3. Sống & Chia Sẻ Lời Chúa

Con đường Chúa đi

Lễ Lá có một khởi đầu vui nhưng lại có một kết cục buồn. Khởi đầu Chúa Giêsu long trọng vào thành Giêsusalem. Kết cục, Chúa Giêsu chịu kết án, chịu khổ hình và chết trên thập giá. Con đường vào thành của Người là con đường vinh quang vương giả. Nhưng con đường lên Núi Sọ lại là con đường của kẻ tội đồ.

Đám rước tưng bừng ngày Lễ Lá gọi ta cùng tiến bước theo Chúa. Tiến bước theo Chúa để hiểu rằng hành trình không kết thúc tại cổng thành Giêrusalem với đám đông ngưỡng mộ, với cành lá và quần áo trải thảm đường đi, nhưng kết thúc trên Núi Sọ với thập giá, với những lời nhục mạ, với hai tội nhân đồng hành. Chúa Giêsu không xưng vương trước đám đông cuồng nhiệt nghênh đón, nhưng lại xưng vương trước mặt Philatô, khi tay đã bị trói, khi thân thể đã tan nát không còn hình tượng con người, khi đã mất hết uy tín, đứng trước vành móng ngựa như một phạm nhân. Danh hiệu là Vua chỉ được chính thức ghi bằng chữ viết khi Người bị treo trên thập giá.

Hành trình của Chúa là một hành trình gian khổ. Đích điểm chỉ đạt tới sau khi đã từ bỏ tất cả, không phải chỉ là nhà cửa, y phục mà cả những người thân, cả thành công, cả danh dự, cả mạng sống.

Tiến bước theo Chúa để chứng kiến sự thay đổi nhanh chóng của lòng người.

· Cũng đám đông ấy, hôm trước vừa vung tay chân hoan hô Chúa, hôm sau đã vội vung tay vung chân kết án Chúa.

· Cũng đám đông ấy hôm trước vừa reo hò chúc tụng Chúa, hôm sau cũng vẫn reo hò, nhưng để buộc tội Chúa.

· Cũng đám đống ấy, hôm trước vừa chen lấn nhau để nghênh đón Chúa, hôm sau đã xúm đông xúm đỏ để hành hạ Chúa.

· Cũng đám đông ấy, hôm trước vừa cởi áo, chặt cành lá lót đường Chúa đi, hôm sau đã lột áo Chúa, chặt cành gai cuốn lên đầu Chúa.

Tiến bước theo Chúa để dứt khoát lựa chọn cho mình một con đường.

· Đường vào Giêrusalem chỉ có một và rộng thênh thang. Mọi người đều tụ tập và cùng chung lối bước. Nhưng đường lên Núi Sọ chật hẹp và chia ra muôn ngả. Mỗi người đi theo con đường của mình.

· Đường Giêrusalem đông vui và phấn khởi vì mọi người ca hát tưng bừng. Nhưng đường lên Núi Sọ thật buồn thảm, chỉ có tiếng roi vọt, tiếng than khóc, tiếng chửi rủa.

· Đường vào Giêrusalem mọi người đều theo Chúa, mọi người đều là môn đệ Chúa. Nhưng đường lên Núi Sọ chỉ còn ít người theo Chúa. Có những người đã phản bội. Có những người đã trốn chạy. Có những người đã chối bỏ Thầy.

· Đường vào Giêrusalem có con lừa chở Chúa. Nhưng đường lên Núi Sọ Chúa phải vác thánh giá.

· Đi theo Chúa trên đường vào Giêrusalem thì dễ dàng và vui vẻ. Nhưng theo Chúa trên con đường Núi Sọ mới thật chông gai.

Nếu tôi có mặt ở đó, tôi sẽ dễ dàng hoà nhập vào đoàn người cầm cành lá đón rước Chúa. Nhưng khi Chúa đi lên Núi Sọ, tôi sẽ rẽ sang đường nào? Tôi sẽ rẽ sang con đường phản bội của Giuđa? Tôi sẽ rẽ sang con đường chối Chúa của Phêrô? Tôi sẽ rẽ sang những con đường hẻm in dấu chân trốn chạy của các môn đệ? Tôi sẽ phụ họa với đám đông kết án Chúa? Hay tôi cũng theo quân lính đánh đập Chúa? Trước sau gì tôi cũng phải lựa chọn một con đường.

Lạy Chúa, xin cho con luôn tiến bước theo Chúa trên mọi nẻo đường Chúa đi. Xin thêm sức cho con để con kiên trì theo Chúa trên đường lên Núi Sọ. Amen.

