3. Sống & Chia Sẻ Lời Chúa

Đường hy vọng

Bài Tin Mừng hôm nay thật đẹp. Đẹp vì lời văn óng ả. Đẹp vì tình tiết ly kỳ. Đẹp vì tình nghĩa đậm đà. Đẹp vì những tư tưởng thần học thâm sâu. Nhưng đẹp nhất là vì bài tin Mừng chất chứa một niềm hy vọng trong sáng, xua tan mọi bóng tối thất vọng não nề.

Hai môn đệ rời Giêrusalem trở về làng cũ. Giêrusalem là trung tâm tôn giáo. Rời Giêrusalem là dấu hiệu của sa sút niềm tin. Giêrusalem là trung tâm hoạt động. Rời Giêrusalem là dấu hiệu của chán nản buông xuôi. Trước kia hia ông đã bỏ nhà cửa, gia đình để đi theo Chúa Giêsu. Nay hai ông trở về như hai kẻ thua cuộc. Ngày ra đi ôm ấp giấc mộng thành đạt. Ngày trở về ôm nặng một mối sầu. Sầu vì đã mất Người Thầy yêu quí. Sầu vì giấc mộng không thành. Hai linh hồn sầu não, thất vọng lê bước trong ánh mặt trời chiều.

Những giữa lúc buồn tủi, thất vọng ấy, Chúa Giêsu đã xuất hiện. Lập tức ánh sáng rực lên giữa màn đêm đen. Niềm vui rộn rã xoá tan u sầu. Ngọn lửa bừng lên sưởi ấm những trái tim lạnh giá. Vì Chúa Giêsu đã đem đến cả một trời hy vọng.

Đọc trong bài Tin Mừng, ta thấy Chúa Giêsu đã nhen nhúm niềm hy vọng trong tâm hồn các môn đệ Emmau bằng ba loại ánh sáng.

1) Ánh sáng đức tin thắp lên niềm hy vọng.

Hai môn đệ đã chứng kiến cuộc sống và cái chết của Chúa Giêsu từ đầu cho đến cuối. Các ông đã thấy biết bao nhiêu phép lạ Người làm. Các ông đã nghe biết bao lời hay ý đẹp từ miệng Người phán ra. Các ông đã công nhận Người là một “Ngôn sứ đầy uy thế xét về việc làm cũng như lời nói”. Các ông đã hy vọng Người là Đấng giải thoát Israel. Nhưng cuộc thương khó và cái chết của Đức giêsu khiến các ông chán nản và thất vọng. Đến nỗi khi các phụ nữ ra mộ, gặp Thiên Thần báo tin Chúa đã phục sinh, về kể lại cho các ông vẫn không tin.

Bấy giờ Chúa Giêsu bảo các ông “Lòng trí các anh sao mà chậm tin lời các ngôn sứ vậy”. Chúa Giêsu kêu gọi đức tin trở về. Chúa Giêsu khơi dậy đức tin đã lụi tàn bằng cặp mắt phàm trần và các ông không hiểu gì. Khi có đức tin, các ông sẽ hiểu tất cả. Đức tin là nguồn ánh sáng giúp ta nhìn ra ý nghĩa của các biến cố trong cuộc đời. Đức tin là đốm lửa thắp lên niềm hy vọng giữa đêm đen tuyệt vọng.

2) Ánh sáng lời Chúa gieo mầm hy vọng.

Hai môn đệ đã đọc Kinh Thánh. Các ông thuộc vanh vách sách Lề Luật Môsê, các Ngôn sứ và Thánh vịnh. Thế nhưng các ông vẫn thất vọng. Vì các ông đọc Kinh Thánh mà không hiểu Kinh Thánh. Các ông học Kinh Thánh như học một bài thuộc lòng. Các ông đọc Kinh Thánh như đọc một bản văn cổ, chỉ có những con chữ vô hồn.

Chúa Giêsu phải giải thích Kinh Thánh cho các ông. Bắt đầu từ sách Lề Luật, rồi lời các Ngôn Sứ và các Thánh Vịnh. Khi nghe Chúa nói, tim các ông rộn ràng niềm vui, trí các ông bừng sáng như thể một ngọn lửa nhen nhúm trong lòng. Chúa Giêsu đã dạy các ông một cách đọc Kinh Thánh mới mẻ. Phải đọc giữa những hàng chữ để thấy rõ những ý nghĩa nhiệm mầu. Phải tìm sau những hàng chữ để thấy được ý định kỳ diệu của Thiên Chúa. Phải đọc Kinh Thánh dưới sự hiện diện của Thiên Chúa. Phải thấy bóng dáng Thiên Chúa thấp thoáng suốt những trang sách. Và phải đọc Kinh Thánh với một trái tim yêu mến tha thiết.

Khi trái tim mở rộng đón nhận, lời Chúa sẽ gieo vào hồn ta những mầm mống hy vọng. Và cuộc đời sẽ thấy lại ý nghĩa, tìm được niềm vui.

3) Ánh sáng Thánh Thể nuôi dưỡng niềm hy vọng

Niềm hy vọng trở thành hiện thực khi Chúa Giêsu bẻ bánh. Chính qua cử chỉ bẻ bánh mà các môn đệ nhận ra ChúaGiêsu Phục Sinh. Niềm hy vọng không còn là hy vọng nữa, nhưng đã trở thành hiện thực. Hết còn những bàn tin bán nghi. Hết còn những hoang lo lắng. Hết còn những thấp thỏm lo âu. Vì các ông đã gặp được chính niềm hy vọng.

Cuộc gặp gỡ chỉ thoáng qua, nhưng các ông đã mãn nguyện. Chúa Giêsu bẻ bánh là nhắc lại cử chỉ khi lập phép Thánh Thể. Nhờ phép Thánh Thể toàn bộ con người các ông đổi mới. Dường như một linh hồn mới vừa nhập vào những xác thân mệt mỏi rã rời. Dường như dòng máu đã trở nên đỏ thắm. Dường như những tế bào đã trở nên tươi trẻ. Dường như trái tim đã trở nên rộn rã nhịp yêu đời. Lập tức các ông trở lại Giêrusalem. Đường đi khi trời còn sáng mà thấy xa xôi ngại ngùng. Đường đi về lúc trời đã tối đen mà sao thấy tươi vui gần gũi. Lúc đi có Chúa ở bên mà vì con mắt đức tin mù tối nên vẫn thấy buồn sầu. Lúc về tuy vắng bóng Chúa vẫn an tâm vì con mắt đức tin đã mở ra, vì vẫn biết có Chúa ở bên. Thánh Thể Chúa chính là lương thực nuôi dưỡng niềm hy vọng.

Nhờ có Thánh Thể, đường xa trở nên gần. Nhờ có Thánh Thể, đường buồn trở nên vui. Vì nhờ có Thánh Thể, ta luôn được ở bên Chúa.

Đời sống ta không thiếu những giờ phút khó khăn. Cuộc đời đầy thử thách nhiều lúc đẩy ta vào hố thẳm tuyệt vọng. Ta hãy học bài học Chúa dạy các môn đệ trên đường Emmau: Hãy biết nhìn các biến cố trong cuộc đời bằng con mắt đức tin. Dưới ánh sáng đức tin, mị đau khổ sẽ xuất hiện với một ý nghĩa tốt đẹp cho cuộc đời. Ánh sáng đức tin sẽ thắp sáng niềm hy vọng. Hãy biết nghe, đọc và suy gẫm Lời Chúa. Đừng đọc Kinh Thánh như đọc tiểu thuyết. Đừng học hỏi Kinh Thánh như học một lý thuyết. Hãy đọc với tình yêu. Hãy tìm bóng dáng Chúa xuyên qua các hàng chữ. Hãy mở rộng tâm hồn đón nhận Lời Chúa. Lời Chúa sẽ như một hạt giống gieo vào lòng ta mầm hy vọng xanh tươi. Và sau cùng hãy đến với Chúa Giêsu trong bí tích Thánh Thể.

Hãy kết hiệp với Chúa Giêsu trong Thánh Thể. Thánh Thể sẽ là lương thực nuôi dưỡng niềm hy vọng của ta.

