Giêrusalem ; từ gian khổ đến vinh quang ; từ chết đến sống lại. Có Ngài cùng đi với chúng ta, chúng ta không sợ lạc đường. Cùng đi với Ngài, cho dù nhiều lúc gặp khó khăn, chắc chắn chúng ta sẽ tới đích. Chúa Giêsu đồng hành với chúng ta nghĩa là Ngài sẽ vui khi chúng ta vui, Ngài sẽ buồn khi chúng ta buồn ; chúng ta đồng hành với Chúa Giêsu cũng có nghĩa là ta sẽ được vui niềm vui của Ngài và buồn với nỗi buồn của Ngài. Đời ta không cô độc, buồn tẻ…

Tuy chỉ là "mùa thường niên" không có những lễ trọng, nhưng nếu chúng ta sống mùa này như một người đồng hành với Chúa, cuộc đời chúng ta chắc chắn sẽ rất có ý nghĩa.

2. Người Con và Người Tôi Tớ

Lời Chúa hôm nay cho chúng ta thấy Chúa Giêsu với hai nét tương phản nhau : Ngài là Người Con yêu quý của Thiên Chúa cao sang, và Ngài là Người Tôi Tớ khiêm tốn thấp hèn.

Thực ra hai nét trên không đối chọi nhau mà làm nổi bật nhau và soi sáng cho nhau : Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa cao sang do cách Ngài sống như một Người Tôi Tớ ; và Ngài là Người Tôi Tớ tuyệt hảo bởi vì Ngài là Con Thiên Chúa cao sang.

Nhìn Chúa Giêsu, chúng ta rút ra được một triết lý sống : sống cao thượng trong hoàn cảnh tầm thường ; và sống hoàn cảnh tầm thường với tâm hồn cao thượng.

Cùng sống với Chúa Giêsu qua những biến cố mỗi tuần trong Mùa thường niên này, chúng ta có thể thực hiện được triết lý sống tuyệt vời ấy.

3. Con Chiên gánh tội trần gian

Thời Cựu Ước, trong ngày lễ Đền tội, người do thái bắt một con chiên đem đến cho Tư tế. Vị Tư Tế đọc một danh sách các thứ tội của dân và kêu gọi mọi người sám hối. Sau đó Tư Tế đặt tay trên đầu con dê, ngụ ý trút hết danh sách tội ấy lên đầu nó, rồi đuổi nó vào sa mạc. Con chiên ấy được gọi là con chiên gánh tội.

Khi Thánh Gioan Tẩy giả giới thiệu Đức Giêsu là "Con Chiên Thiên Chúa, Đấng gánh tội trần gian", phải chăng Thánh Gioan cũng có ý rằng Đức Giêsu đã gánh lấy tất cả tội lỗi chúng ta nên từ nay loài người không còn tội gì nữa ? Đơn giản và dễ dàng thế sao ?

Quả thực Đức Giêsu đã gánh lấy tội trần gian. Việc này có nghĩa là nhờ Ngài mà tội lỗi chúng ta được tha thứ. Nhưng điều này không có nghĩa là chúng ta không phải làm gì cả.

Cần phân biệt rõ giữa tội lỗi và thân phận tội lỗi. Đức Giêsu gánh lấy và tha thứ tội lỗi chúng ta, như con chiên đã mang tội lỗi dân do thái vào sa mạc. Nhưng thân phận tội lỗi của chúng ta vẫn còn. Và Đức Giêsu muốn giúp chúng ta cải thiện thân phận ấy, dĩ nhiên là với sự hợp tác của chúng ta.

- Ngài giúp chúng ta thế nào ? Bằng cách đến với chúng ta, sống gần chúng ta, gieo vào mảnh đất tâm hồn chúng ta hạt giống sự tốt lành và thánh thiện của Ngài.

- Chúng ta hợp tác thế nào ? Bằng cách tiếp nhận Ngài, sống với Ngài và để cho những hạt giống ấy lớn lên trong lòng mình.

Sự tha thứ của Chúa và bí tích Giải tội không phải là một thứ phù phép, mà là một trợ lực, một hạt giống.

4. "Ngài cao trọng hơn tôi"

Ngày xưa một vì vua bảo một ông quan : "Khanh hãy đi khắp đất nước tìm về cho trẫm một người tốt". Ông quan này tính tình hung dữ, gian dối và không có bạn. Sau một thời gian đi tìm, ông trở về triều, tâu : "Thần đã đi khắp nơi, gặp hết mọi người. Nhưng chẳng tìm được người nào tốt cả. Ai cũng hung dữ, gian dối và không có bạn".

Nhà vua sai một quan khác : "Khanh hãy đi khắp đất nước tìm về cho trẫm một người xấu". Ông này có lòng nhân từ, quảng đại và được mọi người thương mến. Sau một thời gian đi tìm, ông cũng trở về triều và tâu : "Hạ thần không thể chu toàn sứ mạng mà Bệ Hạ giao phó. Hạ thần đã gặp nhiều người gian lận, trộm cắp, tham lam… Nhưng chẳng có người nào thực sự xấu cả. Dù họ đã làm những điều ấy, nhưng trong thâm tâm ai cũng tốt"

Câu chuyện trên muốn nói rằng ta có khuynh hướng nhìn người khác không theo lòng họ mà theo lòng ta.

