- Details
-
Category: 3. Sống & Chia Sẻ Lời Chúa
Lễ Hiển Linh là ngày Giáo Hội mừng Chúa Giêsu biểu lộ vinh quang Thiên Chúa cho muôn dân, được đại diện bởi các nhà chiêm tinh từ phương Đông. Các bài đọc Kinh Thánh hôm nay mặc khải mầu nhiệm cứu độ phổ quát: Chúa Kitô là Ánh Sáng không chỉ dành riêng cho Israel, nhưng cho mọi dân tộc. Hành trình của các nhà chiêm tinh là cuộc kiếm tìm ánh sáng chiếu soi muôn dân, vì kể cả dân ngoại cũng được thừa kế gia nghiệp cùng với Israel trong Chúa Kitô.
- Các nhà chiêm tinh tìm kiếm và thờ lạy Chúa
Tin Mừng Mátthêu kể: “Khi Chúa Giêsu ra đời tại Bêlem, miền Giuđê, thời vua Hêrôđê trị vì, có mấy nhà chiêm tinh từ phương Đông đến Giêrusalem, và hỏi: Đức Vua dân Do thái mới sinh, hiện ở đâu? Chúng tôi đã thấy vì sao của Ngài xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Ngài” (Mt 2:1-2).
Các nhà chiêm tinh đại diện cho muôn dân ngoại giáo tìm kiếm Thiên Chúa. Họ theo ngôi sao, biểu tượng ánh sáng Thiên Chúa, dẫn dắt những tâm hồn thành tâm thiện chí. Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI dạy rằng: “Khi xét đến thực tế rằng ngay từ thuở ban đầu, nam nữ ở mọi nơi, mọi châu lục, với mọi nền văn hóa, tư tưởng và lối sống khác nhau, đều đang trên đường đến với Chúa Kitô, thì ta có thể thực sự nói rằng cuộc hành hương này và cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa dưới hình hài một Hài nhi là một sự mặc khải về sự tốt lành và tình yêu thương của Thiên Chúa dành cho nhân loại” (Bài giảng lễ Chúa Hiển linh, 6 tháng Giêng, năm 2013).
Các nhà chiêm tinh dâng vàng, tượng trưng cho vương quyền của Ấu vương Giêsu; nhũ hương, tượng trưng cho thiên tính của Hài Nhi Giêsu; và một dược tượng trưng cho cho nhân tính của Chúa Hài Đồng, cũng mang trong mình bản tính của loài người, cũng biết đói, biết đau, biết buồn, biết khóc, và trở nên mọi sự như chúng ta, kể cả cái chết, ngoại trừ tội lỗi (Dt 4:15). Thánh Lêô Cả dạy: “Như tiên tri Isaia đã nói: dân ngoại, những người ngồi trong bóng tối, đã thấy một ánh sáng lớn, và đối với những người ở trong vùng bóng tối của sự chết, một ánh sáng đã ló rạng. Dân ngoại, là những người không biết Chúa, sẽ cầu khẩn Chúa, và các dân tộc, là những người không biết Chúa, sẽ nương náu nơi Chúa. Tất cả các dân tộc mà Chúa đã tạo dựng nên sẽ đến và quỳ xuống thờ phượng trước mặt Chúa, và tôn vinh danh Chúa. Một lần nữa, Chúa đã bày tỏ ơn cứu rỗi của Ngài; trước mắt các dân tộc, Ngài đã tỏ ra sự công chính của Ngài. Điều này đã được ứng nghiệm, như chúng ta biết, từ khi ngôi sao gọi ba nhà thông thái ra khỏi xứ sở xa xôi của họ và dẫn họ đến nhận biết và thờ phượng Vua trời đất.” [1] Hành trình của ba nhà chiêm tinh nhắc nhở chúng ta rằng hành trình tìm kiếm Thiên Chúa cần phải nỗ lực, vượt qua mưu chước đen tối của quyền lực thế gian mà Hêrôđê là tượng trưng, và khi gặp Ngài, phải thờ lạy và thay đổi lối sống: “đi lối khác mà về xứ mình” (Mt 2: 12).
