3. Sống & Chia Sẻ Lời Chúa

Hãy thống hối, vì nước trời gần đến

Bước vào Chúa nhật II Mùa Vọng với chủ đề : Populus Sion ... (Này hỡi Dân Sion…) Chúa sắp ngự đến cứu độ muôn dân. Người sẽ lên tiếng thật oai hùng, khiến tâm hồn anh em hoan hủy... " (Ca nhập lễ)  làm cho tâm hồn chúng ta rạo rực hẳn lên. Khơi dậy trong ta một lịch sử của sự tha thứ và khám phá ra lòng trắc ẩn của Thiên Chúa đối với con người. Lịch sử ấy có những đòi hỏi như Gioan Baotixita mách bảo chúng ta : « Hãy sửa đường Chúa », nghĩa là : hãy hoán cải  tâm hồn đón chờ Chúa đến.

Bài đọc I vang lên làm chúng ta nhớ đến sự mong chờ Đấng Cứu Thế đến của Dân Do Thái, Đấng mà ngôn sứ đã loan báo : "Từ gốc Giêsê sẽ đâm ra một chồi và cũng từ gốc ấy sẽ đơm lên một bông hoa. Trên bông hoa ấy, thần linh của Thiên Chúa sẽ ngự xuống… Ngài sẽ lấy đức công minh mà xét xử những người nghèo khó, và lấy lòng chính trực mà bênh đỡ kẻ hiền lành trong xứ sở... " (x. Is 11, 1-10).

Tin Mừng theo Thánh Matthêu (3, 1-12) trình bày cho chúng ta nhân vật Gioan Tẩy Giả, vị tiên tri cuối cùng của Cựu Ước, từ trong hoang địa, rao giảng kêu gọi dân Do Thái sám hối. Lời giảng tuy nghiêm nghị nhưng thu hút nhiều người. Gioan đã xuất hiện với những người đương thời như là hy vọng cuối cùng của một dân tuyệt vọng. Rất ít người nhận ra nhiệm vụ đích thực của ông là để " dọn đường cho Chúa", loan báo Chúa đến.

Gioan xuất hiện như Tiếng kêu trong hoang địa, mặc áo lông lạc đà, thắt lưng bằng dây da thú. Ông không kêu gọi người ta trở nên nhà khổ tu giống như ông. Ông rao giảng rằng : "Hãy ăn năn thống hối, vì nước trời gần đến ... chớ tự phụ nghĩ rằng : tổ tiên chúng tôi là Abraham. Vì ta bảo cho các người hay : Thiên Chúa quyền năng có thể khiến những hòn đá trở nên con cái Abraham. Đây cái rìu đã để sẵn dưới gốc cây. Cây nào không sinh trái tốt, sẽ phải chặt đi và bỏ vào lửa." Kết quả là : "Dân thành Giêrusalem, khắp xứ Giuđêa và các miền lân cận sông Giođan tuôn đến với ông, thú tội và chịu phép rửa do tay ông trong sông Giođan."  Lời của Gioan vẫn vang dội qua các thời đại và như một sứ điệp cấp bách gửi đến với chúng ta ngày hôm nay.

Gioan Tiền Hô lớn tiếng  kêu gọi : "Hãy ăn năn thống hối, vì nước trời gần đến". Mùa Vọng năm nay, chúng ta đang sống như thế nào, nếu không phải là chuẩn bị tâm hồn, giục lòng tin, cử hành Phụng vụ cho sốt sáng để lãnh nhận Ân Sũng mà Chúa Kitô đã mang đến trong thế gian cho mọi người hưởng nhờ. Trong năm vừa qua, chúng ta đã đi trọn con đường đặc biệt cử hành Năm Thánh Lòng Thương Xót. Giờ đây, có thể nói là bốn tuần của Mùa Vọng là như "tiền đường" để bước tiếp vào những ngày thánh. Chúng ta hãy chuẩn bị tinh thần bằng lời cầu nguyện, ngõ hầu Mùa Giáng Sinh sắp đến gặp thấy chúng ta sẳn sàng tiếp đón Ðấng Cứu Thế ngự đến!