Thánh Gioan Tẩy giả thì không thế. Nếu như mọi người thì Gioan sẽ coi thường Đức Giêsu, bởi Ngài đến sau ông ; chẳng những thế ông còn coi Ngài là đối thủ của ông, bởi Ngài đang lấn dần ảnh hưởng của ông. Nhưng Gioan đã nghe theo sự soi sáng của Chúa Thánh Thần nên đã hiểu đúng về Đức Giêsu và đã nhiệt tình giới thiệu Ngài cho mọi người : "Ngài đến sau tôi nhưng có trước tôi vì Ngài cao trọng hơn tôi".

5. Được kêu gọi nên thánh

Trong thư gởi tín hữu Côrintô, Thánh Phaolô định nghĩa tín hữu là "những người được kêu gọi nên thánh".

Nhưng "thánh" là gì ? Theo thần học, chỉ có một mình Thiên Chúa là "thánh" (Kinh Sáng Danh : "Chỉ có Chúa là Đấng Thánh"). Theo Thánh Kinh, những ai và những gì thuộc về Thiên Chúa cũng được gọi là "thánh", chẳng hạn Đền thánh, Luật thánh, thánh nhân… ; việc dâng hiến một người hoặc một vật cho Chúa được gọi là thánh hiến.

Vậy tín hữu là những người được kêu gọi nên thánh có nghĩa là tín hữu được mời gọi ngày càng thuộc về Chúa hơn, ngày càng giống Chúa hơn.

Nhưng làm thế nào để được như vậy ? Cách tốt nhất là thường xuyên ở bên Chúa, nhìn vào Chúa và noi gương Chúa. Đó là điều mà phụng vụ các ngày chúa nhựt quanh năm muốn giúp chúng ta.

V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI

CT : Anh chị em thân mến

Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một Người là Đức Giêsu Kitô nhập thế làm người, chịu chết trên Thập giá để xóa tội lỗi trần gian. Chúng ta cùng cảm tạ Chúa và dâng lời cầu xin.

1- Chúa đã đặt Hội Thánh làm dấu chỉ ơn cứu độ cho muôn dân / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho Hội Thánh luôn trung thành với sứ mạng của mình.

2- Cánh đồng truyền giáo này nay thật bát ngát bao la / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho mọi thành phấn dân Chúa / ý thức được trách nhiệm rao giảng Tin Mừng của mình / và dùng chính đời sống theo Tám mối phúc thật / để giới thiệu Chúa cho những ai chưa nhận biết Người.

3- Sống an bình và hạnh phúc / là ước mơ tha thiết của mỗi người đang hiện diện trên trái đất này / Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa ban cho thế giới hôm nay được hòa bình và thịnh vượng / để điều mà môi người chân thành ước mơ / có thể sớm trở thành hiện thực.

4- Như Thánh Gioan tẩy giả / mỗi kitô hữu đều có bổn phận phải giới thiệu Chúa cho người khác / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta hiểu rằng / giới thiệu Chúa bằng đời sống bác ái yêu thương và phục vụ hết lòng / là cách tốt nhất để giúp người khác nhận biết Chúa.

CT : Lạy Chúa là Cha nhân hậu, chúng con cảm tạ Chúa vì biết bao ơn lành Chúa đã thương ban cho chúng con trong cuộc sống. Xin cho chúng con chỉ tin tưởng cậy trông và phó thác cuộc đời chúng con trong bàn tay quan phòng kỳ diệu của Chúa mà thôi. Chúng con cầu xin…

VI. TRONG THÁNH LỄ

- Trước kinh Lạy Cha : Chúa Giêsu là Con duy nhất của Thiên Chúa. Nhưng Ngài đã thương chia sẻ quyền làm con ấy cho chúng ta nữa. Giờ đây, chúng ta hãy cùng với Chúa Giêsu dâng lên Thiên Chúa là Cha những tâm tình con thảo của chúng ta.

- Trước Rước lễ : Đức Giêsu hôm qua, hôm nay và mãi mãi vẫn là một. Ngày xưa Thánh Gioan Tẩy giả giới thiệu Đức Giêsu thế nào, thì hôm nay Giáo Hội cũng giới thiệu Đức Giêsu cho chúng ta như thế : "Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian…"

VII. GIẢI TÁN

Trong Thánh Lễ này, anh chị em đã biết Chúa Giêsu là ai, đã được cảm nghiệm tình yêu thương của Ngài. Lễ đã xong, giờ đây anh chị em hãy đồng hành với Ngài trên những bước đường của cuộc sống.

