3. Sống & Chia Sẻ Lời Chúa

ÁNH SÁNG CHÚA GIÁNG SINH TỎA SÁNG TRONG THẾ GIỚI TĂM TỐI CỦA CHÚNG TA

Thế giới, trong nhiều phương diện, dường như đang trở nên rối loạn. Những điều lẽ ra là chuyện đương nhiên lại không được chấp nhận là sự thật. Càng ngày người ta càng thấy bóng tối tâm linh dường như càng lớn. Nhân loại luôn cần một Đấng Cứu Độ, và dường như ngày càng rõ ràng hơn bao giờ hết chúng ta cần một Đấng Cứu Độ soi sáng trong bóng tối, trước hết trong tâm trí u mê và cõi lòng hẹp hòi của chúng ta. Chúa Hài Đồng sinh ra vào dịp lễ Giáng sinh là ánh sáng mà chúng ta cần có để chiếu soi vào lòng mình, rồi chiếu tỏa vào thế giới. Chúng ta không thể che giấu ánh sáng đó. Chúng ta phải mạnh dạn công bố ánh sáng đó với thế giới.

Lễ trọng Giáng sinh của Chúa chúng ta là thời gian chúng ta kỷ niệm việc hoàn thành kế hoạch của Thiên Chúa nhằm mang lại ánh sáng cho một thế giới sa ngã. Kế hoạch cứu độ của Ngài là giải thoát:

  • Thế giới này đang bị kẻ thù chiếm đóng. Kitô giáo là câu chuyện về việc vị vua chân chính hạ mình xuống, có thể nói là hạ mình xuống trong vỏ bọc ngụy trang, và đang kêu gọi chúng ta tham gia vào một chiến dịch tiêu diệt vĩ đại” (C. S. Lewis, Mere Christianity, 1952).

Giáng sinh là cuộc đổ bộ rón rén vào sau chiến tuyến của kẻ thù, trong đó Thiên Chúa hạ mình xuống để trở thành một trẻ thơ nằm trong máng cỏ để mang lại sự cứu độ cho thế giới. Ngài đi xuống trong bóng tối hoàn toàn, trong sự yếu đuối và bất lực của thân phận con người để Ngài có thể soi sáng cho chúng ta và lôi kéo chúng ta vào tình bạn với Ngài. Vua vũ trụ đến cứu chúng ta, không phải bằng quyền lực và sức mạnh, mà bằng cách hoàn toàn trút bỏ bản thân khi Ngài mang bản tính con người và được sinh ra như một trẻ thơ bơ vơ cho Mẹ Maria và Thánh Giuse.

Khi chúng ta nhìn ra thế giới, hầu như chắc chắn rằng chúng ta nhận ra mình đang sống trong lãnh thổ của Kẻ thù. Tin tức liên tục nói đến vây ráp bạo lực, bất công, sợ hãi, bệnh tật, thiên tai và đau khổ. Mỗi ngày, con người đau khổ vô cùng. Với sự gia tăng của các chương trình nghị sự mạnh mẽ hoàn toàn trái ngược với Đức tin và trái ngược với chính sự thật, rõ ràng là đau khổ và bi kịch lớn nhất xảy đến với mỗi người chúng ta là tội lỗi. Tội lỗi giằng xé chúng ta ra khỏi sự kết hợp với Thiên Chúa và kết hợp với nhau. Tội lỗi khiến chúng ta chìm trong bóng tối trong khi chúng ta đã được tạo dựng là để vui hưởng ánh sáng.

Ánh sáng được ban cho chúng ta vào lễ Giáng sinh là ánh sáng của sự thật. Đó là món quà của chính Thiên Chúa, Đấng đã mời gọi chúng ta. Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI giải thích:

