3. Sống & Chia Sẻ Lời Chúa

Quảng cáo hấp dẫn quá

Người Việt mình có câu “thấy vậy mà không phải vậy”. Đây là câu nói nhằm cảnh giác chúng ta trước một sự kiện đừng đánh giá, nhận xét vội vàng. Hãy kiểm chứng kẻo thiệt thân. Nhất là trên phương diện quảng cáo. Người ta quảng cáo một cách tùy tiện và vô tội vạ. Bạ đâu cũng quảng cáo. Hoàn cảnh nào cũng quảng cáo. Kể cả lợi dụng bia mộ để quảng cáo.

Chuyện kể rằng : Ông bố của một người thợ đục đá ốm nặng. Trước khi qua đời, ông dặn người con khắc một tấm bia cắm trên mộ. Người con sau đó mang hết tâm huyết khắc một tấm bia thật đẹp với dòng chữ: “Mộ cụ Phạm X. cha của thợ đá Phạm Y. Chuyên khắc bia mộ, đục cối đá, cối xay bột. Bảo đảm. Giá rẻ”.

Có rất nhiều người “há miệng mắc quai”, hay ngậm bồ hòn bởi tin vào quảng cáo. Vì quảng cáo thường nói thêm mắm thêm muối, quảng cáo thường tìm cách thuyết phục người tiêu dùng bằng mọi cách. Thế nên, nhiều khi tin vào quảng cáo mà “tiền mất tật mang” hay ân hận suốt đời.

Một nhà kinh doanh kia chẳng may chết trong một tai nạn ôtô. Ông ta đến cửa thiên đàng và gặp Thánh Phê-rô ở đó:

- Thánh Phê-rô nói: Để ta cho ngươi xem cái này. Ngươi sẽ chọn được nơi ở thích hợp với mình.

- Thánh Phê-rô dẫn ông ta đến một bãi cỏ lớn. Ở đó, hàng trăm thiên thần thổi sáo véo von và hàng nghìn người tha thẩn đi qua đi lại, chốc chốc họ lại ngáp ngắn ngáp dài.

- Thánh Phê-rô giải thích: Đó là thiên đường. Còn bây giờ ta sẽ cho ngươi xem địa ngục.

- Họ đến một cuộc hội hè lớn, náo nhiệt, điên loạn. Tất cả đều nhảy nhót và sự hoan hỉ hiện rõ trên khuôn mặt từng người.

- Đó là địa ngục! Ngươi chọn nơi nào?

- Ngài hỏi gì mà ngốc nghếch thế! Tất nhiên là tôi chọn địa ngục rồi.

- Liền đó, hai con quỷ dữ tợn lôi kẻ mới đến về phía vạc dầu sôi sùng sục.

- Ấy ấy! nhà kinh doanh kêu thất thanh - Thánh lừa tôi! Địa ngục không phải như tôi vừa trông thấy lúc nãy!

- Thánh Phê-rô vừa nói vừa bỏ đi: Ồ! Cảnh ta cho ngươi xem lúc nãy là quảng cáo ấy mà!

Có thể nói ngày nay ra đường là gặp quảng cáo, mở mắt ra là gặp tiếp thị. Dường như quảng cáo, tiếp thị được tận dụng trong mọi môi trường, trong mọi thời cơ. Quảng cáo và tiếp thị luôn tạo ra niềm tin rằng cứ mua mấy thứ sản phẩm đó là thế nào cũng ngon lành hạnh phúc. Trong quảng cáo, ai cầm lon nước Coca uống cũng vui vẻ yêu đời quá sức; ai dùng loại xà bông gội đầu đó thì tóc cũng óng mượt bay bay như mây trời.

Đây là lý do khiến chúng ta thường mua những thứ dư thừa. Thấy quảng cáo hay là hoa mắt, là mua liền mà chẳng cần suy tính có cần thiết để mua hay không?