---------------------------------------------------

Bài đọc thêm 1

THƯ I CÔRINTÔ

A. GIÁO ĐOÀN CÔRINTÔ

1. Thành phố Côrintô đã bị một viên tướng Rôma tên là L. Mumium phá hủy vào năm 146 trước công nguyên. Một thế kỷ sau nó được xây dựng lại bởi lệnh hoàng đế Jules César và trở thành một thuộc địa của đế quốc Rôma. Chẳng bao lâu sau nó thành thủ phủ của tỉnh Achaie của đế quốc.

2. Côrintô cũng là một hải cảng lớn với một nền thương mại phồn thịnh. Vì nằm trên tuyến đường nối hai miền Đông Tây, nên việc giao thông cũng tấp nập. Dân số thời ấy khoảng 600 ngàn, trong số đó 2/3 là nô lệ. Về tín ngưỡng, dân Côrintô thờ nhiều thần. Luân lý rất suy đồi, nạn dâm ô tràn lan (x. Rm 1,26-32).

3. Phaolô đến Côrintô lần đầu tiên trong chuyến du hành truyền giáo thứ hai. Ông đã lưu lại đây 18 tháng từ mùa đông năm 50 đến mùa hè năm 52. Ban đầu ông cũng hành nghề dệt lều và rao giảng trong hội đường do thái vào những ngày hưu lễ. Khi có Sila và Timôtêô đến tiếp thì ông hoàn toàn lo rao giảng. Nhiều người đã tin theo và Phaolô lập được một giáo đoàn mà đa số là người lương trở lại, phần đông thuộc giới hạ lưu nghèo khổ. Những tín hữu này rất hăng say sống đạo nhưng đầu óc còn thấm nhiễm tâm thức lương dân. Sau đó dân Côrintô đã đuổi Phaolô đi. Sau khi ông ra đi ít lâu, có một nhà trí thức do thái ở Alexandria tên là Apollo đến nối tiếp sứ mạng rao giảng Tin Mừng cho dân Côrintô và thu được rất nhiều kết quả (x 1Cr 1,26-28 11,21-22). Sau đó lại có thêm Thánh Phêrô đến nữa.

B. THƯ 1 CÔRINTÔ

1. Hoàn cảnh và mục đích

Năm 56, Phaolô đang ở Êphêxô thì được nhiều tin tức không tốt đẹp về giáo đoàn Côrintô : nạn bè phái, thói kiện cáo nhau trước tòa án lương dân, tội dâm ô v.v. Ngoài ra, nhiều tín hữu cũng có những thắc mắc về lương tâm và phụng vụ. Phaolô đã gởi Timôtêô đến đấy để dò la tình hình. Sau khi Timôtêô trở về báo cáo thì Phaolô viết bức thư này để sửa dạy những thói xấu và giải đáp những thắc mắc của tín hữu Côrintô.

2. Bố cục

- Lời chào                              01,01-03

- Lời tạ ơn                              01,04-09

- Sửa dạy những thói xấu :

. Nạn bè phái                                    01,10--04,21

. 1 trường hợp loạn luân     05,01-13

. Kiện cáo nhau                    06,01-11

. Tội dâm ô                           06,12-20

- Giải đáp những thắc mắc :

. Về hôn nhân và đồng trinh          07,01-40

. Vấn đề ăn đồ cúng            08,01--11,01

- Bàn về cộng đoàn phụng tự

và các đoàn sủng                 11,02--14,40

- Bàn về việc kẻ chết sống lại        ch 15

- Kết                                       16,01-18

- Lời chào                              16,19-24

3. Nhận định chung về thư 1 Cr

- Thư này rất thực tế, cho ta thấy rõ bề mặt và bề trái của giáo đoàn : không phải cái gì cũng tốt đẹp êm xuôi, nhưng nhiều vấn đề nội bộ rất phức tạp, nhiều khi rất đau lòng. Nó cũng cho thấy những uẩn khúc trong tâm hồn của người chịu trách nhiệm về giáo đoàn : ưu tư, dằn vật, khổ đau nhưng trong hoàn cảnh nào cũng chan chứa tình thương.

- Nhờ thực tế như thế, thư này tương đối dễ hiểu. Mặc dù đề cập đến những vấn đề riêng tư của một giáo đoàn, nhưng qua đó chúng ta cũng rút ra được nhiều tư tưởng có giá trị chung cho mọi nơi và mọi thời.

 

Gp. Cần Thơ

CHIÊN THIÊN CHÚA

CHÚA NHẬT 2 THƯỜNG NIÊN A

(Is 49, 3. 5-6; 1 Cr 1, 1-3; Ga 1, 29-34). 

Chúng ta vừa kết thúc phụng vụ Mùa Giáng Sinh. Bầu khí khu thánh đường trở lại vẻ lặng lẽ và bình thường trong khí trời tuyết lạnh. Giờ đây, chúng ta bắt đầu tiếp tục suy gẫm về sứ mệnh công khai của Chúa Giêsu. Khai mở một triều đại mới của Nước Trời. Chúa Giêsu đã hiện diện đồng hành với Dân Người. Chúng ta cần học hiểu về ý nghĩa thần học của con chiên. Chúa Giêsu được ví như cửa chuồng chiên, người chăn chiên tốt lành và chủ chiên. Chủ chiên đi trước và đàn chiên bước theo sau. Trong Cựu Ước hình ảnh quen thuộc của những con chiên tinh tuyền bị hiến tế, con chiên gánh tội, con chiên hiền lành bị xén lông và bị giết để lấy máu chiên đuợc bôi trên cửa, rảy trên dân chúng và thịt chiên nướng làm của ăn. 