"Hãy ăn năn thống hối". Ðể gặp được Ðấng cứu thế, con người cần phải hoán cải chính mình, nghĩa là tiến đến cùng Chúa Kitô với đức tin tươi vui, bỏ đi những cách thức suy tưởng và nếp sống ngăn cản chúng ta sống theo Chúa cách trọn hảo.

"Vì nước trời gần đến". Công Đồng Va-ti-ca-nô II dạy rằng : Chúng ta không biết được thời gian hoàn tất của trái đất và nhân loại, chúng ta cũng chẳng biết cách thức biến đổi vũ trụ. Chắc chắn hình ảnh của một thế gian lệch lạc vì tội lỗi sẽ qua đi, nhưng chúng ta được biết Thiên Chúa đã dọn sẵn một chỗ ở mới và một đất mới, nơi công bằng ngự trị. Hạnh phúc nơi ấy sẽ thỏa mãn và đắp đầy mọi ước vọng hòa bình trào dâng trong lòng con người. Khi ấy, sự chết sẽ bị đánh bại, con cái Thiên Chúa sẽ phục sinh trong Chúa Kitô và những gì được gieo vãi trong yếu hèn, mục nát, sẽ mặc lấy sự không hư nát ; tình yêu và các hoạt động bác ái sẽ tồn tại và toàn thể tạo vật mà Thiên Chúa đã dựng nên cho con người sẽ được giải thoát khỏi ách nô lệ phù vân.

Chúng ta đã được cảnh giác là lời lãi cả thế gian mà chính mình hư mất nào ích lợi gì. Nhưng sự trông đợi đất mới không được làm suy giảm, trái lại phải kích thích nỗ lực phát triển trái đất này, nơi mà Thân Thể gia đình nhân loại mới đang tăng trưởng và tiên báo một vài hình ảnh của thời đại mới. Trích "Hiến Chế Vui Mừng và Hy Vọng ", § 39, 1-3.

Chúng ta hãy đặt vào tay Mẹ Maria Nữ Vương của niềm hy vọng mọi ước muốn tốt lành của chúng ta, để Mẹ giúp chúng ta sống Mùa Vọng này cho xứng. Cầu chúc cộng đoàn chúng ta thăng tiến luôn mãi với ơn Chúa. Amen. 

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

MARANATHA – LẠY CHÚA, XIN HÃY ĐẾN

“Maranatha” được sử dụng trong các bài hát hoặc trong các cuộc trò chuyện. Cụm từ này, Μαρὰν μαράνα θά, bằng tiếng Aram - ngôn ngữ được người Do Thái sử dụng vào thời điểm Tân Ước được viết ra.

Cụm từ này xuất hiện một lần trong 1 Côrintô 16:22: “Nếu ai không yêu thương Chúa, đáng nguyền rủa kẻ đó! Maranatha - Lạy Chúa! Xin hãy đến.” Theo Bách khoa toàn thư Kinh thánh tiêu chuẩn quốc tế, cụm từ “Maranatha được những Kitô thời sơ khai sử dụng để nhấn mạnh một cách trang trọng cho một tuyên bố, lệnh cấm hoặc phán quyết trước đó, và dường như đã trở thành một loại khẩu hiệu; có thể là một phần của phụng vụ thời kỳ đầu.”

Có một số điểm tương đồng giữa “Maranatha” trong tiếng Aram và cụm từ tiếng Hy Lạp “ἔρχου, κύριε Ἰησοῦ - Xin hãy đến, lạy Chúa Giêsu” được sử dụng trong câu cuối cùng của Tân Ước: “Đấng làm chứng cho những điều này nói: “Đấng làm chứng về những điều đó phán rằng: Phải, chẳng bao lâu nữa Ta sẽ đến. Amen, lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến!” (Khải Huyền 22:20).