Trên phương diện luân lý, ma quỷ hằng ngày vẫn tiếp thị cho chúng ta biết bao danh lợi thú. Nó khiến ta mê mệt. Tâm hồn chao đảo vì những thứ ấy thật quyến rũ. Nhưng có ở “trong chăn mới biết chăn có rận”. Có đi vào thực tế mới thấy sự thật phũ phàng. Có mấy ai công thành danh toại bởi cờ bạc hay chỉ là “bác thành bần” đến thân tàn ma dại, thế nhưng nhiều người đã hoa mắt vì tiền để rồi lao vào cuộc đỏ đen . . . Có mấy ai thỏa mãn trong những thú vui trần tục hay chỉ cảm thấy mệt mỏi, chán chường sau những lần vụng trộm và trụy lạc, thế nhưng nhiều người vẫn bị mê hoặc bởi ái tình lăng nhăng.

Người phụ nữ trong bài Tin mừng hôm nay, bà đã lao vào vòng xoáy của đam mê nhục dục. Bà tìm thỏa mãn xác thịt với 5 người đàn ông không phải chồng mình. Nhưng xem ra bà đã bị ma quỷ phỉnh lừa. Thú vui xác thịt không làm cho bà thỏa mãn. Cơn khát của đam mê không bao giờ cho bà hạnh phúc. Lòng bà vẫn còn một điều gì đó băn khoăn. Tâm hồn bà vẫn xao động ngổn ngang trăm bề. Bà ngụp lặn trong đam mê xác thịt nhưng tâm hồn bà bị dày vò bởi một cơn khát vượt lên trên tính xác thịt ấy. Cơn khát của hạnh phúc vô biên. Cơn khát của chân thiện mỹ.

Chúa Giê-su đã cho bà thấy thực trạng đời bà là một bất hạnh. Điều con người cần là hạnh phúc. Nhưng hạnh phúc không có trong những đam mê trụy lạc. Hạnh phúc chỉ có khi ta làm chủ được những ham muốn xác thịt. Hạnh phúc thực sự là khi ta được tự do sống mà không phải làm nô lệ cho tính xác thịt lôi kéo đi nghịch lại với luân thường đạo lý.

Con người luôn có những khát khao lôi kéo. Khát khao về tình, về tiền, về quyền. Cơn khát về danh lợi thú chẳng bao giờ mang lại thỏa mãn cho con người. Chỉ trong Thiên Chúa mới làm ta thỏa mãn những khát khao. Chỉ nơi Thiên Chúa mới lấp đầy chỗ trống trong tâm hồn chúng ta. Xin cho chúng ta biết khao khát tìm kiếm Nước Trường Sinh để chúng ta không còn khát mà luôn hạnh phúc an vui trong phận mình. Amen

Lm. Jos Tạ Duy Tuyền

Gặp Gỡ Đức Kitô Biến Đổi Cuộc Đời Mình

Suy niệm Chúa nhật III Mùa Chay – năm A

(Ga 4, 5 - 42)

Bước vào Chúa nhật III Mùa Chay, chúng ta nghe lại cuộc đối thoại nổi tiếng của Ðức Giêsu với người thiếu phụ Samaria, được tường thuật bởi Thánh Sử Gioan. Người thiếu phụ hằng ngày đi lấy nước từ một giếng nước cổ xưa, có từ thời của tổ phụ Giacóp. Và ngày hôm ấy, chị gặp Ðức Giêsu đang ngồi trên bờ giếng, mệt mỏi sau một chặng hành trình đường xa (x. Ga 4,5-42). Chúa Giêsu chính là Nước Hằng Sống, Người đến làm cho con người khỏi khát nước Thánh Thần.

Chúa Giêsu là Nước Hằng Sống

Vào những thế kỷ đầu của Kitô giáo, Các Giáo phụ đã sớm nhận ra nới « nước hằng sống » biểu tưởng của phép Rửa tội, mà Đức Kitô là chính Nguồn Nước ấy (9). Chúa Giêsu xin người đàn bà xứ Samaria nước uống, không phải lý do khát về thể lý cho bằng khát đức tin, khát sự sống đời đời, khát một linh hồn khô héo. Đấng Cứu Thế giả vờ khát nước đến xin người đàn bà nước để trao ban thứ nước ân sủng khỏi khát đời đời. Đó chính là nguồn nước mà Tin Mừng nói tới khi Người xin nước của người đàn bà xứ Samaria… Thực ra, nguồn nước ấy không bao giờ cạn, Đấng là Nước Hằng Sống không thể uống nước bị ô nhiễm ở vùng đất này. Câu hỏi được đặt ra :

Phải chăng Đức Kitô khát nước ?