Tiên tri Isaia đã tiên báo nhiều điều về Đấng sẽ ban ơn cứu độ. Ngài là ánh sáng và nguồn qui tụ mọi con dân về một mối. Khoảng 600 năm trước Chúa Giêsu, Isaia đã có những thị kiến ngưỡng vọng về một tương lai huy hoàng. Thiên Chúa sẽ qui tụ mọi con cái đang tản mác khắp nơi về một nguồn sống. Ơn cứu độ sẽ lan tràn khắp chốn và vinh quang của Thiên Chúa sẽ được chiếu tỏa khắp mọi nơi: Chúa đã phán cùng tôi: "Hỡi Israel, ngươi là tôi tớ Ta, vì Ta được vinh danh nơi ngươi" (Is 49, 3). 

Gioan Tẩy Giả là vị tiên tri sau cùng nối kết giữa Cựu Ước và Tân ước. Chương trình cứu độ được thể hiện qua dòng dõi của một Dân tộc mà Chúa đã chọn. Trải qua thời gian, cho dù dân chúng có ngỗ nghịch, ương ngạnh và từ bỏ Chúa, Thiên Chúa vẫn tín trung giữ lời đã giao ước với các cha ông. Gioan được sai đến như vị tiên hô để chứng dám và giới thiệu cho toàn dân về Đấng Cứu Thế. Gioan đã chu toàn sứ mệnh tiền hô và chuẩn bị lòng dân đón Chúa. Ông đã được nhìn xem tận mắt và chứng kiến Đấng đến sau ông và chính ông không xứng đáng cúi xuống cởi giây giầy cho Ngài. 

Gioan kêu gọi mọi người hãy chuẩn bị đường lối của Chúa cho ngay thẳng. Có nhiều người đã chạy đến với Gioan xin lãnh nhận phép rửa sám hối. Một số người thật lòng sám hối ăn năn và sửa đổi đời sống. Tuy thời gian không dài nhưng ông Gioan Tẩy giả đã hoàn thành được sứ mệnh của người dọn đường. Ông đã xác tín một điều mà muôn dân đợi trông: Tôi đã thấy và tôi làm chứng: chính Ngài là Con Thiên Chúa" (Ga 1, 34).

Chúa Giêsu Kitô đã đến và rao giảng tin mừng Nước Trời. Trong thời gian ngắn ngủi, Chúa Giêsu đã hoàn tất mọi lời do miệng các tiên tri đã phán dậy. Ngài đã hiến thân mình như con chiên hiền lành bị đem đi giết. Chính Ngài đã hiến dâng mình để cứu độ và giải thoát con người khỏi tội lỗi, sự tối tăm và sự dữ. Ngài đã chiến thắng tử thần, đã sống lại từ cõi chết và lên trời ngự bên hữu Chúa Cha. Danh thánh của Ngài được truyền rao qua mọi thế hệ. Chỉ có Chúa Giêsu là Đấng Thánh, chỉ có Chúa là Chúa và là Đấng Cứu Độ trần gian.

Lạy Chúa, chúng con tuyên xưng: Lạy Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian xin thương xót chúng con. Chúa Chiên Lành đã yêu thương ẵm vác trên vai những con chiên bị thương tích và đưa dẫn chiên lạc lối trở về. Xin cho chúng con biết dõi theo lối bước của Chúa đến đồng cỏ xanh tươi, có nguồn suối mát và chúng con sẽ được nghỉ ngơi an bình.

Lm. Giuse Trần Việt Hùng.

RẼ HƯỚNG

Thứ Bảy Tuần 1 Thường Niên A

“Ông liền đứng dậy đi theo Người”.

Một thương gia rất đỗi hài lòng với chiếc phong vũ biểu tốt nhất vừa sưu tầm. Nhưng về đến nhà, ông bực bội khi thấy chiếc kim cứ chỉ về phía “bão”. Lắc thế nào, kim vẫn không nhúc nhích. Ông ngồi xuống viết thư phàn nàn. Tối hôm sau trở về, phong vũ biểu không còn, cả ngôi nhà cũng không. Thì ra, chiếc kim không kẹt; nó chỉ đúng - “bão!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Tin Mừng hôm nay không nói đến một chiếc phong vũ biểu ‘chỉ hướng’, nhưng nói đến một con người ‘rẽ hướng’ - Matthêu! Anh không phàn nàn với người gọi; nhưng “liền đứng dậy đi theo Người”.