Thánh Augustinô khẳng định: “Thưa anh em, ngày lễ chúng ta cử hành không phải là một sự kiện bình thường. Đây là ngày mà Đấng Cứu Độ trần gian được tỏ ra cho muôn dân” (Bài giảng 202, 1). Trong bài giảng này, ngài cũng nhấn mạnh rằng các mục đồng và các nhà thông thái, đến từ những hoàn cảnh khác nhau, đều hội tụ trong Chúa Kitô như là hòn đá góc tường: “Các mục đồng là người Israel; các nhà thông thái là dân ngoại; Các mục đồng từ những nơi gần mà đến; các nhà thông thái từ những nơi xa mà đến; nhưng cả hai đều gặp nhau nơi hòn đá góc tường” (đã dẫn trên). Thánh Augustinô cũng coi các nhà thông thái là hình mẫu của cuộc tìm kiếm tâm linh. Ngài viết: “Họ từ phương xa đến để thờ lạy Đấng mà họ đã biết bằng đức tin trước khi nhìn thấy Ngài bằng mắt thường” (Chú giải Thánh vịnh 72, Enarrationes in Psalmos 72:10). Thánh nhân diễn tả các nhà thông thái đi theo sự dẫn lối của một ngôi sao, một “ngôn ngữ từ trời” nói với họ về Chúa Kitô: “Chưa thể nói bằng ngôn ngữ trần gian, Ngài đã nói với họ từ trời qua ngôi sao” (Bài giảng 202:2). Thánh nhân tuyên bố: “Chúa Kitô đã tỏ mình ra cho các mục tử của Israel và các nhà thông thái của các dân tộc, cho thấy rằng ơn cứu độ dành cho tất cả mọi người” (De civitate Dei, XVII, 5 ).
Đối với Thánh Augustinô, lễ Hiển Linh cũng là dịp để suy ngẫm về phản ứng của chúng ta trước sự hiện diện của Chúa Kitô. Ngài cảnh báo: “Chỉ nhìn thấy ngôi sao thôi chưa đủ, cần phải theo đuổi nó. Chỉ biết Chúa Kitô thôi chưa đủ, cần phải tôn thờ Ngài” (Bài giảng 203, 3). Hơn nữa, ngài còn nhấn mạnh rằng sự thay đổi đường lối của các nhà thông thái tượng trưng cho sự hoán cải: “Thay đổi đường lối là thay đổi cuộc sống” (Bài giảng 202, 4). [2]
- Ánh sáng Chúa chiếu soi muôn dân
Ngôn sứ Isaia từng tiên báo: “Chư dân sẽ đi về phía ánh sáng của ngươi, vua chúa hướng về ánh bình minh của ngươi mà tiến bước…Trước cảnh đó, mặt mày ngươi rạng rỡ, lòng ngươi rạo rực, vui như mở cờ, vì nguồn giàu sang sẽ đổ về từ biển cả, của cải muôn dân nước sẽ tràn đến với ngươi. Lạc đà từng đàn che rợp đất, lạc đà Mađian và Êpha: tất cả những người từ Sơva kéo đến, đều mang theo vàng với trầm hương, và loan truyền lời ca tụng Chúa” (Is 60: 1-6). Lời tiên tri này, viết trong thời lưu đày Babylon, loan báo Giêrusalem trở thành trung tâm ánh sáng thu hút muôn dân. Lời ấy hôm nay ứng nghiệm qua Chúa Kitô chính là ánh sáng ấy.
Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo dạy: “Hiển Linh là sự tỏ mình ra của Chúa Giêsu, như Đấng Messia của Israel, là Con Thiên Chúa, và là Đấng Cứu Độ trần gian. Lễ này mừng kính việc “các đạo sĩ” từ phương Đông đến thờ lạy Chúa Giêsu. Nơi các “đạo sĩ” này, là đại diện cho các tôn giáo lương dân lân cận, Tin Mừng nhận ra những hoa quả đầu mùa của các dân tộc sẽ đón nhận Tin Mừng cứu độ nhờ mầu nhiệm Nhập Thể” (GLHTCG, số 528).