Thưa, Người khát, nhưng không khát nước trên mặt đất này, hay khát thức uống của con người, mà khát các linh hồn, khát sự cứu chuộc nhân loại. Thánh Ephrem viết : “Khi khát nước, Chúa chúng ta đã ngó đầu vào miệng giếng; Ngài xin người đàn bà nước uống. Từ giếng nước, Ngài đã câu được một tâm hồn. Nhưng tâm hồn ấy đã lại câu tiếp được cả dân trong thành” (Thánh Thi Giáng sinh số 4, 43-44).

Tại sao Chúa Giêsu lại xin người đàn bà xứ Samaria nước uống khi bà đến kín đầy vò nước, không những thế, Người còn khẳng định mình có thể trao ban mạch nước dồi dào hơn từ giếng thiêng liêng nếu ai đến xin Người ?

Thưa, vì dân Samaria thờ ngẫu tượng, tâm trí họ hướng về địa giới, nên Chúa khát đức tin không chỉ của người đàn này mà cả và nhân loại. Chúa Giêsu nói : “Nếu bà nhận biết ơn của Thiên Chúa ban và ai là người đang nói với bà : ‘xin cho toi uống nước’, thì chắc bà sẽ xin Người, và Người sẽ cho bà nước hằng sống (...) Tất cả những ai uống nước này sẽ còn khát : nhưng ai uống nước Ta sẽ cho thì không bao giờ còn khát nữa ; vì nước Ta cho ai thì nơi người ấy sẽ trở thành mạch nước vọt đến sự sống đời đời” (Ga 4, 10-14). Đúng như lời Kinh Tiền Tụng thánh lễ hôm nay diễn tả  : “Lạy Chúa là Cha chí thánh ... Khi người phụ nữ xứ Samari cho nước uống, Người đã ban cho bà đức tin. Vì Người tha thiết ước mong bà tin vững mạnh, nên đã đốt lên trong lòng bà ngọn lửa yêu mến Chúa…”

Hình ảnh người tân tòng

Người đàn bà xứ Samaria là hình ảnh của người tân tòng, còn đang chịu sự ràng buộc của ma quỷ, năm đời chồng bà đã từ bỏ, người đàn ông thứ sáu đang sống với bà là tượng trưng. Giếng nước Giacóp thể hiện tiệc cưới của tâm hồn bà cử hành với Thiên Chúa đã được thanh tẩy bằng nước Rửa tội. Theo M. Dulaey thì : “Giữa thế kỷ thứ III, Origène giải thích rằng, giếng nước này là dấu chỉ giao ước giữa Thiên Chúa với dân Người và hiệp nhất tâm hồn với Thiên Chúa.” Từ nay, bà tuyên xưng đức tin trước mặt mọi người và đi loan báo Đức Kitô cho dân làng bà, kết quả là : “Một số đông người Samaria ở thành đó đã tin Người vì lời người đàn bà làm chứng rằng : Ông ấy đã nói với tôi mọi việc tôi đã làm” (Ga 4, 39). Theo Origène  “Vị Hôn Phu đích thực là Chúa Kitô (Ga 13, 181). Một khi người đàn bà này tìm thấy Ngài, bà liền chạy về loan báo cho dân làng biết; người đàn bà này là hình ảnh của người kitô hữu tuyên xưng đức tin của mình.”

Nguồn suối cứu độ là chính Đức Kitô

Đức Kitô, Đấng ngồi nghỉ trên miệng giếng chính là nguồn nước, từ cạnh sườn bên phải Ngài, tuôn trào suối nước trường sinh; một phụ nữ có sáu đời chồng đã được tẩy sạch bằng dòng nước hằng sống ấy. Thật ngưỡng mộ biết bao : một người phụ nữ nhẹ nhàng đến giếng Samaria kín nước, bà múc nước từ giếng Giêsu ! Tìm được nước, bà ra đi với sự tiết hạnh. Ngay lập tức bà xưng thú các lỗi mà Đức Giêsu ám chỉ, bà nhận ra Đức Mêssia và loan báo Đấng Cứu Thế. Bà để vò nước xuống, mang ơn sủng vào thành ; vai nhẹ bớt tội lỗi, nhưng tràn đầy sự thánh thiện… Đúng là ai đến trong tội lỗi sẽ trở về với sứ mạng tiên tri.