Maranatha có nghĩa là gì?

Tùy thuộc vào cách dịch, cụm từ “Maranatha” có thể có nghĩa là “Chúa chúng ta đã đến”, “Lạy Chúa, xin hãy đến!” hoặc “Chúa của chúng ta đang đến.” Các học giả đã tranh luận về ý nghĩa nào là chính xác nhất, nhưng tất cả đều phù hợp với cách hiểu của Phaolô về việc Chúa Kitô đến lần thứ nhất và lần thứ hai, mỗi lần đưa ra một khía cạnh độc đáo về tác động trong quá khứ, hiện tại hoặc tương lai của Ngài.

Nếu chúng ta đọc cụm từ “Chúa chúng ta đã đến”, thì đó là lời tuyên bố mang tính tín điều về những gì Chúa Giêsu đã làm cho chúng ta trong cuộc giáng sinh, cuộc sống trần thế và cái chết hy sinh thay cho chúng ta. Nó gợi nhớ đến những lời tuyệt vời của Thánh Gioan: “Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta. Chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Ngài, vinh quang mà Chúa Cha ban cho Ngài, là Con Một đầy tràn ân sủng và sự thật. Ông Gioan làm chứng về Ngài, ông tuyên bố: "Đây là Đấng mà tôi đã nói: Ngài đến sau tôi, nhưng trổi hơn tôi, vì có trước tôi.” Từ nguồn sung mãn của Ngài, tất cả chúng ta đã lãnh nhận hết ơn này đến ơn khác. Quả thế, Lề Luật đã được Thiên Chúa ban qua ông Môsê, còn ân sủng và sự thật, thì nhờ Chúa Giêsu Kitô mà có. Thiên Chúa, chưa bao giờ có ai thấy cả; nhưng Con Một vốn là Thiên Chúa và là Đấng hằng ở nơi cung lòng Chúa Cha, chính Ngài đã tỏ cho chúng ta biết” (Gioan 1:14-18).

Nếu chúng ta đọc cụm từ “Xin hãy đến, lạy Chúa!” thì nó diễn tả niềm khao khát của cõi lòng các tín hữu rằng Chúa Giêsu sẽ trở lại lần thứ hai, không phải như một hài nhi bất lực bước vào nỗi đau của chúng ta mà như một vị vua chiến thắng đến để chỉnh đốn mọi sự và làm cho mọi sự trở nên mới mẻ. Cụm từ này nhắc nhở chúng ta về những gì các thiên thần đã nói với các môn đệ trong Công vụ: “Và đang lúc các ông còn đăm đăm nhìn lên trời phía Ngài đi, thì bỗng có hai người đàn ông mặc áo trắng đứng bên cạnh và nói: Hỡi những người Galilê, sao còn đứng nhìn lên trời? Chúa Giêsu, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Ngài lên trời” (Cv 1:10-11).

Cụm từ “Maranatha” này cũng thôi thúc chúng ta quỳ gối cầu nguyện, theo lời khuyên của Phêrô dành cho các tín hữu: “Thời cùng tận của vạn vật gần đến rồi. Anh em hãy sống chừng mực và tiết độ để có thể cầu nguyện được” (1 Phêrô 4:7).

Nếu chúng ta đọc cụm từ “Chúa chúng ta đang đến” thì đó là một sự bảo đảm tuyệt vời về thực tại tương lai cho những người tin Chúa. Thật vậy, chính Chúa Giêsu đã nói: “Đây, chẳng bao lâu nữa Ta sẽ đến, và Ta đem theo lương bổng để trả cho mỗi người tuỳ theo việc mình làm. Ta là Anpha và Ômêga, là Đầu và Cuối, là Khởi Nguyên và Tận Cùng. Phúc thay những kẻ giặt sạch áo mình, để được quyền hưởng dùng cây Sự Sống và qua cửa mà vào Thành! Những quân chó má, làm phù phép, gian dâm, sát nhân, thờ ngẫu tượng, cùng với mọi kẻ thích điều gian dối và ăn gian nói dối, hãy xéo ra ngoài” (Khải Huyền 22: 12-15).