Đường đời chúng ta cũng như quãng đường từ Giêrusalem đi Emmau. Khi ta không có niềm hy vọng thì con đường ta đi thật dài, thật xa, thật buồn, thật tối dù ta đi giữa ban ngày. Nhưng khi ta có niềm hy vọng, con đường sẽ trở nên gần gũi, vui tươi, và sáng sủa dù ta đi trong bóng đêm.

Lạy Chúa Giêsu Phục Sinh là niềm hy vọng của con. Xin cho đường con đi trở thành đường hy vọng vì luôn có Chúa ở bên con.

GỢI Ý CHIA SẺ

1) Chúa Giêsu đã chiếu soi các môn đệ Emmaus bằng những ánh sáng nào?

2) Có khi nào đang buồn, bạn cảm nhận được niềm vui vì gặp Chúa không?

3) Bạn đọc Kinh Thánh thế nào? Tìm kiến thức hay tìm Chúa?

4) Khi tham dự Thánh Lễ, bạn có cảm nhận mãnh liệt sự hiện diện của Chúa trong phép Mình Thánh không?

TGM. Giuse Ngô Quang Kiệt

Đồng hành với Chúa trong cuộc đời

HIỆP SỐNG TIN MỪNG

CHÚA NHẬT 3 PHỤC SINH A

Cv 2,14.22-33 ; 1 Pr 1,17-21 ; Lc 24,13-35

I. HỌC LỜI CHÚA

1. TIN MỪNG: Lc 24,13-35

(13) Cùng ngày hôm ấy, có hai người trong nhóm môn đệ đi đến một làng kia tên là Em-mau, cách Giê-ru-sa-lem sáu mươi dặm. (14) Họ trò chuyện với nhau về tất cả những sự việc mới xảy ra. (15) Đang lúc trò chuyện và bàn tán, thì chính Đức Giê-su tiến đến gần và cùng đi với họ. (16) Nhưng mắt họ còn bị ngăn cản, không nhận ra Người. (17) Người hỏi họ: “Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy?” Họ dừng lại, vẻ mặt buồn rầu. (8) Một trong hai người tên là Cơ-lê-ô-pát trả lời: “Chắc ông là người duy nhất trú ngụ tại Giê-ru-sa-lem mà không hay biết những chuyện đã xảy ra trong thành mấy bữa nay”.  (19) Đức Giê-su hỏi: “Chuyện gì vậy ?” Họ thưa: “Chuyện ông Giê-su Na-da-rét. Người là một Ngôn sứ đầy uy thế trong việc làm cũng như lời nói trước mặt Thiên Chúa và toàn dân. (20) Thế mà các thượng tế và thủ lãnh của chúng ta đã nộp Người để Người bị án tử hình, và đã đóng đinh Người vào thập giá (21) Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng rằng chính Người là Đấng sẽ cứu chuộc Ít-ra-en. Hơn nữa, những việc ấy xảy ra đến nay là ngày thứ ba rồi. (22) Thật ra, cũng có mấy người đàn bà trong nhóm chúng tôi đã làm chúng tôi kinh ngạc. Các bà ấy ra mộ hồi sáng sớm, (23) không thấy xác Người đâu cả, về còn nói là đã thấy thiên thần hiện ra bảo rằng Người vẫn sống. (24) Vài người trong nhóm chúng tôi đã ra mộ, và thấy sự việc y như các bà ấy nói: còn chính Người thì họ không thấy”. (25) Bấy giờ Đức Giê-su nói với hai ông rằng: “Ôi những kẻ tối dạ, những lòng chậm tin vào lời các ngôn sứ ! (26) Nào Đức Ki-tô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao ? (27) Rồi bắt đầu từ ông Mô-sê và tất cả các ngôn sứ, Người giải thích cho hai ông những gì liên quan đến Người trong tất cả Sách Thánh. (28) Khi gần tới làng họ muốn đến, Đức Giê-su làm như còn phải đi xa hơn nữa. (29) Họ nài ép Người rằng: “Mời ông ở lại với chúng tôi, vì trời đã xế chiều, và ngày sắp tàn”. Bấy giờ Người vào ở lại với họ (30) Khi đồng bàn với họ, Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng và bẻ ra trao cho họ. (31) Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người, nhưng Người lại biến mất. (32) Họ mới bảo nhau: “Dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao ?” (33) Ngay lúc ấy, họ đứng dậy, quay trở về Giê-ru-sa-lem, gặp Nhóm Mười Một và các bạn hữu đang tụ họp lại đó (34) Những người này bảo hai ông: “Chúa trỗi dậy thật rồi, và đã hiện ra với ông Si-mon” (35) Còn hai ông thì thuật lại những việc đã xảy ra dọc đường, và mình đã nhận ra Chúa thế nào khi Người bẻ bánh.

2. Ý CHÍNH: CHÚA PHỤC SINH HIỆN RA VỚI HAI MÔN ĐỆ LÀNG EM-MAU:

Tin Mừng hôm nay cho thấy Đức Giê-su đã hướng dẫn hai môn đệ về đức tin để họ từ tâm trạng chán nản và vấp ngã trước mầu nhiệm thập giá (18 và 21), đã tìm lại được niềm tin yêu vào mầu nhiệm Phục Sinh qua việc nghe lời Người giải thích Kinh Thánh (25-27.32), và được tham dự nghi thức Bẻ Bánh do chính Người thực hiện (30-31).

3. CHÚ THÍCH:

- C 13-16: + Cùng ngày hôm ấy: Tức là ngày Thứ Nhất trong tuần. + Có hai người trong nhóm môn đệ: Hai môn đệ này thuộc nhóm 72 (x. Lc 10,1), không thuộc nhóm 12. Tin Mừng nhắc đến tên một trong hai ông là Cơ-lê-ô-pát (18). Còn ông thứ hai không được nêu tên và được suy đoán là chính Lu-ca, tác giả đã tường thuật câu chuyện này. + Làng Em-mau: Một nơi cách Giê-ru-sa-lem khoảng 11 km về phía Tây. Nhưng cho tới nay các nhà chú giải vẫn chưa xác định được vị trí của ngôi làng này. + Họ trò chuyện với nhau về tất cả những sự việc mới xảy ra: Biến cố tử nạn của Đức Giê-su là mối bận tâm sâu đậm của các môn đệ, đến nỗi dù đang buồn chán thất vọng, các ông vẫn bàn tán với nhau đang khi đi đường. + Chính Đức Giê-su tiến đến gần và cùng đi với họ: Đức Giê-su Phục Sinh luôn yêu thương và quan tâm đến các môn đệ. Khi họ gặp hoàn cảnh khó khăn nan giải, thì Người liền hiện đến để ban ơn nâng đỡ. + Mắt họ còn bị ngăn cản, không nhận ra Người: Bị ngăn cản có thể do tâm trạng buồn sầu thất vọng, nên không nghĩ người khách lạ kia lại có thể là Thầy Giê-su của họ. Cũng có thể do khuôn mặt Đức Giê-su Phục Sinh đã được biến dạng khác với khi còn sống. Trước đó vào sáng Ngày Thứ Nhất trong tuần, bà Ma-ri-a Mác-đa-la cũng đã không nhận ra Chúa Phục Sinh khi Người hiện ra gần bên ngôi mộ đã an táng Người.

- C 17-18: + “Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy ?” : Chúa Phục Sinh chủ động bắt chuyện để các ông dễ dàng tâm sự những lo buồn chất chứa trong lòng. + Chắc ông là người duy nhất trú ngụ tại Giê-ru-sa-lem…: Các ông nghĩ đây là một khách hành hương đi lên Giê-ru-sa-lem dự lễ Vượt Qua, và không quan tâm đến một biến cố lớn lao mới xảy ra trong thành mấy ngày qua.