  • Nhưng trước hết, ánh sáng có nghĩa là hiểu biêt; ánh sáng có nghĩa là sự thật, tương phản với bóng tối của sự giả dối và ngu dốt. Ánh sáng đem lại cho chúng ta sự sống, nó chỉ đường cho chúng ta. Nhưng ánh sáng, như một nguồn nhiệt, cũng có nghĩa là tình yêu. Nơi có tình yêu, ánh sáng chiếu ra trên thế giới; nơi có hận thù, thế giới vẫn chìm trong bóng tối. Trong chuồng bò Bêlem xuất hiện ánh sáng vĩ đại mà thế giới đang chờ đợi. Nơi Hài nhi nằm trong chuồng bò đó, Thiên Chúa đã thể hiện vinh quang của Ngài - vinh quang của tình yêu, tự cho đi, tước bỏ mọi sự cao cả nhằm hướng dẫn chúng ta đi trên con đường tình yêu. Ánh sáng của Bêlem chưa bao giờ bị dập tắt. Ở mọi thời đại, ánh sáng đó đã chạm đến con người nam cũng như nữ, “nó đã tỏa sáng ra chung quanh họ”. Bất cứ nơi nào mọi người đặt niềm tin vào Hài nhi đó, lòng bác ái cũng trỗi dậy - bác ái đối với người khác, yêu thương quan tâm đến những người yếu đuối và đau khổ, và ơn tha thứ” (ĐGH Bênêđictô XVI, Bài giảng lễ đêm Giáng sinh, 24/12/2005).

Chúng ta thoát khỏi bóng tối khi chúng ta gặp Chúa Kitô Hài Đồng và ở trong tình  bác ái và chân lý. Thư thứ nhất của thánh Gioan 1: 5 nhắc nhở chúng ta: “Điều chúng tôi đã thấy và đã nghe, chúng tôi loan báo cho cả anh em nữa, để chính anh em cũng được hiệp thông với chúng tôi, mà chúng tôi thì hiệp thông với Chúa Cha và với Chúa Giêsu Kitô, Con của Người.” Chúng ta được mời gọi để không ngừng sống trong ánh sáng mỗi ngày của cuộc đời mình bằng cách trút bỏ tội lỗi. Điều này không chỉ bảo đảm sự cứu độ của chính chúng ta, mà còn dẫn đưa những người khác đang sống trong bóng tối tới ánh sáng.

Những người chung quanh chúng ta đang rơi vào bóng tối ngày càng lớn hơn. Bản thân chúng ta rơi vào bóng tối bởi sự thờ ơ, dính bén tội lỗi và quá phụ thuộc vào những của cải thế gian này. Những người chung quanh chúng ta cần nhìn thấy ánh sáng của Chúa Kitô đang tỏa ra từ chúng ta. Họ cần biết rằng Đấng Cứu Độ của thế giới đã đến, và Ngài đã chiến thắng Hoàng Tử Bóng Tối, kẻ đang giam cầm chúng ta. Con người cần chúng ta công bố sự ra đời kỳ diệu của Chúa Kitô với niềm vui để lôi kéo họ vào sự tự do mà chúng ta đã được Chúa Kitô ban cho.

Tình bác ái yêu cầu chúng ta chia sẻ với người khác ánh sáng chân lý được tìm thấy trong công trình cứu độ của Chúa Kitô. Chúng ta biết Chúa Giáng sinh và Tin mừng của Ngài đem đến cho chúng ta niềm vui lớn lao như thế nào. Chúng ta biết Ai đã chiến thắng bóng tối và chúng ta cần những gì để bước vào ánh sáng. Niềm vui đó là để chia sẻ với tất cả mọi người mà chúng ta tiếp xúc, đó là lý do tại sao chúng ta phải dựa vào Chúa để giúp chúng ta luôn ở trong ánh sáng của Thánh thần.

Lịch sử của Giáo hội và cuộc đời của các thánh chứng tỏ tác động của ánh sáng Thiên Chúa đối với con người và thế giới. Những cuộc đời thánh thiện làm rạng rỡ tình yêu Thiên Chúa. Sự thánh thiện có tính lây truyền. Khi gặp những người thực sự thánh thiện, chúng ta ao ước được giống như họ vì chúng ta đã gặp được Thiên Chúa ngự trong họ. Chúng ta thấy niềm vui khởi đi từ việc trở thành một người của ánh sáng.