Sự tương phản giữa phản ứng của Chúa đối với người công chính và người bất chính trong đoạn trước (Khải huyền 22:12-15) cũng như trong Đoạn văn gốc “Maranatha” được trích dẫn (1 Côrintô 16:22) rõ ràng đến mức khiến người ta phải choáng váng. Sự phán xét sẽ nhanh chóng và khủng khiếp đối với những kẻ sống bất tuân; niềm an ủi và niềm vui sẽ mãi mãi tuôn chảy cho những ai đã bước theo Chúa.

Thật tuyệt vời khi lưu ý đến lòng trắc ẩn đối với nhân loại tội lỗi được thể hiện qua việc giặt sạch áo ở câu 14: “Phúc thay những kẻ giặt sạch áo mình,để được quyền hưởng dùng cây Sự Sống và qua cửa mà vào Thành!”  và kết hợp nó với một tham chiếu khác bằng cách sử dụng câu nói “hãy đến” ở phần sau. Trong bối cảnh Chúa “đến sớm”, chúng ta có những lời này: “Ai khát, hãy đến; ai muốn, hãy đến lãnh nước trường sinh mà không phải trả tiền” (Khải Huyền 22:17). Ngay cả trong phần mô tả về cuộc phán xét sắp đến đối với những kẻ chống lại Thiên Chúa, người ta vẫn được hỏi liệu họ có khát không và có được mời uống miễn phí và thỏa mãn muôn đời hay không, như Chúa Giêsu đã nói với người phụ nữ Samaria: “Còn ai uống nước tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời” (Gioan 4:14).

Tại sao từ Maranatha lại quan trọng?

Ý tưởng về “Maranatha” rất quan trọng vì việc “hướng lòng trí về những gì thuộc thượng giới, chứ đừng chú tâm vào những gì thuộc hạ giới” (Côlôsê 3:1) sẽ cho chúng ta cách nhìn nhận cần thiết để vượt qua cuộc sống với niềm vui và bình an khi mọi thứ khó khăn. Chúng ta được đảm bảo: “Khi Chúa  Kitô, nguồn sống của chúng ta xuất hiện, anh em sẽ được xuất hiện với Ngài, và cùng Ngài hưởng phúc vinh quang” (Côlôsê 3:4).

Ngược lại, C.S. Lewis nói về sự hoài nghi mà đau khổ trần thế có thể tạo ra, thứ đau khổ vốn dĩ không dẫn đến tương lai thiên đàng, vì nhiều người nghĩ rằng “Không có hạnh phúc nào trong tương lai có thể bù đắp được” vì hiện tại họ đang đau khổ. Họ không biết, “rằng Thiên đàng, một khi đạt được, sẽ hoạt động ngược lại và biến nỗi thống khổ đó thành vinh quang.”

Thật vậy, lời hứa về sự quang lâm của Chúa Kitô và về niềm hạnh phúc vĩnh cửu đang chờ đợi chúng ta là chắc chắn và đáng tin cậy bất chấp những thử thách mà chúng ta hiện đang trải qua trong thế giới sa ngã. Thánh Phaolô nói:

Xin Thiên Chúa trung thành chứng giám cho chúng tôi! Lời chúng tôi nói với anh em chẳng phải vừa là "có" vừa là "không". Vì Chúa Kitô Giêsu, Con Thiên Chúa, Đấng mà chúng tôi, là Silvanô, Timôthê và tôi, rao giảng cho anh em, đã không vừa là "có" vừa là "không", nhưng nơi Ngài chỉ toàn là "có". Quả thật, mọi lời hứa của Thiên Chúa đều là "có" nơi Ngài. Vì thế, cũng nhờ Ngài mà chúng ta hô lên "Amen" để tôn vinh Thiên Chúa. Đấng củng cố chúng tôi cùng với anh em trong Chúa Kitô và đã xức dầu cho chúng ta, Đấng ấy là Thiên Chúa. Chính Ngài cũng đã đóng ấn tín trên chúng ta và đổ Thần Khí vào lòng chúng ta làm bảo chứng” (2 Côrintô 1:18-22).

