3. Sống & Chia Sẻ Lời Chúa

KHÔNG CHỈ ĐỦ – NHƯNG DƯ

Thứ Sáu Tuần 2 Phục Sinh A

“Họ liền đi thu những miếng thừa…, và chất đầy được mười hai thúng”.

“Thiên Chúa ban ân sủng theo lòng quảng đại của Ngài, không theo công trạng của chúng ta!” – Grêgôriô Cả.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay không chỉ kể một phép lạ thết năm ngàn người ăn, nhưng mặc khải một cách thức: Thiên Chúa không ban theo công trạng hay mức cần thiết; Ngài ban dẫy đầy, ‘không chỉ đủ – nhưng dư’.

Trong Gioan, chi tiết “mười hai thúng” không chỉ là phần dư, nhưng là dấu chỉ mang chiều kích toàn thể: duodecim – con số của Israel, của Dân Chúa trong sự viên mãn. Như thế, điều còn lại không phải là phần thừa vô nghĩa, nhưng là phần không được giữ lại, vì tự nó đã hướng tới việc được trao đi. Ân sủng chỉ thực sự dư đầy khi không bị giữ lại. Không phải vì Thiên Chúa ban ít, nhưng vì con người không dám mở ra. Chính tại đây, một lệch hướng dễ xảy ra: điều được ban để trao đi bị giữ lại; từ đó, sự dư đầy dần mất ý nghĩa của nó. Vì thế, phép lạ không chỉ đáp ứng một cơn đói, nhưng mặc khải một logic: Thiên Chúa không hành động theo sự thiếu thốn của con người, nhưng theo sự phong phú của chính Ngài – ‘không chỉ đủ, nhưng dư’.

Thánh Augustinô coi “mười hai thúng” không như phần dư vật chất, nhưng như dấu chỉ của một sự phong phú vượt quá khả năng lãnh hội: Thiên Chúa không ban ít; chính con người không thể đón nhận hết. Vì thế, phần còn lại vượt quá tầm hiểu; có những điều chỉ được mở ra khi “về nhà”, Ngài giải thích riêng. Khoảng cách, vì thế, không nằm ở ân sủng, nhưng ở tương quan; ai ở lại, người đó đi sâu hơn vào sự dư đầy. Và chính những người ở lại sẽ trở thành trung gian phân phát: ân sủng không dừng lại nơi việc lãnh nhận, nhưng lưu chuyển. Đó không phải là điều xa: nhiều khi chúng ta chỉ dừng lại ở mức vừa đủ để hiểu, mà không bước vào để sống, để ra đi phân phát. “Là Kitô hữu không phải là kết quả của một lựa chọn luân lý hay một ý tưởng cao đẹp, nhưng là một cuộc gặp gỡ với một biến cố, một con người!” – Bênêđictô XVI.

Anh Chị em,

Nơi Đức Giêsu Kitô, ân sủng không còn là điều được ban, nhưng là chính Ngài. Ngài không chỉ trao ban, nhưng là sự sống được trao; không dừng lại ở mức đủ, nhưng trở thành dồi dào. “Tôi đến cho chiên tôi được sống, và sống dồi dào”. Sự sống ấy trước hết nuôi dưỡng con người trong cơn đói sâu sắc; rồi chạm đến những đổ vỡ để chữa lành; và cuối cùng mở ra ơn tha thứ, nơi con người được tái tạo từ bên trong. Vì thế, “Ở đâu tội lỗi lan tràn, ở đó, ân sủng càng chứa chan”. Vấn đề không phải là thiếu, nhưng là không dám sống từ sự dư đầy ấy. Vậy mà chúng ta thường chỉ tìm đủ để tồn tại, hơn là dám mở ra cho một sự sống dồi dào – chữa lành, tha thứ và sai đi. “Có những Kitô hữu sống như thể Mùa Chay không bao giờ dẫn đến Phục Sinh!”; “Có những Kitô hữu chọn một đời sống an toàn, khép kín, thay vì để mình được sai đi!” – Phanxicô.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin đừng để con sống cầm chừng vừa đủ, nhưng biết sống từ sự dư đầy của Ngài!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

CÙNG CHÚA PHỤC SINH MANG LẠI NIỀM TIN YÊU CHO THA NHÂN

HIỆP SỐNG TIN MỪNG

CHÚA NHẬT 2 PHỤC SINH ABC

Cv 2,42-47; 1 Pr 1,3-9; Ga 20,19-31

I. HỌC LỜI CHÚA

1. TIN MỪNG: Ga 20,19-31

(19) Vào chiều ngày ấy, ngày thứ nhất trong tuần, nơi các môn đệ ở, các cửa đều đóng kín, vì các ông sợ người Do thái. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói: “Bình an cho anh em !” (20) Nói xong, Người cho các ông xem tay và cạnh sườn. Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa. (21) Người lại nói với các ông: “Bình an cho anh em ! Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em”. (22) Nói xong, Người thổi hơi vào các ông và bảo: Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần. (23) Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha. Anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ”. (24) Một người trong nhóm Mười Hai, tên là Tô-ma, cũng gọi là Đi-đy-mô, không ở với các ông khi Đức Giê-su đến. (25) Các môn đệ khác nói với ông: “Chúng tôi đã được thấy Chúa !” Ông Tô-ma đáp: “Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người, nếu tôi không xỏ ngón tay vào lỗ đinh và không đặt bàn tay vào cạnh sườn Người, tôi chẳng có tin. (26) Tám ngày sau, các Môn đệ Đức Giê-su lại có mặt trong nhà, có cả ông Tô-ma ở đó với các ông. Các cửa đều đóng kín. Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói: “Bình an cho anh em” (27) Rồi Người bảo ông Tô-ma: “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay Thầy. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy. Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin”. (28) Ông Tô-ma thưa Người: “Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con !” (29) Đức Giê-su bảo: “Vì đã thấy Thầy, nên anh tin. Phúc thay những người không thầy mà tin !” (30) Đức Giê-su đã làm nhiều dấu lạ khác nữa trước mặt các môn đệ, nhưng những dấu lạ đó không được ghi chép trong sách này. (31) Còn những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Đức Giê-su là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sống nhờ danh Người.

2. Ý CHÍNH:

Bài Tin Mừng thuật lại hai lần Chúa Giê-su Phục Sinh hiện ra với các môn đệ cách nhau một tuần lễ, để chứng minh Người đã từ cõi chết trỗi dậy:

- LẦN THỨ NHẤT Chúa Giê-su đã hiện ra với các môn đệ mà thiếu Tô-ma. Người đã cho các ông xem các vết thương ở bàn tay và cạnh sườn Người rồi thổi hơi ban Thánh Thần cho các ông (23).

- LẦN THỨ HAI sau tám ngày, Chúa Phục Sinh lại hiện ra thỏa mãn đòi hỏi của Tô-ma và khi gặp Chúa Tô-ma đã tuyên xưng đức tin. Chúa Giê-su đã chúc phúc cho những ai không thấy mà tin ! (29)

3. CHÚ THÍCH:

- C 19-20: + Ngày Thứ Nhất trong tuần: Ngày nay, Giáo Hội đã chọn Ngày Thứ Nhất trong tuần để mừng mầu nhiệm Chúa Phục Sinh và gọi là Chúa Nhật hay Ngày Của Chúa. Đây là ngày lễ nghỉ, thay thế Thứ Bảy (Sa-bát) của Do Thái Giáo là ngày hưu lễ, để noi gương Thiên Chúa đã làm việc sáng tạo trời đất muôn vật trong sáu ngày, và ngày thứ Bảy thì Ngài nghỉ ngơi (x. St 1,1-2,2). + Đức Giê-su đến: Chúa Phục Sinh hiện đến Nhà Tiệc Ly khi cửa nhà vẫn đóng kín, cho thấy thân xác của Người sau phục sinh mang đặc tính thiêng liêng siêu việt, có khả năng hiện diện ở khắp nơi. + Bình an cho anh em ! Các môn đệ vui mừng vì được thấy Chúa: Đức Ki-tô Phục Sinh đem lại sự bình an (x. Ga 20,19.21) và niềm vui (x Ga 20,20) cho các Môn đệ (x Ga 14,27). + Người cho các ông xem tay và cạnh sườn: Cho thấy Chúa Phục Sinh chính là Đấng đã bị đóng đinh thập giá (x. Ga 19,18), và bị lưỡi đòng đâm thâu (x. Ga 19,34). Qua đó ta thấy sự liên quan mật thiết giữa hai mầu nhiệm Tử Nạn và Phục Sinh.

