3. Sống & Chia Sẻ Lời Chúa

CÓ MỘT CON ĐƯỜNG...

Chẳng có lối nào tốt hơn con đường Chúa Kitô. Vì chỉ có con đường Chúa Kitô mới là đường dẫn lối về trời. Nhưng con đường Chúa Kitô luôn đòi phải hiến mình, đòi phải hy sinh, đòi phải trầy trụa, rát buốt...

Đó là con đường đáp tiếng "Xin vâng" tuyệt đối theo gương Chúa Kitô, nhất quyết lắng nghe và chấp nhận lời lời Chúa thành lời chủ đạo của cuộc đời mình: "Hãy bỏ mình, vác thập giá đời mình mà theo Thầy" (Mt 17, 26).

Và hôm nay, Chúa nhật XIII thường niên, cũng lại là lời mời gọi tương tự: "Ai yêu cha hay yêu mẹ hơn Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai yêu con trai hay con gái mình hơn Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng với Thầy. Ai giữ lấy mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai liều hiến mạng sống mình vì Thầy, thì sẽ tìm được" (Mt 10, 37-39).

Trí khôn nhân loại dù thời tiền sử hay "bốn chấm không" (4.0), dù ở "đỉnh" nào của hôm nay hay tiến xa đến mọi "đỉnh" tương lai, lại có thể giải thích mầu nhiệm Tình Yêu của Đấng chết treo thập giá.

Đừng mong khôn ngoan nhân loại có thể khám phá thập giá. Đối diện thập giá, loại tư tưởng ấy chỉ là ảo giác, là rồ dại, là đem thân chống lại quyền linh của Đấng chịu chết treo vì yêu mà thôi.

Chỉ những ai cảm nhận mình yếu đuối, nhận ra thân phận đáng thương, tội lỗi, hè hạ, rốt cùng và đáng chết, mới có thể khám phá tình yêu dẫn đưa Con Người cứu độ trên thập giá nhằm mang lại sự sống vì yêu và chết vì yêu là gì.

Chính vì nhận ra thân phận mình khi đối diện với thập giá, thánh Phaolô thốt lên: "Nếu chúng ta đã cùng chết với Đức Kitô, chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người: đó là niềm tin của chúng ta. Thật vậy, chúng ta biết rằng: một khi Đức Kitô đã sống lại từ cõi chết, thì không bao giờ Người chết nữa, cái chết chẳng còn quyền chi đối với Người. Người đã chết, là chết đối với tội lỗi, và một lần là đủ. Nay Người sống, là sống cho Thiên Chúa. Anh em cũng vậy, hãy coi mình như đã chết đối với tội lỗi, nhưng nay lại sống cho Thiên Chúa, trong Đức Kitô Giêsu" (Rm 6, 1-11).

Xác tín tình yêu, sự sống, sự chết và mọi ý nghĩa của ơn cứu độ từ nơi thập giá Chúa Kitô mà một đời, từ khi bắt gặp chân lý đức tin, thánh Phaolô không ngừng dâng hiến mình, dâng cả dòng máu, dâng trọn sự sống cho danh Chúa, cho ơn gọi sống chết vì Nước Trời, vì tình yêu nghĩa thiết với Chúa Kitô.

Lịch sử của Hội Thánh không ngừng chứng minh bằng biết bao nhiêu gương các vị thánh. Một khi cảm thấu tình yêu thập giá của Chúa Kitô, họ không ngừng bước tới trên con đường Chúa Kitô đã đi để vui, để hạnh phúc mà dâng hiến chính mình cho lý tưởng Nước Trời, cho vinh danh Thiên Chúa.

Chỉ cần kể về sự nếm trải thập giá và lời đáp "Xin vâng" của những khuôn mặt tiêu biểu thế kỷ XX, cũng đủ rọi sáng cho ta để sống lời mời gọi của Đấng chết trên thập giá: "Hãy bỏ mình, vác thập giá đời mình mà theo Thầy".

Chẳng hạn thánh linh mục Josemaria Escriva de Balaguer (Tây Ban Nha), vị sáng lập tổ chức Opus Dei (Công Trình của Thiên Chúa); thánh linh mục Maximilian Kolbe chết thay người bạn tù trong thời tàn sát của Đức quốc xã; thánh linh mục Padre Pio (quen gọi là Cha Piô Năm Dấu) gần 50 năm sống trong sự đau đớn và bị chống đối…

Những khuôn mặt ấy là bài học lớn, là vốn sống mạnh mẽ, là tấm gương tuyệt vời cho chúng ta, khi đáp trả lời mời gọi của Chúa sống hoàn hảo hai tiếng “Xin vâng” của bản thân mình.

Lịch sử ơn cứu độ và lịch sử Hội Thánh nhiều lần chứng minh hai tiếng “Xin vâng” luôn luôn gắn liền với thập giá và sự hiến mình.

Và khi tiếp bước Chúa Kitô để sống lời mời gọi: “…Ai không vác thập giá mình mà theo Thầy, thì không xứng với Thầy…”, chúng ta cũng đang khắc họa mình thành hình ảnh vị thánh thời đại, tiếp tục nối dài lịch sử của tầng tầng lớp lớp người sống "Xin vâng" để hiến mình vì tình yêu thập giá.

