3. Sống & Chia Sẻ Lời Chúa

Phép Rửa của Chúa Giêsu - Phép Rửa tội của chúng ta

Kết thúc mùa Giáng sinh, Giáo hội mời gọi chúng ta cử hành lễ Chúa Giêsu Chịu Phép Rửa để nhận biết Chúa Giêsu một cách trọn vẹn hơn biến cố Chúa giáng sinh. Lễ này đã được các Giáo phụ quan tâm đặc biệt ngay từ những thời kỳ đầu, vì tầm quan trọng đặc biệt có tính cổ thời của nó. Đây là lễ được mừng sớm nhất, chỉ sau lễ Phục sinh, vì nó bao hàm lời rao giảng của các Tông Đồ, là điểm khởi hành cho tất cả những việc mà các Tông Đồ phải làm chứng cho (x. Tđcv 1, 21-22; 10, 37-41). Chính vì thế Tin Mừng cho chúng ta thấy hai yếu tố quan trọng: mối tương quan giữa Chúa Giêsu và dân chúng; mối tương quan giữa Chúa Giêsu và Chúa Cha và Chúa Thánh Thần.

Để thực hiện ơn cứu rỗi nhân loại, trước khi dìm mình vào dòng nước, Chúa Giêsu hòa mình vào trong đám đông, liên đới trọn vẹn với thân phận con người ngoại trừ tội lỗi. Dù là Đấng vô tội, Chúa Giêsu đã mang trên mình tội lỗi thế nhân. Hành động khiêm nhường và tự hủy này, đã được Chúa Cha chứng dám: "Này là Con yêu dấu của Ta, Con đẹp lòng Ta" (Mt 3, 17).

Hòa mình với tội nhân trong cùng một dòng sông

Mừng Con Thiên Chúa nhập thể làm người là mừng: "Ngôi Lời đã hóa thành nhục thể và cư ngụ giữa chúng ta" (Ga 1,14). Nên hôm nay, chúng ta chứng kiến việc Chúa Giêsu hòa mình vào đám đông trong cùng dòng sông Giođan, với những con người có tội để sám hối thay cho loài người đang cần sám hối để được tha thứ. Đó là lý do tại sao Chúa Giêsu đến xin Gioan làm phép rửa cho mình, lúc mà Gioan đang làm phép rửa cho dân chúng để giúp họ sám hối xin tha tội lỗi.

Khởi đầu sứ vụ, Chúa Giêsu đã kêu gọi người ta ăn năn sám hối và tin vào Tin Mừng. Sám hối để nhận biết tội mình đã phạm để xin Chúa tha thứ. Con Thiên Chúa đến trần gian với mục đích đi tìm kẻ có tội để tha thứ. Cố ý cứu cho con người khỏi phải chết đời đời vì tội, Chúa Giêsu, Chiên Thiên Chúa đã gánh tội trần gian.

Người thấy Thánh Thần Chúa ngự xuống như một bồ câu, và đậu trên Người (x. Mt 3,17). Đây là phép lạ vĩ đại đã xảy ra sau khi Đấng Cứu Thế chịu phép rửa; phép lạ này là khúc dạo đầu cho những gì sẽ xảy ra. Đây không phải là Thiên Đàng khi xưa đóng lại vì tội của Ađam nay mở ra, mà chính trời mở ra: "Giêsu chịu phép rửa, rồi bước lên khỏi nước. Này đây các tầng trời mở ra " (Mt 3,16).

Chúa Giêsu bước lên khỏi nước, các tầng trời mở ra là Chúa Giêsu nâng thế gian lên cao với Người. Vì xưa kia, khi bị đuổi ra khỏi vườn địa đàng và bị lưỡi gươm lửa cấm đoán, chính A-đam đã đóng cửa trời lại, không cho mình mà cũng không cho con cháu vào. Nay nhờ Chúa Giêsu mà cửa trời được mở ra.

Trời mở ra, còn mạc khải cho Gioan Tẩy Giả và những người Do Thái biết rằng Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa. Thiên Chúa mở cửa trời để kêu gọi chúng ta hướng về trời, vì quê hương chúng ta là quê trời, và mách bảo chúng ta rằng, chúng ta không có gì ở dưới đất.

Phép rửa của Chúa Giêsu và Phép rửa của chúng ta

Vậy, phép rửa của Chúa Giêsu và phép rửa của chúng ta có liên kết chặt chẽ với nhau. Phụng Vụ của ngày lễ này đã hát lên như sau: "Đức Kitô chịu phép rửa, cả trần gian được thánh hoá, chúng ta được tha thứ tội lỗi, được thanh tẩy nhờ nước và Thánh Thần" (Tiền xướng của Kinh Bênêdictus, của Giờ Kinh Sáng). Chúng ta hãy thanh tẩy mình cho thanh sạch, hãy tiếp tục thanh tẩy cho thanh sạch hoàn toàn và đem lòng tôn kính mà tưởng niệm ngày Đức Ki-tô chịu phép rửa, và hãy mừng lễ cách xứng đáng. Thiết nghĩ, thực hành và sống lời hứa khi chịu phép Rửa tội là việc phải làm trong đời sống người kitô hữu chúng ta.