GỢI Ý CHIA SẺ

1. Hãy so sánh đường vào thành Giêrusalem và đường lên Núi Sọ.

2. Nếu bạn có mặt ở Giêrusalem hôm ấy bạn sẽ làm gì?

3. Bạn dám có lập trường riêng hay bạn chỉ biết làm theo đám đông?

TGM. Giuse Ngô Quang Kiệt

Triết lý khổ đau

Không ai thích đau khổ, nhưng không ai lại không đau khổ, và cũng chẳng có ai tránh được đau khổ. Chúa Giêsu còn chịu đau khổ tới tột độ thì chẳng ai thoát đau khổ ở đời này. Cái gì cũng có triết lý riêng, chắc chắn đau khổ có triết lý đặc biệt mà phàm nhân không thể hiểu nổi.

Tâm lý gia Elisabeth Kübler-Ross (1926-2004, người Mỹ gốc Thụy Sĩ) nói: “Những con người đẹp nhất là những người từng bị đánh bại, từng đau khổ, từng tranh đấu, từng mất mát, và đã tìm được đường ra khỏi vực sâu. Những người này có lòng cảm kích, sự nhạy cảm và thấu hiểu đối với cuộc đời, cuộc đời đã làm họ tràn đầy sự cảm thông, sự dịu dàng và quan tâm yêu thương sâu sắc. Người đẹp không tự nhiên mà có”.

Cuộc đời cho chúng ta thấy rằng những con người đẹp nhất (đẹp đúng nghĩa chứ không là đẹp ngoại hình) là những người từng bị đánh bại, từng chịu đau khổ, từng phải tranh đấu, từng chịu mất mát, nhưng họ đã tìm được con đường ra khỏi vực sâu để thoát thân – tức là họ đã đi xuyên qua đau khổ. Những con người này có lòng cảm kích, sự nhạy bén và thấu hiểu đối với cuộc đời, chính cuộc đời đã làm cho họ tràn đầy sự cảm thông, sự dịu dàng và biết quan tâm yêu thương tha nhân một cách sâu sắc. Như vậy, “người đẹp” không thể tự nhiên mà có.

Ôi, loại triết-lý-sống luôn thâm sâu và! Và quả thật, chính nỗi đau khổ lại có sức mạnh kỳ diệu khả dĩ làm cho người ta nên khôn ngoan đích thực. Cụ Ngô Tất Tố đã đặt vấn đề: “Ai nên khôn không khốn một lần?”. Tương tự, cụ Phan Bội Châu đưa ra giả thuyết: “Ví phỏng đường đời bằng phẳng cả, anh hùng hào kiệt có hơn ai?”. Hai câu nghi vấn cũng là hai câu xác định, hai câu hỏi cũng là hai câu trả lời. Đó là dạng “nghi vấn xác định”.

Về tâm linh, Thánh Phanxicô Assisi thổ lộ: “Tôi hy vọng rất nhiều về cái hay, cái tốt. Vì vậy mà tất cả đau khổ đều là dễ thương”. Như vậy có nghĩa là cái hay và cái tốt đều xuất hiện sau đau khổ. Và thật kỳ lạ, văn thi sĩ Clive Staples Lewis (1898-1960, Anh quốc) xác định: “Thiên Chúa thầm thì với chúng ta khi chúng ta vui, nhưng Ngài nói to trong lương tâm của chúng ta khi chúng ta đau khổ”.

Sự đau khổ thật là mầu nhiệm. Thật vậy, cũng như tình yêu, có lẽ chẳng ai định nghĩa thỏa đáng về sự đau khổ, bởi vì đau khổ có nhiều dạng và nhiều mức độ. Thiết tưởng có thể đơn giản hóa để dễ hiểu theo phương trình: Đau khổ = Ưu sầu + Nước mắt. Tất nhiên phải “trừ” loại nước mắt vui mừng, dù hai loại nước mắt đều có vị mặn. Rất dễ dàng lấy vạt áo lau khô những “giọt mặn” rỉ ra từ khóe mắt, nhưng lại rất khó xóa “vết mặn” khỏi trái tim mình.

Thật vậy, sướng hay khổ còn do mỗi người có khái niệm riêng. Có những triết lý dễ hiểu, có những triết lý khó hiểu, thậm chí là không thể hiểu: Triết lý Thập Giá – tức là triết lý về sự đau khổ. Thảo nào Chúa Giêsu thường xuyên nhắc nhở người ta phải vác thập giá hằng ngày và tìm cách đi vào cửa hẹp.