- C 21-23: + Như Chúa Cha đã sai Thầy, thì Thầy cũng sai anh em: Tông đồ nghĩa là “được sai đi”. Sứ mạng này từ Chúa Cha truyền cho Đức Giê-su, và giờ đây Người lại truyền cho các Môn đệ và các tín hữu sau này. + Người thổi hơi vào các ông và bảo: “Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần”: Theo Kinh Thánh, hơi thở chính là sự sống. Như xưa, Thiên Chúa đã thổi sinh khí vào A-đam và ban sự sống cho ông (x. St 2,7), thì nay, Đức Giê-su Phục Sinh cũng thổi Thần Khí cho các Môn đệ. Rồi đến lượt các Môn đệ lại sẽ thông truyền sự sống thiêng liêng ấy cho các tín hữu. + “Anh em tha tội cho ai, thì người ấy được tha. Anh em cầm giữ ai, thì người ấy bị cầm giữ”: Đức Giê-su được Gio-an Tẩy Giả giới thiệu là Con Chiên của Thiên Chúa, Đấng xóa bỏ tội trần gian (x Ga 1,29). Khi làm phép lạ chữa lành một người bại liệt, Đức Giê-su cho thấy Người có quyền tha tội (x. Mt 9,6). Trong Tin Mừng hôm nay, Người còn thiết lập bí tích Giải Tội, ban quyền tha tội cho các Tông đồ bằng việc thông ban Thánh Thần cho các ông. Sau này các Giám mục kế vị các Tông đồ sẽ tiếp tục thông chia quyền tha tội cho các linh mục là những cộng tác viên của mình.

- C 24-25: + Một người trong Nhóm Mười Hai tên là Tô-ma, cũng gọi là Đi-đy-mô: Tô-ma là một trong Nhóm Mười Hai Tông đồ (x. Mt 10,3). Biệt danh là “Sinh Đôi”. Tính tình bộc trực và can đảm (x. Ga 11,16). Ông thường nêu ra thắc mắc để được Thầy giải thích rõ hơn (x.Ga 14,5). + Nếu tôi không thấy dấu đinh ở tay Người…: Tô-ma đòi được “mắt thấy tay sờ”, nghĩa là đòi một thứ đức tin khả giác giống như một nhà khoa học thực nghiệm (x. Ga 20,25). + “… thì tôi chẳng có tin”: Nhiều môn đệ khác cũng cứng lòng tin như thế. Tin Mừng Nhất lãm cũng nói tới sự cứng tin của các môn đệ: Matthêu viết: “Nhưng có mấy ông vẫn hoài nghi” (Mt 28,17); Mác-cô thuật lại: “Người khiển trách các ông không tin và cứng lòng, bởi lẽ các ông không chịu tin những kẻ đã được thấy Người sau khi Người trỗi dậy” (Mc 16,14); Lu-ca ghi lại lời Chúa trách các môn đệ: “Sao anh em lại hoảng hốt ? Sao còn ngờ vực trong lòng ?” (Lc 24,38).

- C 26-27: + “Đặt ngón tay vào đây, và hãy nhìn xem tay thầy”. Đưa tay ra mà đặt vào cạnh sườn Thầy: Đức Giê-su đã thoả mãn những đòi hỏi của Tô-ma. + Đừng cứng lòng nữa, nhưng hãy tin: Đức Giê-su tuy trách tội cứng lòng của Tô-ma, nhưng Người cũng thông cảm và chỉ kêu gọi ông hãy tin vào mầu nhiệm Phục sinh của Người.

- C 28-31: + Lạy Chúa của con, lạy Thiên Chúa của con !”: Tuy Tô-ma là người tin Chúa sống lại sau cùng, nhưng ông lại tuyên xưng một đức tin đầy đủ nhất: Đức Giê-su vừa là Chúa (Đấng Cứu Thế), vừa là Thiên Chúa (Con Thiên Chúa). + Phúc thay những người không thấy mà tin”:  Từ đây, đức tin vào mầu nhiệm Phục Sinh của các tín hữu sẽ không dựa trên kinh nghiệm khả giác về các lần Chúa Phục Sinh hiện ra nữa, nhưng căn cứ trên lời chứng của các Tông đồ (x. Ga 19,35). Về sau, các ông còn làm chứng bằng việc sẵn sàng chịu chết vì niềm tin vào mầu nhiệm ấy.

4. CÂU HỎI:

1) Tại sao Hội Thánh chọn ngày Thứ Nhất trong tuần làm ngày Chúa Nhật thay vì Thứ Bảy (Sa-bát) như đạo Do thái ? 2) Việc Đức Giê-su Phục Sinh đến giữa các môn đệ tại nhà Tiệc ly khi cửa đóng kín cho thấy thân xác sống lại của Chúa có đặc tính gì ? 3) Qua lời chào, Chúa Phục Sinh đã ban cho các môn đệ điều gì ? 4) Khi cho môn đệ xem tay và cạnh sườn, Chúa Phục Sinh muốn nói gì với các ông ? 5) Sứ mệnh tông đồ thừa sai của Hội Thánh phát xuất từ đâu và vào lúc nào ? 6) Đức Giê-su thổi hơi ban Thần Khí cho các môn đệ nhằm mục đích gì ? 7) Bằng chứng nào cho thấy Đức Giê-su có quyền tha tội và Người trao quyền ấy cho Hội Thánh vào lúc nào ? 8) Tin Mừng cho biết gì về Tông đồ Tô-ma ? 9) Các Tông đồ có phải là những người dễ tin vào mầu nhiệm Phục Sinh không ? 10) Khi hiện ra lần thứ hai, Chúa Giê-su đã làm gì để thỏa mãn đòi hỏi của ông Tô-ma ? 11) Cuối cùng Tô-ma đã đạt tới đức tin trọn vẹn qua lời tuyên xưng như thế nào ? 12) Ngày nay các tín hữu cần dựa vào bằng chứng nào để tin vào mầu nhiệm Phục Sinh? 13) Sự cứng lòng của Tô-ma và của các Tông đồ có giá trị ra sao đối với đức tin của các tín hữu hôm nay ?

II. SỐNG LỜI CHÚA:

1. LỜI CHÚA: “Những điều đã được chép ở đây là để anh em tin rằng Đức Giê-su là Đức Ki-tô Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sự sống nhờ danh Người” (Ga 20,31).