Nước hằng sống này đối với chúng ta là nguồn suối dâng trào sự sống đời đời. Nước này không phải là nước hòa với Máu Chúa Kitô, đã chảy ra từ cạnh sườn bị đâm thâu trên cây Thánh giá đó sao ? Đây không phải là các bí tích của Giáo hội mà Phép rửa trình bầy mầu nhiệm của nước ấy, để ám chỉ rằng nước đó phát sinh từ cái chết cứu độ của Đấng Cứu Thế đó hay sao? Trong mọi trường hợp, các Giáo phụ thấy nước tuôn chảy từ tảng đá do Môisen đập ra (Xh 17, 3-7) là hình ảnh tiên trưng của nước chẩy ra từ cạnh sườn Đấng Cứu Thế bị đóng đinh.

Mỗi người chúng ta đều có thể nhìn thấy chính mình nơi hình ảnh của người thiếu phụ Samari: Ðức Giêsu chờ đợi chúng ta, nhất là trong thời điểm của Mùa Chay, để đối thoại với chúng ta, nói với con tim của chúng ta. Người thiếu phụ Samari gặp được Chúa, bà xin Chúa, “Xin cho tôi nước ấy để tôi chẳng còn khát” (Mt 4, 15). Chúa đã cho bà, nhưng nước ấy, vò của bà không thể chứa được, bà phải để vò nước lại, đi loan báo cho dân làng, những người vẫn khước từ bà vì cái vò cũ (đời sống tội lỗi) nay bỏ vò đi họ liền đón nhận lời bà loan báo.

Phần chúng ta, để tiếp tục hành trình trong Mùa Chay Thánh, chúng ta cũng phải bỏ lại vò thói quen tội lỗi, chúng ta mới kín múc từ giếng Giêsu, Nước Hằng Sống, đựng vào trong tâm hồn trong sạch (vò đã được hoán cải), có thế, chúng ta mới kính múc được ân sủng của Thiên Chúa toàn năng. Như người đàn bà xứ Samria, chúng ta được mời gọi làm chứng cho người thời nay về niềm vui gặp gỡ Chúa, một cuộc gặp gỡ linh thiêng và cứu chuộc.

Lạy Ðức Nữ Ðồng Trinh Maria, xin giúp chúng con biết tận dụng cơ hội gặp gỡ này, là nơi chúng con có thể kín múc nguồn hạnh phúc đích thực cho cuộc đời chúng con. Amen.

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

HỌC MỪNG VUI

Thứ Bảy Tuần 2 Mùa Chay A

“Người anh cả liền nổi giận và không chịu vào nhà”.

“Nó phải trở về nơi nó thuộc về - dù nó đen đủi hơn một thằng quỷ!”. Đó là những gì kiệt tác “Người Cha nhân hậu” của Mitch Irion mô tả! Cha nó vui mừng vì nó đã tìm được nơi nó thuộc về; ở đó, nó mất hút! Vạt áo đỏ như máu - tượng trưng tình yêu - của ông đã lấp kín nó! “Hãy học mừng vui như Thiên Chúa vui mừng!” - Spurgeon.

Kính thưa Anh Chị em,

Đó là điều Tin Mừng hôm nay lưu ý. Người anh nổi giận và không chịu vào nhà. Có công bằng không? Câu trả lời đúng sẽ là: đây là một câu hỏi sai! Vì lẽ, anh phải ‘học mừng vui’ như cha anh vui mừng.

Thật ra, điều khiến người anh không vào nhà không phải là sự bất công, nhưng là niềm vui của cha. Anh không chịu nổi cảnh người cha ôm đứa em rách rưới, khoác áo mới, mở tiệc cho nó. Niềm vui ấy vượt khỏi tưởng tượng của anh; vì thế, anh đứng ngoài. Tin Mừng đặt trước chúng ta một lời mời gọi rất khó: ‘học mừng vui’ với một Thiên Chúa vui! “Niềm vui không tự nhiên xảy đến; chúng ta phải chọn niềm vui và tiếp tục chọn nó mỗi ngày!” - Henri Nouwen.