Đức Phanxicô, ngay sau ngày được bầu chọn giáo hoàng, đã nói: "Khi chúng ta bước đi mà không có thánh giá, khi chúng ta xây dựng Hội Thánh mà không có thánh giá, khi chúng ta tuyên xưng Chúa Kitô mà không có thánh giá, thì chúng ta không phải là môn đệ của Chúa.

Cầu mong tất cả chúng ta có được sự can đảm bước đi cùng với thánh giá của Chúa Kitô, xây dựng trên máu Chúa Kitô đổ ra trên thánh giá, và tuyên xưng một vinh quang duy nhất là Chúa Kitô bị đóng đinh trên thánh giá".

Hãy luôn nhớ: Con đường thập giá mà Kitô hữu mang lấy là minh chứng cho thế giới và cho từng con người qua mọi thời đại biết rằng, chỉ có nơi thập giá, loài người mới tìm được sức mạnh, sự nâng đỡ, ủi an, ý nghĩa và cùng đích của đời mình mà thôi.

Bởi thập giá dù có khó chấp nhận đến đâu, một khi đã làm người, đã sống và đồng hành trong cuộc đời, không ai có thể vượt ra ngoài con đường thập giá. Chúng ta bước đi cùng Chúa Kitô trên con đường thập giá để khám phá niềm vui sống, mục đích sống và hạnh phúc trọn kiếp sống...

Hãy luôn ghi khắc: Trong lòng đời đầy biến động, mỗi con người có một con đường để đi về cùng đích. Đó là con đường mang tên Kitô...

Lm JB NGUYỄN MINH HÙNG

ĐỊA CHỈ TỐI ƯU

Các bạn trẻ ngày nay rất thích nghe diễn giảng về chủ đề thành công trong cuộc sống. Có một vài điểm chung trong các bài diễn thuyết của nhiều danh nhân, doanh nhân thành đạt mà có thể kể ra hai điểm chung thường thấy trình bày đó là để đạt thành công trong cuộc sống thì cần phải có “hoài bão” (ambition) và biết cách “đầu tư” (investing). Sống mà không có hoài bão tức là không có mục đích, lý tưởng cụ thể thì hầu chắc không thể thành công. Người có hoài bão mà không biết đầu tư công sức, thời giờ và cả vật chất cho mục tiêu lý tưởng muốn đạt thì cũng chỉ là người mộng mơ viễn vông.

Phụng vụ Lời Chúa Giáo hội dọn cho đoàn tín hữu trong Chúa Nhật XIII TN A có thể nói tập trung vào chủ đề “đầu tư đúng địa chỉ tối ưu” để được hạnh phúc viên mãn, để được sống đời đời. Đầu tư là hành vi bỏ ra, tiêu phí một khoản nào đó và rồi sau đó mong sẽ thu lại một khoản nhiều hơn phần đã bỏ ra. Dĩ nhiên đã và đang có đó nhiều người đầu tư cách thiếu khôn ngoan, lầm lạc và hậu quả là phần thu lại ít hơn phần đã bỏ ra và có khi là chẳng thu lại được gì, kiểu “dã tràng xe cát”. Một trong những lý do gây ra các hậu quả trên đó là vì họ đã đầu tư không đúng địa chỉ.

Bài đọc thứ nhất trích Sách các vua quyển thứ hai tường thuật câu chuyện một cặp vợ chồng cao niên ở miền Sunam đã biết khôn ngoan đầu tư đúng địa chỉ. Hai vợ chồng đã đón tiếp ngôn sứ Êlisêu và dâng cho Ngài căn phòng khá đủ tiện nghi trên lầu. Hiệu quả của sự đầu tư của hai vợ chồng như nhãn tiền với lời khẳng định của vị ngôn sứ: “Năm tới cũng vào thời kỳ này, bà sẽ bồng một bé trai” (2V 4,16a). Trong cảnh già nua mà vẫn son sẻ thì quả là một điều bất hạnh và là một nỗi nhục trước mặt người đời. Dâng trao cho vị ngôn sứ chỉ một căn phòng vật chất và rồi lại được một người con nối dõi tông đường thì quả là thu một món lời khôn kể xiết. Ngoài ra căn phòng ấy cũng không mất đâu cả vì hầu chắc vị ngôn sứ sẽ không ở lại đó mãi mãi. Đầu tư đúng địa chỉ quả là một hành vi khôn ngoan.

Bài Tin mừng tường thuật những lời của Chúa Giêsu thoặt xem ra có vẻ nghịch thường. Một vị tôn sư lại thẳng thừng kêu gọi người ta phải yêu mến mình hơn cả mẹ cha. Người lại còn mạnh mẽ khẳng định rằng kẻ nào cố tìm mạng sống mình thì sẽ mất, và kẻ nào đành mất mạng sống mình vì Người, thì sẽ tìm lại được mạng sống (x.Mt 10,37-39).

Một lý chứng duy nhất biện minh cho người có những lời lẽ xem ra nghịch thường và cả sống sượng như thế, đó là vì người ấy chính là Thiên Chúa, là Đấng dựng nên các bậc sinh thành của chúng ta, là Đấng cho chúng ta từ hư vô làm người trên cõi dương trần này. Những ai tin nhận Giêsu Kitô là Thiên Chúa thật thì mới có thể đón nhận và sống theo những lời ấy.