2. CÂU CHUYỆN:

1) THỰC THI LÒNG THƯƠNG XÓT LÀ «QUÊN MUÔN OÁN VÀ GHI NHỚ MUÔN ƠN»:

Tác giả Ron Lee đã viết một câu chuyện trong cuốn "Một Thiên Chúa Tha thứ trong một thế giới không tha thứ" như sau: Có một vị linh mục là một người rất yêu mến Chúa, nhưng ông luôn bị ám ảnh bởi một tội mà ông đã phạm trong quá khứ. Ngài đã ăn năn sám hối nhưng vẫn không bình an tâm hồn. Ngày nọ, nghe nói có một phụ nữ trong giáo xứ thường được tiếp xúc và nói chuyện với Chúa trong giấc mơ. Vị linh mục không tin, muốn thử bà nên nói: « Lần sau nếu còn gặp Chúa thì bà hỏi Ngài xem, tôi đã phạm tội gì nhé? » Mấy ngày sau gặp lại bà, vị linh mục đã hỏi bà xem Chúa đã nói gì? Bà trả lời: « Chúa nói rằng: Ta chẳng còn nhớ gì nữa! »

Còn chúng ta hôm nay cần làm gì để noi gương Thiên Chúa giàu lòng từ bi thương xót.

2) LÀM CHỨNG CHO CHÚA BẰNG VIỆC SẴN SÀNG CHỊU CHẾT VÌ DANH CHÚA :

Tờ báo TIẾNG GỌI (L’Appelle) đã thuật lại một câu chuyện thật cảm động như sau: Một bà góa nghèo có một cậu con trai 16 tuổi đang học làm thủy thủ trên một tàu buôn chở hàng từ Pháp sang Nữu Ước (Hoa Kỳ). Trên tàu có 40 thủy thủ thì chỉ có cậu bé này là còn có đức tin vào Chúa.

Cậu bé được bà mẹ đạo đức khuyên dạy con rằng: “Chúa đặt con trên con tàu này là để cho con có dịp làm chứng cho Người”. Do đó, mỗi khi thấy đám thủy thủ trên tàu dùng thì giờ rảnh rỗi để uống rượu say xỉn hay chơi cờ bạc ăn tiền, hoặc mỗi khi con tàu cặp bến họ rủ nhau lên bờ tìm đến những tửu lầu để chơi bời sa đọa, thì cậu ta đều cố ngăn cản bằng cách này hay cách khác. Nhưng không những họ không chịu nghe cậu, mà nhiều khi còn chế diễu nhạo báng cậu: khi cậu nhắm mắt cầu nguyện tạ ơn Chúa trước khi ăn, thì họ bí mật đem đĩa đồ ăn của cậu giấu đi chỗ khác. Khi cậu quỳ gối đọc kinh, thì họ cố tình hát to những bài hát tục tĩu để chế nhạo. Có lần họ còn đổ cả xô nước dơ lên người cậu. Để đáp lại, cậu thiếu niên chỉ mỉm cười và âm thầm cầu xin Chúa cho họ.

Một lần kia khi đang làm việc trên boong tàu, thấy các bạn ngồi đánh bài, cậu liền đến giành lấy bộ bài đem dấu đi. Đám thủy thủ tức giận tóm lấy cậu và hè nhau quăng cậu xuống biển. Thấy cậu bơi lại gần con tàu thì họ lại dùng cây sào đẩy ra xa. Năm lần bảy lượt như vậy, cậu đã bị yếu sức dần. Khi sắp buông xuôi chìm xuống biển, cậu cố ngoi lên lần cuối và hét to rằng: “Các bạn ơi, hãy tin vào Chúa Giê-su thì các bạn sẽ được cứu độ… Xin hãy nhắn lại với mẹ tôi rằng: tôi đã được chịu chết vì danh Chúa Giê-su !” Nghe vậy, năm thủy thủ liền nhảy xuống biển đưa cậu lên boong tàu làm hô hấp nhân tạo. Một hồi sau cậu tỉnh dậy. Thấy mình còn sống, cậu đã cám ơn các bạn và lại tiếp tục kêu gọi họ đừng phạm tội nữa, nhưng hãy quay trở về với Chúa. Kết quả là sau đó toàn thể các thủy thủ trên tàu đều rất xúc động trước tấm gương can đảm trung kiên của cậu. Không ai bảo ai, họ đã quỳ gối xuống cầu nguyện và tuyên xưng đức tin, đồng thời ăn năn sám hối để xin ơn Chúa tha thứ tội lỗi cho mình.

3. THẢO LUẬN:

Cậu bé trên đã bất chấp nguy hiểm, can đảm trung thành với Chúa để làm chứng về Chúa, nên sau nhiều gian nan thử thách, cậu đã thành công. Để chu toàn sứ mệnh được sai đi, bạn cần làm gì để giúp những người chưa tin nhận ra tội lỗi để hồi tâm sám hối và theo làm môn đệ Chúa Giê-su ?

4. SUY NIỆM :

   1) Chúa Phục Sinh luôn đồng hành với các môn đệ trong cuộc sống:

- Chúa Giê-su Phục Sinh không bị giới hạn trong không gian: Người có thể xuất hiện ở nhiều nơi khác nhau. Chẳng hạn: Hiện ra với bà Ma-ri-a Mác-đa-la ở gần ngôi mộ đã an táng Người; Hiện ra với các môn đệ tại nhà Tiệc Ly khi cửa đóng kín vì sợ người Do thái; Hiện ra với hai môn đệ trên con đường dài 11 cây số từ Giê-ru-sa-lem về làng Em-mau; Hiện ra với các môn đệ trên bờ hồ Ga-li-lê, sau khi các ông nghe tin nhắn và đang chài lưới bắt cá; Về sau, Người còn hiện ra tại cửa thành Đa-mát xứ Sy-ri-a, khi Sau-lô mang quân đến bắt các tín hữu.

- Chúa Giê-su Phục Sinh cũng không bị giới hạn trong thời gian: Người xuất hiện với bà Ma-ri-a lúc sáng sớm khi trời còn tối. Người hiện ra bên bờ hồ với các môn đệ khi ánh bình minh đang ló rạng. Người hiện ra trong nhà Tiệc Ly vào buổi chiều ngày Thứ Nhất khi mới phục sinh. Người xuất hiện trên đường đi làng Em-mau lúc chiều tối. Đối với các tín hữu chúng ta, Chúa Phục Sinh luôn đồng hành trong mọi lúc mọi nơi. Người có thể xuất hiện qua những người chúng ta gặp hằng ngày ở giữa đời thường: Người có thể là người làm vườn khi hiện ra với Ma-ri-a Mác-đa-la; là một khách bộ hành đi cùng đường với hai môn đệ về lang Em-mau; là một người rành về nghề bắt cá khi chỉ dẫn thành công cho các môn đệ đã vất vả suốt đêm mà không bắt được con nào. Người xuất hiện để đánh tan sự nghi ngờ của ông Tô-ma.

2) Chúa Phục Sinh ban ơn bình an và niềm hy vọng cho các môn đệ:

- Mỗi lần hiện ra, Chúa Phục Sinh đều chào chúc bình an như sau: "Bình an cho anh em". Rồi cũng như khi sáng tạo A-đam thời kỳ sáng thế, Chúa Phục Sinh cũng thổi hơi ban sự sống cho các môn đệ đang bị chết về đức tin mà nói: "Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần". Chính Thần Khí của Chúa Phục Sinh sẽ dần mạnh mẽ lên cho đến lễ Ngũ Tuần thì trở thành Cơn Gió Lốc ào vào nhà các môn đệ mở tung cửa ra, làm cháy lên lửa tin yêu trong lòng các ông và đẩy các ông đi rao giảng Tin Mừng Chúa Phục Sinh khắp thế gian để ban ơn cứu độ muôn người.