  • Nơi nào có tình yêu, ánh sáng chiếu soi thế gian; nơi nào có hận thù, thế giới chìm trong bóng tối. Trong hang đá Bêlem đã xuất hiện ánh sáng vĩ đại mà thế giới đang chờ đợi. Nơi Hài Nhi nằm trong máng cỏ ấy, Thiên Chúa đã biểu lộ vinh quang của Người – vinh quang của tình yêu, một tình yêu tự hiến, lột bỏ mọi cao cả để dẫn dắt chúng ta trên con đường tình yêu. Ánh sáng Bêlem chưa bao giờ tắt. Ở mọi thời đại, nó đã chạm đến đàn ông và phụ nữ, “nó tỏa sáng xung quanh họ”. Nơi nào người ta đặt niềm tin vào Hài Nhi ấy, nơi đó đức ái cũng nẩy nở – bác ái đối với tha nhân, yêu thương quan tâm đến những người yếu đuối và đau khổ, ân sủng tha thứ. Từ Bêlem một luồng ánh sáng, tình yêu và chân lý lan tỏa qua nhiều thế kỷ. Nếu chúng ta nhìn vào các Thánh – từ Phaolô và Augustinô đến Phanxicô và Đaminh, từ Thánh Phanxicô Xaviê và Têrêsa Avila đến Mẹ Têrêsa Calcutta – chúng ta thấy sự tốt lành tràn ngập này, con đường ánh sáng này luôn được thắp lên bởi mầu nhiệm Bêlem, bởi Thiên Chúa đã trở thành Hài Nhi. Nơi Hài Nhi ấy, Thiên Chúa đã chống lại bạo lực của thế giới này bằng chính lòng tốt của Ngài. Ngài kêu gọi chúng ta đi theo Hài Nhi đó” (đã dẫn trên).

Món quà thực sự mà chúng ta nhận được mỗi dịp Giáng sinh là ánh sáng của Chúa Kitô đang ở giữa chúng ta trong máng cỏ qua sự Giáng sinh của Ngài vào thế giới sa ngã này. Tin Mừng về Ngôi Lời Thiên Chúa Nhập Thể đến để cứu chúng ta khỏi bóng tối của tội lỗi, sự chết và ma quỷ, là điều mà cả thế giới cần phải nghe.

Xin cho chúng con loan báo Tin Mừng về sự Giáng sinh của Chúa Giêsu cho thế giới, để những người khác được lôi kéo ra khỏi bóng tối và bước vào Ánh sáng vĩ đại.

Phêrô Phạm Văn Trung

Theo catholicexchange.com

 

Thiên Chúa ở với người bất hạnh

Tin mừng Chúa nhật hôm nay đề cập đến tên gọi mà Thiên Chúa Cha đã chọn cho Ngôi Hai Thiên Chúa khi Ngài đầu thai trong lòng Mẹ Maria. Tên gọi nầy đã được ngôn sứ I-sai-a tiên báo từ hơn bảy trăm năm trước: “Này đây, Trinh nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Em-ma-nu-en, nghĩa là "Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta"  (Mt 18,23).

Tên gọi nầy nói lên ước vọng của Thiên Chúa muốn ở mãi với loài người suốt mọi ngày cho đến tận cùng thời gian.

Liên quan đến ý tưởng nầy, Đức cha Gaillot có nhận định rất chí lý. Ngài viết:

“Sống rộng lượng là tốt, nhưng sống-với thì tốt hơn; công việc từ thiện là cần thiết, nhưng hiện-diện-bên-cạnh thì cần thiết hơn.”

Đúng thế, dù chúng ta có rộng lượng với người nghèo khổ bao nhiêu cũng không bằng đến sống-với họ, chia sẻ buồn vui cay đắng với họ. Dù chúng ta có làm bao nhiêu việc từ thiện để giúp cho người đau khổ cũng không bằng đến hiện-diện-bên-cạnh họ trong những lúc đau thương. 

Thiên Chúa mong muốn ở với loài người

Vì yêu thương loài người quá đỗi nên Thiên Chúa muốn sống-với con người, muốn hiện-diện-bên-cạnh con người mọi lúc mọi nơi. Danh hiệu Em-ma-mu-en gói trọn ước vọng này của Thiên Chúa.

Vì thế, Thiên Chúa Ngôi Hai đã hạ mình xuống thế mang kiếp người phàm, hiệp thông trọn vẹn với con người. Ngài vui với người vui, khóc với người khóc, sống khốn khổ với những người cùng khốn.

Vì khuôn khổ bài viết có hạn, chúng ta chỉ đề cập đến hai khía cạnh của sự hiệp thông này: Hiệp thông với người nghèo và hiệp thông với người tội lỗi. 

1. Chúa Giê-su sống nghèo với người nghèo

Khi thiên thần báo tin cho các người chăn chiên biết có Đấng Cứu Thế giáng sinh tại Bê-lem, thoạt đầu các mục đồng nghĩ rằng đấng ấy chắc phải là đấng siêu phàm, uy phong lẫm liệt… Thế nhưng, thật hết sức bất ngờ, Ngài ấy lại là một trẻ sơ sinh bé bỏng, yếu đuối, được bọc trong tã và đặt nằm trong máng ăn của súc vật, nơi chuồng bò hẻo lánh!