Đã tin Giêsu Kitô là Thiên Chúa thật, là Đấng mà nhờ Người mọi vật mọi loài được dựng nên (x.Col 1,15-20), thì việc chọn yêu mến Người hơn cả mẹ cha, việc sẵn sàng hiến dâng mạng sống vì Người chính là việc đầu tư khôn ngoan nhất vì đã đầu tư đúng địa chỉ tối ưu nhất. Chắc chắn một khi đã đầu tư đúng địa chỉ tối ưu thì phần sẽ thu lại là gấp trăm gấp ngàn lần phần đã bỏ ra. Chính Chúa Giêsu cũng đã từng minh định rõ sự thật này với các môn đệ. Khi Phêrô lên tiếng thưa: “Thầy coi, phần chúng con, chúng con đã bỏ mọi sự mà theo Thầy” thì Chúa Giêsu đã nói: “Thầy bảo thật anh em: Chẳng hề có ai bỏ nhà cửa, anh em, chị em, mẹ cha, con cái hay ruộng đất, vì Thầy và vì Tin Mừng, mà ngay bây giờ, ở đời này, lại không nhận được nhà cửa, anh em, chị em, mẹ cha, con cái, ruộng đất gấp trăm lần, cùng với sự ngược đãi và sự sống vĩnh cữu ở đời sau” (Mc 10,28-30).

Cần lưu ý là trong lời khẳng định của Chúa Giêsu có đó sự ngược đãi. Đây là một hiện thực và cũng là một chướng ngại phải vượt qua. Bất cứ sự đầu tư nào cũng có đó phần khó khăn vì kết quả luôn ở thì tương lai. Để mong thành công trong những thiện hảo đời này thì người đầu tư dĩ nhiên cần một chút liều lĩnh nào đó, nói đúng hơn là sự can đảm và kiên trì vượt khó. “Đường đến thành công không hề có bóng chân của người ngại khó, sợ khổ” (Franklin). Để được thành nhân và nhất là được hạnh phúc vĩnh cửu thì khi khôn ngoan đầu tư mọi sự vào Đấng Cứu Độ thì vẫn có đó chướng ngại phải can đảm vượt qua. Đó là mầu nhiệm thập giá mà Chúa Kitô đã nói rõ ràng: “Ai muốn theo Tôi, phải từ bỏ chính mình, vác thập giá mình hằng ngày mà theo” (Lc 9,23).

Lm. Giuse Nguyễn Văn Nghĩa – Ban Mê Thuột

KHÔNG AI QUÁ NHƠ NHỚP

Thứ Sáu Tuần 12 Thường Niên A

“Tôi muốn, anh sạch đi!”.

“Tôi đã tuyệt vọng vì vết thương phải chết của mình, nếu tôi không gặp được một Vị Lương Y nhân từ đến thế!” - Augustinô.

Kính thưa Anh Chị em,

“Tôi muốn!”. Câu trả lời của Chúa Giêsu dành cho người phong hôm nay làm tan biến mọi tuyệt vọng. Vết thương có thể rất sâu, tội lỗi có thể rất nặng; nhưng trước một Vị Lương Y nhân từ và quyền năng đến thế, ‘không ai quá nhơ nhớp’, cũng không có vết thương nào Ngài không thể chữa lành.

Người phong không đưa ra bất cứ yêu sách nào. Anh chỉ nói: “Nếu Ngài muốn!”. Nguyên ngữ Hy Lạp dùng động từ thelō - “muốn, ưng thuận”. Điều anh tìm kiếm không phải trước hết là một phép lạ, nhưng là sự ưng thuận, hay đúng hơn, là cái nhìn đoái nhận của Chúa Giêsu trên đời mình. Và chính khi một con người dám phó thác tất cả trong sự đoái nhận ấy, câu trả lời vang lên: “Tôi muốn!”. Phép lạ thường bắt đầu khi con người thôi quyết định thay Thiên Chúa và dám trao quyền định đoạt mọi sự cho Ngài.

Bi kịch của người phong không chỉ là những vỡ vụn và hôi hám, nhưng là anh đã quen nghĩ mình không còn đáng được ai muốn, ai đón nhận, ai đến gần. Vì thế, phép lạ đầu tiên không phải là lành sạch, nhưng là một con người tưởng mình không còn đáng được nghe: “Tôi muốn!”, nay được nghe chính lời ấy. Hoá ra, điều nhơ nhớp không phải là những vết thương hay tội lỗi, nhưng là khi chúng ta tuyệt vọng đến mức không còn tin mình có thể được yêu và được tha. ‘Không ai quá nhơ nhớp’ trước Thiên Chúa; chỉ có những con người quá ngã lòng. “Lòng thương xót Chúa luôn lớn hơn tội lỗi của chúng ta!” - Phanxicô.