Việc Chúa Giêsu, vị Vua Hài nhi, tỏ mình ra cho các nhà thông thái dân ngoại là một mầu nhiệm trong kế hoạch cứu độ Của Thiên Chúa. Thánh Phaolô giải thích mầu nhiệm: “Hẳn anh em đã được nghe biết về kế hoạch ân sủng mà Thiên Chúa đã uỷ thác cho tôi, liên quan đến anh em. Ngài đã mặc khải để tôi được biết mầu nhiệm Chúa Kitô…Mầu nhiệm đó là: trong Chúa Kitô Giêsu và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại được cùng thừa kế gia nghiệp với người Do thái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa” (Ep 3:2-3,6). Thánh Phaolô nhấn mạnh: “Tôi đã trở nên người phục vụ Tin Mừng đó, nhờ ân sủng đặc biệt Thiên Chúa ban cho tôi” (Ep 3: 7) và tự nhận mình là “kẻ rốt hết trong toàn thể dân thánh, thế mà Thiên Chúa đã ban cho tôi ân sủng này là loan báo cho các dân ngoại” (Ep 3: 8).
Giáo Lý Hội Thánh nhấn mạnh: “Việc các đạo sĩ đến Giêrusalem để bái lạy Vua dân Do Thái có nghĩa là các dân ngoại có thể gặp được Chúa Giêsu và thờ lạy Ngài là Con Thiên Chúa và là Đấng Cứu độ trần gian, bằng cách hướng về dân Do Thái và nhờ dân ấy mà lãnh nhận lời hứa về Đấng Mêsia như đã được ghi chép trong Cựu Ước. Cuộc Hiển Linh cho thấy đông đảo dân ngoại được gia nhập vào gia đình của các Tổ Phụ, và được hưởng “phẩm giá của Israel” (GLHTCG, số 528).
- Trở nên ánh sáng cho muôn dân
Lễ Hiển Linh không chỉ là kỷ niệm lịch sử, mà là lời mời gọi chúng ta trở thành ngôi sao dẫn muôn dân đến với Chúa Kitô. Đức Giáo Hoàng Phanxicô kêu gọi: “Chúng ta hãy cầu xin lòng can đảm để tiếp tục cuộc hành trình của mình, và hãy kết thúc trong sự thờ phượng! Chúng ta đừng sợ hãi, vì đây là con đường của các nhà thông thái, con đường của tất cả các thánh nhân trong suốt lịch sử: đón nhận sự bồn chồn của mình, lên đường và thờ phượng. Nguyện xin chúng ta đừng bao giờ gián đoạn cuộc hành trình của mình, bị sự thờ ơ hay tiện nghi khuất phục; và trong cuộc gặp gỡ với Chúa, nguyện xin chúng ta hãy phó thác mình cho sự kỳ diệu của sự thờ phượng. Khi đó, chúng ta sẽ khám phá ra rằng một ánh sáng vẫn chiếu rọi ngay cả trong những đêm tối tăm nhất: ánh sáng của Chúa Giêsu, ngôi sao mai rạng rỡ, mặt trời công lý, vinh quang đầy lòng thương xót của Thiên Chúa, Đấng yêu thương mọi người nam nữ và tất cả các dân tộc trên trái đất” (Bài giảng Lễ Hiển Linh, ngày 6 tháng 1 năm 2023).
Trong thế giới hôm nay đầy bóng tối chiến tranh, chia rẽ, chúng ta được mời gọi “Đứng lên, bừng sáng lên!” (Is 60: 1), mang ánh sáng Chúa Kitô đến mọi dân tộc. Theo bước các nhà chiêm tinh, chúng ta tìm kiếm Chúa trong cầu nguyện, dâng tiến Ngài những gì quý giá nhất, thời gian, tài năng, cuộc đời, hoán cải “đi lối khác mà về xứ mình” (Mt 2: 12) và sống đời chứng tá. Xin Chúa Hiển Linh ban ơn để chúng ta trở nên ánh sáng cho thế giới, dẫn muôn dân đến thờ lạy Ngài.