Sống lời hứa khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội

Lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa là cơ hội tốt lành để đổi mới với lòng biết ơn và xác tín lời hứa trong ngày chúng ta lãnh nhận Bí tích Rửa tội, hãy dấn thân sống xác tín này trong đời sống hàng ngày. Chúa Giêsu cứu độ chúng ta không phải vì cộng trạng của chúng ta nhưng là để thực hiện lòng tốt vô biên của Cha với cả nhân loại. Vì thế, mỗi ngày chúng ta hãy cố gằng thực hiện những điều đã hứa khi lãnh nhận Bí tích Rửa tội là từ bỏ ma quỷ, xa lánh các dịp tội và tin vào Thiên Chúa, như thế chúng ta mới có thể đón nhận mọi ơn lành Thiên Chúa ban và sống xứng đáng là con Thiên Chúa.

Không phải cứ được rửa tội, cứ nói tôi tin Chúa Kitô, là được cứu rỗi để vào Thiên Đàng hưởng hạnh phúc đời đời với Chúa. Rửa tội chỉ là bước đầu cần thiết cho việc cứu rỗi mà thôi. Bước tiếp theo quan trọng hơn, đó là thi hành những điều cam kết khi được rửa tội. Nếu không thi hành những lới hứa hay cam kết này thì Phép Rửa sẽ thành vô ích. 

Lạy Chúa Giêsu, xin giúp chúng con trung thành với lời hứa khi chịu phép Rửa tội trong suốt cuộc đời chúng con, nhờ lời chuyển cầu của thánh Gioan Tẩy Giả. Amen.

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

ĐẾN MỨC VÔ HÌNH

Thứ Bảy sau lễ Hiển Linh A

“Người phải nổi bật lên, còn thầy phải lu mờ đi!”.

Schleiermacher, triết gia Đức, có lần lang thang trong công viên về đêm, cảnh sát nghi là kẻ say. Khi được hỏi “Ông là ai?”, ông buồn buồn đáp, “Ước gì tôi biết!”.

Kính thưa Anh Chị em,

Tiếng thở dài của triết gia Đức được gặp lại trong Tin Mừng hôm nay khi các môn đệ Gioan chao đảo vì ghen tuông với Chúa Giêsu. Gioan nói, “Người phải nổi bật lên, còn thầy phải lu mờ đi!”. Đó là một ‘chọn lựa căn tính’ - dám rút khỏi trung tâm, nhỏ lại ‘đến mức vô hình!’.

Trong đời sống tông đồ, chúng ta thường vất vả không vì nhiều việc, mà vì muốn giữ lại ánh sáng. Lắm lúc, điều làm chúng ta đau không là thất bại của sứ vụ, mà là thành công của người khác. Như vậy, tôi yêu hình ảnh của tôi hơn yêu Nước Trời. Chúng ta không mệt vì phục vụ; nhưng mệt vì phải bảo vệ hình ảnh của mình khi phục vụ. Vì thế, chúng ta dễ so sánh, dễ chạnh lòng khi thấy công việc của người khác phát triển nhanh hơn, được ghi nhận nhiều hơn. Đằng sau sự nhiệt thành, đôi khi ẩn giấu một cơn khát được biết đến, được nhắc tên, được công nhận. Khi những điều ấy không còn, chúng ta mệt mỏi, chán nản, thậm chí cay đắng. Điều khó nhất không phải là làm nhiều hay làm ít, mà là chấp nhận lùi lại ‘đến mức vô hình’. “Những thánh vĩ đại nhất là những người không ai trên thế gian biết đến!” - Mẹ Têrêxa.

Gioan mời gọi một con đường sâu hơn - không chỉ lu mờ, mà nhỏ đi đến mức mọi nhu cầu tự khẳng định được thanh luyện. “Nhỏ lại” không chỉ để khiêm nhường, mà để được che khuất trước Đấng Messia. Lu mờ ‘đến mức vô hình’ không phải là mất mát; đó là cách duy nhất để ánh sáng Chúa Kitô rực sáng. Khi không còn bận tâm đến vị trí, danh dự, tiếng nói, chúng ta tự do để lắng nghe, để trao ban, và để ở lại trong niềm vui “người bạn của chú rể”. “Công việc của Thiên Chúa thường được thực hiện trong bóng tối, nơi không ai thấy!” - Charles Spurgeon.

Về điểm này, Phaolô đã có một trải nghiệm tuyệt vời, “Tôi sống, nhưng không còn là tôi sống, mà là Chúa Kitô sống trong tôi”. Đó không phải là xoá bỏ nhân cách, mà là hoán cải tận căn - trung tâm đời sống. Khi Chúa Kitô lớn lên, mọi ham muốn hơn thua, so đo, dần được thay thế bằng bình an và niềm vui. “Khiêm nhường là sự thay thế bản ngã bằng việc tôn Chúa lên ngai!” - Andrew Murray.