- C 19-21: + Chuyện ông Giê-su Na-da-rét…: Cho đến lúc này, các môn đệ mới công nhận Đức Giê-su là Ngôn sứ có quyền lực trong lời rao giảng và các phép lạ đã làm. Các ông đi theo Người với hy vọng có được một địa vị trong Vương quốc của Người. + Thế mà các thượng tế và thủ lãnh của chúng ta đã nộp Người để Người bị án tử hình: Sự kiện mới xảy ra đã làm các ông chán nản thất vọng: các nhà lãnh đạo dân Ít-ra-en đã nộp Người để quan Phi-la-tô kết án đóng đinh thập giá. Còn Thiên Chúa thì không làm gì để cứu vị Ngôn sứ của Người. Sự việc xảy ra tới nay đã sang ngày thứ ba rồi !

- C 22-24: + Cũng có mấy người đàn bà trong nhóm chúng tôi…: Tâm trạng của các ông vẫn hoang mang, dù mấy phụ nữ và các Tông đồ đã nhìn thấy mồ trống, và thiên thần hiện ra bảo rằng “Người vẫn còn sống”, nhưng riêng các ông này thì cho điều đó thật khó tin. Câu này cho thấy hai môn đệ này không phải thuộc loại người dễ tin. Do đó, một khi họ tin thì chắc đã phải có những bằng chứng xác đáng không thể phản bác được.

- C 25-27: + Ôi những kẻ tối dạ, những lòng chậm tin vào lời các ngôn sứ !: Lời Chúa quở trách đức tin yếu kém của hai ông có hơi nặng nề, nhưng thực ra vẫn hàm chứa một tình cảm âu yếm. + Nào Đức Ki-tô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Người sao ?: Chúa Giê-su nhắc lại lời Người đã từng báo trước về số phận của Người trước đó: “Con Người phải chịu đau khổ, bị các kỳ mục, thượng tế cùng kinh sư loại bỏ, bị giết chết, và ngày thứ ba sẽ trỗi dậy” (Lc 9,22; 17,25). + Rồi bắt đầu từ ông Mô-sê và tất cả các ngôn sứ…: Luật Mô-sê và sấm ngôn của các ngôn sứ ám chỉ tòan bộ Thánh Kinh Cựu Ước, đã làm chứng về con đường cứu thế mà Đức Giê-su đã chọn theo là: « Qua đau khổ vào trong vinh quang » (x. Lc 24,44 tt).

- C 28-31: + Đức Giê-su làm như còn phải đi xa hơn nữa: Thái độ giả vờ ở đây không phải là giả dối, nhưng là cách thử để xem phản ứng của các môn đệ, xem các ông có thực lòng muốn nghe và muốn Người ở lại hay không. Một đức tin chỉ có giá trị khi người tin tự nguyện mở lòng đón nhận, chứ không bị ép buộc. + Họ nài ép Người: Đây là thái độ hiếu khách quen thuộc của Người Pa-lét-tin (x. Lc 14,23). Chính Lời Chúa giải thích Kinh Thánh đã đánh tan những lo lắng bất an trong lòng hai môn đệ, nên các ông đã xin Người ở lại nhà các ông để có thể tiếp tục nói chuyện với các ông. + Mời ông ở lại với chúng tôi, vì trời đã xế chiều, và ngày sắp tàn: Đây là lời hai môn đệ mời vị khách lạ kia ở lại một cách khép léo tế nhị. Đây cũng là lời cầu nguyện tâm tình của các tín hữu muốn kết hiệp mật thiết với Chúa.

- C 32-31: + Khi đồng bàn với họ, Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng và bẻ ra trao cho họ: Khó có thể nghĩ rằng Đức Giê-su đã truyền phép Thánh Thể như đã làm trong bữa Tiệc Ly. Nhưng ở đây, Lu-ca cố ý dùng kiểu nói quen thuộc trong phụng vụ Thánh Thể (x. Lc 22,19). Đó là cử chỉ Đức Giê-su đã làm khi nhân bánh ra nhiều (x. 9,16), ám chỉ nghi lễ Bẻ Bánh (x. Cv 2,46; 20,7.11). Sau này mỗi khi tham dự thánh lễ, các tín hữu cũng được nghe lời Chúa giáo huấn và được tham dự bàn tiệc Thánh Thể giống như hai môn đệ làng Em-mau. + Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người: Tiến trình đức tin của các tín hữu cũng bắt đầu từ việc lắng nghe Lời Chúa, rồi tin theo Chúa và được thánh hóa nhờ tham dự bàn tiệc Thánh Thể như bà Ly-đi-a thời Giáo Hội sơ khai (x. Cv 24,13-15). + Nhưng Người lại biến mất: Từ đây Chúa Giê-su sẽ hiện diện cách thiêng liêng vô hình khi các tín hữu đọc Thánh Kinh, nghe lời giảng của các mục tử, tham dự thánh lễ hay phục vụ người nghèo…

- C 32-35: + Lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao ?: Nhờ được nghe giảng Thánh Kinh, các môn đệ đã thấy được ý nghĩa cuộc khổ nạn của Chúa Giê-su như một chặng đường Người phải trải qua để vào trong vinh quang phục sinh. + Ngay lúc ấy, họ đứng dậy…: Việc nhận ra Chúa Phục Sinh và lòng tin yêu Chúa đã biến đổi hai môn đệ từ chỗ thất vọng muốn buông xuôi, trở thành con người mới đầy phấn khởi và hy vọng. Tâm trạng ấy làm các ông hăng hái đi lại quãng đường dài 11 cây số trở về Giê-ru-sa-lem để báo tin vui cho các tông đồ và môn đệ khác. + Chúa trỗi dậy thật rồi, và đã hiện ra với ông Si-mon: Sự kiện Si-mon Phê-rô được Chúa Phục Sinh hiện ra trước các tông đồ khác đã được chính Chúa Giê-su tiên báo trước cuộc khổ nạn (x Lc 22,31-32) và sau này cũng được thánh Phao-lô nhắc đến trong thư Cô-rin-tô (x 1 Cr 15,5). + Thuật lại những việc đã xảy ra dọc đường: Cuối cùng hai môn đệ làng Em-mau đã chia sẻ niềm vui Phục Sinh cho Nhóm Mười Một tông đồ và các môn đệ ở Giê-ru-sa-lem.

4. CÂU HỎI:

1) Hai môn đệ quê làng Em-mau kể trên thuộc nhóm 12 tông đồ hay nhóm 72 môn đệ ? Tên của các ông là gì ? 2) Tại sao hai môn đệ làng Em-mau và bà Ma-ri-a Mác-đa-la lại không nhận ra ngay người đang nói chuyện với mình là Chúa Phục Sinh? 3) Việc Chúa Phục Sinh hiện ra với hai môn đệ làng Em-mau nói lên điều gì về tình yêu của Người đối với các tín hữu chúng ta ? 4) Câu trả lời của hai môn đệ cho thấy đức tin của các ông về sứ mạng của Đức Giê-su thế nào ? Các ông đi theo Đức Giê-su nhằm mục đích gì ? Tại sao giờ đây các ông lại chán nản tuyệt vọng ? 5) Hai môn đệ này có phải là những người dễ tin vào mầu nhiệm sống lại của Chúa Giê-su không ? Tại sao ? 6) Chúa Giê-su trong vai khách bộ hành đã làm gì để củng cố đức tin còn non yếu của hai môn đệ ? 7) Chúa Giê-su giả vờ muốn đi xa hơn nhằm mục đích gì ? 8) Câu nào của hai môn đệ là lời cầu nguyện mẫu về lòng tin yêu Chúa cho các tín hữu chúng ta hôm nay ? 9) Hai môn đệ đã nhận ra người khách lạ chính là Thầy Giê-su Phục Sinh khi nào ? 10) Hai ông cho biết lòng mình bừng cháy lên ngọn lửa tin yêu Chúa vào lúc nào ? 11) Điều gì khiến hai môn đệ nhiệt tình loan báo Tin Mừng Chúa Phục Sinh cho người khác ?

II. SỐNG LỜI CHÚA

1. LỜI CHÚA: Họ mới bảo nhau: “Dọc đường khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao ?” (Lc 24,32)

2. CÂU CHUYỆN:

1) CHÚA BỒNG TA TRÊN ĐÔI TAY CỦA NGƯỜI ?