Tại sao cụm từ “Maranatha” này trở nên quan trọng trong trí tưởng tượng của Kitô hữu? Bất kể chúng ta chọn cách giải thích từ đó như thế nào, nó vẫn ám chỉ đến một số sự thật quan trọng nhất trong đức tin của chúng ta: Chúa Kitô đã đến, và Chúa Kitô sẽ trở lại!

Việc Chúa Giêsu đến lần thứ nhất mang lại niềm hy vọng, và lần đến thứ hai của Ngài sẽ mang lại niềm vui tồn tại mãi mãi cho những ai theo Ngài. Chúng ta đang sống trong mớ hỗn độn giữa hai điểm này. Chúng ta nhìn lại và ngợi khen Thiên  Chúa vì Chúa Kitô đã đến. Và chúng ta mong đợi và tin cậy rằng Chúa Kitô sẽ trở lại. Bằng cách sống công chính và bình an giữa hai lần đến này, chúng ta tìm thấy tương lai cho cuộc sống tạm mà chúng ta hiện đang sống, và chúng ta thấy mình được thúc đẩy cầu nguyện: “Lạy Chúa Giêsu, xin hãy đến!” và cảm nhận sự háo hức chờ đợi theo từng nhịp đập của trái tim, đưa chúng ta đến gần hơn với ngày “sẽ được biết hết, như Thiên Chúa biết” chúng ta (1 Côrintô 13:12).

Jessica Udall, https://www.christianity.com

Chuyển ngữ: Phêrô Phạm Văn Trung

 

NHỮNG CON TIM ĐỒNG THANH

Thứ Sáu Tuần 1 Mùa Vọng A

“Lạy Con Vua Đavít, xin thương xót chúng tôi!”.

“Cùng nhau cầu nguyện là cùng thở trong Thiên Chúa!” - Ruth Burrows.

Kính thưa Anh Chị em,

Hình ảnh hai người mù trong Tin Mừng hôm nay là một bức hoạ thật đẹp về ‘những con tim đồng thanh’ - cùng thở trong Thiên Chúa - “Lạy Con Vua Đavít, xin thương xót chúng tôi!”.

Dù bước đi trong tối tăm, nhưng tâm hồn hai người mù lại bừng lên một thứ ánh sáng ‘rất Giáo Hội!’. Không thưa với Chúa Giêsu riêng lẻ - “Xin thương xót tôi!”; họ đến như một cộng đoàn - “Xin thương xót chúng tôi!”. Lời cầu ấy mang một khuôn mặt Giáo Hội. Nó là tiếng thở chung của ‘những con tim đồng thanh’ đặt niềm tin vào Chúa. Cũng thế, Chúa Giêsu chất vấn về ‘cái chung’ của họ, “Các anh có tin là tôi làm được điều ấy không?”. Câu hỏi ấy kéo họ vào một cuộc ‘phó thác chung’. Họ đáp, “Thưa Ngài, chúng tôi tin!”. Chính ở đức tin hợp nhất ấy, ân sủng tìm thấy đường đi! “Vết thương của chúng ta có thể mở ra cho ân sủng khi chúng ta dám bước đi cùng nhau như một thân thể duy nhất!” - Henri Nouwen.