‘Rẽ hướng’ không chỉ là đổi hướng nhìn, mà là rời khỏi đường cũ, khỏi những bảo đảm cũ, khỏi sự an toàn quen thuộc. Đứng dậy, là chấp nhận mất cái tôi trước đó để bước vào một ‘cái tôi’ chưa hề biết. Chúa Giêsu không trao cho Matthêu một tấm bản đồ; Ngài trao cho anh một chiếc la bàn, kim chỉ nam của nó là “Giêsu” - Ngài. Anh không thấy gì khác ngoài một hướng đi. Và như mọi cuộc ‘rẽ hướng’ định mệnh, anh không thể mang theo tất cả. Nhiều thứ phải bỏ lại, không vì chúng xấu, mà vì chúng giữ một ai đó ở lại! Matthêu không biết đời mình sẽ đi về đâu, nhưng biết mình không thể ở nguyên chỗ cũ. Cái “liền” của Matthêu không phải là sự nông nổi, mà là khoảnh khắc của một người “đã chín” trong sự giằng co: ở lại thì an toàn, nhưng “không còn sống”. Có những lúc, “không rẽ” là chết dần; nỗi sợ chỉ là khách mời, đừng để nó dọn vào! “Hãy sống một đời tự do. Không tồn tại thứ gọi là một cuộc sống an toàn!” - Anand Mehrotra.

Cuộc ‘rẽ hướng’ ấy mở ra một bữa tiệc. Không phải tiệc của những người đã hoàn hảo, mà của một người được gọi, “Này đây Ta đứng trước cửa và gõ!”. Nếu Matthêu nói, “để mai”, có lẽ đã không có bữa tiệc, không có những gương mặt được chạm tới, không có những câu chuyện được đổi đời. Tiếng “vâng” của một người có thể mở cửa cho ân sủng đi vào nhiều phận người khác. Thế nhưng, đừng lãng mạn hoá cuộc ‘rẽ hướng’ này! Bởi cũng từ ngày ấy, Matthêu không bước vào con đường dễ hơn, nhưng gập ghềnh hơn mà cũng sâu hơn; không được bảo vệ khỏi giông tố, mà được đặt vào giữa giông tố với một “Đấng ở cùng”. ‘Rẽ hướng’ không hứa hẹn ít đau hơn; chỉ hứa hẹn ‘đúng hướng’ hơn. Và đúng hướng, đôi khi, là hướng đi qua con đường thập giá!

Anh Chị em,

“Ông liền đứng dậy đi theo Người”. Lời gọi theo Chúa luôn bắt đầu bằng một cuộc ‘rẽ hướng’ rất cụ thể: rẽ khỏi một thói quen không lành mạnh, một chọn lựa, một lối sống đã thành nếp. Không ai theo Chúa mà không mất gì; nhưng cũng không ai mất gì vì theo Chúa! Từ một người thu thuế, Matthêu dần trở thành nơi mà Lời có thể đi qua, nơi mà ân sủng có thể chạm tới người khác. Đó không phải là thành tựu cá nhân, mà là hoa trái của một hướng đã được đổi. “Ý nghĩa của cuộc đời là tìm ra món quà của bạn. Mục đích của cuộc đời là trao tặng nó!” - Pablo Picasso.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, giữa bao ngả rẽ cuộc sống, giúp con can đảm luôn rẽ về hướng “Giêsu”. Đừng để con chỉ đứng “nhìn kim”, mà không bao giờ dám bước đúng hướng!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

DANH XƯNG CHIÊN THIÊN CHÚA MANG Ý NGHĨA GÌ?

  1. Thiên Chúa hứa sẽ ban Con Chiên cho con người

Khi Gioan Tẩy giả nhìn thấy Chúa Giêsu, ông đã tuyên bố: “Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xoá bỏ tội trần gian” (Gioan 1: 29). Nhưng việc gọi Chúa Giêsu là Chiên Thiên Chúa có nghĩa gì?

Khi dẫn các đoàn hành hương đến Giêrusalem, chúng tôi luôn ghé thăm Núi Đền, nơi từng có Đền thờ Do Thái mãi cho đến khi người La Mã phá hủy nó vào năm 70 sau Công nguyên và không bao giờ được xây dựng lại. Nơi linh thiêng này nằm trên đỉnh núi Môrigia, chính là ngọn núi nơi Thiên Chúa đã truyền lệnh cho Abraham dâng con trai yêu dấu của mình là Isaac làm tế lễ: “Thiên Chúa thử lòng ông Abraham. Ngài gọi ông: Abraham! Ông thưa: Dạ, con đây! Ngài phán: Hãy đem con của ngươi, đứa con một yêu dấu của ngươi là Isaac, hãy đi đến xứ Môrigia mà dâng nó làm lễ toàn thiêu ở đấy, trên một ngọn núi Ta sẽ chỉ cho” (Sáng thế ký 22: 1-2).

Abraham đưa Isaac lên núi Môrigia. Chính Isaac vác củi để làm lễ thiêu sinh, cũng giống như Chúa Giêsu sẽ vác gỗ thập tự giá. Trên đường đi, Isaac hỏi một câu khiến cha của cậu trăn trở: “Thưa cha, có lửa, có củi đây, còn chiên để làm lễ toàn thiêu đâu?” Abraham trả lời một cách tiên tri: “Chiên làm lễ toàn thiêu, chính Thiên Chúa sẽ liệu, con ạ” (Stk 22: 8).