Người nghèo túng lắm cũng được sinh ra trên giường, trên chiếu, dưới một mái nhà; đằng nầy, Chúa Giê-su chấp nhận sinh ra trong chuồng súc vật giữa đồng vắng, được đặt nằm trong máng rơm!

Rồi khi lớn lên, Chúa Giê-su không liệt mình vào thành phần giàu có hay thượng lưu trong xã hội. Ngài không thuộc giai cấp tư tế của Đền thờ cho người ta bái phục, cũng chẳng là kinh sư, luật sĩ cho người ta trọng vọng nể vì, cũng không thuộc hàng biệt phái có nhiều thế giá trong dân… Ngài thuộc tầng lớp dân đen, làm nghề thợ mộc, đổ mồ hôi đổi lấy áo cơm.

Khi đi rao giảng Tin mừng, Ngài chấp nhận sống nghèo thiếu, chẳng có của riêng nên phải nhờ vả người khác. (Một số phụ nữ đã lấy của cải giúp Ngài cũng như nhóm Mười hai môn đệ). “Con chồn  có hang, chim trời có tổ, nhưng Ngài không có chỗ dựa đầu.” (Mt 8,20). 

2. Chúa Giê-su sát cánh với người tội lỗi 

Với tư cách Em-ma-nu-en, là Thiên Chúa ở với loài người, Chúa Giê-su đặc biệt yêu thương, chăm sóc và sát cánh với người tội lỗi.

Ngài không ngại đến trọ nhà người tội lỗi như Da-kêu, chọn Lê-vi thu thuế làm môn đồ, sẵn lòng ngồi đồng bàn ăn uống với người tội lỗi, để cho người phụ nữ mang nhiều tai tiếng bày tỏ lòng yêu thương quý mến mình trong bữa ăn tại nhà người biệt phái…

Ngài thân thiện và  hòa mình với thành phần tội lỗi đến nỗi người ta gọi Ngài là người “mê ăn uống, bạn bè với quân thu thuế và người tội lỗi” (Lc 7,34).

Cuối cùng, Ngài hiệp thông trọn vẹn với người tội lỗi khi chịu bắt đi giữa đêm đen như một tên đạo tặc, bị xét xử như một gã gian phi và chịu hành hình đau thương tủi nhục trên thập giá như một tên tử tội gian ác nhất đời. 

Lạy Chúa Giê-su,

Nguyện vọng tha thiết của Chúa là ở với loài người mọi ngày cho đến tận thế. Và điều đau lòng nhất của Ngài là bị nhân loại từ khước như thánh Gioan nhận định trong Tin mừng thứ tư: “Ngài ở giữa thế gian và thế gian đã nhờ Ngài mà có, nhưng lại không nhận biết Ngài. Ngài đã đến nhà mình, nhưng người nhà chẳng chịu đón nhận” (Gioan 1, 10-11).

Xin cho chúng con vui lòng mở cửa tâm hồn đón nhận mọi người đang sống chung quanh chúng con, đặc biệt là những anh chị em nghèo túng, quẫn bách, những người lầm lạc, đau khổ… vì họ cũng là hiện thân của Chúa. 

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà  

Tin mừng Mát-thêu (Mt 1, 18-25)

18 Chúa Ki-tô giáng sinh trong hoàn cảnh sau đây: bà Ma-ri-a, mẹ Người, đã thành hôn với ông Giu-se. Nhưng trước khi hai ông bà về chung sống, bà đã có thai do quyền năng Chúa Thánh Thần.   19Ông Giu-se, chồng bà, là người công chính và không muốn tố giác bà, nên mới định tâm bỏ bà cách kín đáo. 20Ông đang toan tính như vậy, thì kìa sứ thần Chúa hiện đến báo mộng cho ông rằng: "Này ông Giu-se, con cháu Đa-vít, đừng ngại đón bà Ma-ri-a vợ ông về, vì người con bà cưu mang là do quyền năng Chúa Thánh Thần.  21Bà sẽ sinh con trai và ông phải đặt tên cho con trẻ là Giê-su, vì chính Người sẽ cứu dân Người khỏi tội lỗi của họ."  22Tất cả sự việc này đã xảy ra, là để ứng nghiệm lời xưa kia Chúa phán qua miệng ngôn sứ: 23Này đây, Trinh Nữ sẽ thụ thai và sinh hạ một con trai, người ta sẽ gọi tên con trẻ là Em-ma-nu-en, nghĩa là "Thiên-Chúa-ở-cùng-chúng-ta."   24Khi tỉnh giấc, ông Giu-se làm như sứ thần Chúa dạy và đón vợ về nhà. 25Ông không ăn ở với bà, cho đến khi bà sinh một con trai, và ông đặt tên cho con trẻ là Giê-su.