Đôi khi, điều khó nhất đối với chúng ta không phải là tha thứ, nhưng là vui khi người khác được tha, được ban, được yêu. Tha thứ có thể là một quyết định; nhưng mừng vui với người được tha lại là một “sự hoán cải của trái tim”. Niềm vui của người cha dành cho đứa con tàn đời chính là điều người anh cần học. Anh cần hiểu, bất kể cậu em đã làm gì: đòi chia gia tài - khác nào mong cha chết - hay sống phóng đãng ở phương xa, thì nơi cuối cùng nó tìm thấy vẫn là nhà Cha. Người cha không vui vì tội lỗi của nó, nhưng vui vì nó đã trở về nơi nó thuộc về.

Đứa em cần lòng thương xót của cha để dám trở về; nhưng nó cũng cần một người anh sẵn sàng mở lòng với nó. Bằng không, ngôi nhà vẫn lạnh. Vì thế, câu chuyện kết thúc khi người cha bước ra với người anh. Ông không chỉ đi tìm đứa con lạc; ông còn đi tìm đứa con ở lại nhưng lòng đã lạc. “Chúa là Đấng từ bi nhân hậu!” - Thánh Vịnh đáp ca - “Sẽ lại thương xót chúng ta; tội lỗi chúng ta, Người chà đạp dưới chân. Mọi lỗi lầm chúng ta, Người ném xuống đáy biển!” - bài đọc một.

Anh Chị em,

Điều người cha làm trong dụ ngôn chính là điều Đức Kitô thực hiện trong đời mình. Ngài đi tìm những kẻ lạc mất, đồng bàn với tội nhân, và khiến nhiều người khó chịu. Nhưng hành trình ấy không dừng ở những bước đường rao giảng; nó dẫn Ngài tới thập giá. Ở đó, Ngài không chỉ kể dụ ngôn về lòng thương xót, nhưng trả giá cho nó. Từ thập giá, Ngài mở ra bữa tiệc lớn nhất: bữa tiệc của những tội nhân được trở về. Trước bữa tiệc ấy, mỗi chúng ta được mời gọi bước vào và ‘học mừng vui’ với niềm vui của Thiên Chúa. “Yêu một người là nhìn thấy nơi họ con người mà Thiên Chúa muốn họ trở thành!” - François Mauriac.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con ủ dột khi thấy anh chị em con may mắn hơn mình; dạy con biết vui với người vui, khóc với người khóc!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

Suy tư bên giếng nước

Một hôm, vào khoảng 12 giờ trưa, vạt nắng vàng ươm trong như pha lê nhưng nóng rát như lửa thiêu, có một phụ nữ người Samari đến lấy nước tại giếng Gia-cóp, và Chúa Giêsu đã có dịp đối thoại với phụ nữ này.

Sau khi thăm hỏi và trò chuyện một lúc, Chúa Giêsu xác định với chị: “Này chị, hãy tin tôi: đã đến giờ các người sẽ thờ phượng Chúa Cha, KHÔNG phải trên núi này hay tại Giêrusalem. Các người thờ Đấng các người không biết; còn chúng tôi thờ Đấng chúng tôi biết, vì ơn cứu độ phát xuất từ dân Do Thái. Giờ đã đến – và chính là lúc này đây – giờ những người THỜ PHƯỢNG ĐÍCH THỰC sẽ thờ phượng Chúa Cha trong thần khí và sự thật, vì Chúa Cha tìm kiếm những ai thờ phượng Người như thế. Thiên Chúa là thần khí, và những kẻ thờ phượng Người PHẢI thờ phượng trong thần khí và sự thật.” (Ga 4:21-24)

Chúa Giêsu muốn nói rằng việc thờ phượng không còn lệ thuộc nơi chốn, mà “đạo tại tâm” mới là điều quan trọng, cần thiết – dĩ nhiên không có ý phủ nhận việc thờ phượng ở nơi tôn nghiêm như nhà nguyện, nhà thờ, đền đài,... hoặc cầu nguyện chung trước bàn thờ Thiên Chúa trong các gia đình. Câu nói “tin đạo chứ không tin người có đạo” thường được người ta dẫn chứng, chắc hẳn cũng đáng để tín nhân chúng ta suy nghĩ nhiều.