Trong cuộc sống đời thường, chẳng ai ưa thích gì nỗi khổ, thế nhưng đau khổ vẫn luôn có giá trị tích cực mà chúng ta phải cố gắng hiểu suốt cả đời. Đại văn hào Victor Hugo nhận xét: “Đau khổ cũng như hoa quả. Chúa không khiến nó mọc lên trên những cành quá yếu ớt để chịu nổi nó”. Những người chịu đau khổ hẳn là những người mạnh mẽ, vì Chúa biết họ đủ sức nên mới để cho họ chịu đau khổ như vậy. Thật vậy, Elbert Hubbard giải thích: “Nếu bạn đau khổ, hãy cảm ơn trời! Vì đó là dấu hiệu chắc chắn cho thấy bạn đang sống”. Chính lúc chịu đau khổ lại là lúc người ta sống viên mãn, thật kỳ lạ vô cùng!

Triết lý đau khổ thật kỳ diệu, đúng là sự mầu nhiệm. Kinh Thánh cho biết rằng mặc dù đối mặt với các hung tin dồn dập, nhưng ông Gióp vẫn bình tĩnh. Ông trỗi dậy, xé áo mình ra, cạo đầu, sấp mình xuống đất, sụp lạy và chân thành cầu nguyện: “Thân trần truồng sinh từ lòng mẹ, con sẽ trở về đó cũng trần truồng. Đức Chúa đã ban cho, Đức Chúa lại lấy đi: xin chúc tụng danh Đức Chúa!” (G 1:21). Đặc biệt là dù đau khổ cùng cực, nhưng “ông Gióp KHÔNG hề phạm tội cũng KHÔNG buông lời trách móc phạm đến Thiên Chúa” (G 1:22). Hai cái “không” của ông Gióp trên cả tuyệt vời. Hiểu được như vậy thì cuộc đời sẽ thanh thản!

Người đời cũng có cách nói thú vị: “Thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt, còn hơn le lói suốt trăm năm”. Có lẽ đó là cách “tự an ủi” của người đời. Nhưng chúng ta cũng có thể hiểu theo góc độ nào đó về Chúa-Giêsu-làm-người. Cuộc đời Ngài đầy đau khổ ê chề, thế nhưng Ngài vẫn có khoảnh khắc huy hoàng là được thiên hạ tung hô lúc Ngài cưỡi trên lưng lừa trên đường tiến vào Thành Giêrusalem. Và chắc chắn không ngoài Thánh Ý Chúa Cha.

Ngày Lễ Lá, Phụng vụ Lời Chúa được Giáo hội sử dụng là bài ca thứ ba trong các “Bài Ca của Người Tôi Trung”, ngắn gọn mà ý nghĩa: “Đức Chúa là Chúa Thượng đã cho tôi nói năng như một người môn đệ, để tôi biết lựa lời nâng đỡ ai rã rời kiệt sức. Sáng sáng Người đánh thức, Người đánh thức tôi để tôi lắng tai nghe như một người môn đệ. Đức Chúa là Chúa Thượng đã mở tai tôi, còn tôi, tôi không cưỡng lại, cũng chẳng tháo lui” (Is 50:4-5). Quả thật, đó là điều không dễ, nhưng vẫn giữ được lòng trung tín ngay trong lúc chịu đau khổ!

Thật là kỳ lạ, đau khổ không làm người ta yếu đuối mà lại như loại “nước tăng lực” làm tăng sức chịu đựng: “Tôi đã đưa lưng cho người ta đánh đòn, giơ má cho người ta giật râu. Tôi đã không che mặt khi bị mắng nhiếc phỉ nhổ. Có Đức Chúa là Chúa Thượng phù trợ tôi, vì thế, tôi đã không hổ thẹn, vì thế, tôi trơ mặt ra như đá. Tôi biết mình sẽ không phải thẹn thùng” (Is 50:6-7). Ôi, thật là mầu nhiệm, những người không có niềm tin Kitô giáo chắc chắn không thể hiểu được, và có thể họ sẽ cho những người chịu đau khổ là những người điên khùng.

Tác giả Thánh Vịnh than thở: “Thân sâu bọ chứ người đâu phải, con bị đời mắng chửi dể duôi, thấy con ai cũng chê cười, lắc đầu bĩu mỏ buông lời mỉa mai: ‘Nó cậy Chúa, mặc Người cứu nó! Người có thương, giải gỡ đi nào!’ ” (Tv 22:7-9). Thách thức quá lớn, khoảng cô đơn quá rộng, nỗi nhục nhã quá ê chề!