Vở kịch còn dang dở

Chủ đề: Thánh Gioan tiền hô là sứ giả, còn Chúa Giêsu là Ðấng Thiên Sai (Mêsia). Chúng ta phải hoàn tất công việc của hai Ðấng.

Nathaniel hawthorne là một văn sĩ người Mỹ, vào năm 1864 ông mất đi mà trên bàn viết vẫn còn bản phác thảo của một vở kịch mà không may ông chưa hoàn tất được. Vở kịch này tập trung vào một nhân vật chưa hề xuất hiện trên sân khấu. Mọi người đều nói, đều mơ, đều chờ đợi nhân vật này đến nhưng vị ấy chẳng hề đến. Tất cả các nhân vật phụ đều đồng loạt mô tả nhân vật chính ấy. Họ kể cho mọi người nhân vật chính ấy sẽ như thế nào, sẽ làm những gì. Tuy nhiên nhân vật chính ấy đã chẳng xuất hiện.

Toàn bộ Cựu ước cũng giống như vở kịch của Nathaniel Hawthorne bỏi vì Cựu ước chấm dứt mà không có đoạn kết.

Trên dòng sông Giôđan có một khúc cạn nước, cách Biển Chết không xa. Như người ta còn ghi nhớ, đây là chỗ băng qua sống thuận tiện cho các đoàn tuần hành có xe ngựa kéo, các thương buôn và các du khách từ khắp nơi trên thế giới. Ðây cũng là chỗ đại chúng thường gặp gỡ nhau để trao đổi đủ thứ tin tức từ khắp mọi nơi. Chính tại chỗ này, Gioan Tẩy Giả đã rao giảng và rửa tội cho dân chúng. Ông cũng bận áo da thú giống như các tiên tri thuở xưa. Và đám dân bắt đầu thắc mắc: “Ông này là ai vậy? Ông ta có phải là Ðấng Mesia được Chúa hứa không? Hay ông là vị sứ giả dọn đừơng cho Ðấng Mesia?”

Trong bài phúc âm hôm nay, Chúa Giêsu sẽ trả lời cho những câu hỏi này.

Ngài nói với dân chúng: “Gioan là kẻ mà Thánh Kinh đã nói: “Ta sẽ sai sứ giả Ta đi trước con để mở đường cho con”. Chúa Giêsu cũng trả lời câu hỏi khác mà đám môn đệ của Gioan Tẩy Giả đặt ra cho Ngài: “Có phải Ngài là Ðấng mà Gioan bảo sẽ phải đến, hay chúng tôi còn phải mong chờ Ðấng khác?” Ðể trả lời câu hỏi này, Chúa Giêsu liền trưng ra những lời của tiên tri Isaia trong bài đọc thứ nhất hôm nay. Khi nói về Ðấng Mesia, Isaia bảo rằng những dấu hiệu sau đây sẽ là bằng cứ xác nhận lai lịch vị ấy: “Người mù sẽ thấy được và người điếc sẽ nghe được. Kẻ què sẽ nhảy múa và người câm sẽ reo vui”.

Chủ ý của Giêsu thực là rõ ràng. Ngài trình bày ra những phép lạ Ngài đã làm – cho người mù thấy, kẻ điếc nghe, người què bước, kẻ câm nói được. Ðây là những dấu hịêu mà các lời tiên tri báo trước rằng sẽ phải ứng nghiệm khi Ðấng Mesia đến.

Như vậy, bài Phúc Âm hôm nay muốn nói gì cho anh chị em cũng như cho tôi? Xin thưa đó là sứ điệp sau: Chúa Giêsu là Ðấng Mesia đã được các vị ngôn sứ tiên báo và Ngài đã thiết lập vương quốc Thiên Chúa trên trần gian đúng như các tiên tri báo trước. Tuy nhiên Chúa Giêsu uỷ thác cho chúng ta nhiệm vụ hoàn tất vương quốc ấy. Ngài giao phó cho chúng ta việc xây dựng nước Chúa trên trần gian này. Vào lúc thế mạt, Chúa Giêsu sẽ trở lại để phán xét chúng ta về công việc này.