Nhưng khi thời điểm đến, Thiên Chúa không ban cho một con chiên non, mà là một “con cừu đực bị mắc sừng trong bụi cây” (Stk 22: 9). Abraham đặt tên cho nơi đó là “Chúa sẽ liệu”, ý nói rằng: “Trên núi Chúa sẽ liệu”. Lời hứa vẫn còn đó: Con Chiên sẽ được ban cho.

Lời hứa của Chúa, được đưa ra gần 2.000 năm trước Công nguyên, đã hướng đến một sự lo liệu lớn lao hơn việc Chúa đã định liệu trên chính ngọn núi đó. 

  1. Chiên Thiên Chúa chính là Chúa Kitô

Thiên Chúa đã thực hiện lời hứa của Ngài khi nào? Chúng ta có thể dựa vào cuộc Xuất Hành, khi dân Israel dâng tế lễ chiên Vượt Qua, hoặc dựa vào việc những con chiên được dâng hằng ngày trong Đền Thờ, nhưng những con chiên đó do dân chúng mang đến. Còn Thiên Chúa vẫn chưa ban Con Chiên cho con người.

Nhiều thế kỷ sau thời Abraham, khi dân Israel đang sống lưu vong, Thiên Chúa đã phán qua lời ngôn sứ Isaia về một Người Tôi Tớ bí nhiệm, Đấng sẽ gánh lấy tội lỗi của nhiều người, được mô tả như:

Chiên bị đem đi làm thịt,

như cừu câm nín khi bị xén lông, Ngài chẳng hề mở miệng.

Ngài đã bị ức hiếp, buộc tội, rồi bị thủ tiêu.

Dòng dõi của người, ai nào nghĩ tới ?

Ngài đã bị khai trừ khỏi cõi nhân sinh,

vì tội lỗi của dân, người bị đánh phạt.

Ngài đã bị chôn cất giữa bọn ác ôn,

bị mai táng với người giàu có, dù đã chẳng làm chi tàn bạo

và miệng không hề nói chuyện điêu ngoa.

Chúa đã muốn người phải bị nghiền nát vì đau khổ.

Nếu người hiến thân làm lễ vật đền tội,

Ngài sẽ được thấy kẻ nối dõi, sẽ được trường tồn,

và nhờ Ngàii, ý muốn của Chúa sẽ thành tựu.

Nhờ nỗi thống khổ của mình,

Ngài sẽ nhìn thấy ánh sáng và được mãn nguyện.

Vì đã nếm mùi đau khổ, người công chính, tôi trung của Ta,

sẽ làm cho muôn người nên công chính

và sẽ gánh lấy tội lỗi của họ

(Isaia 53: 5-7, 11).

Được viết hơn 500 năm trước khi Chúa Giêsu ra đời, lời của ngôn sứ Isaia chỉ nhằm mô tả một con người duy nhất, đó là Chúa Giêsu Kitô, Chiên Thiên Chúa. 

  1. Chúa Giêsu là Con Chiên mà Thiên Chúa đã ban cho con người

Giờ thì mọi sự đã khớp lại với nhau. Abraham đã tiên tri rằng: “Chiên làm lễ toàn thiêu, chính Thiên Chúa sẽ liệu” (Stk 22: 8). Gioan Tẩy giả nhìn thấy Chúa Giêsu và tuyên bố: “Đây Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian” (Gioan 1: 29).

Chúa Giêsu dâng hiến lễ của Ngài ở đâu? Trên đồi Canvê, chính là đỉnh núi Môrigia, nơi mà Abraham đã nói: “Trên núi Chúa sẽ liệu” (Stk 22: 14).

Chúa Giêsu là Chiên Con mà Thiên Chúa đã hứa sẽ ban cho. Ngài cất đi tội lỗi của thế gian. Không có Ngài, sẽ không có ơn cứu độ, không có sự tha thứ, không có hy vọng về thiên đàng. Trong Ngài, tình yêu của Thiên Chúa được tuôn đổ đến cùng. Chúng ta hãy chiêm ngưỡng Chiên Con và dâng lên Ngài lòng biết ơn.

  1. Sự kết thúc của Đền thờ, khởi đầu hình thức thờ phượng mới

Đền thờ Do Thái là nơi duy nhất người ta được phép thờ phượng Thiên Chúa bằng cách dâng tế lễ. Ngay cả hội đường cũng chỉ là nơi cầu nguyện, giảng dạy và sinh hoạt cộng đồng, không phải là nơi thờ phượng bằng cách dâng lễ tế.

Khi Chúa Giêsu, Chiên Thiên Chúa, chết trên thập tự giá, bức màn trong Đền thờ đã bị xé toạc từ trên xuống dưới (Mátthêu 27:51), báo hiệu rằng các lễ tế trong Đền thờ đã chấm dứt. Chúa Giêsu đã đến để thay thế các lễ tế trong Đền thờ. Chúa Giêsu đến để thay thế việc thờ phượng Thiên Chúa trong Đền thờ bằng việc thờ phượng Thiên Chúa trong Thánh lễ của Hội thánh Công giáo.