Người ta thường nói: “Phúc bất trùng lai, họa vô đơn chí”. Điều này không khác quy luật muôn thuở, giống như định mệnh vậy. Đau khổ này cứ tiếp tục chồng chất lên đau khổ khác: “Quanh con bầy chó đã bao chặt rồi. Bọn ác đó trong ngoài vây bủa, chúng đâm con thủng cả chân tay, xương con đếm được vắn dài; chúng đưa cặp mắt cứ hoài ngó xem. Áo mặc ngoài chúng đem chia chác, còn áo trong cũng bắt thăm luôn. Chúa là sức mạnh con nương, cứu mau, lạy Chúa, xin đừng đứng xa” (Tv 22:17-20). Không còn gì để mất nữa, khốn khổ tột cùng, lo sợ run cả người, nguyện cầu không ngừng, thế nhưng vẫn chẳng nghe động tĩnh gì!

Tuy nhiên, dù có thế nào thì vẫn một lòng tín thác, vẫn xưng tụng Thiên Chúa, vì đó là mục đích sống: “Con nguyện sẽ loan truyền danh Chúa cho anh em tất cả được hay, và trong đại hội dân Ngài, con xin dâng tiến một bài tán dương. Hỡi những ai kính sợ Đức Chúa, hãy ca tụng Người đi! Hỡi toàn thể giống nòi Gia-cóp, nào hãy tôn vinh Người! Dòng dõi Ít-ra-en tất cả, nào một dạ khiếp oai!” (Tv 22:23-24).

Cầu nguyện là lương thực nuôi dưỡng đời sống tâm linh. Cầu nguyện mà không nghe động tĩnh gì, đó là dấu chỉ chắc chắn rằng Chúa đang xót thương. Lại thêm một điều kỳ diệu. Muốn hiểu được triết lý này, đòi hỏi phải có niềm tin Kitô giáo. Với người ngoài Kitô giáo hoặc vô thần, họ cho đó là “bùa mê, thuốc lú”, ai tin như vậy đều bị họ coi là dại dột, là dốt nát, là ngu xuẩn hoặc điên rồ.

Thánh Phaolô phân tích: “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân sống như người trần thế” (Pl 2:6-7). Chúa Giêsu không chỉ tự nguyện như vậy, mà còn hơn thế nữa: “Người lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2:8). Thật đúng là mầu nhiệm, do đó mà khó hiểu quá. Tuy nhiên, chỉ là “khó hiểu” chứ không phải là “không thể hiểu”.

Trong cuộc sống đời thường, người ta cũng nhận thấy rằng tình yêu nào cũng cần có “chất” đau khổ, có đau khổ mới chứng tỏ tình yêu chân chính. Như một lời xác định, đại văn hào Victor Hugo nói: “Ai khổ vì yêu, hãy yêu hơn nữa; chết vì yêu là sống trong tình yêu”. Chết mà là sống. Lạ thật, người đời mà còn nhận định được như vậy đấy!

Chắc chắn đau khổ có giá trị nhất định và rất độc đáo. Gian nan là nhịp cầu dẫn tới thành công, đau khổ là nhịp cầu dẫn tới vinh quang. Cũng vậy, sự chết là con đường dẫn tới sự sống, là cửa ngõ bước vào cõi trường sinh: “Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời” (Thánh Phanxicô Assisi). Còn Thánh Phaolô kết luận: “Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu. Như vậy, khi vừa nghe danh thánh Giêsu, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ; và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: “Đức Giêsu Kitô là Chúa” (Pl 2:9-11).

Khi Chúa Giêsu hiển hách vào Thành Giêrusalem là lúc Ngài đi vào cõi đau khổ, và từ “biên giới” đầy gian khổ ở Vườn Dầu lại tiếp tục dẫn tới “cửa ải” sự chết nơi đỉnh đồi Can-vê. Nhưng từ nơi Can-vê “chết chóc” ấy lại dẫn tới cửa sự sống là Nước Trời. Một bản đồ lòng vòng như mê cung nhưng lại thú vị và hấp dẫn, có bao người khao khát sử dụng loại bản đồ này, và đã có nhiều người đạt được mục đích sống đó: Các thánh nhân, đặc biệt là các vị tử đạo.