Hiện nay, khoảng thời gian những ngày tháng đầu năm 2020, cả thế giới đang “mệt mỏi” sống trong tình trạng nghiêm trọng do virus Corona hoành hành, với những con số lây nhiễm gia tăng tại gần 100 quốc gia, có những nơi ở mức báo động. Rất nhiều hoạt động quan trọng phải hủy bỏ ở nhiều nước, trong Giáo Hội cũng phải hủy bỏ nhiều nghi thức chung – đặc biệt là trong Tuần Thánh sắp tới, mặc dù là “đỉnh cao” của Phụng Vụ Thánh.

Trong cơn đại dịch này, chắc chắn Thiên Chúa thực sự đang cảnh báo nhân loại về nhiều điều. Thời Cựu Ước đã xảy ra tương tự với các loại dịch, các thế kỷ trước cũng vậy, cụ thể là những năm 1720, 1820, 1920. Những con số 20 tròn trịa có vẻ rất đẹp nhưng không hề đẹp theo nghĩa đen. Và năm 2020 cũng thế. Vấn đề đầu tiên hẳn là phải xem lại đức tin của chúng ta. Chiếc khẩu trang bỗng dưng “nổi tiếng” và trở thành vật bất khả ly thân. Nó cũng là lời nhắc nhở về việc nói nhiều, lắm chuyện, gièm pha, xét đoán, không lải nhải khi cầu nguyện,... Nó không chỉ nhắc nhở về cái miệng, lời nói, mà còn liên quan việc giảm bớt các giác quan khác. Đó mới là “tự cách ly” đúng nghĩa, rất phù hợp tinh thần Mùa Chay.

1. TÍNH KIÊU NGẠO. Thói xấu đứng đầu và liên quan cái tôi. Có thể nói rằng nguyên nhân của mọi thứ xấu xa đều do nó. Vì cái tôi quá to lớn nên tưởng mình vĩ đại, và nó choán hết chỗ của những thứ khác, thậm chí là che mắt chúng ta nên chúng ta không mù mà vẫn lòa. Kinh Thánh nói: “Miệng kẻ dại có mầm kiêu ngạo.” (Cn 14:3)

2. THÓI LỘNG HÀNH. Người ta lộng hành vì bất chấp tất cả, không coi ai ra gì, càng có chức quyền càng dễ lộng hành – dù đời hay đạo. Thật vậy, từ ngàn xưa Thiên Chúa đã cảnh báo: “Các ngươi chớ cứng lòng như tại Mơ-ri-va, như ngày ở Ma-xa trong sa mạc, nơi tổ phụ các ngươi đã từng THÁCH THỨC và dám THỬ THÁCH Ta, dù đã thấy những việc Ta làm.” (Tv 95:8-9) Rõ ràng là cứng lòng tin, cứng mãi hóa xơ cứng hoặc chai lì. Bởi vì xơ cứng đức tin nên có thể dẫn tới nguy cơ hóa thành vô thần.

3. PHẠM THƯỢNG. Tình trạng này bởi thói lộng hành. Ngày xưa, Thiên Chúa phán với ông Mô-sê: “Hãy đưa kẻ nói LỜI NGUYỀN RỦA ra ngoài trại. Tất cả những ai đã nghe, phải đặt tay lên đầu nó, và toàn thể cộng đồng phải ném đá nó. Rồi ngươi sẽ nói với con cái Ít-ra-en rằng: Bất cứ người nào nguyền rủa Thiên Chúa của nó, sẽ phải mang lấy tội mình. Ai NÓI PHẠM đến danh Đức Chúa, sẽ bị xử tử: toàn thể cộng đồng sẽ ném đá nó; dù là ngoại kiều hay người bản xứ, nếu NÓI PHẠM ĐẾN THÁNH DANH, sẽ bị xử tử.” (Lv 24:14-16)