Người Roma xưa có thời một vị thần tên là Janus. Từ đó chúng ta có danh từ January (tháng giêng). Vị thần này được các hoạ sĩ mô tả bằng hình đầu người có hai mặt: một mặt nhìn về đằng sau, mặt kia nhìn về đằng trước. Mùa vọng cũng tương tự như thế. Nó nhìn về hai phía: một đàng nhìn lại lần giáng sinh đầu tiên của Chúa Giêsu trong lịch sử, đằng khác là hướng đến cuộc tái giáng của Ngài vào cuối lịch sử.

Anh chị em cũng như tôi đang đứng ở giữa hai biến cố lịch sử trọng đại này. Phận vụ chúng ta không phải là cứ lè phè ngồi chơi trên đỉnh đồi ngoái cổ về đằng sau và ngóng trông về đằng trước, mà phải xăn tay áo lên dấn thân vào công việc Chúa Giêsu đã trao phó cho chúng ta khi Ngài đến lần đầu tiên trong lịch sử.

Nói một cách cụ thể, điều này có ý nghĩa gì? Nghĩa là chúng ta phải xây dựng nước Chúa trên trần gian, phải đem yêu thương lắp đầy ganh ghét, đem thứ tha che phủ hận thù, đem chân lý thay cho giả trá, đem sự cảm thông Kitô giáo thay cho sự vô cảm lạnh lùng. Tóm lại, chúng ta phải xây dựng một kiểu thế giới mà chính Chúa Giêsu sẽ dụng xây nếu Ngài ở vào vị trí chúng ta.

Ðó chính là sứ điệp trong các bài đọc hôm nay. Sứ điệp ấy minh chứng Chúa Giêsu là Ðấng Mesia, Ngài sẽ trở lại vào chung cục lịch sử và sẽ phán xét chúng ta về việc chúng ta đã xây dựng nước Chúa trên trần gian này như thế nào.

Vậy chúng ta hãy kết thúc với lời tuyên xưng đức tin vào Chúa Giêsu, là Ðấng Mêsia cũng là Ðấng Cứu Ðộ chúng ta:

Lạy Chúa Giêsu,
Chúng con tin Chúa đã đến trần gian đầy ganh ghét này để giúp chúng con xây dựng nó thành thế giới của tình yêu.

Lạy Chúa Giêsu,
Chúng con tin rằng Chúa đã đến với chúng con để giúp chúng con cũng biết đến kẻ khác.

Lạy Chúa Giêsu,
Chúng con tin rằng Chúa hiểu chúng con, ngay cả khi chúng con không hiểu được chính mình.

Lạy Chúa Giêsu,
Chúng con tin rằng Chúa luôn luôn ở với chúng con cho dù chúng con không luôn luôn sống với Chúa.

Lạy Chúa Giêsu,
Chúng con tin rằng Thiên Chúa là Cha chúng con, bởi vì chính Chúa đã đối xử với chúng con như anh chị em của Chúa.

Lm. Mark Link, S.J.

DÁM NGÃ

Thứ Bảy Tuần 3 Mùa Vọng A

“Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa!”.

William Wilberforce viết, “Tôi đã sống quá nhiều cho chính trị; vì thế, linh hồn tôi chết đói, còm cõi và gầy gò!”. Sau một thất bại ê chề trên chính trường, ông tâm sự, “Tôi đã quá tằn tiện với Chúa”. Và ông kết luận, “Chúa cho phép tôi ngã!”.

Kính thưa Anh Chị em,

“Chúa cho phép tôi ngã!”. Thật không? Vâng, không để huỷ hoại, nhưng để con người dám ngã và thôi bám vào những ảo tưởng. Tin Mừng hôm nay cho thấy, Maria đã ‘dám ngã’ trong tiếng “Xin vâng”; và chính nơi đó, ơn cứu độ mở ra.

“Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa!”. Tiếng “Xin vâng” ấy không được thốt lên trong hào quang quyền lực, đó là lời thưa từ đáy thân phận - một thiếu nữ nhỏ bé, không quyền lực, không bảo đảm, không lối thoát. Xưng “nữ tỳ” là chấp nhận bị sai khiến, hiểu lầm, nghi ngờ và loại trừ. Trước mắt người đời, đó là một cú trượt dài; nhưng trước Thiên Chúa, đó là một cú ngã được chấp nhận, nơi ơn cứu độ bắt đầu. “Bạn phải tiến bước bằng hai đầu gối!” - Hudson Taylor.

Thế mà, cuộc ‘dám ngã’ ấy không bộc phát. Từ ngàn xưa, qua Isaia, Thiên Chúa đã hứa một dấu chỉ, không đến từ sức mạnh, nhưng từ một trinh nữ mang thai, sinh hạ Đấng Emmanuel - Thiên Chúa ở cùng chúng ta - bài đọc một. Và ‘Đức Vua vinh hiển’ Thánh Vịnh đáp ca nói đến, đã không bước vào bằng cổng quyền lực, nhưng bằng cánh cửa khiêm hạ của một nữ tỳ với tấm lòng dám mở ra. Chúa không chọn những người hoàn hảo, Ngài chọn những con người ‘có thể gãy’; không xây dựng lịch sử bằng những kẻ không ngã, nhưng bằng những người dám để Ngài bước vào đúng chỗ mình ‘dễ sụp đổ’ nhất. Truyền Tin không xảy ra trong đền thờ, giữa cung điện, nhưng trong một không gian kín, nơi một nữ nhi đối diện với nỗi sợ sâu kín nhất của mình. “Thật dịu ngọt khi trở thành không là gì, ít hơn cả không, để Đức Kitô có thể là tất cả trong mọi sự!” - David Brainerd.

Maria không kiểm soát được điều gì sau tiếng “Xin vâng”, không biết chuyện gì sẽ xảy ra, phải giải thích làm sao, mình sẽ được bảo vệ hay bị ném đá? Nhưng chính trong sự mất kiểm soát ấy, Maria đã ‘dám ngã’ khỏi mọi bảo đảm quen thuộc, để Thiên Chúa tự do hành động. Cứu độ không bắt đầu khi con người nắm chắc mọi sự, nhưng khi họ buông tay. “Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà”. Thiên Chúa không áp đảo, không chiếm đoạt, không bạo lực, Ngài bao phủ như bóng râm - không xoá đi mong manh, nhưng biến mong manh thành lối Ngài đi. Ơn cứu độ không đi vòng tránh sự mong manh của con người; nó đi xuyên qua đó!

Anh Chị em,

Chúng ta thường muốn theo Chúa mà không phải trả giá, muốn trung tín mà không phải rơi, muốn “Xin vâng” mà vẫn đứng vững. Nhưng Tin Mừng hôm nay nói rõ: không có “Xin vâng” nào mà không manh nha một rủi ro ngã xuống nào đó. Và có những cú ngã được Thiên Chúa cho phép, vì nếu không ‘dám ngã’, con người không bao giờ thuộc trọn về Ngài. “Khi chúng ta chẳng còn gì ngoài Thiên Chúa, ta mới nhận ra Ngài là đủ!” - Benson Idahosa.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, con yếu, con sợ, con dễ vỡ. Nếu cần, xin cho con ‘dám ngã’ để thôi bám vào chính mình!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

VỮNG TÂM – CHÚA NHẬT 3 MÙA VỌNG

Thiên Chúa vô hình hiện diện mọi nơi và trong mọi lúc. Thiên Chúa luôn đồng hành với dân Ngài đã chọn, để chuẩn bị đón nhận ơn cứu độ. Mầu Nhiệm về Thiên Chúa Ngôi Hai được hé mở từng bước. Trải qua lịch sử cứu độ, dân chúng luôn khao khát mong chờ một chung cục là được tự do giải thoát. Qua từng giai đọan, Thiên Chúa đã sai các tiên tri đến kêu gọi lòng trung tín, sự phấn chấn và khuyến khích hướng dẫn dân chúng. Tiên tri Isaia đã khơi dậy niềm hy vọng: Nơi hoang địa cằn cỗi sẽ vui mừng, cõi tịch liêu sẽ hân hoan (Is 35, 1). Hình ảnh cảnh hoang địa trơ trọi, khô cằn và cạn nguồn mong đợi suối nguồn sự sống. Isaia khơi lên tia hy vọng của sự vui mừng và hân hoan. Dân Chúa phải trải nghiệm nhiều thăng trầm khổ ải qua các thế hệ để mong chờ Đấng Cứu Thế đến.