Anh Chị em,

“Người phải nổi bật lên, còn thầy phải lu mờ đi!”. Con đường nên thánh không luôn đi qua thành tựu rực rỡ, mà thường đi qua những chọn lựa âm thầm, những bước lùi không ai vỗ tay, những khoảnh khắc để cho mình chìm vào hậu trường của lịch sử cứu độ. Vâng, cả ‘một lịch sử cứu độ!’. Sống ‘đến mức vô hình’ là chấp nhận để đời mình trở thành khoảng trống cho Thiên Chúa tự do hành động, là để niềm vui của Ngài trở thành niềm vui của chúng ta. “Hãy trở nên không gì cả để Chúa Kitô là tất cả!” - Catharina Siêna.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, thật xấu xí khi con ‘hơn thua’ trong sứ vụ. Xin giải thoát con khỏi thèm khát được nhìn thấy. Cho con biết lùi lại để Chúa nổi bật trong con, trong anh chị em con!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

 

ÁNH SÁNG CHÚA KITÔ CHIẾU SOI MUÔN DÂN

Lễ Hiển Linh là ngày Giáo Hội mừng Chúa Giêsu biểu lộ vinh quang Thiên Chúa cho muôn dân, được đại diện bởi các nhà chiêm tinh từ phương Đông. Các bài đọc Kinh Thánh hôm nay mặc khải mầu nhiệm cứu độ phổ quát: Chúa Kitô là Ánh Sáng không chỉ dành riêng cho Israel, nhưng cho mọi dân tộc. Hành trình của các nhà chiêm tinh là cuộc kiếm tìm ánh sáng chiếu soi muôn dân, vì kể cả dân ngoại cũng được thừa kế gia nghiệp cùng với Israel trong Chúa Kitô.

  1. Các nhà chiêm tinh tìm kiếm và thờ lạy Chúa

Tin Mừng Mátthêu kể: “Khi Chúa Giêsu ra đời tại Bêlem, miền Giuđê, thời vua Hêrôđê trị vì, có mấy nhà chiêm tinh từ phương Đông đến Giêrusalem, và hỏi: Đức Vua dân Do thái mới sinh, hiện ở đâu? Chúng tôi đã thấy vì sao của Ngài xuất hiện bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Ngài” (Mt 2:1-2).

Các nhà chiêm tinh đại diện cho muôn dân ngoại giáo tìm kiếm Thiên Chúa. Họ theo ngôi sao, biểu tượng ánh sáng Thiên Chúa, dẫn dắt những tâm hồn thành tâm thiện chí. Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI dạy rằng: “Khi xét đến thực tế rằng ngay từ thuở ban đầu, nam nữ ở mọi nơi, mọi châu lục, với mọi nền văn hóa, tư tưởng và lối sống khác nhau, đều đang trên đường đến với Chúa Kitô, thì ta có thể thực sự nói rằng cuộc hành hương này và cuộc gặp gỡ với Thiên Chúa dưới hình hài một Hài nhi là một sự mặc khải về sự tốt lành và tình yêu thương của Thiên Chúa dành cho nhân loại” (Bài giảng lễ Chúa Hiển linh, 6 tháng Giêng, năm 2013).

Các nhà chiêm tinh dâng vàng, tượng trưng cho vương quyền của Ấu vương Giêsu; nhũ hương, tượng trưng cho thiên tính của Hài Nhi Giêsu; và một dược tượng trưng cho cho nhân tính của Chúa Hài Đồng, cũng mang trong mình bản tính của loài người, cũng biết đói, biết đau, biết buồn, biết khóc, và trở nên mọi sự như chúng ta, kể cả cái chết, ngoại trừ tội lỗi (Dt 4:15). Thánh Lêô Cả dạy: “Như tiên tri Isaia đã nói: dân ngoại, những người ngồi trong bóng tối, đã thấy một ánh sáng lớn, và đối với những người ở trong vùng bóng tối của sự chết, một ánh sáng đã ló rạng. Dân ngoại, là những người không biết Chúa, sẽ cầu khẩn Chúa, và các dân tộc, là những người không biết Chúa, sẽ nương náu nơi Chúa. Tất cả các dân tộc mà Chúa đã tạo dựng nên sẽ đến và quỳ xuống thờ phượng trước mặt Chúa, và tôn vinh danh Chúa. Một lần nữa, Chúa đã bày tỏ ơn cứu rỗi của Ngài; trước mắt các dân tộc, Ngài đã tỏ ra sự công chính của Ngài. Điều này đã được ứng nghiệm, như chúng ta biết, từ khi ngôi sao gọi ba nhà thông thái ra khỏi xứ sở xa xôi của họ và dẫn họ đến nhận biết và thờ phượng Vua trời đất.” [1] Hành trình của ba nhà chiêm tinh nhắc nhở chúng ta rằng hành trình tìm kiếm Thiên Chúa cần phải nỗ lực, vượt qua mưu chước đen tối của quyền lực thế gian mà Hêrôđê là tượng trưng, và khi gặp Ngài, phải thờ lạy và thay đổi lối sống: “đi lối khác mà về xứ mình” (Mt 2: 12).