Bài đọc Isaia đơn giản phác hoạ - Thiên Chúa sẽ mở mắt dân. Không chỉ chữa lành cá nhân, Ngài phục hồi “nhà Giacóp” - một cộng đoàn - để họ lại nhận biết Ngài. Lời hứa ấy làm nền tảng cho niềm hy vọng của một Giáo Hội được chữa lành; ánh sáng của Thiên Chúa bao giờ cũng mang ‘tính quy tụ!’. Thánh Vịnh đáp ca thì ngắn gọn nhưng thật căn cơ, “Chúa là nguồn ánh sáng và ơn cứu độ của tôi!”. Khi đặt Chúa làm ánh sáng, Giáo Hội được soi dẫn để nhìn nhau với lòng thương xót, và cùng nhau bước ra khỏi những vùng tối của nghi kỵ, mệt mỏi, ốc đảo và cô độc.

Ước gì giữa nhịp sống mục vụ, gia đình và lao nhọc mỗi ngày, bạn và tôi không đánh mất tiếng thở chung ấy. Khi cộng đoàn là ‘những con tim đồng thanh’ cất lên cùng một lời kinh, khi gia đình biết quỳ xuống cùng nhau trước bàn thờ, khi giáo xứ biết mang lấy nỗi đau của từng người - ánh sáng Mùa Vọng sẽ trở nên rõ ràng, gần gũi, và cũng chữa lành hơn. “Chúng ta được dựng nên để cùng nhau; khi cùng chịu đau, chúng ta cùng được chữa lành!” - Desmond Tutu.

Anh Chị em,

“Xin thương xót chúng tôi!”. Mùa Vọng, mùa của cộng đoàn cùng thở, cùng cầu, cùng hy vọng. Khi chúng ta thốt lên, “Lạy Cha chúng con!” hay “Lạy Chúa Giêsu, xin hãy đến”, thì những lời cầu ấy chỉ thật sự ‘đầy đủ’ khi là một ‘lời chung’, một ‘khát vọng chung’ của toàn thể Giáo Hội. Và đó chính là vẻ đẹp của nàng! Những trái tim không giống nhau, nhưng được Thánh Thần làm cho hoà nhịp, trở thành ‘những con tim đồng thanh’ dâng lời ngợi khen chúc tụng và mọi nhu cầu lên Thiên Chúa. Ước gì trong Mùa Vọng này, mỗi người chúng ta lại bước vào nhịp thở ấy - nhịp thở của một cộng đoàn đang nài xin ánh sáng, đang san sẻ đức tin và nâng đỡ những vùng tối của nhau. Vì “Cuộc sống cầu nguyện không bao giờ sống trong cô lập; nó nảy nở trong cộng đoàn!” - Thomas Merton.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin cho mỗi lời cầu của chúng con thành một nhịp thở chung, nâng đỡ những góc khuất của nhau trong yêu thương, và cùng hoà vào hơi thở của Mẹ Giáo Hội!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

 

CHO KHÔNG

Thứ Bảy Tuần I Mùa Vọng A

“Anh em đã được cho không, thì cũng phải cho không như vậy!”.

“Đã từ lâu, Thiên Chúa đấu tranh với một nhân loại cứng đầu; Ngài ban cho nó muôn phúc lộc nhưng những món quà này vẫn không chiếm được trái tim nó. Cuối cùng, Ngài phải tự tạo một món khác, chính Ngài! Đó là quà tặng vô giá Ngài trao cho nhân loại - Ngài cho không - và nó không phải trả đồng nào!” - Henry Scougal.

Kính thưa Anh Chị em,

Hướng về lễ Giáng Sinh, thật ý nghĩa khi bạn và tôi dừng lại ở ý tưởng “Giêsu là quà tặng vô giá Thiên Chúa ‘cho không’ mà nhân loại khỏi phải trả đồng nào!”. Trong Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu xác nhận điều đó; và Ngài thêm, “Anh em cũng phải cho không như vậy!”.