Phêrô Phạm Văn Trung
[1] http://www.solonstmary.org/uploads/1/0/3/9/10392661/epiphany_st_leo_the_great.pdf
[2] https://agustinosrecoletos.com/2025/01/06/epiphany-the-light-of-christ-enlightening-the-nations/?lang=en
- Details
-
Category: 3. Sống & Chia Sẻ Lời Chúa
Giữa dòng chảy cuồn cuộn của lịch sử cứu độ, bên bờ sông Gio-đan đầy nắng và gió, một khoảnh khắc vĩnh cửu đã được khắc ghi vào tâm khảm nhân loại, không phải bằng sấm chớp hay uy quyền rung chuyển đất trời, mà bằng một lời giới thiệu, một cái chỉ tay đầy khiêm cung nhưng xác quyết của Gio-an Tẩy Giả. "Đây là Chiên Thiên Chúa." Câu nói ấy vang lên giữa một đám đông đang khao khát, đang chờ đợi, và có lẽ đang lầm tưởng về dung mạo của Đấng Mêsia. Trong bầu khí tĩnh lặng nhưng sục sôi của hy vọng ấy, hình ảnh một "Con Chiên" xuất hiện như một cú sốc, một mầu nhiệm, và là chìa khóa mở ra toàn bộ kho tàng tình yêu của Thiên Chúa dành cho con người. Hôm nay, chúng ta hãy cùng nhau trầm lắng tâm hồn, để từng lời Tin Mừng thấm đẫm vào thớ thịt, nhịp tim, để chiêm ngắm Đấng mà Gio-an đã thấy, và để chính chúng ta cũng thốt lên lời tuyên xưng đức tin sâu thẳm nhất về Đấng Cứu Độ của mình.
Hãy hình dung khung cảnh ấy. Gio-an Tẩy Giả, người ngôn sứ của hoang địa, với áo lông lạc đà và thức ăn đạm bạc, là hiện thân của sự khắc khổ và mong chờ của Cựu Ước. Ông đứng đó, đôi mắt rực sáng lửa nhiệt thành nhưng cũng đầy vẻ chiêm nghiệm. Ông đã thấy biết bao nhiêu người đến chịu phép rửa, bao nhiêu tội nhân cúi đầu sám hối dưới dòng nước. Nhưng hôm nay, ánh mắt ông dừng lại. Một Người đang tiến đến. Không kèn trống, không quân lính hộ vệ, không y phục hoàng gia. Người ấy bước đi trong sự bình dị đến kinh ngạc. Và chính trong sự bình dị ấy, Gio-an đã nhận ra sự siêu việt. "Đây là Chiên Thiên Chúa." Tại sao lại là Chiên? Tại sao không phải là "Đây là Sư Tử dũng mãnh của chi tộc Giu-đa"? Tại sao không phải là "Đây là Đại Tướng của đạo binh Thiên Quốc"?
Dân Do Thái thời bấy giờ, và có lẽ cả chúng ta ngày nay, thường mong đợi một Thiên Chúa của sức mạnh, của sự áp đảo, một Đấng sẽ đến để dẹp tan kẻ thù bằng gươm giáo và quyền lực. Nhưng Thiên Chúa, trong sự khôn ngoan nhiệm mầu của Ngài, đã chọn biểu tượng của sự hiền lành, sự hy sinh và sự thinh lặng. Hình ảnh con chiên gợi nhớ về đêm Vượt Qua tại Ai Cập, khi máu chiên bôi trên khung cửa đã cứu dân Israel khỏi cái chết và mở đường cho cuộc giải phóng vĩ đại. Con chiên ấy đã chết để dân được sống. Hình ảnh ấy cũng gợi nhớ về người Tôi Trung đau khổ trong sách ngôn sứ I-sai-a: "Như chiên bị đem đi làm thịt, như cừu câm nín khi bị xén lông, người chẳng mở miệng kêu ca." Đức Giê-su chính là sự trọn vẹn của những hình bóng ấy. Ngài đến không phải để thống trị, mà để hiến dâng. Ngài là Chiên Thiên Chúa, nghĩa là Con Chiên do chính Thiên Chúa cung cấp, Con Chiên thuộc về Thiên Chúa, và là Con Chiên duy nhất đẹp lòng Thiên Chúa trọn vẹn.