Thánh Augustinô khẳng định: “Thưa anh em, ngày lễ chúng ta cử hành không phải là một sự kiện bình thường. Đây là ngày mà Đấng Cứu Độ trần gian được tỏ ra cho muôn dân” (Bài giảng 202, 1). Trong bài giảng này, ngài cũng nhấn mạnh rằng các mục đồng và các nhà thông thái, đến từ những hoàn cảnh khác nhau, đều hội tụ trong Chúa Kitô như là hòn đá góc tường: “Các mục đồng là người Israel; các nhà thông thái là dân ngoại; Các mục đồng từ những nơi gần mà đến; các nhà thông thái từ những nơi xa mà đến; nhưng cả hai đều gặp nhau nơi hòn đá góc tường” (đã dẫn trên). Thánh Augustinô cũng coi các nhà thông thái là hình mẫu của cuộc tìm kiếm tâm linh. Ngài viết: “Họ từ phương xa đến để thờ lạy Đấng mà họ đã biết bằng đức tin trước khi nhìn thấy Ngài bằng mắt thường” (Chú giải Thánh vịnh 72, Enarrationes in Psalmos 72:10). Thánh nhân diễn tả các nhà thông thái đi theo sự dẫn lối của một ngôi sao, một “ngôn ngữ từ trời” nói với họ về Chúa Kitô: “Chưa thể nói bằng ngôn ngữ trần gian, Ngài đã nói với họ từ trời qua ngôi sao” (Bài giảng 202:2). Thánh nhân tuyên bố: “Chúa Kitô đã tỏ mình ra cho các mục tử của Israel và các nhà thông thái của các dân tộc, cho thấy rằng ơn cứu độ dành cho tất cả mọi người” (De civitate Dei, XVII, 5 ).

Đối với Thánh Augustinô, lễ Hiển Linh cũng là dịp để suy ngẫm về phản ứng của chúng ta trước sự hiện diện của Chúa Kitô. Ngài cảnh báo: “Chỉ nhìn thấy ngôi sao thôi chưa đủ, cần phải theo đuổi nó. Chỉ biết Chúa Kitô thôi chưa đủ, cần phải tôn thờ Ngài” (Bài giảng 203, 3). Hơn nữa, ngài còn nhấn mạnh rằng sự thay đổi đường lối của các nhà thông thái tượng trưng cho sự hoán cải: “Thay đổi đường lối là thay đổi cuộc sống” (Bài giảng 202, 4). [2]

  1. Ánh sáng Chúa chiếu soi muôn dân

Ngôn sứ Isaia từng tiên báo: “Chư dân sẽ đi về phía ánh sáng của ngươi, vua chúa hướng về ánh bình minh của ngươi mà tiến bước…Trước cảnh đó, mặt mày ngươi rạng rỡ, lòng ngươi rạo rực, vui như mở cờ, vì nguồn giàu sang sẽ đổ về từ biển cả, của cải muôn dân nước sẽ tràn đến với ngươi. Lạc đà từng đàn che rợp đất, lạc đà Mađian và Êpha: tất cả những người từ Sơva kéo đến, đều mang theo vàng với trầm hương, và loan truyền lời ca tụng Chúa” (Is 60: 1-6). Lời tiên tri này, viết trong thời lưu đày Babylon, loan báo Giêrusalem trở thành trung tâm ánh sáng thu hút muôn dân. Lời ấy hôm nay ứng nghiệm qua Chúa Kitô chính là ánh sáng ấy.

Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo dạy: “Hiển Linh là sự tỏ mình ra của Chúa Giêsu, như Đấng Messia của Israel, là Con Thiên Chúa, và là Đấng Cứu Độ trần gian. Lễ này mừng kính việc “các đạo sĩ” từ phương Đông đến thờ lạy Chúa Giêsu. Nơi các “đạo sĩ” này, là đại diện cho các tôn giáo lương dân lân cận, Tin Mừng nhận ra những hoa quả đầu mùa của các dân tộc sẽ đón nhận Tin Mừng cứu độ nhờ mầu nhiệm Nhập Thể” (GLHTCG, số 528).

Việc Chúa Giêsu, vị Vua Hài nhi, tỏ mình ra cho các nhà thông thái dân ngoại là một mầu nhiệm trong kế hoạch cứu độ Của Thiên Chúa. Thánh Phaolô giải thích mầu nhiệm: “Hẳn anh em đã được nghe biết về kế hoạch ân sủng mà Thiên Chúa đã uỷ thác cho tôi, liên quan đến anh em. Ngài đã mặc khải để tôi được biết mầu nhiệm Chúa Kitô…Mầu nhiệm đó là: trong Chúa Kitô Giêsu và nhờ Tin Mừng, các dân ngoại được cùng thừa kế gia nghiệp với người Do thái, cùng làm thành một thân thể và cùng chia sẻ điều Thiên Chúa hứa” (Ep 3:2-3,6). Thánh Phaolô nhấn mạnh: “Tôi đã trở nên người phục vụ Tin Mừng đó, nhờ ân sủng đặc biệt Thiên Chúa ban cho tôi” (Ep 3: 7) và tự nhận mình là “kẻ rốt hết trong toàn thể dân thánh, thế mà Thiên Chúa đã ban cho tôi ân sủng này là loan báo cho các dân ngoại” (Ep 3: 8).