Đời là thế. Chuyện gì đến sẽ đến – dù vui hay buồn, dù tốt hay xấu, dù to hay nhỏ. Đó là điều tất yếu của cuộc sống. Bài thương khó hôm nay là một bộ phim buồn khiến lòng người trĩu nặng…

Giu-đa Ít-ca-ri-ốt, một người trong Nhóm Mười Hai, đành lòng bán Thầy mình để lấy một số tiền. Từ lúc đó, gã cố tìm dịp thuận tiện để nộp Thầy mình. Vật chất và tiền bạc có ma lực cực mạnh khiến người ta mù quáng, không còn đủ lý trí sáng suốt để phân biệt đâu là phải hay trái. Ma lực đó rất khó cưỡng lại!

Ngày thứ nhất trong tuần bánh không men, các môn đệ đến thưa với Đức Giêsu xem Ngài muốn họ dọn Tiệc Vượt Qua ở đâu. Ngài dặn dò họ kỹ lưỡng từng chi tiết.

Chiều đến, Đức Giêsu vào bàn tiệc với mười hai môn đệ. Đang tiệc vui, bỗng dưng Ngài bảo có người sẽ nộp Ngài. Các môn đệ tá hỏa tam tinh và rầu thúi ruột, họ hỏi nhỏ nhau xem ai là thủ phạm. Chẳng ai biết. Ngài nói: “Kẻ giơ tay chấm chung một đĩa với Thầy, đó là kẻ nộp Thầy. Đã hẳn Con Người ra đi theo như lời đã chép về Người, nhưng khốn cho kẻ nào nộp Con Người: thà nó đừng sinh ra thì hơn!” (Mt 26:23-24). Giu-đa nhột gáy, nhưng vẫn giả nai: “Thầy ơi, chẳng lẽ con sao?”. Ngài xác nhận là đúng!

Cũng trong bữa ăn đó, Đức Giêsu cầm lấy bánh, dâng lời chúc tụng, rồi bẻ ra, trao cho môn đệ và nói: “Anh em cầm lấy mà ăn, đây là mình Thầy” (Mt 26:26). Rồi Người cầm lấy chén, dâng lời tạ ơn, trao cho môn đệ và nói: “Tất cả anh em hãy uống chén này, vì đây là máu Thầy, máu Giao Ước, đổ ra cho muôn người được tha tội” (Mt 26:27-28). Đây là lúc thật linh thiêng và xúc động, nhưng lại có nỗi buồn khi Ngài bảo: “Từ nay, Thầy không còn uống thứ sản phẩm này của cây nho, cho đến ngày Thầy cùng anh em uống thứ rượu mới trong Nước của Cha Thầy” (Mt 26:29).

Sau khi hát thánh vịnh xong, Thầy trò cùng ra núi Ô-liu. Bấy giờ Đức Giêsu nói với các ông về nhiều điều cần thiết, vừa cảnh báo vừa trăn trối. Nghe Thầy nói đích danh mình là sẽ chối Thầy ba lần. Ông Phêrô nói chắc: “Dầu có phải chết với Thầy, con cũng không chối Thầy” (Mt 26:35). Tất cả các môn đệ cũng đều nói như vậy. Nhưng rồi… điều gì đến vẫn cứ đến!

Vào vùng đất Ghết-sê-ma-ni, Ngài bảo mọi người ở lại, chỉ dẫn theo Phêrô và hai người con ông Dê-bê-đê đi theo. Ngài bắt đầu cảm thấy buồn rầu xao xuyến cực độ nên phải thốt lên: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết được. Anh em ở lại đây mà canh thức với Thầy” (Mt 26:38). Ngài đi xa hơn một chút, sấp mặt xuống, cầu nguyện: “Lạy Cha, nếu có thể được, xin cho con khỏi phải uống chén này. Tuy vậy, xin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (Mt 26:39). Nhân tính thật yếu đuối, nhưng Ngài vẫn quyết tuân phục Ý Cha cho đến cùng.

Ngài trở lại chỗ ba đệ tử ruột, ôi thôi, họ lăn ra ngủ khò. Ngài nói với Phêrô: “Thế ra anh em không thể canh thức nổi với Thầy một giờ sao? Anh em hãy canh thức và cầu nguyện, để khỏi lâm vào cơn cám dỗ. Vì tinh thần thì hăng say, nhưng thể xác lại yếu hèn” (Mt 26:40-41). Phêrô còn ngái ngủ, chỉ biết gãi đầu thôi. Ngại ghê đi!

Rồi Ngài lại đi cầu nguyện lần thứ hai: “Lạy Cha, nếu con cứ phải uống chén này mà không sao tránh khỏi, thì xin vâng ý Cha” (Mt 26:42). Ngài quay lại, thấy các môn đệ vẫn đang ngon giấc, mắt họ nặng trĩu. Có lẽ họ thấm mệt vì có chút men và trời đã quá khuya. Ngài để mặc các ông ngủ mà đi cầu nguyện lần thứ ba, cũng với lời như trước. Rồi Ngài đến chỗ các môn đệ, đúng lúc kẻ nộp Ngài vừa tới!