Cụm từ "Đấng xóa bỏ tội trần gian" đi liền ngay sau đó mở ra chiều kích cứu độ phổ quát và sâu thẳm của sứ mạng Đức Giê-su. "Tội trần gian" ở đây không chỉ là những lỗi lầm cá nhân riêng lẻ, mà là cả một khối nặng nề của sự phản nghịch, của bóng tối, của sự dữ đang đè nặng lên vai nhân loại từ thuở hồng hoang. Đó là "mầu nhiệm của sự gian ác" mà thánh Phao-lô sau này đã nhắc đến. Con người, dù có nỗ lực đến đâu, cũng không thể tự mình nhấc bỏ tảng đá ngàn cân ấy. Chúng ta loay hoay trong vũng lầy của kiêu ngạo, tham lam, và hận thù. Càng vùng vẫy, chúng ta càng lún sâu. Và rồi, Chiên Thiên Chúa đến. Động từ "xóa bỏ" trong nguyên ngữ còn có nghĩa là "nhấc lên", "mang lấy". Đức Giê-su không xóa tội như người ta xóa một dòng chữ trên bảng phấn. Ngài xóa tội bằng cách ghé vai mình vào gánh lấy. Ngài "mang lấy" tội lỗi của chúng ta vào chính thân thể Ngài mà đưa lên cây thập giá. Sự xóa bỏ ấy đổi bằng Máu, bằng sự đau đớn tột cùng, và bằng tình yêu vô biên.
Nhìn vào Chiên Thiên Chúa là nhìn vào tình yêu tự hủy. Một tình yêu dám trở nên yếu đuối để người mình yêu được mạnh mẽ. Một tình yêu dám chết đi để người mình yêu được sống. Trong thế giới hôm nay, khi người ta tôn sùng sức mạnh, sự thành công, sự nổi tiếng, và cái tôi vĩ đại, thì hình ảnh Chiên Thiên Chúa trở nên một lời mời gọi lội ngược dòng đầy thách thức. Chúng ta có dám trở nên "như chiên" giữa bầy sói không? Chúng ta có dám sống hiền lành, khiêm nhường, chịu thiệt thòi để gìn giữ hòa bình và tình yêu không? Hay chúng ta vẫn muốn làm sư tử, muốn cắn xé, muốn thống trị người khác? Chiêm ngắm Đức Giê-su là Đấng xóa tội trần gian, chúng ta được mời gọi nhìn lại gánh nặng tội lỗi của chính mình. Đừng sợ hãi, cũng đừng tuyệt vọng. Vì đã có Đấng mang gánh nặng ấy cho ta rồi. Vấn đề là ta có dám trao gánh nặng ấy cho Ngài, qua bí tích Hòa Giải, qua sự sám hối chân thành, hay ta vẫn cố chấp giữ lấy để rồi ngã gục?
Gio-an Tẩy Giả tiếp tục lời chứng của mình bằng một sự khiêm tốn lạ lùng: "Chính Người là Đấng tôi đã nói tới khi bảo rằng: Có người đến sau tôi, nhưng trổi hơn tôi, vì có trước tôi." Lời tuyên bố này xác định thiên tính của Đức Giê-su. Về mặt con người, Đức Giê-su sinh sau Gio-an sáu tháng. Gio-an thi hành sứ vụ trước Đức Giê-su. Nhưng về nguồn gốc thần linh, Đức Giê-su "có trước" Gio-an, vì Ngài là Ngôi Lời vĩnh cửu, "có từ ban đầu nơi Thiên Chúa". Gio-an ý thức rất rõ vị trí của mình. Ông chỉ là tiếng hô, còn Đức Giê-su là Lời. Ông chỉ là ngọn đèn, còn Đức Giê-su là Ánh Sáng. Ông chỉ là phù rể, còn Đức Giê-su là Chàng Rể. Sự vĩ đại của Gio-an nằm ở chỗ ông biết mình là ai và biết Đấng đến sau mình là ai. Ông không ghen tị, không tranh giành ảnh hưởng, không cố bám víu lấy đám đông môn đệ. Ông sẵn sàng nhỏ đi để Đức Giê-su được lớn lên. Đây là bài học tuyệt vời cho mỗi người tông đồ, mỗi linh mục, tu sĩ và giáo dân chúng ta. Mọi việc chúng ta làm, mọi chức vụ chúng ta giữ, đều chỉ có một mục đích duy nhất: làm cho Đức Ki-tô được nhận biết và yêu mến. Nếu chúng ta làm lu mờ hình ảnh Chúa bằng cái tôi to đùng của mình, thì chúng ta đã thất bại, dù công việc có vẻ thành công vang dội đến đâu.