- Sau khi gặp Đức Kitô phục sinh, Ma-ri-a Mác-đa-la đang buồn bã trở nên vui tươi phấn khởi đi báo tin vui cho các anh em Chúa; Các môn đệ đang sợ hãi ẩn trốn trong nhà Tiệc Ly lấy lại được sự bình an; Hai môn đệ làng Em-mau đang u sầu tuyệt vọng trở nên nhiệt tình hăng say quay về Giê-ru-sa-lem báo tin cho các anh em; Các môn đệ đang mệt mỏi rã rời sau một đêm chài lưới vất vả vô ích, lập tức được hồi phục sức lực; Tô-ma đang tâm trạng nghi nan bối rối lấy lại niềm tin khi tuyên xưng đức tin: “Lạy Chúa tôi, lạy Thiên Chúa của tôi”.

3) Chúa Phục Sinh đã sai các môn đệ đi loan báo Tin Mừng:

- Chúa Phục Sinh chính là Tin Mừng lớn lao mang lại ý nghĩa cho cuộc đời các môn đệ, nên họ không thể không loan báo Tin Mừng lớn lao đó: Ma-ri-a Mác-đa-la sau khi gặp Chúa Phục Sinh đã lập tức chạy về loan tin cho các môn đệ, thúc bách hai ông là Phê-rô và Gio-an chạy đua đến mộ để xem sự thể ra sao, và hai ông đã đạt tới đức tin; Hai môn đệ làng Em-mau lập tức trở về Giê-ru-sa-lem loan báo tin vui cho các anh em; Và sau này, Sau-lô sau khi bị ngã ngựa, đã gặp Chúa Phục Sinh và trở thành thánh Phao-lô, vị tông đồ dân ngoại hăng say loan báo Tin Mừng không mệt mỏi…

- Có thể nói: Tất cả những người đã gặp Chúa Phục Sinh đều trở thành sứ giả đi loan báo Tin Mừng Phục Sinh cho mọi người, đều sẵn sàng lấy máu mình làm chứng cho lời mình rao giảng. Vì Đức Kitô phục sinh chính là một Tin Mừng không thể không chia sẻ cho mọi người.

4) Loan báo Tin Mừng chính là làm chứng về lòng Chúa thương xót:

- Trước khi về trời, Chúa Phục Sinh đã ra lệnh truyền cho các môn đệ: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” (Mt 28,19-20). Loan báo Tin Mừng chính là làm chứng nhân của Chúa dưới ơn phù trợ của Thánh Thần như lời Chúa Phục Sinh: “Anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần khi Người ngự xuống trên anh em. Bấy giờ anh em sẽ là chứng nhân của Thầy tại Giê-ru-sa-lem, trong khắp các miền Giu-đê, Sa-ma-ri và cho đến tận cùng trái đất” (Cv 1,8).

- Lệnh sai đi loan báo Tin Mừng làm chứng nhân của Chúa Phục Sinh không thể không thi hành, như thánh Phao-lô nói: "Khốn cho tôi nếu tôi không rao giảng Tin Mừng" (1 Cr 9,16). Hôm nay Chúa Phục Sinh cũng đang ở bên chúng ta trong mọi thời gian: từ khi mới chào đời đến tuổi thanh niên, từ tuổi trung niên đến giờ chết của mỗi người. Chúa Phục Sinh vẫn luôn ở bên chúng ta mọi nơi mọi lúc: Tại nhà thờ, nơi trường học, ở sở làm, nơi giải trí, trong gia đình, tại khu xóm. Người vẫn ở bên ta trong mọi cảnh ngộ vui buồn của cuộc đời của chúng ta… Chỉ cần dừng bước là chúng ta có thể gặp được Người đang hiện thân nơi người bên cạnh, nhất là nơi những người đau khổ bệnh tật nghèo đói vật chất cũng như tinh thần. Chúng ta sẽ đối xử thế nào với Người để có được sự bình an, có sự sống dồi dào trong tình thương của Chúa…

- Hôm nay là Chúa Nhật 2 Phục Sinh, kính nhớ lòng Chúa thương xót, Hội Thánh mời gọi chúng ta ý thức thân phận tội nhân của mình, đã được Chúa Giê-su chịu chết đền tội thay và đã sống lại để phục hồi sự sống cho chúng ta. Chúng ta cũng phải thể hiện lòng thương xót tha nhân noi gương Chúa Cha trên trời là Đấng giàu lòng từ bi đã thể hiện lòng thương xót đối với chúng ta. Chúa đang cần có thêm những người tốt để Ngài có thể tha thứ thế giới tội lỗi, giống như tổ phụ Áp-ra-ham xưa đã cầu xin Đức Chúa tha tội và không giáng phạt dân thành Sô-đô-ma, bằng việc tìm ra những người công chính trong thành. Cuối cùng do không tìm được đủ 10 người công chính, nên thành Sô-đô-ma đã bị lửa sinh diêm từ trời rơi xuống tiêu diệt. Hôm nay, cùng với thánh nữ Faus-ti-na, chúng ta cũng dâng lên Thiên Chúa những đau khổ chúng ta đang phải chịu, như của lễ đền tội, để xin Chúa tha tội loài người. Chúng ta cũng không quên dâng lên Chúa bản thân chúng ta, gia đình chúng ta và cả nhân loại để Ngài dủ lòng thương xót tha thứ và biến đổi thế giới chúng ta đang sống sớm nên “Trời Mới Đất Mới” đẹp lòng Ngài.

5. NGUYỆN CẦU:

- LẠY CHÚA GIÊ-SU. Chúa đã sống đến cùng cuộc Vượt Qua của Chúa: Vượt qua đau khổ sự chết để được vào vinh quang sống lại. Xin cho chúng con biết sống mầu nhiệm Vượt Qua mỗi ngày: Vượt qua những sự ích kỷ, nhỏ nhen và những đam mê đang kéo ghì chúng con xuống bùn đen tội lỗi, vượt qua những nỗi sợ hãi khổ đau và nhục nhã. Vượt qua những nỗi khắc khoải đa nghi và những thành kiến không tốt về người khác.

- LẠY CHÚA. Chính sự phục sinh của Chúa động viên chúng con vui mừng và can đảm vượt qua những mất mát thua thiệt gặp phải trong cuộc sống. Ước gì chúng con biết noi gương Chúa : luôn gieo rắc sự bình an và niềm hy vọng khắp nơi, gieo rắc sự an ủi cho những người bệnh hoạn tật nguyền, gieo tình thương và cơm bánh cho những người cô đơn đói khát. Gieo lòng thương xót cho các người đang lạc xa Chúa để họ mau trở về với Chúa. Nhờ đó, thế giới này sẽ trở nên « Trời Mới Đất Mới » đầy tình thương, bình an và hạnh phúc theo thánh ý Chúa.

X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON

LM ĐAN VINH -  HHTM

“NHÂN LOẠI SẼ KHÔNG ĐƯỢC BÌNH AN CHO ĐẾN KHI QUAY VỀ VỚI SUỐI NGUỒN TÌNH THƯƠNG CỦA CHA”

Suy niệm Lễ Kính Lòng Thương Xót Chúa (Divine Mercy)

Chúng ta thường nghe kể về tình cảm tốt, thái độ tử tế, và tấm lòng rộng rãi của người này người kia đối với những kẻ sa cơ, thất thế, hoặc gặp khốn khó giữa đường.

Mercy theo tự điển Anh-Việt của Nguyễn Văn Khôn dịch là:

Lòng thương người, thương hại, thương xót, lân ái, từ bi.

Divine Mercy: Lòng lân mẫn của Thượng Đế.

Nhứt tội nhứt xá, vạn tội vạn xá, tội gì cũng có thể lấy lòng từ bi mà khoan xá được.

Theo Longman Dictionary of American English. New Edition định nghĩa: 

Mercy: kindness, pity, and a willingness to forgive.