Israel cũng đã đi qua kinh nghiệm lưu đày nội tâm ấy. Giêrusalem thất thủ, Đền Thờ sụp đổ, vua tôi lưu đày. Mọi điều từng bảo đảm cho họ rằng Thiên Chúa đang ở cùng mình dường như đều bị lấy mất. Đó là khoảnh khắc cả một dân tộc có lý do để nghĩ rằng Thiên Chúa đã lãng quên họ - bài đọc một. Thế nhưng, giữa những hoang tàn ấy, Thánh Vịnh đáp ca vẫn cất lên: “Giêrusalem hỡi, lòng này nếu quên ngươi, lưỡi xướng ca sẽ dính với hàm!”. Chính trong nỗi tuyệt vọng, một điều vẫn còn nguyên: Thiên Chúa có thể bị cảm thấy như vắng mặt, nhưng Ngài chưa bao giờ bị xoá khỏi ký ức của dân Ngài.

Anh Chị em,

Người phong cùi hôm nay là hình ảnh của cả một nhân loại hủi cùi, mang những vết thương vô vọng, tội lỗi và sự cùng khốn. Đức Kitô là Vị Lương Y nhân từ và quyền năng, nhưng cũng là Vị Lương Y đã mang lấy chính những vết thương ấy - theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, Ngài đã nên gần gũi với sự uế tạp của con người đến nỗi ‘không ai quá nhơ nhớp’ để không được yêu, không ai chìm sâu trong thất vọng để không được tha và được cứu. Nói cách khác, trong Chúa Kitô, không ai ở ngoài tình yêu xót thương của Thiên Chúa, cũng không ai ở ngoài tầm với của ơn cứu độ. “Cử chỉ và lời nói ấy của Chúa Kitô chứa đựng toàn bộ lịch sử cứu rỗi!” - Bênêđictô XVI.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi con thất vọng, cho con nhớ mình vẫn được yêu; khi con lở loét, cho con dám chạy tìm Ngài; và khi con không còn thấy lối ra, cho con nghe lại lời: ‘Tôi muốn!’”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

ĐẶT CHÚA LÊN TRÊN HẾT

Một người cha hỏi cậu con trai nhỏ: ‘Nếu một ngày nào đó con phải chọn giữa cha và Thiên Chúa, con sẽ chọn ai?” Cậu bé im lặng rất lâu rồi đáp: “Con sẽ chọn Chúa” vì Chúa Giêsu có nói: “Ai yêu cha mẹ hơn Thầy thì không xứng đáng với Thầy” (Mt 10,37). Thoạt nghe, lời Chúa Giêsu có vẻ thật nghịch lý! Chẳng phải chính Chúa dạy phải hiếu kính cha mẹ và yêu thương gia đình sao? Vậy Ngài muốn nói gì khi mời gọi chúng ta đặt Ngài trên mọi tình yêu khác? Người cha hiểu Lời Chúa Giêsu, ông mỉm cười, ôm con vào lòng và nói: “Cha rất vui vì điều đó. Bởi nếu con yêu Chúa và chọn Chúa làm chuẩn mực tình yêu, thì con cũng sẽ biết yêu cha và mọi người đúng cách hơn.”

  1. Yêu Chúa trên hết mọi sự

Thực ra, Chúa Giêsu không hề bảo chúng ta yêu cha mẹ ít đi hay xem nhẹ tình nghĩa gia đình. Điều Ngài muốn dạy là mọi tình yêu chỉ có thể bền vững khi được đặt đúng trật tự. Thiên Chúa phải là Đấng được yêu mến trên hết, vì chính Ngài là nguồn mạch của mọi tình yêu.

Thánh Augustinô đã diễn tả chân lý ấy qua tư tưởng nổi tiếng “Trật tự của tình yêu -  Ordo amoris.” Theo ngài, tội lỗi không phải trước hết là không biết yêu, nhưng là yêu sai thứ tự. Khi con người đặt một thụ tạo lên trên Thiên Chúa, thì ngay cả điều tốt đẹp nhất cũng có thể trở thành ngẫu tượng: “Vẻ đẹp, quả thật là công trình của Chúa, nhưng chỉ là một thứ tốt đẹp tạm thời, xác thịt và thấp kém hơn, không thể được yêu mến một cách thích đáng hơn là Thiên Chúa, là Đấng tốt lành vĩnh cửu, linh thiêng và bất biến. Khi kẻ keo kiệt coi trọng vàng bạc hơn công lý, đó không phải lỗi của vàng, mà là lỗi của con người; và đối với mọi thụ tạo cũng vậy. Bởi vì dù tốt đẹp, thụ tạo vẫn có thể được yêu thương bằng cả tình yêu xấu xa lẫn tình yêu tốt lành: thụ tạo được yêu thương cách đúng đắn khi được yêu thương một cách có trật tự; thụ tạo được yêu thương cách xấu xa, khi được yêu thương một cách không có trật tự.” * Điều ấy vẫn xảy ra trong cuộc sống hôm nay. Có người vì quá yêu tiền bạc mà đánh mất lương tâm; có người quá say mê danh vọng nên quên mất gia đình; cũng có người yêu con cái đến mức biến tình yêu thành sự chiếm hữu. Trái lại, khi Thiên Chúa ở vị trí thứ nhất, mọi tình yêu khác đều trở nên trong sáng và đúng hướng.