Một người tân tòng sau khi theo đạo đã gặp phải nhiều tai ương hoạn nạn: bệnh tật, rủi ro mất xe, mất tiền bạc… Anh đã nhiều lần xin Chúa cho tai qua nạn khỏi mà xem ra Chúa vẫn ngỏanh mặt làm ngơ khiến anh đâm ra chán nản và thôi không cầu nguyện và cũng không đến nhà thờ dự lễ nữa. Thế rồi một đêm kia, anh nằm mơ thấy mình đang đi bách bộ với Chúa Giê-su trên bãi biển. Anh quay nhìn ra sau thì thấy trên nền cát ướt có 4 dấu chân: hai dấu chân lớn của Chúa, và hai dấu chân nhỏ của anh. Khi gặp chỗ lởm chởm nhiều sỏi đá thì anh không thấy Chúa đi bên cạnh nữa. Quay lại nhìn thì anh chỉ thấy hai dấu chân trên cát của anh. Anh chán nản ngồi nghỉ mệt trên một tảng đá thì Chúa Giê-su lại hiện đến ngồi bên. Anh thắc mắc hỏi Người: “Lạy Chúa, vừa qua Chúa biến đi đâu để con phải một mình đương đầu với những khó khăn như vậy ?” Bấy giờ Chúa Giê-su mới âu yếm nhìn anh và nói: “Con hãy thử nhìn kỹ lại xem hai dấu chân trên cát kia là của ai ?” Lúc đó, anh ta mới nhìn kỹ và nhận ra đó hai dấu chân to là của Chúa Giê-su. Anh lại hỏi: “Lạy Chúa, thế thì dấu chân của con đâu ?” Chúa liền trả lời: “Con ơi, hãy nhớ rằng: Ta luôn ở bên con mọi giây phút trong cuộc đời con. Những khi con gặp phải sự gian nan thử thách thì đó là lúc Ta đang bồng con trên cánh tay Ta đó !”

2) CHÚA ĐẾN VỚI CHÚNG TA QUA THA NHÂN CẦN ĐƯỢC TRỢ GIÚP :

         Vào một buổi sáng cuối đông, bác thợ giầy thức dậy rất sớm dọn dẹp nhà cửa và cho thêm củi than vào lò sưởi để đón chờ khách quý là Chúa Giê-su. Người đã hiện ra với bác trong giấc mơ ban đêm và hứa sẽ đến nhà thăm bác vào ngày hôm sau. Khi ánh bình minh vừa ló rạng, thì bác thợ  giầy đã nghe thấy có tiếng gõ ngoài cửa. Tưởng là Chúa đã đến, bác liền vội ra mở cửa. Thế nhưng kẻ đứng mặt bác không phải là Chúa Giê-su, mà là anh phát thư như mọi lần. Băng tuyết ngoài trời khiến mặt mũi và tay chân của anh ta đỏ lên như gấc. Bác thợ giầy cảm thông liền mời anh ta vào nhà ngồi bên lò sưởi và pha trà nóng mời khách. Sau khi đã được sưởi ấm, người phát thư đã nói lời cám ơn và từ giã đi lo công việc.

Ít phứt sau, nhìn qua khung cửa kính, bác thấy một bé gái khoảng 7-8 tuổi đang co ro đứng trước cửa nhà khóc, bác liền ra hỏi thăm thì được biết em bị lạc mẹ ngoài chợ và đang tìm đường về nhà nhưng không tìm thấy đường vì tuyết rơi trắng xóa. Bác thợ giầy liền lấy bút viết vài chữ trên tờ giấy và gắn ngoài cửa nhà để thông báo cho Chúa Giê-su biết mình cần đi ra ngòai một lát. Nhưng tìm đường dẫn cô bé về nhà không đơn giản. Mất mấy tiếng đồng hồ bác mới tìm được nhà của đứa bé, và khi ra về thì trời đã xế chiều.

Về đến nhà, bác lại thấy có người đang ngồi đợi nhưng không phải là Chúa, mà là một bà mẹ trẻ gần nhà với vẻ mặt buồn bã. Chị cho biết đứa con nhỏ của chị đang lên cơn sốt ở nhà và chị chạy sang tìm bác để nhờ giúp đưa bé đi nhà thương. Bác thợ giầy liền hối hả theo chị về nhà giúp đưa cháu bé đến bệnh viện chăm sóc. Nửa đêm bác mới trở về nhà mình và nằm lăn ra giường ngủ quên cả việc ăn uống. Trong giấc mơ, bác thợ giầy đã nghe thấy tiếng Chúa Giê-su: « Hôm nay Ta cám ơn con đã sẵn sàng tiếp đón và cho Ta vào nhà để sưởi ấm và còn dọn trà nóng cho Ta uống. Cám ơn con đã dẫn Ta bị lạc có thể trở về nhà mình. Cám ơn con đã giúp đưa Ta đến bệnh viện để kịp thời thuốc thang chữa trị ». Thì ra hôm nay Chúa Giê-su đã giữ lời hứa đến thăm bác thợ giầy không phải một mà là ba lần. Người hiện thân qua những người cần được trợ giúp như Người đã nói: « Mỗi lần các ngươi làm như thế cho một trong những anh em bé nhỏ nhất của Ta đây, là các ngươi đã làm cho chính Ta vậy » (Mt 25,40).

3) TÍN THÁC VÀO TÌNH THƯƠNG QUAN PHÒNG CHA TRÊN TRỜI :

Một sĩ quan công giáo, người Anh được sai đến phục vụ tại một nơi xa xôi hẻo lánh. Ông cùng với gia đình xuống tầu đến một nơi được chỉ định. Tầu rời bến được vài ngày thì biển động dữ dôi. Một cơn bão ập đến làm tầu có nguy cơ bị đắm.  Mọi người trên tầu hết sức sợ hãi. Bà vợ của vị sĩ quan là người mất bình tĩnh hơn cả vì bà đã không tiếc lời trách móc chồng  đã đưa cả gia đình vào mối nguy hiểm, nhất là khi thấy chồng vô tư chẳng mấy quan tâm.  Chính thái độ bình tâm này của chồng mà bà vợ  xem như là một biểu hiệu thiếu lo lắng, thông cảm, yêu thương đối với vợ con nên bà càng tức giận xỉ vả hơn.

          Trước tình thế khó xử đó, khi đã có đôi lời giãi bầy vắn tắt, viên sĩ quan rời căn phòng một lát rồi quay trở lại  với thanh kiếm tuốt trần trên tay. Bằng ánh mắt đau khổ ông tiến lại bên vợ và dí mũi kiếm vào ngực bà. Mới đầu bà ta tái xanh mặt mày, nhưng sau đó bà bỗng cười lớn tiếng không chút gì nao núng cả.

 Viên sĩ quan hỏi :

- Làm sao mình có thể cười khi nhận thấy mũi kiếm sắp đâm vào ngực?

Bà vợ trả lời :

- Làm sao em lại phải sợ khi biết lưỡi kiếm ấy nằm trong tay một người thương yêu em.

Bấy giờ viên sĩ quan nghiêm giọng nói :

- Vậy tại sao em lại muốn anh sợ hãi cơn bão tố này khi anh biết rằng nó ở trong tay của Chúa  là Đấng luôn luôn yêu thương anh ?