Chính Chúa Giêsu đã báo trước điều này: “Các ông cứ phá huỷ Đền Thờ này đi; nội ba ngày, tôi sẽ xây dựng lại” (Gioan 2: 19). Ngài đang nói về Đền thờ Thân thể Ngài (Gioan 2:19-21). Thân thể của Chúa Giêsu giờ đây là Đền thờ của Thiên Chúa.

Việc thờ phượng trong Đền thờ xưa được hoàn thành trong Mình Thánh Chúa. Và Mình Thánh Chúa hiện diện ở đâu? Trong Bí tích Thánh Thể ở mỗi Thánh Lễ. Đó là lý do tại sao linh mục giơ cao Mình Thánh và nói: “Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian. Phúc cho ai được mời đến dự tiệc Chiên Thiên Chúa.”

  1. Thánh lễ: Nghi thức thờ phượng dành cho mọi dân tộc

Chúa Giêsu đến để thay thế việc thờ phượng Thiên Chúa trong Đền thờ bằng việc thờ phượng Thiên Chúa trong Thánh Lễ. Tại sao? Bởi vì Thiên Chúa muốn ban cho mọi người ở khắp mọi nơi trên thế giới một cung cách để thờ phượng Ngài và đón nhận Ngài trong Bí tích Thánh Thể, không chỉ trên núi Môrigia ở Giêrusalem.

Đền thờ thứ hai đã bị người La Mã phá hủy vào năm 70 sau Công nguyên và chưa bao giờ được xây dựng lại. Năm 363 sau Công nguyên, Hoàng đế Julianus, Kẻ bội giáo, đã cố gắng xây dựng lại, nhưng động đất và hỏa hoạn đã ngăn cản công việc [1]. Sau đó, vào năm 692 sau Công nguyên, Mái vòm Đá được người Hồi giáo xây dựng, và Núi Đền đã nằm dưới sự kiểm soát của họ kể từ đó [2]. Người Do Thái cầu nguyện tại Bức tường phía Tây, thương tiếc sự mất mát của Đền thờ và cầu nguyện cho Đền thờ được xây dựng lại.

Một ngày nào đó, lời cầu nguyện của họ sẽ được đáp ứng, khi Chúa Giêsu trở lại trong vinh quang, chính Ngài là Đền thờ đích thực và là Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội lỗi trần gian. Nhưng chúng ta không cần phải chờ đợi. Trong Bí tích Thánh Thể, Chúa Giêsu đã hiện diện: Chiên Con đã chịu giết, là Đền thờ nơi Thiên Chúa ngự, là Hy lễ xóa bỏ tội lỗi chúng ta. Và qua Bí tích Thánh Thể, chúng ta trở thành những đền thờ sống động của Thiên Chúa.

  1. Quyết tâm tìm gặp và đến gần Chiên Thiên Chúa

Chúng ta hãy chọn một quyết tâm để đến gần Chúa Giêsu, Chiên Thiên Chúa, mỗi ngày một nhiều hơn.

Khi Abraham lên núi Môrigia, ông sẵn lòng dâng hiến bất cứ thứ gì Thiên Chúa yêu cầu. Chúng ta sợ dâng điều gì cho Thiên Chúa? Làm thế nào chúng ta có thể buông bỏ những gắn bó trần thế khỏi cuộc sống của mình trong tuần này?

Trong tuần này, chúng ta hãy rèn luyện sự kiên nhẫn, vì chúng ta biết rằng Thiên Chúa không làm việc theo lịch trình của chúng ta và câu trả lời của Ngài không phải lúc nào cũng như chúng ta mong đợi.

Chúa Kitô đến để làm cho mọi dân tộc có thể dễ dàng thờ phượng Ngài. Để bày tỏ lòng biết ơn, mỗi người chúng ta hãy dành nhiều thời gian hơn với Ngài trong Thánh lễ hằng ngày hoặc trong lúc cám ơn sau rước lễ.

Phêrô Phạm Văn Trung

phỏng theo Mike Scherschligt, https://www.dailyrosarymeditations.com

Chú thích của người dịch:

[1] https://catholicexchange.com/greatest-historical-miracle-youve-never-heard/

[2]  https://en.wikipedia.org/wiki/Dome_of_the_Rock

 

BƯỚC VÀO MÙA THƯỜNG NIÊN

 Mùa Vọng, Mùa Giáng Sinh kết thúc, Mùa Thường Niên tiếp nối, rồi đến Mùa Chay, Mùa Phục Sinh, và cuối cùng, Năm Phụng Vụ kết lại với Mùa Thường Niên. “Từ từ” là một trong những quy luật của Thiên Chúa khiến cuộc sống ta dễ chịu hơn: giúp ta vượt qua những khó khăn thử thách của cuộc sống cách nhẹ nhàng và êm ái. Bất giác những đứa bé hồn nhiên đã “từ từ” trở thành những ông thầy bà sơ, rồi trở thành những ông thầy già, những bà sơ lão. Những minh tinh màn bạc: “trai tài gái sắc” trên phim, chính là những ông già, bà lão ngồi xe lăn, hay nằm trên giường bệnh sau này. Điều này thoạt nghe thì khó tin, các nam vương cơ bắp, những hoa hậu, người mẫu chân dài cũng không chịu thừa nhận, nhưng, thực sự, những lão ông lão bà hiện giờ, đều do các “trai xinh gái đẹp” đó từ từ trở thành đó thôi.