Đức Bênêđíctô XVI viết trong thông điệp Deus Caritas Est: “Tình yêu đối với tha nhân là khả thi theo ý nghĩa được chính Thánh Kinh xác định và do Chúa Giêsu công bố. Tình yêu đó cốt tại chính điều này là, trong Thiên Chúa và cùng với Thiên Chúa, tôi yêu người thân cận, cả khi tôi không thích hoặc không biết người đó. Điều này chỉ trở nên có thể khi bắt nguồn từ cuộc gặp gỡ thâm sâu với Thiên Chúa, một sự gặp gỡ trở thành hiệp thông ý muốn và thấm nhập vào trong tình cảm. Bấy giờ tôi học cách nhìn người khác không phải chi bằng con mắt và tình cảm của riêng tôi, nhưng bằng cách nhìn của Chúa Giêsu Kitô” (Deus Caritas Est, số 16). Càng yêu Chúa, con người càng biết yêu người khác cách chân thành hơn: hiếu thảo với cha mẹ, chung thủy với người bạn đời và yêu con như món quà Thiên Chúa trao phó.

Chân lý ấy được minh họa rất đẹp trong bài đọc thứ nhất. Người phụ nữ ở Sunêm nhận ra ngôn sứ Êlisê là “một thánh nhân của Thiên Chúa” (2 V 4,9), nên cùng chồng chuẩn bị cho ông một căn phòng nhỏ với chiếc giường, cái bàn, cái ghế và cây đèn. Món quà ấy không lớn lao về vật chất, nhưng quý ở tấm lòng biết dành chỗ cho Thiên Chúa. Chính lòng quảng đại ấy đã mở đường cho phép lạ: sau bao năm son sẻ, bà được bồng đứa con hằng mong ước. Điều đó nhắc chúng ta rằng, khi con người đặt Thiên Chúa lên trên hết, Thiên Chúa không bao giờ không đáp lại lòng quảng đại ấy.

Chúa Giêsu sau này cũng khẳng định: “Ai đón tiếp các con là đón tiếp Thầy; ai đón tiếp Thầy là đón tiếp Đấng đã sai Thầy” (Mt 10,40). Yêu Chúa không chỉ được thể hiện qua lời cầu nguyện hay trong nhà thờ, mà còn bằng cách chúng ta đón tiếp, phục vụ và yêu thương những con người Chúa gửi đến trong cuộc đời mình.

Một phóng viên từng thấy Mẹ Têrêsa Calcutta chăm sóc một người hấp hối đầy thương tích trong khu ổ chuột. Ông nói: “Dù được một triệu đô la, tôi cũng không làm nổi việc này.” Mẹ mỉm cười đáp: “Tôi cũng không làm vì một triệu đô la. Tôi làm vì tình yêu dành cho Chúa Kitô.” Đó chính là điều Chúa Giêsu muốn dạy: tình yêu đối với Chúa được thể hiện qua những chọn lựa cụ thể mỗi ngày như sống trung thực, biết tha thứ và trung thành với lương tâm.

Yêu Chúa trên hết không phải là xa lánh cuộc đời, nhưng là đặt Ngài ở trung tâm mọi quyết định. Khi Thiên Chúa giữ vị trí thứ nhất trong trái tim, chúng ta mới biết yêu người khác đúng cách và tìm được bình an đích thực.

  1. Muốn giữ mạng sống thì sẽ mất

Sau khi mời gọi các môn đệ đặt Thiên Chúa lên trên mọi tình yêu, Chúa Giêsu tiếp tục nói một điều còn nghịch lý hơn: “Ai cố tìm mạng sống mình thì sẽ mất; còn ai đành mất mạng sống mình vì Thầy thì sẽ tìm lại được nó” (Mt 10,39).

Đây là một trong những nghịch lý lớn nhất của Tin Mừng. Theo lẽ thường, ai cũng muốn giữ lấy quyền lợi, danh dự và những gì mình đang có. Thế nhưng Chúa Giêsu lại khẳng định: càng giữ cho riêng mình, con người càng đánh mất; còn dám trao đi vì Chúa và tha nhân thì lại tìm được sự sống đích thực.

Dĩ nhiên, Chúa không mời gọi chúng ta coi thường sự sống hay tìm kiếm đau khổ. Điều Ngài muốn nói là: nếu chỉ sống cho bản thân, cuộc đời sẽ dần trở nên nghèo nàn; còn khi biết trao ban, con người mới khám phá được ý nghĩa thật của đời mình.

Thánh Phaolô giúp chúng ta hiểu rõ hơn: “Chúng ta đã cùng chịu mai táng với Chúa Kitô nhờ phép rửa... để như Chúa Kitô đã sống lại từ cõi chết, thì cả chúng ta cũng phải sống đời sống mới như thế” (Rm 6,4).

Phép Rửa không chỉ là một nghi thức gia nhập Hội Thánh, nhưng là một cuộc vượt qua. Người tín hữu được dìm vào cái chết của Chúa Kitô để cùng Ngài bước vào sự sống mới. Vì thế, mỗi ngày chúng ta được mời gọi chết đi cho tính ích kỷ, kiêu ngạo và những đam mê kéo mình xa Chúa, để Chúa Kitô lớn lên trong tâm hồn mình.