4) LỜI CHÚA PHÁN KHIẾN MỌI SÓNG GIÓ LIỀN YÊN LẶNG :

          Được thăng  giáo hoàng là một việc rất trọng đại. Khi Đức Pi-ô  XI đăng quang, sau khi thực hiện xong các lễ nghi rồi, ngài về phòng riêng, ngồi vào chiếc bàn viết của Đức Giáo hoàng trước ngài Bê-nê-dic-tô XV, thì tự nhiên ngài cảm thấy một mối lo âu ập xuống trên ngài, vì Giáo hội đang bị kẻ thù tấn công tư bề, Hội Thánh đang phải trải qua một giai đoạn thử thách mới : Tuy Thế Chiến Thứ Nhất đã chấm dứt, nhưng Thế chiến Thứ Hai lại đang âm ỉ và có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Nghĩ đến những chuyện ấy, lòng Đức Pi-ô XI lại ngập tràn lo âu. Bấy giờ ngài qùi gối trước Thánh Giá và cầu nguyện sốt sắng. Đang lúc cầu nguyện, tự nhiên tay ngài chạm phải một tấm ảnh đặt trên bàn làm việc của Đức tiên giáo hoàng. Bấy giờ Đức Pi-ô liền cầm tấm ảnh lên xem và tự nhiên ngài thấy nỗi lo sợ trong lòng biến mất, và ngài lại cảm nghiệm được sự bình an trong tâm hồn. Đó là bức hình vẽ Chúa Giê-su đang đứng trên mũi thuyền và truyền cho sóng gió yên lặng. Từ ngày đó, Đức Pi-ô XI luôn để bức hình ấy trên bàn làm việc, và mỗi khi gặp hoàn cảnh khó khăn không biết phải làm gì, Đức Pi-ô XI ngồi nhìn vào bức ảnh rồi cầu xin Chúa Giê-su hãy phán một lời, thế là mọi khó khăn đang gặp phải đều tự nhiên tan biến hết (W.J. Diamond- Đồng cỏ non).

3. SUY NIỆM:

1) Tâm trạng của hai môn đệ về làng Em-mau:

         Đây là hai trong số 72 môn đệ của Đức Giê-su đã được Người sai từng hai người đi giảng đạo (x. Lc 10,1a). Hai ông đã đến Giê-ru-sa-lem dự lễ Vượt Qua. Giờ đây đại lễ đã xong, hai ông quay trở về nhà riêng tại làng Em-mau. Một trong hai ông tên là Cờ-lê-ô-pát, còn người kia không được nêu tên, có thể là chính tác giả Lu-ca. Hai ông này vừa đi vừa trò chuyện với nhau với vẻ mặt buồn bã thất vọng. Sở dĩ họ mang tâm trạng như thế là vì mấy lý do như sau:

        - Một là vì Đức Giê-su « là một Ngôn sứ đầy uy thế trong việc làm cũng như lời nói trước mặt Thiên Chúa và toàn dân. Thế mà các thượng tế và thủ lãnh của chúng ta đã nộp Người để Người bị án tử hình, và đã đóng đinh Người vào thập giá » (Lc 24,19b-20).

        - Hai là biến cố đau thương của Đức Giê-su đã xảy ra trái với ước vọng của các ông khi đi theo làm môn đệ của Thầy, khiến các ông hoàn toàn thất vọng muốn buông xuôi: « Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng rằng chính Người là Đấng sẽ cứu chuộc Ít-ra-en. Nhưng các sự việc ấy đã xẩy ra đến nay là ngày thứ ba rồi » (Lc 24,21).

        2) Vai trò của Kinh Thánh và Phụng Vụ trong việc củng cố đức tin:

- Lời Kinh Thánh đã làm bùng cháy ngọn lửa tin yêu nơi lòng các ông: Trong vai một người khách bộ hành, Đức Giê-su đã « giải thích cho hai ông tất cả lời Thánh Kinh chỉ về Người ». Còn về “vụ ông Giê-su” thì sau khi lắng nghe quan điểm của hai ông về vụ án, về cuộc tử nạn, và việc Người bị treo trên thập giá, Đức Giê-su đã giải thích Kinh Thánh và khích lệ tinh thần của các ông như sau: ”Nào Đấng Ki-tô chẳng phải chịu đau khổ rồi mới được vinh quang sao”? (Lc 24,26). Sau đó các ông đã nói với nhau : « Dọc đường, khi Người nói chuyện và giải thích Kinh Thánh cho chúng ta, lòng chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao ?” (Lc 24,32).

- Chính cử chỉ yêu thương đã mở mắt đức tin của các ông : Để được nhận biết tin yêu Chúa, đòi các môn đệ phải khao khát lắng nghe Lời Chúa qua lời cầu: “Mời ông ở lại với chúng tôi, vì trời đã xế chiều, và ngày sắp tàn”. Bấy giờ Người vào ở lại với họ (Lc 24,29). Rồi chính bầu khí yêu thương giữa cộng đoàn đã mở mắt đức tin cho các ông, như Tin Mừng thuật lại: « Khi đồng bàn với họ, Người cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng và bẻ ra trao cho họ. Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Người, nhưng Người lại biến mất » (Lc 24,30-31).

        3) Vai trò của Tin, Cậy, Mến trong sứ vụ loan báo Tin Mừng:

Sau khi nhận ra Chúa Phục Sinh thì Người lại biến mất. Chính lòng tin và lòng mến đã thúc bách hai môn đệ lập tức quay lại Giê-ru-sa-lem loan báo Tin Vui như Tin Mừng ghi nhận : « Ngay lúc ấy, họ đứng dậy, quay trở về Giê-ru-sa-lem, gặp Nhóm Mười Một và các bạn hữu đang tụ họp lại đó. Những người này bảo hai ông: “Chúa trỗi dậy thật rồi, và đã hiện ra với ông Si-mon” Còn hai ông thì thuật lại những việc đã xảy ra dọc đường, và mình đã nhận ra Chúa thế nào khi Người bẻ bánh (Lc 24,33-35).

4) Sống và chu toàn sứ vụ loan báo tin mừng Phục Sinh cho thế giới hôm nay:

- Trong cuộc sống, mỗi lần gặp thử thách, nhiều tín hữu thường nghĩ rằng: Chúa đã bỏ rơi mình rồi. Chúa không còn quan tâm giúp đỡ mình nữa… và từ đó sinh ra chán nản, bỏ bê đọc kinh cầu nguyện, lười biếng dự lễ Chúa Nhật và có khi còn mê tín dị đoan: đi coi bói tóan, cậy nhờ thầy bùa thầy ngải…

- Lẽ ra chúng ta phải xác tín rằng: Chúa Phục Sinh luôn đồng hành với chúng ta. Không những Người ở bên chúng ta khi ta được bình an, mà ngay cả những lúc gặp gian nan khốn khó như bệnh tật tai nạn, chúng ta vẫn tin rằng Chúa đang đồng hành với chúng ta. Người luôn đi bên ta và sẵn sàng giơ tay trợ giúp và bồng ẵm ta trên tay nếu ta biết cậy trông vào Người, như « ông Phê-rô từ thuyền bước xuống, đi trên mặt nước và đến với Đức Giê-su. Nhưng thấy gió thổi thi ông đâm sợ, và khi bắt đầu chìm, ông la lên: Lạy Thầy xin cứu vớt con. Đức Giê-su liền đưa tay nắm lấy ông và nói: Người đâu mà kém tin vậy! Sao lại hoài nghi! » (Mt 14,29-31).

- Nếu mỗi ngày chúng ta quyết tâm từ bỏ các thói hư như : tham lam, gian ác, ích kỷ, tự mãn cùng các đam mê tội lỗi khác, sẵn sàng vác thập giá là chu tòan các việc bổn phận của mình mà theo chân Chúa Giê-su, thì chắc chắn chúng ta sẽ đạt tới hạnh phúc Nước Trời đời sau. Nếu chúng ta cùng chết với Chúa Giê-su, thì chúng ta sẽ cùng được sống lại với Người.

- Mỗi người sẽ làm gì để noi gương hai môn đệ làng Em-mau, lập tức đi loan báo Tin Mừng cho tha nhân và phải loan báo thế nào để giúp họ dễ nhận biết tin yêu Chúa ?

4. THẢO LUẬN: 1) Khi gặp một người lỡ đường xin tá túc ban đêm, chúng ta nên làm gì để vừa bảo đảm an toàn cho gia đình, vừa thực hành bác ái “Cho khách đỗ nhà” như kinh Thương Người đã dạy ? 2) Hát bài: Có Chúa đi với tôi, tôi sẽ không còn sợ chi. Có Chúa đi với tôi, tôi sẽ không còn thiếu gì. Dù trời tăm tối, bước đi không lo lạc lối. Đường dù nguy nan, không chút vấn vương tâm hồn.