4. BẤT CÔNG. Bất kính với người trên thì người dưới chẳng đáng gì, người ta sẵn sàng coi thường công lý, bẻ cong sự thật, và rồi thể hiện sự đối với bất cứ ai: “Khốn cho những ai biến LẼ PHẢI thành ngải đắng và vứt bỏ CÔNG LÝ xuống đất đen.” (Am 5:7) Tất nhiên cái gì cũng có hệ lụy của nó, điều này liên đới điều kia. Kinh Thánh xác định: “Áp bức người yếu thế là sỉ nhục Đấng tạo thành nên họ, thương xót kẻ khó nghèo là tôn kính Đấng dựng nên người đó.” (Cn 14:31) Mọi người là anh chị em với nhau, hoàn toàn bình đẳng, có thể là người bình thường nhưng không tầm thường. Kinh Thánh cho biết: “Ai từ chối chẳng xót thương bè bạn, cũng không kính sợ Đấng Toàn Năng.” (G 6:14) Chúa Giêsu cũng đã nói nhiều về vấn đề tương tự, Ngài nói ngắn gọn là YÊU THƯƠNG, và Ngài gọi đó là Điều Răn Mới.

5. GIẢ HÌNH. Lối sống này do cái tôi to lớn. Giới kinh sư và biệt phái “nổi trội” về lĩnh vực này. Chắc chắn chúng ta không ưa thích họ, thế nhưng chúng ta vẫn đi vào “vết mòn” của họ: Quá chăm chút ngoại tại – hình thức, không coi trọng nội tại – tinh thần; chú ý số lượng mà lại khinh suất chất lượng. Sự gì phải đến đã đến!

Chắc chắn chúng ta lo không nổi, sợ không xong, chạy không thoát. Chỉ có Thiên Chúa mới có thể giải cứu nhân loại trong cơn đại họa này, nghĩa là phải thực sự tín thác vào Ngài. Với đức tin tinh ròng, chúng ta biết sợ chính mình, như Thánh Vịnh gia van nài: “Xin cũng giữ cho tôi tớ Ngài khỏi kiêu ngạo, đừng để tính xấu này thống trị con. Như thế con sẽ nên vẹn toàn không còn vương trọng tội.” (Tv 19:14) Đồng thời noi gương hoàng hậu Ét-te quyết tâm và dứt khoát: “Con sẽ không bái lạy một ai, ngoại trừ Ngài, lạy Chúa, và con sẽ không làm thế vì kiêu ngạo.” (Et 17đ)

Thật lớn lao về niềm tin của người phụ nữ Samari: “Tôi biết Đấng Mê-si-a, gọi là Đức Kitô, sẽ đến. Khi Người đến, Người sẽ loan báo cho chúng tôi mọi sự.” (Ga 4:25) Ngài đã đến, và Ngài đang hiện diện và đồng hành với chúng ta trên mọi nẻo đường lữ hành trần gian này: “Lạy Chúa Giêsu, con tín thác vào Ngài!”

Lời xưa chưa cũ, và chẳng bao giờ lỗi thời. Bởi vì Thiên Chúa đã nói thẳng: “Chúng có ăn chay, cầu khẩn, Ta cũng chẳng thèm nghe tiếng; có dâng lễ toàn thiêu và lễ phẩm, Ta cũng chẳng tỏ lòng xót thương, vì Ta sắp dùng gươm đao, đói khát và ôn dịch mà tiêu diệt chúng.” (Gr 14:12) Mệnh lệnh này phải được thi hành không riêng gì trong Mùa Chay, mà suốt cả cuộc đời này. Nhờ vậy mà có thể thay đổi chính số phận của mình.

Ngược lại, tất cả chỉ là công dã tràng. Bởi vì Thiên Chúa quyết định: “Vất vả bao nhiêu cũng vô ích! Khối han rỉ vẫn không bong ra khỏi nồi, dù đã bị lửa thiêu. Vì tội ô uế của ngươi tày trời; Ta muốn thanh tẩy ngươi, nhưng ngươi lại không để cho thanh tẩy sạch mọi ô uế. Ngươi sẽ không được thanh tẩy cho đến khi Ta trút hết cơn thịnh nộ xuống trừng phạt ngươi.” (Ed 24:12-13) Thật đáng sợ biết bao!

Lạy Thiên Chúa toàn năng và giàu lòng thương xót, xin giải cứu chúng con và toàn thế giới. Amen.

 

TRẦM THIÊN THU

ÂM THẦM CHIẾM VƯỜN

Thứ Sáu Tuần 2 Mùa Chay A

“Nước Thiên Chúa, Người sẽ lấy đi không cho các ông nữa!”.