Chính Chúa Giêsu đã dùng hình ảnh hạt lúa để diễn tả chân lý ấy: “Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác” (Ga 12,24).

Chân phước Franz Jägerstätter là một nông dân Áo, chồng và cha ba con. Khi chế độ Quốc xã buộc phải tuyên thệ trung thành với Hitler và tham gia quân đội, ông đã từ chối vì lương tâm Kitô hữu không cho phép cộng tác với sự dữ. Dù biết lựa chọn ấy có thể khiến mình mất tự do, gia đình và cả mạng sống, ông vẫn kiên quyết trung thành với Đức Kitô. Năm 1943, Franz bị xử chém. Bề ngoài, ông như đã mất tất cả, nhưng đời sống trung thành của ông trở thành chứng tá mạnh mẽ cho nhiều thế hệ Kitô hữu. Năm 2007, Hội Thánh tuyên phong ông lên bậc Chân phước, khẳng định rằng ai trung thành với Chúa thì không mất gì, nhưng tìm được sự sống đích thực nơi Ngài.

Có lẽ chúng ta không được mời gọi hy sinh đến mức ấy, nhưng mỗi ngày vẫn có những “hy sinh nhỏ”: một người mẹ thức khuya chăm con, một người cha âm thầm lao động, một người con biết bỏ qua tự ái để làm hòa, hay một người dám sống trung thực dù thiệt thòi. Đức Giáo Hoàng Lêô XIV nói: “Ơn bình an của Chúa đến qua quyền năng trở thành con cái của Thiên Chúa, và được đánh thức khi chúng ta để cho mình xúc động trước những giọt nước mắt của những đứa trẻ, sự yếu đuối của người già, sự im lặng của các nạn nhân và cuộc đấu tranh của những người chống lại điều ác mà họ không muốn phạm phải” (Thông điệp Magnifica Humanitas, số 231). Thật vậy, hạnh phúc không nằm ở việc giữ cho nhiều, nhưng ở việc biết cho đi. Và đời sống ấy bắt đầu từ những chọn lựa rất nhỏ mỗi ngày: mỗi lần biết bớt ích kỷ, là một lần sự sống của Chúa lớn lên trong ta.

  1. Một chén nước lã cũng không mất phần thưởng

Sau khi mời gọi các môn đệ yêu Chúa trên hết và dám hy sinh” mạng sống vì Tin Mừng, Chúa Giêsu kết thúc bài huấn dụ bằng một hình ảnh thật giản dị: “Ai cho một trong những người bé mọn này uống chỉ một chén nước lã thôi, vì người ấy là môn đệ của Thầy, thì quả thật, người đó sẽ không mất phần thưởng đâu (Mt 10,42).

Một chén nước lã xem ra rất nhỏ bé, nhưng Chúa Giêsu muốn dạy rằng Thiên Chúa không đo giá trị bằng quy mô hay thành quả, mà bằng tình yêu. Một lời động viên, một nụ cười, một lời cầu nguyện âm thầm hay một cử chỉ cảm thông đều có thể trở nên món quà quý giá trước mặt Chúa. Ngài không bỏ sót bất cứ việc lành nào được thực hiện vì yêu thương. Ai cũng có thể trao đi một “chén nước lã”: một giáo lý viên kiên nhẫn với các em nhỏ, một người con thăm cha mẹ già, một lời hỏi thăm người bệnh hay một bữa cơm chia sẻ với người thiếu thốn. Sau trận động đất và sóng thần ở Nhật Bản năm 2011, một cụ bà đã bẻ đôi chiếc bánh quy cuối cùng để chia cho một em bé bên cạnh. Hành động nhỏ bé ấy đã trở thành dấu chỉ của lòng nhân ái giữa đau thương.

Có lẽ trong Nước Trời, chúng ta sẽ ngạc nhiên khi thấy Thiên Chúa trân trọng những hy sinh âm thầm hơn cả những thành tựu lớn lao. Một người mẹ tận tụy, một người cha hy sinh hay một cử chỉ yêu thương kín đáo đều không bị lãng quên. Nước Thiên Chúa được xây nên từ những “chén nước lã” được trao đi mỗi ngày bằng một trái tim yêu thương. Khi ấy, từng việc làm nhỏ bé cũng trở thành của lễ đẹp lòng Thiên Chúa, như Ngài mong muốn: “Tốt lắm, hỡi đầy tớ tài giỏi và trung thành...” (Mt 25,21).

Phêrô Phạm Văn Trung

* https://www.newadvent.org/fathers/120115.htm, The City of God, Book XV, chapter 22.

Suy nghĩ về Chúa Quan Phòng

Đề tài “sợ” nổi rõ trong suốt bài Tin Mừng hôm nay. Sách các bài giảng thường khai thác đề tài này khá kỹ : “Sợ gì và không sợ gì”;  “sợ ai và cóc sợ ai” v.v…

Tôi sẽ không theo hướng phân tích nỗi sợ, mà chọn 1 câu nhỏ Chúa nói, hai con chim sẻ không phải chỉ đáng 1 hào sao ? để khai thác đề tài về Chúa Quan Phòng : đẩy sợ ra ngoài bằng cách tin vào Chúa Quan Phòng.