5. NGUYỆN CẦU:

- LẠY CHÚA GIÊ-SU. Xin ở lại với chúng con, vì trời đã xế chiều và ngày sắp tàn rồi, vì lòng chúng con đang khao khát được nghe lời Chúa. Xin ở lại với chúng con, vì đức tin chúng con mỏng dòn yếu đuối, rất cần được Chúa trợ giúp vượt qua khó khăn của cuộc đời. Xin ở lại với chúng con, vì chúng con dễ sa chân lạc bước, hay chạy tìm kiếm thỏa mãn những đam mê bất chính, dễ chán nản buông xuôi khi gặp thử thách gian nan. Xin ở với chúng con, để chúng con thấy Chúa đang hiện diện nơi những người đau khổ và chân thành phục vụ họ như phục vụ chính Chúa. Xin ở lại với chúng con, vì khi gặp được Chúa, chúng con sẽ được ơn biến đổi cuộc đời. Xin ở lại với chúng con, vì tâm hồn chúng con vẫn còn xao xuyến mãi, cho tới khi nào được nghỉ yên trong Chúa.

- LẠY CHÚA. Hai môn đệ làng Em-mau đã sằn sàng đón tiếp một người khách lạ đang cần một bữa ăn tối và một chỗ nghỉ đêm. Chính nhờ lòng quảng đại ấy, mà hai ông đã nhận ra Chúa Phục Sinh, và được biến đổi nên vui tươi phấn khởi. Xin cho chúng con cũng biết quảng đại đi bước trước để làm quen với một người lạ đang bị đau khổ, cho chúng con biết sẵn sàng lắng nghe những tâm sự của họ và năng tham dự thánh lễ moi ngày. Nhờ được gặp Chúa, chắc chắn chúng con sẽ được ơn biến đổi trở nên người mới và chu toàn được sứ mệnh loan Tin Mừng cho tha nhân, như hai môn đệ làng Em-mau xưa.

X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON.

LM ĐAN VINH -  HHTM

HOÁ RA LÀ NGÀI

Thứ Bảy Tuần 2 Phục Sinh A

“Các ông hoảng sợ”.

Trong “When All Hell Breaks Loose”, tạm dịch, “Khi Tất Cả Đổ Vỡ”, Steven J. Lawson viết: “Có thể bạn đang ở trong một cơn bão. Chúa có mục đích khi dẫn bạn vào đó. Hãy hướng mắt về Ngài!”.

Kính thưa Anh Chị em,

“Các ông hoảng sợ”. Giữa ‘biển trong đêm’, khi tất cả đổ vỡ, các môn đệ chao đảo không chỉ bởi bão tố, nhưng trước một sự hiện diện chưa được nhận biết. Chỉ khi Chúa Giêsu cất tiếng, họ mới chợt hiểu: ‘hoá ra là Ngài’.

Vậy điều gì đã xảy ra với các môn đệ? Giữa ‘biển trong đêm’, gió nổi sóng gào, thuyền chao đảo; họ bị cuốn vào chính những gì đang đổ vỡ trước mắt. Khi mọi sự dồn dập, họ quay khỏi Thầy để chống chọi giữa những hỗn mang. Chính trong khoảnh khắc ấy, khi nỗi kinh hoàng chiếm trọn tâm hồn, họ không còn nhận ra ai đang đến gần; đến nỗi, như các Tin Mừng khác kể lại, họ tưởng chỉ là một bóng ma. Họ không chỉ không nhận ra Ngài, họ còn đặt tên sai cho Ngài. “Chúng ta chỉ thấy điều mình đã sẵn sàng để thấy!” - Walter Lippmann.

Chính lúc ấy, Chúa Giêsu cất tiếng: “Thầy đây mà, đừng sợ!”. Trong nguyên ngữ Gioan, egō eimi - “Ta là”; công thức mặc khải vang vọng từ Xuất Hành, nơi Thiên Chúa tiết lộ danh tính, và trong truyền thống Latinh được diễn đạt là Ego sum. Đó không chỉ là lời nhận diện, nhưng là một sự hiện diện tự xưng, không cần được chứng minh; không chỉ là lời trấn an, nhưng là một mặc khải: Ngài tự nói ra căn tính của mình. Từ đó, nỗi sợ bắt đầu tan biến, không phải vì bão đã yên, nhưng vì họ nhận ra ai đang ở trước mặt. Điều họ tưởng là đe doạ, ‘hoá ra là Ngài’ - Thầy của mình.

Đó cũng là trải nghiệm vượt những ‘biển trong đêm’ của Hội Thánh sơ khai. Khi các tín hữu bắt đầu kêu trách nhau, khi sự kỳ thị xé rách cộng đoàn; chính trong những đổ vỡ ấy, họ không dừng lại nơi xung đột, nhưng quay về với Chúa Phục Sinh. Từ đó, các phó tế đầu tiên được thiết lập, trật tự dần được tái ổn định, giông bão lắng xuống - bài đọc một. Điều đã xảy ra với họ cũng là điều xảy ra nơi chúng ta: không phải vì không có sóng gió, nhưng vì biết quay về với Chúa trong nguyện cầu. “Xin đổ tình thương xuống chúng con, lạy Chúa, như chúng con hằng trông cậy nơi Ngài!” - Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Chính Chúa Giêsu đã đi qua những ‘biển trong đêm’: cám dỗ, rình rập, và cuối cùng là thập giá. Nhưng trong tất cả, Ngài không quay khỏi Cha; Ngài nhận ra Cha ngay giữa bóng tối và trao phó chính mình: “Lạy Cha, con phó thác hồn con trong tay Cha”. Đó cũng là nơi đời sống chúng ta chạm tới: không phải khi sóng gió qua đi, nhưng ngay giữa những điều chưa sáng tỏ. Không phải vì chúng ta giữ được mình, nhưng vì có một tương quan giữ chúng ta lại; để giữa những ‘biển trong đêm’, chúng ta không còn bị cuốn đi, nhưng dần nhận ra một sự hiện diện không hề xa - ‘hoá ra là Ngài’, “đấng gần chúng ta hơn chính chúng ta gần mình!” - Augustinô.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi mọi sự xem ra đổ vỡ, xin cho con đừng gọi Ngài bằng một cái tên sai!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

TỪ HOÀNG HÔN EMMAU ĐẾN BÌNH MINH GIÊRUSALEM

Trong cuộc đời mỗi con người, ai cũng có ít nhất một lần đi trên con đường Emmau của riêng mình. Đó là con đường của những bước chân trĩu nặng sau một thất bại cay đắng, là quay gót sau những dự định dở dang, là rút lui vào bóng tối khi ánh sáng lý tưởng dường như đã lịm tắt. Nhưng chính trên con đường tháo chạy ấy, một cuộc gặp gỡ kỳ diệu đã thay đổi hoàn toàn định mệnh của nhân loại.

  1. Khi hy vọng chỉ còn là “chuyện đã từng”

Câu chuyện bắt đầu vào một buổi chiều tà, khi nắng xế chiều hôm đổ dài trên con đường mòn cách Giêrusalem mười một cây số. Hai môn đệ bước đi, nhưng lòng họ còn nặng hơn cả bước chân. Tin Mừng Luca ghi lại một chi tiết đầy xót xa: “Họ dừng lại, vẻ mặt buồn rầu” (Lc 24: 17).

Tại sao họ buồn? Vì họ vừa trải qua một cơn sang chấn đức tin. Họ nói về Chúa Giêsu bằng thì quá khứ: “Ngài là một ngôn sứ đầy uy thế... Thế mà các thượng tế và thủ lãnh của chúng ta đã nộp Ngài... Phần chúng tôi, trước đây vẫn hy vọng rằng chính Ngài là Đấng sẽ cứu chuộc Israel” (Lc 24: 19-21).

Câu chữ “vẫn hy vọng”, ở thì quá khứ, là một cái tang cho niềm tin. Đối với họ, mọi chuyện đã kết thúc trên đồi Canvê. Ngôi mộ trống hay lời các bà đạo đức chỉ khiến họ “cho là chuyện vớ vẩn, nên chẳng tin” (Lc 24: 11-12). Họ đang đi ngược chiều: từ Giêrusalem nơi có Thập giá và Phục sinh quay về Emmau là nơi để ẩn dật và quên lãng.

Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã nhận xét về tình trạng này của hai môn đệ, cũng là của chúng ta, một cách đầy thấu cảm: “Có bao nhiêu nỗi buồn, bao nhiêu thất bại, bao nhiêu sai lầm trong cuộc đời mỗi người! Sâu thẳm trong lòng, tất cả chúng ta đều có phần nào đó giống hai môn đồ ấy. Bao nhiêu lần chúng ta đã hy vọng trong đời? Bao nhiêu lần chúng ta cảm thấy mình chỉ còn một bước nữa là đến hạnh phúc, rồi lại thấy mình bị đánh gục, thất vọng? Nhưng Chúa Giêsu đồng hành cùng tất cả những người nản lòng, cúi đầu buồn bã. Và bằng cách đồng hành một cách kín đáo, Ngài có thể khôi phục lại hy vọng cho họ… Tất cả chúng ta đều đã trải qua những khoảnh khắc khó khăn trong cuộc sống, những khoảnh khắc tăm tối mà ta chìm trong buồn bã, trầm tư, không có tương lai, chỉ thấy trước mặt là bức tường…” (Tiếp kiến chung, ngày 24 tháng 5 năm 2017).

Chúng ta cũng vậy, có những lúc ta nhìn đời qua lăng kính của sự thất vọng. Ta thấy Chúa “vắng mặt” trong những biến cố đau thương, ta thấy lời hứa của Ngài dường như lỗi nhịp. Ta đi lễ, đọc kinh nhưng lòng trí lại đang “xuôi về Emmau”, tìm kiếm một sự an ủi thế trần để khỏa lấp khoảng trống tâm linh.

Chúa Giêsu không hiện ra với ánh hào quang chói lòa để dọa dẫm họ. Ngài hiện ra như một khách bộ hành bình thường, cùng đi, cùng nghe và cùng thấu cảm. Ngài bắt đầu bằng việc đặt câu hỏi. Ngài cho họ trút cạn nỗi lòng. Và rồi, Ngài dùng “phương thuốc” mạnh nhất: Lời Chúa. Đó là đường lối sư phạm của Đấng Phục Sinh: đốt lên ngọn lửa từ Kinh Thánh: “Bấy giờ Chúa Giêsu nói với hai ông rằng: Các anh chẳng hiểu gì cả! Lòng trí các anh thật là chậm tin vào lời các ngôn sứ!” (Lc 24: 25). Ngài không an ủi bằng những lời sáo rỗng, nhưng Ngài dẫn họ về với gốc rễ của đức tin. Ngài giải thích cho họ thấy rằng Thập giá không phải là một sự cố ngoài ý muốn, mà là một phần trong kế hoạch cứu độ thần thánh: “Nào Đấng Kitô lại chẳng phải chịu khổ hình như thế, rồi mới vào trong vinh quang của Ngài sao?” (Lc 24: 26).

Ngài bắt đầu từ ông Môsê và tất cả các ngôn sứ. Ngài dệt lại bức tranh cuộc đời Ngài bằng những sợi chỉ của Cựu Ước. Lúc này, trí hiểu của họ bắt đầu được khai mở. Lời Chúa giống như luồng gió thổi vào đống tro tàn của lòng họ, khiến những đốm lửa hy vọng bắt đầu cháy lại.

Thánh Giêrônimô đã nói một câu bất hủ: “Không biết Kinh Thánh là không biết Chúa Kitô.” Trên đường Emmau, Chúa Giêsu đã chứng minh điều đó. Khi ta tách rời cuộc đời mình khỏi Lời Chúa, ta sẽ thấy mọi biến cố chỉ là sự ngẫu nhiên nghiệt ngã. Nhưng khi soi rọi đời mình vào Kinh Thánh, ta sẽ thấy bàn tay Chúa đang viết những đường thẳng trên những dòng kẻ cong.

  1. Bẻ Bánh – khoảnh khắc soi sáng

Khi bóng tối sập xuống, hai môn đệ đã làm một việc đúng đắn duy nhất: nài ép khách lạ ở lại. “Mời ông ở lại với chúng tôi, vì trời đã xế chiều, và ngày sắp tàn” (Lc 24: 29). Đây là lời cầu nguyện đẹp nhất của mọi thời đại. Giữa sự hữu hạn của đời người giống như “ngày sắp tàn”, chúng ta cần tha thiết mời Đấng Vĩnh Cửu ở lại.

Và tại bàn ăn, vị khách trở thành gia chủ. Ngài làm bốn cử chỉ: Cầm lấy bánh – Dâng lời chúc tụng – Bẻ ra – Trao cho họ. Đây chính là cử chỉ của Bữa Tiệc Ly. Và “Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Ngài” (Lc 24: 31). Tại sao lại là lúc bẻ bánh? Vì trong hành động bẻ bánh, họ thấy lại con người đích thực của Thầy: một cuộc đời được “bẻ ra” vì người khác. Sự bẻ bánh là sự hiến tế. Họ nhận ra Ngài không phải qua khuôn mặt, nhưng qua tình yêu hiến mạng.

Nhưng ngay khi họ nhận ra, Ngài lại biến mất. Tại sao? Thánh Lêô Cả suy niệm rằng “Điều hữu hình nơi Đấng cứu độ chúng ta được chuyển vào trong các bí tích” (Sermo 74, 2: CCL 138A, 457 PL 54, 398) vì “Các mầu nhiệm của cuộc đời Chúa Kitô là nền tảng cho những gì Ngài ban phát trong các bí tích nhờ các thừa tác viên của Hội Thánh Ngài” (GLHTCG, số 1115).

Hành trình Emmau dạy chúng ta rằng: Bí tích Thánh Thể là nơi hẹn gặp tối hậu. Khi ta rước lấy tấm bánh bẻ ra, ta không chỉ rước lấy một biểu tượng, mà rước lấy chính Đấng đã chiến thắng cái chết để ở lại với ta mọi ngày cho đến tận thế sau khi Ngài gánh chịu khổ hình trên Thập giá. Thánh Phêrô nói: “Anh em biết rằng không phải bằng vàng bạc hay hư nát mà anh em đã được cứu chuộc... nhưng bằng máu châu báu của Đức Kitô, Con Chiên tinh tuyền” (1 Pr 1: 18-19). Cái giá của sự cứu chuộc không phải do vàng bạc hư nát. Thánh Phêrô nhắc nhở chúng ta về giá trị đích thực của con người. Chúng ta thường đánh giá mình bằng những tiêu chuẩn thế gian: bằng cấp, địa vị, tài sản. Nhưng Thánh Phêrô kéo chúng ta về với một sự thật lớn lao: giá trị của bạn là do bởi Máu của Con Thiên Chúa. Ơn cứu độ không phải là một món quà rẻ tiền, nhưng được trả bằng những giọt máu cuối cùng của Chúa Giêsu trên đồi Canvê.

Chúa Giêsu phải chịu khổ hình vì tội lỗi của nhân loại là thực tại quá đỗi kinh khủng, nhưng đồng thời nó cũng là minh chứng cho một tình yêu “không có gì tách được chúng ta ra khỏi tình yêu của Thiên Chúa thể hiện nơi Chúa Kitô Giêsu, Chúa chúng ta” (Rm 8: 39). Khi hai môn đệ Emmau hiểu được giá trị của Máu Châu Báu này, họ không còn thấy Thập giá là nỗi nhục nhã, nhưng là một vinh quang cứu độ.

Thánh Gioan Phaolô II đã viết: “Con người không thể sống thiếu tình yêu. Họ vẫn là một hữu thể không thể hiểu được chính mình, cuộc sống của họ vô nghĩa, nếu tình yêu không được bày tỏ cho họ, nếu anh ta không gặp gỡ tình yêu, nếu họ không trải nghiệm nó và biến nó thành của riêng mình...Sự Cứu Chuộc đã được hoàn thành trong mầu nhiệm Phục Sinh, dẫn dắt qua Thập Giá và cái chết đến sự Phục Sinh” (Thông điệp Redemptor Hominis - Đấng Cứu Chuộc con người, số 10).