"Tôi đã không biết Người." Câu nói này được Gio-an lặp lại hai lần, như một điệp khúc của sự thành thật và mầu nhiệm. Gio-an và Đức Giê-su là anh em họ hàng, chắc chắn họ biết nhau về mặt huyết thống. Nhưng "biết" ở đây là sự thấu hiểu về bản tính Thiên Chúa và sứ mạng Cứu Thế của Đức Giê-su. Ngay cả vị Tiền Hô vĩ đại nhất cũng cần được mặc khải mới có thể nhận ra Đấng Mêsia. Đức tin không phải là sản phẩm của suy luận logic hay sự thông thái trần gian. Đức tin là ân ban, là sự vén màn của Thiên Chúa. Gio-an đã không tự mình bịa ra danh hiệu "Chiên Thiên Chúa". Ông nhận ra điều đó nhờ dấu chỉ mà Đấng sai ông đi đã báo trước: "Ngươi thấy Thần Khí xuống và ngự trên ai, thì người đó chính là Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần."
Hình ảnh Thần Khí tựa chim bồ câu từ trời xuống và ngự trên Đức Giê-su là đỉnh cao của cuộc thần hiển này. Đây là khoảnh khắc Ba Ngôi Thiên Chúa cùng xuất hiện: Chúa Cha sai Thần Khí xuống, Thần Khí ngự trên Chúa Con, và Chúa Con là Đấng tiếp nhận để thi hành sứ vụ. Chim bồ câu, biểu tượng của sự hòa bình, của sự giao hòa (như sau cơn Đại Hồng Thủy thời Nô-ê), và cũng là biểu tượng của tình yêu dịu ngọt trong sách Diễm Ca. Thần Khí ngự xuống trên Đức Giê-su không phải để tẩy rửa Ngài (vì Ngài vô tội), nhưng để xức dầu tấn phong Ngài làm Đấng Mêsia – Đấng được xức dầu. Sự kiện này đánh dấu sự chuyển giao từ Cựu Ước sang Tân Ước, từ phép rửa bằng nước của sự sám hối sang phép rửa trong Thánh Thần của sự tái sinh. Gio-an làm phép rửa trong nước để chuẩn bị lòng người, nhưng nước ấy không thể tẩy sạch bản thể tội lỗi, không thể ban sự sống đời đời. Chỉ có Đấng đến sau ông, Đấng làm phép rửa trong Thánh Thần, mới có quyền năng biến đổi con người từ bên trong, biến kẻ nô lệ tội lỗi thành con cái Thiên Chúa.
Gio-an Tẩy Giả đã thấy và đã làm chứng. Động từ "thấy" của Gio-an không phải là cái nhìn thoáng qua hời hợt, mà là cái nhìn thấu suốt, cái nhìn của một tâm hồn chiêm niệm luôn hướng về Thiên Chúa. Và từ cái "thấy" sâu sắc đó dẫn đến hành động "làm chứng". Sứ mạng của người Ki-tô hữu chúng ta cũng bắt nguồn từ quy trình này: Thấy và Làm chứng. Chúng ta không thể làm chứng cho Chúa nếu chúng ta chưa từng "thấy" Chúa, chưa từng gặp gỡ Ngài trong cầu nguyện, trong Bí tích, và trong tha nhân. Một người làm chứng mà không có kinh nghiệm cá vị về Đức Giê-su thì lời chứng ấy chỉ là sáo rỗng, là tiếng phèn la inh ỏi. Ngược lại, nếu chúng ta nói rằng mình đã gặp Chúa mà lại im lặng, không dám sống và rao giảng về Ngài, thì đức tin ấy là đức tin chết.