Chắc các chị dòng Chúa Quan Phòng gần đây (157 Hai Bà Trưng, Saigon) nói về CQP là danh hiệu và cùng đích của Dòng họ, hẳn là hay ho hơn chúng ta. Nhưng nào mời được mấy chị, mà mời được, họ cũng không dám nói trong thánh lễ, vì luật phụng vụ không cho họ giảng. Thôi cứ để tôi nói.

 

Kính thưa anh chị em,

Nhiều người giáo dân, nhất là miền quê, nghèo đôi chút, chứ không phải cường hào ác bá, có một thái độ rất đặc biệt, đáng khen: gặp chuyện vui hay chuyện buồn, họ cũng đều nói “Đó là ý Chúa” ; thành công hay thất bại, họ cũng nói “đó là ý Chúa” ; trước mọi khó khăn, nguy hiểm, họ nói “Để Chúa lo.”  Phải chăng thái độ đó là quá ngây thơ: đành rằng có Chúa đó, nhưng bản thân mình cũng phải xoay xở chứ! “Hãy tự giúp mình trước, rồi Chúa sẽ giúp thêm” !

Nhưng suy cho cùng, thái độ tin tưởng phó thác vào Chúa quan phòng có những cơ sở rất vững vàng:

– Người phó thác vào Chúa quan phòng tin rằng Chúa luôn hiện diện bên cạnh con người trong mọi tình huống. Tin như thế là rất đúng, vì Thánh Kinh hằng lặp đi lặp lại biết bao lần chân lý ấy: “Ta hằng ở với con”, “Thầy sẽ ở với chúng con mọi ngày cho đến tận thế,”  “Chúa ở cùng anh chị em”.

– Người phó thác vào Chúa cũng tin rằng Chúa có kế hoạch của Ngài và không điều gì xảy ra ngoài kế hoạch của Thiên Chúa. Tin như thế cũng rất đúng: “Không con chim sẻ nào rơi xuống đất mà Cha các con không biết đến. Phần các con, tóc trên đầu các con đã được đếm cả rồi”. (bài Tin Mừng hôm nay)

– Người phó thác vào Chúa còn xác tín rằng Thiên Chúa là Cha và mình là con. Một người Cha toàn năng và hết sức yêu thương con như Thiên Chúa thì chắc chắn biết cách an bài cho con cái mình những điều tốt nhất: “Cha chúng con trên trời thừa biết chúng con cần gì”

 

Tình huống chứng minh Chúa quan phòng

Ta thử xem hai chàng Mehu và Giakin, ta sẽ bắt chước chàng nào.

Mê-hu và Gia-kin, hai người Do Thái, cùng nhau lên đường tới một phương xa. Họ dùng một con lừa để chở hành lý. Ðể cho con lừa có bạn, họ mang theo một chú gà cồ. Mê-hu là một tín hữu rất đạo đức, có lòng tin vào Chúa quan phòng. Nhưng Gia-kin lại là người rất cứng lòng tin. Vừa lên đường được ít phút, Gia-kin cứng tin đã cảnh cáo Mê-hu:

– Rồi đây anh sẽ thấy anh có còn tin Chúa, tin đến độ nào.

Khi mặt trời gần lặn, hai người đến một ngôi làng nhỏ. Họ gõ cửa hết nhà này sang nhà khác nhưng không ai cho họ trú ngụ qua đêm. Họ đành phải tìm đến một ven rừng. Bấy giờ Gia-kin mới thốt lên:

– Như thế này thì liệu Chúa của anh có tốt không?

Vốn luôn tin tưởng vào Chúa quan phòng Mê-hu bình tĩnh đáp:

– Ðây là chỗ tốt nhất mà Chúa đã dành cho chúng ta để qua đêm nay.

Ðêm đó, họ nằm ngủ dưới gốc một cây lớn. Họ cột chú lừa vào một thân cây bên cạnh. Chưa kịp đốt đuốc lên thì họ nghe một tiếng động mạnh từ xa vang tới. Thì ra, chỉ chớp mắt, một con sư tử đã bổ tới cắn xé chú lừa và lôi đi. Hai người vội leo lên cây để tránh nạn.

Vừa tức giận vừa mỉa mai, Gia-kin hỏi bạn:

– Nào, Chúa của anh còn tốt nữa không?

Mê-hu bình thản trả lời:

– Nếu con sư tử không gặp con lừa trước thì chắc chắn nó đã bổ nhào trên chúng ta rồi. Vì Chúa là đấng tốt lành.

Vài phút sau, con gà cồ bỗng kêu thất thanh. Hai người trèo lên cao hơn. Dưới ánh đuốc họ nhận ra con gà đang nằm trong nanh vuốt của một chú mèo rừng (beo). Gia-kin chưa kịp thốt ra lời cay đắng nào thì Mê-hu đã xác định:

– Tiếng kêu của con gà đã một lần nữa giúp chúng ta thoát nguy hiểm. Cảm tạ Chúa là đấng tốt lành.

Liền lúc ấy một cơn gió mạnh làm tắt phụt ngọn đuốc. Thế là hai người chìm trong tối tăm rùng rợn. Gia-kin bực bội nói:

– Xem chừng Chúa của anh làm việc phụ trội (overtime) trong đêm nay.