“Từ từ” là quy luật huyền nhiệm và diệu kỳ của Thiên Chúa. Âm dương biến chuyển, xuân đến thu đi, tất cả đều tuân theo quy luật này. Nụ mùa xuân hé nở “từ từ” thành lá xanh mùa hạ, “từ từ” chuyển vàng mùa thu, rồi “từ từ” thành trơ trụi quạnh quẽ mùa đông. Tác dụng của “từ từ” là che giấu những vết tích biến thiên của sự vật và chảy trôi của thời gian bằng cách thay đổi từng chút một, thật chậm, thật nhỏ, khiến chúng ta cứ ngỡ là chưa hề đổi thay. Bản chất của “từ từ” là thời gian. Thời gian kỳ diệu hơn cả không gian, bởi vì, dẫu không gian rộng lớn đến đâu, thậm chí là vô hạn, thì, ta luôn có thể nắm được một đầu của nó, nơi ta đang đứng, còn, thời gian thì hoàn toàn không cách nào nắm giữ, cũng chẳng thể nào níu kéo, chỉ có quá khứ và tương lai liên tục đuổi bắt nhau giữa mênh mông mù mịt.

Thời gian một đời người dài đằng đẵng cả trăm năm: khiến ta chỉ chú trọng đến tiểu tiết, mà, không nhìn được toàn thể. Nếu thời gian của cuộc đời chỉ kéo dài như một chuyến xe buýt, thì, thế giới sẽ khác đi rất nhiều: Cứ nhìn những bạn sinh viên đi học bằng xe buýt mà xem, lên xe, đứng cũng được, ngồi cũng được, đang ngồi thấy người già cả bước lên, thì sẵn sàng nhường chỗ, thấy có ai chen lấn, thì lùi lại nhường đường, hoặc ngồi cạnh, hay đứng cạnh một người mình không thích, thì cũng cố chịu một chút cũng không sao. Tuy nhiên, khi ngồi trên chuyến xe cuộc đời, những hành khách đi tuyến đường đời lại rất ít người thấu suốt được lẽ ấy. Song, với cuộc đời trăm năm đằng đẵng, vẫn có người ngộ ra được chân lý cuộc đời, hiểu ra được quy luật “từ từ” của Thiên Chúa. Đó là những con người không bị “từ từ” qua mặt, không bị “từ từ” bỡn cợt, họ chung nhịp với nhịp điệu thời gian, tự hoàn thiện mình theo nhịp bước từ từ. Quy luật “từ từ” của Thiên Chúa cũng chính là quy luật của ơn cứu độ: Ơn cứu độ là một lời hứa, mà đã là “lời hứa”, thì, còn chờ thực hiện; Ơn cứu độ là một niềm hy vọng, mà đã là “hy vọng” thì phải trông mong; Ơn cứu độ là một con đường, mà đã là “con đường” thì phải đi, chứ chưa phải là đích đến.

Quy luật “từ từ” của Thiên Chúa vừa thể hiện lòng từ bi, chậm bất bình, giàu thương xót của Chúa dành cho chúng ta, vừa thể hiện lòng khao khát, nỗi chờ mong, niềm khắc khoải đón nhận ơn cứu độ của chúng ta. Tuy nhiên, Satan lại cũng dùng chính quy luật “từ từ” này làm chiêu thức để ru ngủ chúng ta, cứ từ từ không sao cả: nó tạo cho chúng ta cảm giác khoan khoái dễ chịu trong dòng nước ấm lên từ từ, cho đến khi, chúng ta bị luộc chín, như chú ếch trong nồi nước, nóng lên từng chút từng chút một.

Nhìn lại hành trình cuộc đời mình, đa số chúng ta phải thừa nhận rằng: Tích niên hành xứ, thốn bộ bất di, nghĩa là, nhìn lại chỗ khởi hành năm xưa, thấy mình chưa nhích được nửa bước. Trong hành trình bước theo Đức Kitô để làm môn đệ của Người, ta như những kẻ chèo thuyền ngược dòng, ngược gió, không tiến lên ắt sẽ bị lùi lại, công việc của chúng ta là phải: cứ mãi miết chèo, tiến lên từng chút từng chút một, có đi ắt sẽ tới, qua đau khổ sẽ đến được vinh quang, đó là lời hứa chắc chắn Chúa dành cho những ai luôn muốn bước theo Người.

 

Emmanuel Nguyễn Thanh Hiền,OSB.

Subcategories