Giu-đa tỏ ra lịch sự đến chào và hôn Thầy, nhưng là để “chỉ điểm” cho những kẻ thủ ác bắt Thầy. Phêrô nóng gáy lấy gươm chém đứt tai Man-khô, đầy tớ của thầy thượng tế. Nhưng Chúa Giêsu chữa lành cho gã và bảo Phêrô cất gươm đi. Họ ập tới bắt trói Ngài. Thấy vậy, các môn đệ tá hỏa và bỏ của chạy lấy người, có kẻ mất dép, có kẻ tuột cả áo xống mà chạy tồng ngồng đi trốn. Nói thì mạnh lắm, cuối cùng cũng chỉ “lẻo mép”. Phàm nhân yếu đuối và nhát đảm quá!

Họ bắt Đức Giêsu và điệu đến thượng tế Cai-pha. Phêrô đi theo xa xa, đến tận dinh thượng tế, rồi vào bên trong ngồi với bọn thuộc hạ, xem kết cuộc ra sao.

Họ chất vấn Đức Giêsu đủ điều, nhưng Ngài vẫn im lặng. Vì có nói với họ thì cũng như nước đổ lá môn, nói với đầu gối còn hơn. Cuối cùng, vị thượng tế nói: “Nhân danh Thiên Chúa hằng sống, tôi truyền cho ông phải nói cho chúng tôi biết: ông có phải là Đấng Kitô Con Thiên Chúa không?” (Mt 26:63). Nghe chừng đạo đức lắm vì ông ta dám “nhân danh Chúa” mà tra xét. Lúc này Đức Giêsu mới lên tiếng: “Chính ngài vừa nói. Hơn nữa, tôi nói cho các ông hay: từ nay, các ông sẽ thấy Con Người ngự bên hữu Đấng Toàn Năng và ngự giá mây trời mà đến” (Mt 26:64). Như giọt nước làm tràn ly, vị thượng tế liền xé áo mình ra và bảo Đức Giêsu nói phạm thượng, rồi ông ta hỏi mọi người nghĩ sao, họ liền đồng thanh: “Hắn đáng chết!”.

Sau đó, kẻ thì khạc nhổ vào mặt và đấm đánh Ngài, kẻ lại tát Ngài, rồi họ nguyền rủa và lăng mạ Ngài đủ thứ. Mỗi chúng ta cũng đã từng “khạc nhổ” hoặt “tát” vào tha nhận – cách này hoặc cách nọ, và đó là sỉ nhục chính Chúa Giêsu!

Tương tự, chuyện gì sẽ đến cũng lại đến. Phêrô được Thầy báo trước, nhưng cũng không thể vượt qua chính mình. Thiên hạ thấy ông nên bàn tán xì xầm, ông sợ nên không dám nhận mình là người quen với Đức Giêsu, và còn thề độc là không hề quen với người đang bị hành hạ bên trong kia. Và rồi có tiếng gà gáy, ông sực nhớ lời Đức Giêsu đã nói: “Gà chưa kịp gáy thì anh đã chối Thầy ba lần”. Ông ra ngoài, khóc lóc thảm thiết. Chắc hẳn từ đó, ông rất sợ tiếng gà gáy sáng, nhưng ông cũng phải cảm ơn tiếng gà gáy đó.

Kinh Thánh cho biết rằng vào mỗi dịp lễ lớn, tổng trấn có lệ phóng thích cho dân chúng một người tù, tuỳ ý dân. Khi ấy có một người tù khét tiếng tên là Ba-ra-ba. Người ta đồng ý thả Ba-ra-ba và cương quyết giết Đức Giêsu. Phi-la-tô thừa biết chỉ vì ghen tị mà họ nộp Ngài, thế nhưng vì địa vị chức tước mà ông làm ngơ với công lý, vợ ông bảo đừng nhúng tay vào vụ xử vụ này, ông đi rửa tay để chứng tỏ mình vô can. Nhưng đó chỉ là giả hình, hèn nhát!