  1. Sự sống không thể bị cầm giữ

Hành trình từ Emmau quay ngược lại Giêrusalem là một hành trình từ sự sợ hãi đến sự can trường. Hai môn đệ vừa nhận ra Chúa liền “đứng dậy, quay trở lại Giêrusalem” (Lc 24: 33). Họ không còn sợ bóng đêm, không còn sợ lính canh, vì lòng họ đang cháy lửa Phục sinh. Lửa ấy sau đó đã bùng lên mạnh mẽ trong ngày Lễ Ngũ Tuần qua môi miệng của Thánh Phêrô. Vị tông đồ từng chối Thầy, nay đứng ra tuyên xưng dõng dạc: “Thiên Chúa đã giải thoát Ngài khỏi những đau khổ của cõi chết mà cho Ngài phục sinh, vì không thể nào để cho Ngài bị cầm giữ trong đó” (Cv 2: 24). 

Không thể nào để cho Ngài bị cầm giữ trong đó” là một định luật của tình yêu. Sự chết có thể giam cầm những gì thuộc về cát bụi, nhưng không thể cầm giữ được Đấng là nguồn mạch sự sống. Chúa Giêsu là Đấng Thánh, và như lời vua Đavít đã tiên báo: “Chúa không để linh hồn tôi trong cõi chết, và không để Đấng Thánh của Chúa thấy sự hư nát” (Cv 2: 27).

Sức mạnh của Phục sinh không phải là một sự kiện lịch sử xảy ra một lần rồi thôi. Đó là một động lực đang vận hành trong thế giới. Khi gặp khó khăn, khi bệnh tật hay đau khổ bủa vây, chúng ta hãy nhớ rằng: sự chết không có tiếng nói cuối cùng. Thiên Chúa đã “bẻ gãy xiềng xích tử thần.”

Hành trình của hai môn đệ trên đường Emmau đem lại cho chúng ta những bài học đức tin:

  • Để Lời Chúa chỉnh sửa cuộc đời, đừng bắt Chúa theo ý mình, hãy siêng năng suy niệm Kinh Thánh mỗi ngày để biến đổi suy nghĩ theo cách nghĩ của Ngài.
  • Nhận ra Chúa nơi Thánh Thể, đừng dự lễ theo thói quen, nhưng hãy tham dự Thánh lễ với lòng khát khao Chúa Phục Sinh ở lại với chúng ta và biến đời chúng ta thành “tấm bánh bẻ ra” cho tha nhân.
  • Cuộc gặp gỡ Chúa đích thực sẽ làm lòng bừng cháy và thúc bách ta chia sẻ niềm vui Phục Sinh cho mọi người, thay vì giữ riêng cho mình.

Chúa Giêsu luôn ở bên cạnh chúng ta để ban cho chúng ta hy vọng, sưởi ấm trái tim chúng ta và nói: “Hãy tiến lên, Ta ở cùng các con. Hãy tiến lên”. Bí quyết của con đường dẫn đến Emmau đơn giản là: bất chấp vẻ bề ngoài trái ngược, chúng ta vẫn được yêu thương và Chúa sẽ không bao giờ ngừng yêu thương chúng ta. Chúa sẽ luôn đồng hành cùng chúng ta, ngay cả trong những khoảnh khắc đau đớn nhất, ngay cả trong những khoảnh khắc tồi tệ nhất, ngay cả trong những khoảnh khắc thất bại. Đó là nơi Chúa hiện diện. Và đó là niềm hy vọng của chúng ta. Hãy tiến bước với niềm hy vọng này! Bởi vì Ngài ở bên cạnh chúng ta và đồng hành cùng chúng ta. Luôn luôn!” (ĐGH Phanxicô, đã dẫn trên).

Lạy Chúa Giêsu Phục Sinh, khi đời “xế chiều” và hy vọng cạn kiệt, xin hãy cùng đi với chúng con. Xin mở mắt chúng con khỏi cái nhìn hạn hẹp để nhận ra Chúa qua Lời và Thánh Thể, hầu biết bẻ đời mình chia sẻ cho tha nhân. Vì Chúa đã chiến thắng tử thần, niềm hy vọng của chúng con là bất diệt. Chúa đã trỗi dậy! Alleluia! Amen.

 

Phêrô Phạm Văn Trung

KHÔNG CHỈ ĐỦ – NHƯNG DƯ

Thứ Sáu Tuần 2 Phục Sinh A

“Họ liền đi thu những miếng thừa…, và chất đầy được mười hai thúng”.

“Thiên Chúa ban ân sủng theo lòng quảng đại của Ngài, không theo công trạng của chúng ta!” – Grêgôriô Cả.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay không chỉ kể một phép lạ thết năm ngàn người ăn, nhưng mặc khải một cách thức: Thiên Chúa không ban theo công trạng hay mức cần thiết; Ngài ban dẫy đầy, ‘không chỉ đủ – nhưng dư’.

Trong Gioan, chi tiết “mười hai thúng” không chỉ là phần dư, nhưng là dấu chỉ mang chiều kích toàn thể: duodecim – con số của Israel, của Dân Chúa trong sự viên mãn. Như thế, điều còn lại không phải là phần thừa vô nghĩa, nhưng là phần không được giữ lại, vì tự nó đã hướng tới việc được trao đi. Ân sủng chỉ thực sự dư đầy khi không bị giữ lại. Không phải vì Thiên Chúa ban ít, nhưng vì con người không dám mở ra. Chính tại đây, một lệch hướng dễ xảy ra: điều được ban để trao đi bị giữ lại; từ đó, sự dư đầy dần mất ý nghĩa của nó. Vì thế, phép lạ không chỉ đáp ứng một cơn đói, nhưng mặc khải một logic: Thiên Chúa không hành động theo sự thiếu thốn của con người, nhưng theo sự phong phú của chính Ngài – ‘không chỉ đủ, nhưng dư’.

Thánh Augustinô coi “mười hai thúng” không như phần dư vật chất, nhưng như dấu chỉ của một sự phong phú vượt quá khả năng lãnh hội: Thiên Chúa không ban ít; chính con người không thể đón nhận hết. Vì thế, phần còn lại vượt quá tầm hiểu; có những điều chỉ được mở ra khi “về nhà”, Ngài giải thích riêng. Khoảng cách, vì thế, không nằm ở ân sủng, nhưng ở tương quan; ai ở lại, người đó đi sâu hơn vào sự dư đầy. Và chính những người ở lại sẽ trở thành trung gian phân phát: ân sủng không dừng lại nơi việc lãnh nhận, nhưng lưu chuyển. Đó không phải là điều xa: nhiều khi chúng ta chỉ dừng lại ở mức vừa đủ để hiểu, mà không bước vào để sống, để ra đi phân phát. “Là Kitô hữu không phải là kết quả của một lựa chọn luân lý hay một ý tưởng cao đẹp, nhưng là một cuộc gặp gỡ với một biến cố, một con người!” – Bênêđictô XVI.

Anh Chị em,

Nơi Đức Giêsu Kitô, ân sủng không còn là điều được ban, nhưng là chính Ngài. Ngài không chỉ trao ban, nhưng là sự sống được trao; không dừng lại ở mức đủ, nhưng trở thành dồi dào. “Tôi đến cho chiên tôi được sống, và sống dồi dào”. Sự sống ấy trước hết nuôi dưỡng con người trong cơn đói sâu sắc; rồi chạm đến những đổ vỡ để chữa lành; và cuối cùng mở ra ơn tha thứ, nơi con người được tái tạo từ bên trong. Vì thế, “Ở đâu tội lỗi lan tràn, ở đó, ân sủng càng chứa chan”. Vấn đề không phải là thiếu, nhưng là không dám sống từ sự dư đầy ấy. Vậy mà chúng ta thường chỉ tìm đủ để tồn tại, hơn là dám mở ra cho một sự sống dồi dào – chữa lành, tha thứ và sai đi. “Có những Kitô hữu sống như thể Mùa Chay không bao giờ dẫn đến Phục Sinh!”; “Có những Kitô hữu chọn một đời sống an toàn, khép kín, thay vì để mình được sai đi!” – Phanxicô.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin đừng để con sống cầm chừng vừa đủ, nhưng biết sống từ sự dư đầy của Ngài!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

Subcategories