Lời chứng của Gio-an mạnh mẽ vì nó xuất phát từ sự xác tín tuyệt đối: "Người đó chính là Con Thiên Chúa." Đây là đích đến của mọi lời rao giảng. Gio-an không giới thiệu một nhà cải cách xã hội, một triết gia lỗi lạc, hay một lương y tài ba. Ông giới thiệu Con Thiên Chúa. Chỉ có Con Thiên Chúa mới có khả năng nối kết trời và đất, mới có đủ thẩm quyền để tha tội và ban sự sống vĩnh cửu. Nhận biết Đức Giê-su là Con Thiên Chúa đòi hỏi chúng ta phải thay đổi hoàn toàn thái độ sống. Chúng ta không thể coi Ngài như một thần tượng để chiêm ngưỡng từ xa, mà phải tôn thờ Ngài, vâng phục Ngài và bước đi theo Ngài.
Cuộc đời của chúng ta, thưa anh chị em, cũng là một hành trình đi tìm và nhận diện Chiên Thiên Chúa giữa dòng đời tấp nập. Có những lúc Chúa đến với chúng ta trong hình hài của sự thành công, may mắn, chúng ta dễ dàng tạ ơn. Nhưng có những lúc Chúa đến trong hình hài của sự thua thiệt, của thập giá, của "Con Chiên bị đem đi làm thịt", liệu chúng ta có nhận ra Ngài không? Liệu chúng ta có dám chỉ vào những biến cố đau thương, những thất bại, những bất công mà mình đang gánh chịu và nói: "Đây là dấu vết của Chiên Thiên Chúa, đây là con đường của Đấng xóa tội trần gian" không? Hay chúng ta sẽ than trách và tháo lui? Đức tin trưởng thành là đức tin nhận ra Chúa ngay cả khi Ngài im lặng, ngay cả khi Ngài có vẻ yếu đuối nhất.
Hơn thế nữa, mỗi ngày trong Thánh Lễ, khi vị linh mục nâng Bánh Thánh và Chén Thánh lên, lời của Gio-an Tẩy Giả lại vang lên một lần nữa, sống động và hiện thực hơn bao giờ hết: "Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian..." Đó không còn là lời kể lại một câu chuyện quá khứ, mà là lời công bố một hiện tại mầu nhiệm. Đức Giê-su đang hiện diện thực sự, sống động, bằng xương bằng thịt, bằng trọn vẹn thần tính và nhân tính của Ngài trên bàn thờ. Ngài vẫn đang tiếp tục hiến mình, vẫn đang tiếp tục "xóa tội", vẫn đang tiếp tục chờ đợi để đi vào tâm hồn chúng ta. Chúng ta có cảm thấy rúng động khi nghe lời đó không? Hay chúng ta nghe nó như một thói quen vô hồn? Lúc đó, chúng ta có thực sự thấy mình bất xứng như viên đại đội trưởng: "Lạy Chúa, con chẳng đáng Chúa ngự vào nhà con" không? Và chúng ta có khao khát Ngài như nai khát nước suối nguồn không?
Chiên Thiên Chúa không chỉ là đối tượng để tôn thờ, mà còn là mẫu mực để noi theo. Là môn đệ của Chiên Thiên Chúa, chúng ta được mời gọi sống linh đạo của Con Chiên. Đó là linh đạo của sự hiến dâng không đòi đền đáp. Trong gia đình, đó là người cha, người mẹ chấp nhận vất vả, hy sinh những sở thích riêng tư để lo cho con cái, đó là sự nhẫn nại trước những lầm lỗi của người bạn đời. Trong cộng đoàn, đó là sự phục vụ âm thầm, là sự tha thứ cho những xúc phạm, là việc "gánh lấy" những trách nhiệm mà người khác đùn đẩy. Thế giới này đầy rẫy những "con sói" của bạo lực, gian dối và ích kỷ. Nếu chúng ta dùng nanh vuốt của sói để đối lại với sói, thế giới sẽ trở thành hỏa ngục. Nhưng nếu chúng ta dám sống như Chiên Thiên Chúa, lấy nhu thắng cương, lấy tình yêu hóa giải hận thù, thì Nước Trời sẽ hiện diện ngay giữa thế gian này.