Thật vậy, chính Phi-la-tô đem Đức Giêsu vào trong dinh và tập trung cả cơ đội quanh Ngài. Chúng lột áo Ngài ra, khoác cho Ngài tấm áo choàng đỏ, rồi kết một vòng gai làm vương miện đặt lên đầu Người, và trao vào tay mặt Ngài một cây sậy. Chúng quỳ gối trước mặt Người mà nhạo báng, chúng khạc nhổ vào Ngài và lấy cây sậy mà đập vào đầu Ngài. Chế giễu chán, chúng lột áo choàng ra, cho Ngài mặc áo lại như trước, rồi điệu Người đi đóng đinh vào thập giá.

Trên đường, chúng gặp một người Ky-rê-nê tên là Si-môn, chúng bắt ông vác thập giá của Ngài, vì thấy Ngài yếu sức, sợ không đến nơi hành hình. Những người nói mạnh hứa chắc đâu cả rồi? Những người tín cẩn của Đức Giêsu đâu cả rồi? Những người được Đức Giêsu chữa lành đâu cả rồi? Những người được Đức Giêsu cho ăn no nê đâu cả rồi? Sao chỉ có mình ông Si-môn ngoại giáo vác đỡ Thập Giá cho Ngài? Cuộc đời là thế thật sao?

Khi đến Gôn-gô-tha, nghĩa là Đồi Sọ, chúng cho Ngài uống rượu pha mật đắng, nhưng Ngài chỉ nếm một chút mà không chịu uống. Đóng đinh Ngài vào thập giá xong, chúng đem áo Ngài ra bắt thăm mà chia nhau, rồi họ cứ ngồi lì đó mà canh giữ Ngài. Cùng bị đóng đinh với Ngài là hai tên cướp, một tên bên phải, một tên bên trái.

Điều đáng buồn là những kẻ qua người lại đều nhục mạ và thách thức Ngài. Các thượng tế, kinh sư và kỳ mục cũng chế giễu Ngài vì họ tưởng mình đã hành động đúng và hả hê chiến thắng! Thậm chí một tên cướp cùng bị đóng đinh với Ngài cũng không tiếc lời sỉ vả và thách thức Ngài.

Bỗng dưng bóng tối bao phủ cả mặt đất từ giờ thứ sáu đến giờ thứ chín (12 giờ trưa tới 3 giờ chiều). Vào giờ thứ chín, trong nỗi cô đơn quá lớn, Đức Giêsu kêu lớn tiếng: “Ê-li, Ê-li, lê-ma xa-bác-tha-ni – lạy Thiên Chúa, lạy Thiên Chúa của con, sao Ngài bỏ rơi con?” (Mt 27:46). Người ta cứ tưởng Ngài gọi ông Ê-li-a, rồi một người trong bọn chạy đi lấy miếng bọt biển, thấm đầy giấm, buộc vào đầu cây sậy và đưa lên cho Ngài uống. Rồi Đức Giêsu lại kêu một tiếng lớn, rồi trút linh hồn!

Ngay lúc đó, bức màn trướng trong Đền Thờ xé ra làm hai từ trên xuống dưới, đất rung đá vỡ, mồ mả bật tung, xác của nhiều vị thánh đã an nghỉ được trỗi dậy. Thấy động đất và các sự lạ, viên đại đội trưởng và những người cùng ông canh giữ Đức Giêsu đều rất đỗi sợ hãi và phải thú nhận: “Quả thật ông này là Con Thiên Chúa” (Mt 27:54). Ít ra cũng phải như thế, muộn cũng còn hơn không!

Và sự thật mãi là sự thật, dù người ta cố ý bóp méo thế nào thì cũng không thể biến hóa cách nào khác. Thắng và Thua đều cùng vần T. Sự đời lạ lắm, có những khi cứ tưởng Thắng mà hóa Thua, nhưng có khi thấy Thua mà lại là Thắng. Và chuyện gì sẽ đến cũng lại đến! Chưa đánh được người thì mặt đỏ như vang, đánh được người rồi thì mặt vàng như nghệ. Đúng là như thế!

Ước gì mỗi chúng ta đều như những chiếc lá luôn xanh biếc màu đức tin, luôn khiêm nhường vẫy chào đón Đức Kitô trong mọi hoàn cảnh, trong lúc vui đã đành, trong lúc buồn mới thực sự có giá trị. Được như vậy là đã hiểu được triết lý của sự đau khổ rồi đấy!

Lạy Thiên Chúa toàn năng, xin ban Thần Khí để con có thể hiểu được triết lý của sự đau khổ, thông suốt triết lý của Thập Giá, nhờ đó con đủ sức vững bước theo chân Ngài đi xuyên qua mọi đau khổ. Xin giúp con can đảm cùng chết với Đức Kitô để xứng đáng được phục sinh vinh quang với Ngài. Con cầu xin nhân Danh Thánh Tử Giêsu Kitô, Thiên Chúa Cứu Độ của con. Amen.