‘Cho không’ nghĩa là khỏi mất phí. Đó là những gì? Là mọi điều tốt đẹp hoàn toàn do tình yêu Thiên Chúa chứ không do một công lênh nào của con người. Những ân tứ thiên hình vạn trạng: sự sống, sức khoẻ, không khí, ánh sáng, thời gian - “Chúa sẽ làm mưa trên hạt giống ngươi gieo trồng, cho lương thực, sản phẩm của đất đai, thật dồi dào béo bổ!” - bài đọc một; là những điều ‘thuộc linh’: trí khôn, lương tâm, tình yêu, gia đình, tình bạn, các mối tương giao. Kế đến, sự chữa lành, tha thứ và muôn ân lộc thiêng liêng như Thánh Kinh, Thánh Truyền, Bí tích, giáo huấn Hội Thánh. Ngài ‘cho không’, và chúng ta vui hưởng mà chẳng phải trả đồng nào. Thiên Chúa là Tình Yêu mà “Tình yêu tự bản chất là quà tặng; không thể mua, không thể đòi, không thể ép buộc - chỉ có thể ‘cho không!’” - Von Balthasar.

Thế nhưng, trong muôn một, món quà “Giêsu” vẫn là quà tặng tuyệt vời nhất. Mùa Vọng, mùa biết ơn, mùa vui mừng vì nhân loại đã được trao quà tặng lớn nhất ấy - “Thiên Chúa yêu thế gian đến nỗi đã ban Con Một!”. “Giáng Sinh là tuyên bố của Thiên Chúa rằng, Ngài trao chính mình mà không giữ lại điều chi!” - Karl Rahner. Vì thế, Sinh Nhật của Chúa Giêsu không chỉ là lễ tạ ơn nhưng còn là thời gian nhớ đến ơn gọi của mình: mang Giêsu đến cho người khác, cho những con người “lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt!” - Tin Mừng hôm nay. “Hãy làm mọi điều thiện bạn có thể, cho mọi người bạn có thể, trong mọi khi bạn có thể - ấy là sống tinh thần cho đi!” - John Wesley. Như vậy, Mùa Vọng, mùa Giáng Sinh còn là mùa ‘chạnh thương’ như Chúa Giêsu chạnh thương.

Anh Chị em,

“Chạnh thương như Chúa Giêsu chạnh thương không chỉ là một xúc cảm vật chất, nhưng là “patire con” - cùng đau khổ - tự mình gánh lấy nỗi buồn của người khác. Tôi có chạnh thương khi đọc các tin tức về chiến tranh, đói khổ, dịch tễ? Tôi có chạnh thương với những người gần bên? Tôi có khả năng đau khổ cùng họ, hay tôi ngoảnh mặt làm ngơ và nói, “họ có thể tự lo?”. Đừng quên, “chạnh thương” không chỉ là phó dâng những người anh em chị em cho tình yêu quan phòng của Chúa Cha, nhưng còn là can đảm chia sẻ và ‘cho không!’” - Phanxicô.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con ‘cứng đầu’ vì Chúa sẽ lưỡng lự khi không biết lấy gì để ban thêm cho con! Cũng đừng để con ‘nhức đầu’ khi phải làm một điều gì đó mà lẽ ra, con phải chạnh lòng!”, Amen.

(Lm. Minh Anh, Tgp. Huế)

 

 

ĐỜI ĐÁ, ĐỜI CÁT

Thứ Năm Tuần 1 Mùa Vọng A

“Chỉ ai thi hành ý muốn của Cha Thầy, Đấng ngự trên trời, mới được vào Nước Trời!”.

“Julius Caesar chinh phục 800 thành phố, nhuộm cẩm bào bằng máu của một triệu kẻ thù; thế mà ngay sau chiến thắng vĩ đại nhất, Caesar bị đâm chết bởi những người bạn chí thiết! Thành công tạm thời thường đội vương miện cho kẻ vô thần. Khi những thành tựu rực rỡ nhất không đặt nền trên Thiên Chúa, chúng chỉ kéo dài ‘lâu’ bọt nước!” - Anon.