Gio-an Tẩy Giả đã hoàn thành sứ mạng của mình một cách tuyệt hảo khi ông giới thiệu Chúa cho các môn đệ của mình, và rồi để họ đi theo Chúa. Ông không giữ họ lại cho riêng mình. Ông chấp nhận cô đơn, chấp nhận bị lãng quên, thậm chí chấp nhận cái chết trong ngục tối, miễn là "Người phải nổi bật lên, còn tôi phải lu mờ đi". Tâm tình này cần thiết biết bao trong thời đại hôm nay. Chúng ta cần những bậc cha mẹ biết hướng con cái về Chúa hơn là về danh vọng tiền tài. Chúng ta cần những giáo lý viên, những người tông đồ biết dẫn đưa người khác đến gặp gỡ Chúa chứ không phải để họ lệ thuộc vào mình. Sự thành công của người loan báo Tin Mừng là khi người ta quên mình đi để chỉ còn nhớ đến Chúa.
"Tôi đã thấy Thần Khí... ngự trên Người." Một chi tiết quan trọng là Thần Khí không chỉ xuống, mà còn "ngự" lại. Điều này diễn tả sự hiệp nhất bền vững, vĩnh cửu. Đức Giê-su luôn luôn hoạt động trong quyền năng của Thánh Thần. Và chúng ta, những người đã lãnh nhận Bí tích Rửa Tội và Thêm Sức, chúng ta cũng có Thánh Thần ngự trong mình. Thân xác chúng ta là đền thờ của Chúa Thánh Thần. Nhưng liệu chúng ta có để cho Thánh Thần dẫn dắt, hay chúng ta thường dập tắt tiếng nói của Ngài bằng những ồn ào của dục vọng? Để có thể giới thiệu Chúa cho người khác như Gio-an, chúng ta phải là người đầy tràn Thánh Thần. Chỉ có lửa mới châm được lửa. Chỉ có người say mê Chúa mới làm cho người khác say mê Chúa được.
Kết thúc bài Tin Mừng, Gio-an khẳng định lại một lần nữa: "Tôi đã thấy và tôi làm chứng." Cuộc đời người Kitô hữu gói gọn trong việc làm chứng này. Thế giới hôm nay có thể không tin vào những lý thuyết giáo điều khô khan, nhưng họ sẽ tin vào những chứng nhân. Họ sẽ tin khi thấy một người Công giáo sống lương thiện giữa một môi trường gian dối. Họ sẽ tin khi thấy một gia đình Công giáo yêu thương nhau giữa một xã hội đầy rẫy ly tán. Họ sẽ tin khi thấy những người trẻ Công giáo dám sống khiết tịnh và dấn thân phục vụ giữa một lối sống hưởng thụ buông thả. Chính cuộc sống của chúng ta phải là ngón tay chỉ vào Đức Giê-su và nói với thế giới: "Đây là Chiên Thiên Chúa." Lời nói của chúng ta có thể hùng hồn, nhưng chính cách sống của chúng ta mới là lời chứng thuyết phục nhất.
Hôm nay, khi gập lại trang Tin Mừng, xin cho hình ảnh Chiên Thiên Chúa in đậm trong trái tim mỗi người. Xin cho chúng ta cảm nhận được sức nặng của tình yêu mà Chúa đã gánh lấy vì tội lỗi chúng ta. Xin cho chúng ta, giống như Gio-an Tẩy Giả, có một đôi mắt đức tin nhạy bén để nhận ra Chúa trong mọi hoàn cảnh, một trái tim khiêm nhường để luôn đặt Chúa lên trên hết, và một lòng nhiệt thành không mệt mỏi để giới thiệu Chúa cho anh chị em mình. Ước gì mỗi ngày sống của chúng ta đều là một bài ca tụng: "Lạy Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian, xin thương xót chúng con. Lạy Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian, xin ban bình an cho chúng con." Amen.
Lm. Anmai, CSsR