Giáo Lý Hội Thánh nhấn mạnh: “Việc các đạo sĩ đến Giêrusalem để bái lạy Vua dân Do Thái có nghĩa là các dân ngoại có thể gặp được Chúa Giêsu và thờ lạy Ngài là Con Thiên Chúa và là Đấng Cứu độ trần gian, bằng cách hướng về dân Do Thái và nhờ dân ấy mà lãnh nhận lời hứa về Đấng Mêsia như đã được ghi chép trong Cựu Ước. Cuộc Hiển Linh cho thấy đông đảo dân ngoại được gia nhập vào gia đình của các Tổ Phụ, và được hưởng “phẩm giá của Israel” (GLHTCG, số 528). 

  1. Trở nên ánh sáng cho muôn dân

Lễ Hiển Linh không chỉ là kỷ niệm lịch sử, mà là lời mời gọi chúng ta trở thành ngôi sao dẫn muôn dân đến với Chúa Kitô. Đức Giáo Hoàng Phanxicô kêu gọi: “Chúng ta hãy cầu xin lòng can đảm để tiếp tục cuộc hành trình của mình, và hãy kết thúc trong sự thờ phượng! Chúng ta đừng sợ hãi, vì đây là con đường của các nhà thông thái, con đường của tất cả các thánh nhân trong suốt lịch sử: đón nhận sự bồn chồn của mình, lên đường và thờ phượng. Nguyện xin chúng ta đừng bao giờ gián đoạn cuộc hành trình của mình, bị sự thờ ơ hay tiện nghi khuất phục; và trong cuộc gặp gỡ với Chúa, nguyện xin chúng ta hãy phó thác mình cho sự kỳ diệu của sự thờ phượng. Khi đó, chúng ta sẽ khám phá ra rằng một ánh sáng vẫn chiếu rọi ngay cả trong những đêm tối tăm nhất: ánh sáng của Chúa Giêsu, ngôi sao mai rạng rỡ, mặt trời công lý, vinh quang đầy lòng thương xót của Thiên Chúa, Đấng yêu thương mọi người nam nữ và tất cả các dân tộc trên trái đất” (Bài giảng Lễ Hiển Linh, ngày 6 tháng 1 năm 2023).

Trong thế giới hôm nay đầy bóng tối chiến tranh, chia rẽ, chúng ta được mời gọi “Đứng lên, bừng sáng lên!” (Is 60: 1), mang ánh sáng Chúa Kitô đến mọi dân tộc. Theo bước các nhà chiêm tinh, chúng ta tìm kiếm Chúa trong cầu nguyện, dâng tiến Ngài những gì quý giá nhất, thời gian, tài năng, cuộc đời, hoán cải “đi lối khác mà về xứ mình” (Mt 2: 12) và sống đời chứng tá. Xin Chúa Hiển Linh ban ơn để chúng ta trở nên ánh sáng cho thế giới, dẫn muôn dân đến thờ lạy Ngài.

Phêrô Phạm Văn Trung

[1] http://www.solonstmary.org/uploads/1/0/3/9/10392661/epiphany_st_leo_the_great.pdf   

[2] https://agustinosrecoletos.com/2025/01/06/epiphany-the-light-of-christ-enlightening-the-nations/?lang=en

 

Vị Tổng Thống nhảy múa

Một ngày nóng bức tháng bảy năm 1969 trên boong tàu một chiếc hàng không mẫu hạm ở Thái Bình Dương, các thuỷ thủ đang đưa ống dòm tìm kiếm trong vùng bầu trời phía trên chíêc mẫu hạm. Bỗng nhiên họ kêu lên. Có ba chiếc dù màu cam và trắng nở xoè ra trên bầu trời xanh thẳm, đong đưa phía dưới là vật giống như một trái banh. Ðó chính là đầu chiếc phi thuyền Apollo 11. Vài phút sau, chiếc phi thuyền đâm sâu vào dòng nước ấm áp của Thái Bình Dương. Nước biển tung toé lên đánh dấu sự kết thúc thành công của chuyến du hành mang ba người lên mặt trăng.

Khi các phi hành gia mỉm cười trồi lên từ chiếc phi thuyền nhỏ, Tổng Thống Nixon nhảy tung tăng trên boong chiếc mẫu hạm. Ông đã bay nửa vòng trái đất đến đây để chứng kiến giây phút làm nên lịch sử này. Tổng thống nói rằng vệt nước tung toé của chiếc phi thuyền đã đánh dấu sự kết thúc tuần lễ vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại kể từ cuộc tạo dựng.

Trong những tháng đầy phấn khích sau đó, ba phi hành gia đã thực hiện chuyến du lịch thiện chí vòng quanh thế giới. Họ đã thăm viếng 23 quốc gia trong vòng 45 ngày. Phi hành gia Ed Aldrin nói rằng: “Một trong những thời gian phấn khích nhất” của chuyến đi là cuộc thăm viếng Vatican. Các phi hành gia đặc bịêt xúc động khi nhận được những quà tặng khác thường của Ðức Giáo Hoàng Phaolô VI. Ed Aldrin viết trong quyển sách của mình tựa đề: Return to Earth (trở lại trái đất) như sau:

“Ðức Thánh Cha mở lớp vải gói ba bức tượng ba nhà đạo sĩ làm bằng sứ tuyệt đẹp. Người nói rằng ba vị đạo sĩ đã đến được với Chúa Giêsu Hài Ðồng là nhờ nhìn lên những vì sao, còn chúng tôi đã đạt đến đích của mình cũng là nhờ nhìn xem các vị sao như vậy”.