Kính thưa Anh Chị em,

Cũng thế, một đức tin không đặt nền trên Chúa Kitô, nó chỉ bền như bọt nước. Lời Chúa hôm nay xác quyết, ai xây đời mình - ‘đời đá’ - trên Ngài, “Người ấy mới được vào Nước Trời!”.

Thế nhưng, đặt nền móng không bao giờ là một công việc hào nhoáng. Chẳng có gì đẹp đẽ ở một hố sâu nơi công trường bùn lầy! Đời sống đức tin cũng vậy, muốn đào móng sâu, phải khiêm tốn, ngay lành, kiên định cầu nguyện, bền bỉ tìm kiếm bác ái và miệt mài tự hiến. Đào móng là đi xuống, đối diện nết xấu, lột bỏ những tội lỗi tệ hại nhất, chấp nhận để Chúa “đục” vào những chỗ ngoài ý thích. Không có bước quyết liệt này, bạn và tôi chỉ xây những ‘đời cát’, tưởng vững mà không bền. “Khiêm tốn là nền móng của toàn bộ toà nhà đời sống thiêng liêng!” - Têrêxa Avila.

Một toà nhà có vẻ an toàn khi trời quang mây tạnh, chỉ khi cơn dông ập xuống mới phơi ra độ chắc của móng. Đời sống thiêng liêng cũng thế. Khi an bình bao phủ, đức tin dễ “nở hoa”; nhưng khi cám dỗ, thất bại, tổn thương hay một khủng hoảng lớn bất ngờ xảy ra, chúng ta mới nhận ra độ cứng thật sự của nó. “Thử thách cho ta thấy mình là ai; chúng xới tung mảnh đất tâm hồn và phơi ra chất liệu thật!” - Charles Spurgeon. Vậy làm sao đứng vững? Câu trả lời được tìm thấy trong bài đọc một, “Chúng ta có thành trì vững chắc: Chúa đã đặt tường trong luỹ ngoài để chở che”. Tường luỹ ấy chính là Chúa Kitô, Đá Tảng ngàn năm bền vững. “Chính nhờ Đức Kitô, với Đức Kitô và trong Đức Kitô”, toà nhà đức tin - và cả lời nói của chúng ta - mới có thể đứng vững.

Anh Chị em,

“Chúng ta có thành trì vững chắc!”. Thành trì ấy là Chúa Kitô. Chỉ khi lời của chúng ta bắt nguồn từ Ngài, nó mới có lửa và ban sự sống, mới chịu nổi thử thách, mới trở thành “lời đá”. “Một lời Kitô giáo mà gốc rễ không bắt nguồn từ Chúa Kitô là một lời Kitô giáo lừa dối; chúng chỉ gây hại!” - G.K. Chesterton. Mùa Vọng, mùa “khởi sự lại từ Chúa Kitô” - trở về với Đá Tảng - đặt móng trên Ngài, lời Ngài, để Lời và Thánh Thần hướng dẫn tất cả mọi hành vi sám hối, trỗi dậy, đi tới và yêu thương. Chỉ như thế, đời sống của bạn và tôi không còn là ‘đời cát’ vốn chỉ một cơn gió nhẹ cũng có thể sụp. “Khi lời Kitô giáo thiếu Chúa Kitô, chúng bắt đầu đi vào con đường điên rồ, dẫn đến phù phiếm, tự tôn, kiêu hãnh và tham nhũng quyền lực. Chúa sẽ hạ bệ những người này!” - Phanxicô.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, đừng để con đội vương miện của kẻ vô thần vốn chỉ thoáng qua như bọt nước. Cho con biết xây đời mình - một ‘đời đá’ - trên chính Chúa, và nó sẽ luôn đầy lửa!”. Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

 

Subcategories