Nhưng những định nghĩa trên, chỉ trực tiếp nói về những cái mà con người có thể làm cho nhau để bày tỏ sự thương cảm, cảm thông, tử tế và chú trọng nhiều trong lãnh vực thể lý, hoặc tâm lý. Nó không nói lên được ý nghĩa sâu thẳm của “mercy” dưới cái nhìn tâm linh. Chỉ có Thiên Chúa mới thấu hiểu và lột tả được ý nghĩa “xót thương” vì Ngài là Thiên Chúa của tình thương. Chúng ta có thể tìm thấy và hiểu phần nào tình yêu này qua câu truyện mà chính Chúa Giêsu đã dùng để trả lời câu hỏi của người thông luật vì muốn biết giới răn trọng nhất là giới răn nào? Và ai là anh em của ông ta? Câu truyện được kể trong Phúc Âm Thánh Luca (10:25-37), về một người đi từ Giêrusalem tới Giêricô, giữa đường bị cướp trấn lột và đánh nửa sống, nửa chết. Có thầy tư tế và thầy Levi cả hai bất ngờ đi qua con đường, và cả hai đều nhìn thấy cảnh tượng này, nhưng lần lượt cả hai đã bỏ đi. Cuối cùng có một người Samarita đi qua, ông đã thấy và đã ra tay giúp đỡ. Trước hết ông xuống ngựa, lau sạch các vết thương bằng dầu và rượu. Sau đó đã vực nạn nhân lên ngựa đến một quán trọn gần nhất, ông đã chi trả trước số tiền cần thiết cho chủ quan để ông này chăm sóc cho người bị cướp, ngoài ra còn dặn rằng, với số tiền ứng trước đó nếu thiếu hụt bao nhiêu, khi về ông sẽ hoàn trả.

Qua câu truyện này, Chúa Giêsu đã có ý nói về tình thương vô biên, tình thương vượt qua mọi nguy cơ và ảnh hưởng của tội lỗi, có thể làm chết một linh hồn bằng cuộc trả giá giữa Người với Chúa Cha trên thập tự giá.

Đối với nhân loại tội tình, bị thương tích do Satan kẻ cướp giật các linh hồn, thì Chúa Giêsu chính là người thương gia của Chúa Cha đi ngang qua trần gian. Người là kẻ ngoại, có nghĩa là đến từ trời. Người không phải là những người Do Thái theo nghĩa cùng đồng chủng loại với chúng ta. Người đã xuống khỏi ngựa (ngai trời), rửa sạch những vết thương tội lỗi bằng dầu và rượu vô cùng quí giá là máu và nước của Người chảy ra từ trái tim bị đâm thâu, băng bó những vết thương đó bằng chính tình yêu của Người. Quán trọ là Giáo Hội. Người đã đem chúng ta về với nhà của mình, trong vòng tay Cha nhân hiền trên trời.   

Và cũng qua đó, Chúa Giêsu mặc khải cho nhân loại về tình thương vô biên của Thiên Chúa. Người đã cưu mang nhân loại tội tình trong trái tim nhân từ của Người. Người muốn chúng ta nhìn nhận ra ơn huệ cao quý này cho phần rỗi của mỗi người, phần rỗi chung nhân loại. Chúa nhật II sau Phục Sinh là một ghi nhớ đó.

Nó được Giáo Hội dùng để kính nhớ và suy tôn Lòng Thương Xót của Thiên Chúa. (Divine Mercy). Nhờ vào cuộc khổ nạn, phục sinh của Chúa Giêsu mà nhân loại mới có dịp nhận ra Thiên Chúa tốt lành, yêu thương con người dường bao. Tình thương của Ngài siêu việt, lớn lao đến nỗi dù thần thánh trên trời, muôn loài thụ tạo dưới đất cũng không hiểu nổi, không suy thấu. Bởi vì “Thiên Chúa là tình yêu” (1 Gioan 4:8). Tình yêu này làm sao con người thấu triệt, nếu không được diễn tả qua cuộc nhập thể, khổ hình, chết và phục sinh của Chúa Giêsu, Đấng Emmanuel - Thiên Chúa ở cùng chúng ta.

Ý tưởng thực hiện một dấu chỉ tình yêu đã đến, đặc biệt trong thời đại con người đang chìm đắm, hít thở bầu không khí của “nền văn minh sự chết” (St. Gioan Phaolô II). Chúa Giêsu từ những cuộc mặc khải với nữ tu Maria Faustina Kowalska (1905-1938), và đã được Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II thiết lập nhân dịp Ngài tuyên phong hiển thánh cho nữ tu Faustina vào ngày 30 tháng Tư, 2000.

Trong một mặc khải, Chúa Giêsu đã nói với nữ tu Faustina (Diary entry 699): 

“Các linh hồn đừng sợ đến gần Cha, ngay cả khi tội lỗi nó đỏ tươi như máu. Lòng thương xót Cha rộng rãi vô biên đến nỗi trí khôn của con người hoặc của thiên thần cũng không có thể đo lường được. Mọi thụ tạo đều phát sinh từ những vực sâu thẳm của lòng thương xót rất mực dịu dàng của Cha. Những linh hồn mật thiết với Cha sẽ suy niệm tình yêu và lòng thương xót Cha đến muôn đời. Lễ Kính Lòng Thương Xót xuất phát từ những tầng sâu thẳm dịu dàng của Cha. Cha mong muốn lễ này được cử hành vào Chúa Nhật sau lễ Phục Sinh. Nhân loại sẽ không được bình an cho đến khi chúng quay về Suối Nguồn Tình Thương của Cha”.     

Trong suốt 14 lần hiện ra với thánh nữ, Chúa Giêsu đều ao ước thánh lễ này được thiết lập. Danh hiệu Chúa Nhật Lòng Thương Xót (Divine Mercy Sunday) đã làm nổi bật ý nghĩa sau lễ Phục Sinh. Theo Thánh Faustina, Lễ Lòng Thương Xót đón nhận những lời hứa rất đặc biệt từ Chúa Giêsu. Một trong những lời hứa dành cho những ai có lòng tôn sùng Lòng Thương Xót Chúa, là linh hồn đó sẽ được về Thiên đàng ngay sau khi chết mà không phải qua Luyện tội.  

 

 Tấm hình Lòng Thương Xót được vẽ bởi Kazimierowski (1934) theo lời kể của nữ tu Faustina

hiện được tôn kính tại Cung Thánh Chúa Tình Thương (Vilnius).

Vào ngày 22 tháng Tư 2001, một năm sau khi thiết lập Chúa Nhật Lòng Thương Xót, Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã tái nhấn mạnh sứ điệp của mình trong thông điệp Phục Sinh:

“Ngày kia, Chúa Giêsu đã nói với Thánh Faustina: “Nhân loại sẽ không được bình an, cho đến khi họ quay về với lòng tín thác vào Lòng Thương Xót Chúa”. Lòng Thương Xót Chúa! Đây là một hồng ân Phục Sinh mà Giáo Hội nhận lãnh từ Chúa Giêsu sống lại và trao ban cho nhân loại”. 

Phụng vụ cử hành Thánh Lễ Kính Lòng Thương Xót khởi đầu bằng lời nguyện:

“Lạy Cha trên trời và Thiên Chúa của Lòng Thương Xót. Chúng con không còn tìm kiếm Chúa Giêsu trong kẻ chết, vì Người đã sống lại và đã trở thành Chúa của Sự Sống”.