Khi chiêm ngắm các bức tượng bằng sứ tượng trưng cho ba nhà thông thái, ba phi hành gia liền nghĩ ngay đến câu chuyện họ đọc được trong bài Phúc âm hôm nay. Và chắc chắn, giống như chúng ta, họ cũng suy nghĩ về ý nghĩa sâu xa hơn ẩn giấu trong câu chuyện này.

Dĩ nhiên tất cả các học sinh đều biết được ý nghĩa câu chuyện này rồi. Ðây là việc Chúa Giêsu tự biểu lộ mình ra cho dân ngoại. Cho thế giới ngoài Do Thái Giáo. Chính vì thế, chúng ta gọi lễ này là lễ “Hiển Linh” (Epiphany). Từ ngữ Hiển Linh có nghĩa là “Thiên Chúa biểu lộ ra”.

Bởi vì Hiển Linh mừng kính việc Chúa Giêsu tự biểu lộ mình cho thế giới dân ngoại, nên một số quốc gia mừng lễ này còn trọng thể hơn lễ Giáng Sinh. Thực thế, Lễ Hiển Linh là lễ Giáng Sinh dành cho dân ngoại.

Ba nhà thông thái hay ba chiêm tinh gia từ phương Ðông đến ấy đã nhìn Chúa Giêsu thế nào? Họ nghĩ gì về Hài Nhi được hạ sinh trong trường hợp đặc biệt như thế?

Thánh Mathêu hình như cũng mang trong tâm trí câu hỏi khi người liệt kê những tặng vật mà các vị thông thái này dâng lên Chúa Giêsu. Thánh Matthêu viết: “Khi bước vào nhà và nhìn thấy hài nhi cùng Ðức Maria Mẹ Người, họ liền quỳ gối xuống tôn thờ Hài Nhi đoạn mang các tặng vật ra gồm vàng, nhũ hương và mộc dược dâng lên Người”.

Người xưa thường coi vàng là vua của mọi thứ kim loại. Vì thế, vàng là tặng vật lý tưởng cho một vị vua. Vì thế các Kitô hữu cắt nghĩa tặng vật vàng tượng trưng cho vương quyền của Chúa Giêsu. Về vương quyền của Chúa Giêsu, Thánh Phaolô có viết trong thư gởi tín hữu Ephêsô như sau: “Chúa Cha đã Phục Sinh Ðức Kitô từ cõi chết và đặt Ðức Kitô bên hữu Người trên Thiên Quốc. Ðức Kitô cai trị trên vạn vật… Thiên Chúa đã đặt mọi sự dưới chân Ðức Kitô”. (Ep 1: 20- 22)

Từ đó, chúng ta đề cập đến tặng vật thứ hai là nhũ hương. Người xưa thường dùng nhũ hương trong việc thờ phụng. Hương và khói bay lên trời biểu tượng những lời ca tụng và cầu nguyện dâng lên các thần linh. Các Kitô hữu cắt nghĩa tặng vật nhũ hương tượng trưng cho thiên tính của Ðức Giêsu. Khi nói về thiên tính Chúa Giêsu; thư gởi tín hữu Do Thái đã diễn tả như sau: “Chúa Giêsu phản chiếu sự chói lọi vinh quang của Thiên Chúa và là hình bóng bản thể của Thiên Chúa. Người lấy lời quyền phép của mình để nâng đỡ vạn vật” (Dt 1:3)

Ðiều này dẫn chúng ta đến tặng vật cuối cùng là mộc dược. Người xưa thường dùng mộc dược để ướp xác người chết trước khi an táng. Hãy nhớ lại các phụ nữ đã từng đem mộc dược đến mộ Chúa Giêsu. Vì chết là thân phận của con người, nên các Kitô hữu thường cắt nghĩa mộc dược tượng trưng cho nhân tính Chúa Giêsu. Bàn về nhân tính Chúa Giêsu, Thánh Phaolô đã viết trong thư gởi tín hữu Philipphê như sau: “Chúa Giêsu dù luôn mang bản tính Thiên Chúa, nhưng Người đã trở nên… như một con người… Người hạ mình vâng phục đến nỗi chịu chết chết trên Thập Giá” (Pl 2: 6-8)

Hơn mười lăm thế kỷ trước, Thánh Peter Chrysologus đã nói về lễ hôm nay như sau: “Ngày hôm nay, các vị đạo sĩ đã ngạc nhiên sâu sa trước điều họ chiêm ngắm: đó là trời ở trên đất, đất ở trong trời, con người trong Thượng Ðế, Thượng Ðế trong con người, Ðấng mà cả vũ trụ không thể chứa nổi giờ đang đựơc bó gọn trong một thân xác bé xíu. Khi ngắm nhìn họ đã tin và không hề thắc mắc, vì những tặng vật đầy tính tượng trưng của họ đã làm chứng điều ấy. Nhũ hương để tặng Thiên Chúa, vàng để tặng Vua và mộc dược để tặng cho một người sẽ phải chết.

Nói một cách thực tế, tất cả điều này có ý nghĩa gì đối với chúng ta hiện đang có mặt trong giáo đường nay?