Lần này thì Mê-hu chỉ biết lặng thinh.

Sáng hôm sau, hai người vào làng mua thức ăn, mới hay đêm hôm ấy một bọn cướp đã tấn công làng và vơ vét hết tài sản của dân. Lúc ấy Mê-hu mới giải thích cho Gia-kin:

– Giả như đêm qua chúng ta có nơi trú ngụ trong làng hẳn là đã không thoát khỏi tay bọn cướp. Và nếu gió không thổi thắt ngọn đuốc thì hẳn bọn cướp đã thấy chúng ta. Bạn tin chưa? Trong tất cả mọi sự Thiên Chúa là đấng tốt lành.

 

Bệnh tật cũng minh chứng CQP

Ngay cả khi bản thân mình mang bệnh tật, cũng là một minh chứng Chúa Quan Phòng.

Năm 1953, nhiều nhật báo ở Mỹ đăng tin: ngày 14.1.1953, tại Kansas, bác sĩ loan tin cho LM Julius Bussi đang nằm điều trị tại nhà thương rằng: “Cha sẽ phải chết dần chết mòn vì bệnh ung thư”.

Là một người luôn có tinh thần siêu nhiên, hết lòng tin tưởng vào Chúa quan phòng, Ngài mỉm cười đáp: “Đó là đặc ân, đó là thánh ý Chúa muốn. Nhờ bệnh ung thư, tôi có đủ thời gian để dọn mình chết lành hơn là bị các bệnh hoạn (tai biến, đột quị) tai nạn khác bất ngờ xảy đến, không chuẩn bị kịp”.

 

Thiên nhiên minh chứng CQP

Một hôm có chàng thanh niên vào rừng đốn củi. Đến trưa nhọc mệt, anh nằm nghỉ dưới gốc cây đa cổ thụ, nhìn lên thấy cành lá rườm rà, song quả đa nhỏ xíu ?

“Tôi mà là ông trời, tôi cho nó mang trái lớn như trái bí và lá to như lá chuối; như thế mới cân xứng. Đang khi thân bí yếu ớt mà phải mang trái lớn, cây chuối không cứng rắn mà phải mang lá to như tấm phản. Quả Đức Chúa Trời thiếu khôn ngoan. Hay là không có Đức Chúa Trời, mọi vật do ngẫu nhiên mà có.”

Miên man nghĩ như vậy anh thiếp ngủ lúc nào không hay. Đang giấc ngủ say, một cơn gió lớn thổi mạnh làm rớt xuống giữa sống mũi anh quả đa (trái sung). Anh giật mình thức giấc, vừa suýt soa vừa nghĩ: “May quá, phải trái đa lớn như trái bí thì kể như bữa nay ta tận số rồi.

Thế ra Đức Chúa Trời khôn thật. Ngài xếp đặt cả rồi đấy chứ ! hèn chi người ta nói: trái dừa rớt bao giờ cũng tránh người, sầu riêng rơi thường rụng trong đêm”

Tình huống minh chứng CQP, thiên nhiên minh chứng CQP và cả khi bệnh tật cũng minh chứng CQP. Vậy kết luận, hãy tin CQP ắt sẽ không sợ chi, chẳng sợ ai.

Tóm lại, hãy tin Chúa Quan Phòng (*)

Anphong Nguyễn Công Minh, ofm

_____________________________________________

 

(*) Ta hãy lắng nghe một lá thư viết hơn 1 thế kỉ rồi, của một người, sau này làm chức vị cực cao trong GH, nhưng lại được cả thế giới yêu mến, và mới được phong thánh :

Đại chủng viện Roma 16.1.1901

Trọng kính thăm ba má, bác Hai, cậu và anh chị.

Khi thư này đến nhà, chắc cả nhà đang sốt sắng dự Tuần Đại phúc mở tại họ đạo, và con mong rằng tất cả đã sốt sắng lo việc phần hồn, xây dựng hạnh phúc vĩnh cửu.

Con không cầu cho gia đình được giàu sang, chỉ xin cho mọi người trở nên Kitô hữu tốt, sống nghèo khó, bình an phó thác trong tay Chúa quan phòng.

Con lấy làm vinh dự sống trong cảnh nghèo của gia đình mình, không bánh mì, chỉ ăn cháo, không bao giờ biết đến thịt, có chăng là đôi ba dịp trong năm. Lễ Giáng sinh thì được thẻo bánh, mà tự làm. Tuy nhiên dù gần 20 đứa lớn bé đang chờ chực bát cháo, nhưng nếu có người đến ăn xin, má vẫn mời họ ngồi vào bàn chia bữa ăn chúng con cho họ.

Xin ba má tha cho những kẻ đã và đang làm hại gia đình mình. Biết đâu trước mặt Chúa họ tốt hơn mình.

Chúa muốn con làm linh mục không vì giầu sang. Nếu thế thì thật là khốn nạn. Con sẽ làm linh mục để phục vụ người nghèo…

Con Angelo

Đó là bức thư thầy Angelo Roncalli (sau là giáo hoàng Gioan XXIII) gửi thăm Ba Má. 

 

Subcategories