Lời cầu nguyện này liên quan đến tình thương Thiên Chúa như căn bản chính yếu trong dự án cứu độ của Thiên Chúa và nhấn mạnh niềm tin tưởng rằng qua tình thương mà Thiên Chúa đã ban Con duy nhất của Ngài để cứu chuộc nhân loại, sau sa ngã của Adam.( A Divine Mercy Resource by Richard Torretto 2010 ISBN 1-4502-3236-1 pages 58-59)

Như lời Người đã hứa, Chúa Giêsu đã đưa về trời người nữ tu nhỏ bé Faustina, đã vinh danh người nữ tu này trên bàn thờ. Và người đầy tớ sốt sắng, hăng say, nhiệt tình với sứ điệp tình thương của Người là Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cũng được Người biệt đãi: qua đời tháng Tư 2005 trong chiều vọng Chúa Nhật Lòng Thương Xót. Ngài được tuyên phong Chân Phước vào Chúa Nhật Lòng Thương Xót, 1 tháng Năm 2011 bởi Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI, vị kế nhiệm Ngài, và được tôn phong Hiển Thánh cùng với Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII cũng vào ngày Chúa Nhật Tình Thương Xót, 27 tháng Tư, 2014 bởi Đức Giáo Hoàng Phanxicô. ("Pope paves way to beatification of John Paul II"bbc.news.co.uk. January 14, 2011. Retrieved 2011-01-14.).

 

Trần Mỹ Duyệt

Chúa Thánh Thần Bảo Chứng Của Lòng Xót Thương

CHÚA NHẬT II PHỤC SINH - KÍNH LÒNG CHÚA XÓT THƯƠNG

Ngay sau lời bình an, Chúa Phục Sinh lập tức trao ban Thánh Thần của Người. Lặp lại hành động tạo dựng năm xưa nơi địa đàng (x.St 2, 7), Chúa Phục Sinh “thổi hơi vào các ông và bảo: Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần” (Ga 20, 22).

  1. CHÚA THÁNH THẦN TRONG TẠO DỰNG MỚI.

Cuộc tạo dựng đầu tiên đã bị tội lỗi phá vỡ. Chúa Kitô, trong sự phục sinh, đã xây dựng lại bằng ơn cứu chuộc của Người, hoàn lại cho thế giới sự sống trong Thiên Chúa mà Ađam từng đánh mất.

Ađam, người đầu tiên của vũ trụ, từ nắm đất, trở thành con người có sự sống nhờ hơi thở của Thiên Chúa. Nay, sau khi sống lại từ cõi chết, Chúa Kitô thổi hơi trên các tông đồ để biến đổi họ thành những con người của công cuộc tạo dựng mới, xứng hợp với công trình mới.

Hơi thở của Thiên Chúa là Thánh Thần của Chúa Cha và Chúa Kitô. Nếu chỉ một mình Ađam lãnh nhận sự sống là lãnh nhận cho cả loài người, thì Thánh Thần được trao ban từ Chúa Phục Sinh cũng dành cho mọi người, không trừ ai. Vì thế, bất cứ ai sinh ra trong trần thế, sẽ được sống trong Thiên Chúa, sống nhờ Thánh Thần tác sinh của Thiên Chúa.

Cũng vậy, lúc khởi đầu của Hội Thánh, Hội Thánh chỉ có các tông đồ. Hội Thánh là chính các tông đồ. Vì thế, khi Thánh Thần của sự sống mới từ nơi Đấng Phục Sinh được trao ban, thì không phải chỉ riêng các tông đồ nhận lãnh. Nhưng các tông đồ nhận lãnh, là nhận lãnh cho chúng ta, toàn thể Hội Thánh.

Nói cách khác, Chúa Kitô ban Thánh Thần của Người cho Hội Thánh qua các tông đồ. Hội Thánh ấy bao gồm cả các tông đồ và chúng ta.

  1. CHÚA THÁNH THẦN SỨC SỐNG MỚI CỦA HỘI THÁNH.

Thánh Thần của Chúa Kitô Phục Sinh luôn luôn khơi lên trong mỗi chúng ta sức sống mãnh liệt cho Thiên Chúa, cho Chúa Kitô, miễn là chúng ta mở lòng bằng cách để Người thực hiện mọi điều Người cần nơi chúng ta.

Hãy nhớ, khởi đầu sự sống đã là công trình của Chúa Thánh Thần thì chóp đỉnh của sự sống vinh quang cũng là do Chúa Thánh Thần.

Chúa Thánh Thần tiếp tục tác động mọi sự, âm thầm như hạt giống đang nảy mầm trong lòng đất, dai dẳng như hạt men vùi lấp giữa đống bột, để đến một ngày, sẽ đơm bông kết trái, sẽ dậy men toàn bộ sự sống trần thế thành sự sống vĩnh cửu của Thiên Chúa.

Từ ngàn xưa, Thiên Chúa không giữ sự sống, không độc quyền Thần Khí riêng mình. Vì lòng xót thương, sự sống thần linh, Thần Khí thánh của Người, luôn sung mãn, trào tràn, trao ban cho trần thế, cho loài thụ tạo mà Người xót thương.

  1. CHÚA THÁNH THẦN BẢO CHỨNG CỦA LÒNG THIÊN CHÚA XÓT THƯƠNG.

Điều đầu tiên ngay sau phục sinh, Chúa Kitô không làm gì khác hơn là trao ban Thánh Thần. Thánh Thần của Chúa Kitô cùng là Thánh Thần của Thiên Chúa, trở thành bảo chứng của lòng Thiên Chúa thương xót chúng ta.

Từ nay, Chúa Thánh Thần sẽ tiếp tục dạy dỗ ta, thánh hóa ta, đưa ta ngày càng đến với ơn cứu độ mà Chúa Kitô đã thực hiện. Chúa Thánh Thần chính là sự bảo đảm cho ta về một tình yêu cao cả mà Thiên Chúa không bao giờ ngừng, không bao giờ mệt mỏi để trao ban.

Chúa Thánh Thần được trao ban, là cách Thiên Chúa mạc khải lòng thương xót ngút ngàn của mình. Sau Chúa Kitô, Người Con Chí Ái của Người, giờ đây, Chúa Thánh Thần tiếp tục công trình cứu chuộc vì chúng ta, vì lợi ích thiêng liêng của chúng ta.

Như thế, trong lòng thương xót vô cùng dành cho trần thế, Thiên Chúa đã hiến dâng chính mình cách nhưng không, không phải trong một Ngôi, nhưng trọn cả Ba Ngôi Chí Thánh, dù sự tự hiến chính mình ấy theo phẩm tính riêng nơi mỗi Ngôi.

Tình yêu thương xót của Thiên Chúa dành cho chúng ta, không có bất cứ khoảnh khắc nào là “không”, nhưng luôn luôn là “có”. Từng người luôn hiện diện trong trái tim Thiên Chúa, luôn hiện diện cách ấm áp trong nỗi lòng xót thương của Thiên Chúa. Càng cụ thế hơn cho sự “có” ấy, Chúa Thánh Thần được ban cho trần thế, như bảo chứng đời đời của lòng thương xót, mãi mãi ở giữa trần thế, cư ngụ nơi mỗi con người.

Để bắt đầu cho loạt bài tĩnh tâm về Lòng Chúa thương xót, chúng ta khởi đi từ lời Thánh vịnh: “Tình yêu Chúa phải chăng nay cạn hẳn, và thánh ngôn chấm dứt đời đời? Hay Thiên Chúa đã quên thương xót, vì giận hờn mà khép kín từ tâm?” (Tv 77, 9-10).

Lời Thánh vịnh như tiếng than ai oán của người đau khổ. Tuy tâm tư nặng trĩu u buồn, lòng như chất chứa đầy đau thương, nội dung Thánh vịnh vẫn cho thấy lòng tin, sự trông chờ vào nỗi lòng của Thiên Chúa xót thương, chứ không phải thể hiện sự tuyệt vọng, sự phản kháng.