Nó có nghĩa như sau:

Chúng ta phải tiếp tục những gì Chúa Giêsu đã khởi sự khi Người còn ở dương thế. Nếu mọi dân tộc nhận biết được sứ điệp của Chúa Giêsu thì đó là nhờ chính nổ lực của chúng ta. Chúng ta phải chia sẻ với họ “tin mừng” là Chúa Giêsu, Con Thiên Chúa đã mang lấy nhục thể và đã sống giữa chúng ta. Chúng ta phải chia sẻ cho họ “tin mừng” là Chúa Giêsu đã đi vào lịch sử, không chỉ cho riêng dân Do Thái mà là cho tất cả mọi người. Chúng ta phải chia Sẻ với họ “tin mừng” là Chúa Giêsu đã đến khánh thành vương quốc Thiên Chúa. Người đến để thiết lập nên một trật tự thế giới mới. Một trật tự trong đó sẽ không còn khổ đau phiền muộn, một trật tự trong đó kẻ túng thiếu sẽ tìm được bạn bè thân thương thay vì chỉ tìm thấy những kẻ xa lạ trong đêm tối.

Ðó là “Tin Mừng” mà chúng ta phải mang đến cho thế gian… Ðó là sứ điệp thực tế của Lễ Hiển Linh. Ðó là sứ điệp mời gọi mỗi Kitô hữu chúng ta dấn thân vào hành động.

Chúng ta hãy kết thúc với những lời do một Kitô hữu vô danh viết ra để tóm tắt sứ điệp thực tế của Lễ Hiển Linh bằng một hình ảnh tuyệt đẹp như sau:

Khi khúc hát các vị thiên sứ lặng yên,
khi sao trời lịm tắt,
Khi vua chúa, hoàng tử trở về nhà,
Khi mục đồng cùng bầy gia súc về đến chuồng,
thì việc Gíang Sinh bắt đầu khởi sự:
là cho kẻ đói ăn
Thả kẻ tù tội
Dựng xây các dân tộc
Mang hoà bình đến giữa mọi người
và reo ca bằng tâm hồn mình
”.

Lm. Mark LinK SJ.

Thiên Chúa tỏ mình và con người tự che mắt

Thiên Chúa không bao giờ ngừng tỏ mình. Vấn đề không nằm ở chỗ Ngài có nói hay không, mà ở chỗ con người có còn đủ tĩnh để nghe, đủ nghèo để thấy, và đủ khiêm hạ để đón nhận hay không.

Trong mầu nhiệm Hiển Linh, điều gây ngạc nhiên không phải là việc Thiên Chúa xuất hiện, nhưng là phản ứng rất khác nhau của con người trước cùng một mạc khải.

Có người chỉ thấy một ánh sao nhỏ bé giữa bầu trời mênh mông, nhưng lại nhận ra Chân Lý và sẵn sàng lên đường.

Có người nắm trong tay cả Kinh Thánh, cả lịch sử cứu độ, cả quyền bính tôn giáo, nhưng vẫn đứng yên, thậm chí khép chặt đôi mắt, khép chặt lòng mình trước chính Thiên Chúa đang ở rất gần.

Hiển Linh vì thế không chỉ là lễ Thiên Chúa tỏ mình, mà còn là lễ vạch trần lòng người.

Nơi đó, ánh sáng không chỉ chiếu rọi Hài Nhi Bêlem, mà còn soi rõ một sự thật âm thầm nhưng cay đắng: Có những con người che mắt mình ngay giữa lúc Thiên Chúa đang tỏ mình rõ nhất.

1. MỘT ÁNH SAO VÀ MỘT TÂM HỒN ĐÃ SẴN SÀNG.

Trong đêm tối của lịch sử, Thiên Chúa không chọn những tiếng sấm, cũng không giương cao những dấu lạ làm chao đảo trời đất. Thiên Chúa chỉ đặt một ánh sao nhỏ bé trên bầu trời. Chỉ thế thôi.

Nhưng chính ánh sao ấy đã đủ để làm cho những con người ở rất xa, rất xa – những nhà đạo sĩ phương Đông – lên đường, băng qua sa mạc, vượt qua hiểm nguy, bỏ lại sau lưng sự an toàn của mình, để đi tìm một điều họ chưa hề thấy bằng mắt, chưa hề nắm chắc trong tay.

Ánh sao, mạc khải tự nhiên, không đến từ sách vở, không từ đền thờ, không từ chức danh hay quyền bính tôn giáo. Chỉ là dấu chỉ rất nhỏ, cộng với một tâm hồn đủ nghèo để không khinh thường điều bé nhỏ.

Các đạo sĩ bắt gặp Chân Lý không phải vì họ thông thái hơn người, mà vì họ đã có “tâm hồn” trước khi có dấu chỉ.

Họ nghèo, không phải nghèo tiền bạc, nhưng nghèo vì: Không tự mãn với những gì mình biết, không khép kín trong hệ thống mình đang có, và đủ khiêm tốn để tin rằng: Có một Ánh Sáng vượt quá mình.

Chính tinh thần nghèo khó ấy đã làm cho ánh sao, vốn ai cũng có thể thấy, trở thành lời gọi riêng đối với họ.