“Chủ nghĩa giáo sĩ trị dẫn đến việc hiểu thừa tác vụ như một chức năng quyền lực!” - Phanxicô.

Kính thưa Anh Chị em,

Cảnh báo của Đức Phanxicô soi sáng dụ ngôn Tin Mừng hôm nay và đặt ra một câu hỏi: trong vườn nho của Chúa, chúng ta đang phục vụ Ngài hay đang ‘âm thầm chiếm vườn?’.

Sống lâu trong vườn nho được trao, các tá điền quên rằng vườn nho có Chủ; từ người làm thuê, họ dần dần cư xử như ông chủ. Khi người của Chủ đến thu hoa lợi, họ coi đó là sự xâm phạm. Câu chuyện kết thúc trong bạo lực: các đầy tớ bị đánh đập, người con bị giết. Nhưng bi kịch không bắt đầu bằng bạo lực; nó bắt đầu bằng một ý nghĩ rất âm thầm: vườn nho này có thể là của chúng ta. Thế mà “Giáo Hội không phải của chúng ta, nhưng của Chúa Kitô!” - Bênêđictô XVI.

Cũng thế, chúng ta có thể rơi vào cám dỗ ấy. Khi phục vụ lâu năm, quen với vai trò và sự tín nhiệm, chúng ta dễ coi điều được trao phó như của mình. Khi đó, dẫu vẫn làm mọi sự, chúng ta tìm vinh quang cho mình mà không còn tìm vinh quang Chúa. Thế là, rất âm thầm, chúng ta bắt đầu ‘chiếm vườn’. “Thẩm quyền thực sự là để quên mình phục vụ, không phải để bóc lột người khác!” - Phanxicô.

Việc “chiếm vườn” hiếm khi bắt đầu bằng những quyết định lớn; nó khởi đi từ những điều rất nhỏ: khi chúng ta thích được khen hơn là trung thành; giữ ảnh hưởng hơn là phục vụ; bảo vệ vị trí hơn là bảo vệ sự thật. Khi đó, vườn nho của Chúa dần dần trở thành khu vườn của chúng ta. Vì thế Chúa Giêsu đã rất nghiêm khắc: “Nước Thiên Chúa sẽ bị lấy đi!”. Không phải vì Thiên Chúa bất công, nhưng vì vườn nho không thể sinh hoa trái khi tá điền quên mất Chủ; nơi nào con người tìm mình, nơi đó Nước Trời bắt đầu cằn cỗi.

Thế nhưng, lịch sử cứu độ cho thấy: khi con người toan tính chiếm đoạt, Thiên Chúa vẫn âm thầm thực hiện kế hoạch của Ngài. Các anh của Giuse đã bán em sang Ai Cập, tưởng rằng họ đã dập tắt một giấc mơ - bài đọc một. Nhưng chính con đường ấy lại trở thành lối Thiên Chúa dùng để cứu cả dòng họ Giacóp khỏi nạn đói. Thánh Vịnh đáp ca thật thâm trầm, “Hãy nhớ lại những kỳ công Chúa thực hiện!”.

Anh Chị em,

Chúa Kitô là Người Con bị giết ngoài vườn nho. Ngài không đến để chiếm đoạt, nhưng để trao ban; không giữ vườn nho cho mình, nhưng trao mạng sống để vườn sinh hoa trái. Trên thập giá, Ngài bày tỏ một logic khác: ai giữ mình sẽ mất; ai dám quên mình sẽ làm cho vườn nho sinh hoa trái. Vì thế, điều quan trọng không phải là làm bao nhiêu, nhưng là làm cho ai. Nếu phục vụ để Thiên Chúa được biết và được yêu hơn, vườn nho vẫn là của Ngài; còn nếu phục vụ để mình được thấy và được nhắc đến, rất có thể chúng ta đang ‘âm thầm chiếm vườn’. “Cám dỗ quyền lực mạnh nhất khi sự thân mật với Thiên Chúa yếu nhất!” - Henri Nouwen.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin giữ con khỏi trở thành kẻ cắp; dạy con nhớ rằng con chỉ là tá điền được Chúa yêu thương. Vườn nho là của Chúa, không phải của con!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

Subcategories