Cũng vậy, giữa lúc cuộc sống của mình, của những hoàn cảnh xung quanh bế tắc, ta như mang cùng tâm trạng với lời Thánh vịnh. Ta ôm nỗi u hoài trong tiêu hao, mỏi mòn của cuộc sống mà thốt lên để khần nài, để van lơn: Lạy Chúa, xin tiếp tục đoái nghe, xin đừng cạn yêu thương, đừng quay mặt mà không trao ban lời sống của Chúa.

Đã bao nhiêu lần, chúng ta cũng lần mò trong đức tin giữa những vây bũa của đau khổ. Nhưng chúng ta không nổi loạn, không tìm cách sa thải Chúa khỏi đời mình. Ngược lại, chúng vẫn bám víu vào Chúa: Lạy Chúa xin đừng quên thương xót, xin đừng giận hờn, đừng bỏ qua lòng từ tâm.

Vẫn nắm chặt tương quan với Chúa, dù phải ngập chìm trong đau khổ, ta mới có thể nhận thấy, hơn thế, ta xác tín:

“Lòng thương xót của Thiên Chúa là mãi mãi; lòng thương xót không bao giờ lụi tàn, không bao giờ cạn kiệt, không bao giờ đầu hàng khi đối diện với những cánh cửa khép kín, và không bao giờ mỏi mệt. Trong sự không bao giờ này, chúng ta tìm thấy sức mạnh trong những giây phút gặp thử thách và yếu đuối bởi vì chúng ta chắc chắn rằng Thiên Chúa không bỏ mặc chúng ta. Ngài vẫn ở với chúng ta mãi mãi” (Giáo hoàng Phanxicô, bài giảng lễ Lòng Chúa thương xót 2016).

  Lm. JB Nguyễn Minh Hùng

NHẬN BIẾT CHÚA PHỤC SINH NƠI MỌI NGƯỜI TRONG MỌI HOÀN CẢNH

Trong các trình thuật Phục Sinh, luôn có một sự căng kéo rất rõ nơi các môn đệ của Chúa Giêsu: giữa sợ hãi và hy vọng, giữa hoang mang và niềm vui, giữa bóng tối và ánh sáng. Các môn đệ đã chứng kiến cái chết của Thầy Giêsu, nên lòng họ ngập tràn bối rối và thất vọng. Thế nhưng, chính trong tình cảnh ấy, Chúa lại mở mắt họ để họ nhận ra sự thật về sự sống lại. Tin Mừng dần sáng tỏ: “Đừng sợ! Về báo cho anh em của Thầy” (Mt 28: 10). Lời mời gọi ấy không chỉ dành cho họ, mà còn cho mỗi chúng ta: từ nỗi sợ bước sang niềm tin; từ khép kín bên trong bước ra bên ngoài để loan báo Tin Mừng.

Sau biến cố thập giá các môn đệ dường như tan tác. Họ khép kín, sợ hãi, tránh né. Những câu hỏi dày vò họ: điều gì đã xảy ra? có thể tin ai? tương lai rồi sẽ ra sao? Trong khi đó, những thế lực đã kết án Chúa Giêsu vẫn bình yên vô sự, còn ngôi mộ thì bị canh giữ cẩn mật. Mọi sự dường như trở lại “bình thường”, nhưng đó là một thứ bình thường lạnh lẽo, thiếu vắng tình yêu. Giữa khung cảnh ấy, con người dễ rơi vào thất vọng: tình yêu Chúa rao giảng ở đâu? Cuộc sống còn lại ý nghĩa gì? Liệu có ai đó sẽ mang đến chút an ủi yêu thương?

Tin Mừng theo thánh Gioan cho chúng ta câu trả lời cho những câu hỏi này. Trong khi tất cả những người khác đã đóng cửa và đóng chặt trái tim mình, vẫn còn một người đang chuẩn bị cho ngày mới. Đó là Maria Mađêlêna. Bà không để cho nỗi sợ hãi chôn vùi lòng yêu mến dịu dàng thuần khiết của bà. Với một tấm lòng đơn sơ đầy tình yêu mến, bà bận rộn chuẩn bị những hương liệu có sẵn để đi ướp xác Chúa Giêsu theo tập tục địa phương. Rồi sau đó, khi mọi người còn co cụm trong nhà, thì bà ra đi “lúc trời còn tối” (Ga 20: 1). Bà ra khỏi nơi an toàn của mình để đến mộ Chúa Giêsu không hề sợ hãi, không cần che giấu lòng yêu mến của bà dành cho Ngài.

Ngày Chúa Phục Sinh cũng giống như ngày Chúa giáng sinh. Chúa sinh ra âm thầm nơi máng ăn của chiên bò, nơi chỉ có các con vật nuôi chứng kiến sự ra đời của Ngài, vì cha mẹ Ngài không tìm được chỗ trong quán trọ. Nếu có ai nhận ra việc này thì đó là những người chăn chiên, những người thân phận bé nhỏ, trông coi đàn chiên của họ ở chung quanh. “Trong vùng ấy, có những người chăn chiên sống ngoài đồng và thức đêm canh giữ đàn vật. Bỗng sứ thần Chúa đứng bên họ, và vinh quang của Chúa chiếu toả chung quanh, khiến họ kinh khiếp hãi hùng. Nhưng sứ thần bảo họ: Anh em đừng sợ. Này tôi báo cho anh em một tin mừng trọng đại” (Lc 2: 8-10).

Chúa sống lại cũng chính trong sự bình thường ấy. Chính nơi đó điều phi thường đã xảy ra: tảng đá chặn cửa mồ đã lăn ra: “Bà Maria Mađalêna đi đến mộ, thì thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ” (Ga 20: 1). Có điều bà lại nghĩ ngay rằng ai đó đã ăn cắp xác Chúa, “Bà liền chạy về gặp ông Simon Phêrô và người môn đệ Chúa Giêsu thương mến. Bà nói: Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ; và chúng tôi chẳng biết họ để Ngài ở đâu” (Ga 20: 1-2). Rồi thì bà thấy một người mà bà “tưởng là người làm vườn, liền nói: Thưa ông, nếu ông đã đem Ngài đi, thì xin nói cho tôi biết ông để Ngài ở đâu, tôi sẽ đem Ngài về” (Ga 20: 15). Người làm vườn là một người rất đỗi bình thường mà người ta có thể thấy, hoặc không mấy khi thấy, hoặc không muốn thấy, hoặc thậm chí dễ bị bỏ qua. Một người làm vườn chỉ đang làm công việc của mình; không có gì đặc biệt ở đây. Nhưng chính nơi khuôn mặt bình thường ấy, Chúa Phục Sinh đang hiện diện. Chúa không chọn tỏ mình ra cách rực rỡ, nhưng ẩn mình trong những điều quen thuộc của đời sống. Trong những tháng ngày rao giảng Nước Trời, Chúa Giêsu đã bao nhiêu lần cho thấy Ngài yêu thương những người bình thường, những người thấp hèn, bị chà đạp, bị lãng quên.