Trong bất cứ một dự kiến nào muốn đạt kết qủa tốt, chúng ta đều phải kiên nhẫn đợi chờ mọi sự diễn tiến. Vấn đề niềm tin sống đạo cũng thế, chúng ta không thể cắt bớt thời gian. Sự gì đến ắt sẽ đến. Thánh Giacôbê nhắc nhở các tín hữu: Anh em hãy kiên nhẫn chờ ngày Chúa đến. Kìa xem người nông phu trông đợi hoa màu quý báu của đồng ruộng, kiên nhẫn đợi chờ mưa xuân và mưa thu (Giac 5, 7). Hình ảnh của bác nông phu nơi ruộng rẫy cầy bừa trồng trọt là hình ảnh rất đẹp và chính xác. Chính xác cả về phẩm lẫn lượng, cả về thời gian và không gian. Kiên nhẫn đợi chờ là một đức tính tốt trong đời sống đạo. Mọi sinh họat của đời sống Giáo Hội trên trần thế cần phải được thử thách, tôi luyện để phát triển và trưởng thành. Thời gian là chìa khóa. Mầu nhiệm ơn cứu độ được lồng vào đời sống của con người theo sự phát triển tự nhiên của xã hội loài người.

Ông Gioan Tẩy Giả đang bị giam giữ cũng nóng lòng muốn biết Chúa Giêsu có chính thật là Đấng Cứu Thế hay không. Ông Gioan muốn các môn đệ của mình nhận biết Chúa Giêsu. Câu trả lời của Chúa không chỉ cho riêng ông Gioan, nhưng cho các môn đệ của ông. Các ông đã an tâm nhận diện ra sứ mệnh và vai trò của Chúa Giêsu trong công cuộc cứu độ qua các dấu chỉ. Chúa Giêsu đã hoàn tất mọi lời mà các tiên tri đã loan báo về Ngài.

Các dấu hiệu từ trời cao với quyền năng của Chúa đã đem lại hiệu qủa thực sự biến đổi môi trường và chữa lành toàn diện con người. Các phép lạ của Chúa Giêsu là dấu chỉ của tin mừng cứu độ. Tuy nhiên, qua mọi thời, đều có những người tự thần thánh hóa chính mình để chiêu hồn người khác. Họ cũng không khác gì các tiên tri giả và những nhà làm ảo thuật đại tài dùng kỷ xảo để dễ dàng qua mắt mọi người. Chúng ta phải luôn cảnh giác và tỉnh thức học hỏi kỹ lưỡng những hình thức mị dân này. Họ không phải là Chúa có uy quyền biến đổi chữa lành thân xác và linh hồn, mà chỉ có thể tạo gây cảm giác thân, sinh, lý và xúc động tâm linh nhất thời chóng qua.

Chúa Giêsu xác nhận Gioan Tẩy Giả là vị tiền hô dọn đường. Gioan được vinh dự giới thiệu Chúa Giêsu cho dân chúng: Đây là Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian. Biết bao người đã nghe Chúa giảng, gặp gỡ và nhận lãnh các dấu lạ, nhưng có mấy người nhận ra Chúa Giêsu là Đấng Cứu Thế. Trong đám đông theo Chúa, có người chỉ tò mò nhìn xem cho biết, có người chỉ muốn được nhận lãnh ân huệ và có người ùa theo đám đông vì hiếu kỳ. Đâu có mấy người thực sự muốn đi theo Chúa để được đổi đời và canh tân cuộc sống. Xưa cũng nay, tâm trạng của chúng ta cũng chẳng khác gì dân Do-thái xưa. Chúng ta nghe, đọc, viết và suy gẫm thật nhiều lời của Chúa, các giáo huấn của Giáo Hội và chứng kiến biết bao sự lạ lùng trong cuộc sống nhưng mấy ai tin theo Chúa cho trọn.

Lạy Chúa, đời sống đạo của chúng con hầu như vẫn cứ dậm chân tại chỗ. Tinh thần thì nguội lạnh và mệt mỏi, còn thân xác nặng nề và yếu đuối kéo lôi chúng con lùi bước. Chúng con chỉ tìm kiếm sự hơn thua ở đời trọc này mà quên đi sứ mệnh cao cả là mong tìm ơn cứu độ.

 

Lm. Giuse Trần Việt Hùng

Subcategories