2. KINH THÁNH TRONG TAY NHƯNG THIÊN CHÚA KHÔNG Ở TRONG LÒNG.

Trái ngược hẳn là khung cảnh tại Giêrusalem. Ở đó không thiếu gì cả. Ở đó có Đền Thờ nguy nga, có Kinh Thánh, có hàng tư tế, kinh sư, có truyền thống, luật lệ, học vấn và quyền lực tôn giáo.

Khi các đạo sĩ hỏi: “Vua dân Do Thái mới sinh hiện ở đâu?”, người ta trả lời rất chính xác: Bêlem.

Đó là mạc khải siêu nhiên, mạc khải ở bậc cao, mạc khải qua Lời Chúa, qua lịch sử cứu độ, qua Kinh Thánh được đọc, được học, được giảng dạy.

Nhưng điều bi thảm là: Họ biết mà không đi; Họ nói mà không tìm; Họ dạy người khác về Chúa, nhưng không để cho mình được Chúa dẫn đi.

Hêrôđê và những người “có đạo” ấy: thờ Chúa mà không có Chúa, đọc Kinh Thánh mà không yêu Đấng ban Kinh Thánh, phụng sự tôn giáo nhưng thực ra phụng sự chính mình.

Mạc khải siêu nhiên, thay vì dẫn họ đến quỳ gối, lại trở thành công cụ để bảo vệ quyền lực, và sau cùng, mở đường cho sự tàn bạo.

3. KHI MẠC KHẢI KHÔNG CÒN CỨU ĐỘ, MÀ TRỞ THÀNH ÁN PHẠT.

Hiển Linh cho thấy một nghịch lý rất đau: Không phải ai có mạc khải cũng gặp được Thiên Chúa. Có những người: càng biết nhiều về Chúa, càng xa Chúa; càng nắm luật chặt chẽ, càng thiếu lòng thương xót; càng đứng ở trung tâm tôn giáo, càng sợ mất ngai vàng của cái tôi.

Lòng kiêu ngạo, sự không trung tín, và lối sống không tình yêu đã làm cho mạc khải, vốn để cứu độ, trở thành “con dao hai lưỡi“, khiến con người thủ đoạn hơn, nham hiểm hơn, và sẵn sàng giết chết sự sống vô tội để giữ lấy quyền lợi của mình.

Hêrôđê không đi Bêlem. Khoảng cách từ Giêrusalem đến Bêlem chỉ vài cây số, nhưng đó là khoảng cách không thể vượt qua đối với một trái tim không còn nghèo trước mặt Thiên Chúa.

4. HAI CON ĐƯỜNG – HAI SỐ PHẬN.

Hiển Linh đặt trước mắt chúng ta hai con đường đối lập:

– Một bên là con đường xa xôi, đầy gian khổ, không chắc chắn, nhưng có ánh sao và có tấm lòng chân thành. Một bên là khoảng cách rất ngắn, đầy đủ phương tiện, dư thừa tri thức, nhưng trái tim đã khép kín.

– Một bên là: những người đi tìm, những người dám ra khỏi mình, những người quỳ xuống trước Hài Nhi nghèo hèn. Một bên là: những kẻ đứng yên, những kẻ tính toán, những kẻ không quỳ gối trước Thiên Chúa, nhưng bắt Thiên Chúa phải phục vụ mình.

Hiển Linh không lên án người không biết, nhưng vạch trần sự nguy hiểm của kẻ tưởng mình đã biết tất cả.

5. BÀI HỌC THẲNG THẮN CHO NGƯỜI TÍN HỮU HÔM NAY.

Lễ Hiển Linh buộc chúng ta phải tự hỏi, rất thẳng và rất hiện sinh:

– Tôi có Chúa, hay chỉ có đạo?

– Tôi nghèo trước mặt Chúa, hay giàu có trong cái tôi của mình: giàu hiểu biết, giàu chức vị, giàu tiếng nói, giàu ảnh hưởng?

– Tôi đi tìm Chúa, hay chỉ dùng Chúa để củng cố chỗ đứng của mình?

– Tôi đọc Kinh Thánh để hoán cải, hay để chứng minh mình đúng?

Tâm hồn có Chúa là tâm hồn dám quỳ, dám để mình được dẫn đi, dám để ánh sao nhỏ bé của Chúa làm xáo trộn những tính toán an toàn của mình.

Tâm hồn không có Chúa là tâm hồn: đứng rất gần mạc khải, nhưng rất xa tình yêu; nói nhiều về Chúa, nhưng sợ mất chính mình.

6. ÁNH SAO HÔM NAY VẪN CÒN ĐÓ.

Thiên Chúa vẫn đang hiển linh hôm nay: Trong những con người bé nhỏ, trong những hoàn cảnh âm thầm, trong những tiếng gọi không ồn ào.

Nhưng chỉ những ai nghèo đủchân thành đủ, và can đảm đủ để lên đường, mới có thể nhận ra ánh sao ấy.

Xin cho chúng ta đừng trở thành những người biết rất rõ Chúa sinh ở đâu, nhưng cả đời không bao giờ chịu bước tới đó.

Lm JB NGUYỄN MINH HÙNG

Subcategories