Maria chạy về báo tin cho Phêrô và Gioan. Hai ông chạy ra mộ. Gioan đến trước, nhưng nhường cho Phêrô vào trước. Tại sao Gioan không vào mộ trước? Xét cho cùng, Phêrô là một người lãnh đạo. Trước đây, ông thường xông pha vào những tình huống nguy hiểm. Ông là người duy nhất nhảy ra khỏi thuyền để đi đến với Chúa Giêsu tên mặt biển. Ông bị chìm, nhưng có sao đâu? Ít nhất ông đã cố gắng! Còn bây giờ, trước ngôi mộ trống trơn của Chúa Giêsu, hẳn Phêrô phải nghĩ: “To chuyện rồi”. Ông quan sát kỹ lưỡng và thấy những băng vải được xếp lại, nhưng chưa hiểu. Vì thế, ông không thể vội vàng tuyên bố hoặc hành động thế nào, theo cảm tính sốc nổi như xưa. Ông cần phải suy nghĩ tường tận và cân nhắc thấu đáo mọi thứ. Khi Chúa Giêsu làm cho Ladarô hồi sinh, người ta phải cởi bỏ tấm vải liệm khỏi Ladarô. Còn tấm vải liệm của Chúa Giêsu được cuộn lại và đặt bên cạnh, phản chiếu quyền năng của Ngài trên sự chết. Nếu tôi đứng ở ngưỡng cửa bên cạnh lối vào như Gioan và nhìn chằm chằm vào ngôi mộ trống đó, liệu tôi có hiểu được sự khác biệt giữa sự Phục sinh của Chúa Giêsu và sự hồi sinh của Ladarô không? Gioan bước vào, “ông đã thấy và đã tin” (Ga 20: 8). Cùng một dấu chỉ, nhưng phản ứng khác nhau: có người tin, có người còn chờ đợi. Đức tin không bị ép buộc; nó là lời đáp tự do của con tim. Chính tình yêu giúp Gioan nhận ra điều mà lý trí chưa kịp hiểu.

Điều này cũng xảy ra nhiều lần sau đó. Trên đường Emmau, hai môn đệ không nhận ra Chúa cho đến khi Ngài bẻ bánh: “Mắt họ liền mở ra và họ nhận ra Ngài, nhưng Ngài lại biến mất” (Lc 24: 30-31). Bên bờ hồ, các môn đệ không nhận ra Chúa Giêsu đứng trên bờ cho đến khi Ngài trao bánh và cá: “Anh em đến mà ăn! Không ai trong các môn đệ dám hỏi Ông là ai?, vì các ông biết rằng đó là Chúa” (Ga 21: 12-13). Chúa Phục Sinh không xa lạ, rất quen thuộc thường ngày. Ngài đến như một người đồng hành, một người phục vụ, một con người rất đỗi bình thường. Tuy nhiên lúc này Ngài lại không dễ nhận ra trong con mắt người thường của các môn đệ, nhưng bị che khuất bởi một điều gì đó “linh thiêng siêu phàm.”

Vì thế, đời sống đức tin của chúng ta cũng diễn ra trong cùng một nhịp điệu ấy. Có lúc chúng ta đầy tin tưởng, có lúc lại hoang mang. Có lúc gần Chúa, có lúc thấy xa cách. Ngôi mộ trống là một dấu chỉ mở ra hai hướng: hoặc tin vào sự sống mới, hoặc ở lại trong thất vọng. Chính Chúa đã nói: “Thầy là sự sống lại và là sự sống” (Ga 11: 25). Nhưng đón nhận lời ấy hay không, là tùy nơi mỗi người.

Chính vì vậy chúng ta cùng có mặt cử hành Lễ Phục Sinh. Chúng ta cùng nhau bước đi như một dân tộc có đức tin. Đức tin Công giáo của chúng ta là đức tin chung cho mọi người. Tình yêu và sự sống đã mở đường, dù có thể vẫn còn đó những tổn thương, sợ hãi, mất mát và đau đớn của mình. Nhưng ngôi mộ đã trống rỗng, tảng đá đã được lăn đi. Những tấm vải liệm đã được gấp lại và để lại phía sau.

Một câu hỏi được đặt ra cho chính mình: tôi có nhận ra Chúa đang sống động trong những khuôn mặt tôi gặp mỗi ngày không? Trong người già, người trẻ, người phục vụ, người lao động, hay cả những người làm tôi khó chịu? Khi ai đó chen lấn, làm phiền, hiểu lầm hay làm tổn thương tôi, liệu tôi còn thấy được hình ảnh của Chúa nơi họ không? Chúa Phục Sinh có thể đang đến với tôi qua chính những con người và hoàn cảnh rất đời thường ấy.

Lễ Phục Sinh vì thế không chỉ là một biến cố đã qua, nhưng là một kinh nghiệm cần được sống mỗi ngày. Khi chúng ta biết yêu thương, tha thứ, xây dựng công lý và hòa giải, thì sự sống của Chúa lại tiếp tục bừng lên. “Ai ở lại trong tình yêu thì ở lại trong Thiên Chúa, và Thiên Chúa ở lại trong người ấy” (1 Ga 4: 16). Mỗi hành động bác ái, mỗi cử chỉ cảm thông, đều là dấu chỉ của Đấng Phục Sinh đang hoạt động.

Ngôi mộ trống nhắc chúng ta rằng không có gì là kết thúc. Ngay cả cái chết cũng không phải là điểm cuối. Tình yêu của Thiên Chúa mạnh hơn sự dữ, mạnh hơn bạo lực, mạnh hơn mọi thất bại. “Ánh sáng chiếu soi trong bóng tối, và bóng tối đã không diệt được ánh sáng” (Ga 1: 5). Đó là niềm hy vọng nền tảng của người Kitô hữu.

Nhưng Tin Mừng cũng nói rõ: “lúc trời còn tối” (Ga 20: 1). Ánh sáng phục sinh đã bắt đầu, nhưng không phải ai cũng nhận ra ngay. Maria đã đi trong bóng tối mà không hiểu hết. Phêrô cũng vậy. Chỉ có Gioan là “thấy và tin” (Ga 20: 8). Điều đó nhắc chúng ta rằng hành trình đức tin luôn có những khoảng thời gian mờ tối. Không phải lúc nào cũng rõ ràng, nhưng chính trong bóng tối ấy, niềm tin được thanh luyện.

Trong buổi bình minh kỳ lạ này, chúng ta cầu xin cho bóng tối, vốn dĩ chắc chắn sẽ bao trùm lên từng người khi chúng ta kết thúc của cuộc đời mình, bị vượt qua ngay từ hôm nay, để ánh sáng của Đấng Phục Sinh như bình minh soi tỏ và xóa bỏ cõi tối tăm của các ngôi mộ phủ lấp sự sống. Một xác chết không còn máu, bị đâm xuyên bởi một ngọn giáo, đã sống lại với một sự sống mới đầy kỳ diệu. Chúa Giêsu đã Phục Sinh, đã giữ lời hứa của Ngài. Cái chết, kẻ thù lâu đời nhất của con người đã bị khuất phục.

Cuối cùng, câu hỏi quan trọng nhất vẫn là: điều gì đang ngăn cản tôi tin sâu xa hơn? Là nỗi sợ, là quá khứ, là thất bại, hay là sự khép kín của chính mình? Phục Sinh là lời mời gọi bước ra khỏi những “ngôi mộ” ấy. “Tảng đá đã lăn khỏi mộ” (Ga 20: 1). Con đường đã mở. Vấn đề còn lại là tôi có dám bước ra, để nhận ra Chúa đang sống và đang hiện diện trong mọi hoàn cảnh, nơi mọi con người hay không?

Lạy Chúa Kitô Phục Sinh, Chúa đã chiến thắng cái chết để mang lại niềm hy vọng vĩnh cửu. Xin mở mắt tâm hồn chúng con để chúng con nhận ra sự hiện diện của Chúa trong những người bình thường nhất, trong những hoàn cảnh tưởng chừng như bế tắc nhất. Xin cho đôi tay con biết xoa dịu những vết thương của anh chị em, cho đôi chân con biết dấn thân đến những nẻo đường của sự hòa giải, và cho trái tim con luôn rộn rã khúc ca Alleluia, không chỉ bằng môi miệng, mà bằng chính cuộc sống phục vụ của con. Chính Chúa đã phán: “Ta là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Ta, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Ta, sẽ không bao giờ phải chết” (Ga 11: 25-26). Amen.

Phêrô Phạm Văn Trung

Subcategories