TRẦM THIÊN THU

Mở cửa mộ

Tai họa ngày 11 tháng 09 năm 2001 trên đất Mỹ đã trở thành một nỗi ám ảnh đối với mọi người. Trong phút chốc, hai tòa tháp chọc trời đổ sập xuống, trở thành ngôi mộ khổng lồ chôn vùi mấy ngàn sinh mạng. Ngôi mộ gieo tang thương. Ngôi mộ gieo kinh hoàng. Ngôi mộ làm rung chuyển thế giới.

Ngôi mộ không chỉ hiện hữu từ khi toà tháp đôi đổ xuống. Trước đó ngôi mộ đã hiện diện trong trái tim của những người khủng bố. Sau đó ngôi mộ vẫn phủ màn u ám trên cuộc sống thân nhân bạn bè.

Như thế, ngôi mộ không chỉ xây bằng gạch đá. Nó được xây bằng những lực lượng chết chóc như sự hận thù, sự áp bức, sự độc ác… Ngôi mộ không chỉ chôn vùi sự sống. Nó chôn vùi cả niềm tin, cả niềm hy vọng.

Nhưng hôm nay, Chúa Giêsu đã dõng dạc mở cửa mộ và truyền cho người chết chỗi dậy bước ra. Việc Chúa Giêsu mở cửa mộ cho Lagiarô mở ra những chân trời mới cho đời sống con người.

Khi mở cửa mộ, Người đã mở cánh cửa sự sống. Thông thường, ngôi mộ là vương quốc của tử thần. Cửa mộ là cửa mở vào thế giới chết chóc. Ai đã vào đó chẳng còn hy vọng thoát ra. Nhưng hôm nay, Chúa Giêsu đã mở cửa mộ để Lagiarô không phải bước vào sự chết nhưng bước vào sự sống. Khi mở cửa mộ, Người phá tan sào huyệt Thần Chết. Khi tháo những dải băng liệm cuốn quanh thân thể Lagiarô, Người giải phóng ông khỏi dây trói ràng buộc của tử thần.

Khi mở cửa mộ, Người đã mở cánh cửa niềm tin. Trước đó, niềm tin của Mácta chỉ là một niềm tin mơ hồ, chung chung của đa số người Do thái thời ấy. Nhưng sau khi thấy Lagiarô sống lại, niềm tin của bà trở nên cụ thể, sống động và vững vàng. Trước đó, nhiều người Do thái chưa tin vào Chúa Giêsu. Nhưng sau khi được chứng kiến Lagiarô từ cõi chết sống lại, họ không thể nào không tin. Tảng đá lấp cửa mồ tung ra cũng làm bật tung tảng đá nghi ngờ che lấp trái tim, đưa họ tới tin nhận Chúa là Thiên Chúa.

Khi mở cửa mộ, Người mở ra cánh cửa niềm vui. Chết chóc gieo tang tóc u buồn. Ngôi mộ bao giờ cũng gợi lên nỗi buồn. Buồn ly biệt. Buồn mất mát. Buồn thất bại. Cái buồn vốn hay lây. Nước mắt người thân dễ làm cay mắt ta. Nên Chúa Giêsu không ngăn được dòng lệ. Nhưng khi Lagiarô bước ra, cả một trời vui. Đám tang bỗng biến thành đám hội. Lời chia buồn đổi thành lời chúc mừng. Thiên Chúa đã biến tang tóc thành niềm vui. Niềm vui ấy trọn vẹn.

Khi mở cửa mộ, Chúa Giêsu mở cánh cửa hy vọng. Thiên Chúa đến biến đổi số phận con người. Con người không còn bị giam hãm trong thân phận hay chết, nhưng được thênh thang tự do trong cõi sống. Con người không sinh ra để chết đi nhưng để sống, sống mãi, vì Chúa là “sự sống”, “ai tin sẽ sống đời đời”. Con người không sinh ra để tàn lụi, nhưng để triển nở đến vô biên.

Trong mỗi người chúng ta có nhiều nấm mộ. Chúng ta bị giam hãm trong những nấm mộ tội lỗi, gian tham, ích kỷ, bất công, đam mê, ghen ghét hận thù, nghèo đói, thất học… Có những nấm mộ kiên cố, tự sức mình không thể phá nổi. Ta hãy xin Chúa đến mở những cửa mộ, lăn những tảng đá đè nặng đời ta, để ta được sự sống dồi dào của Chúa nuôi dưỡng. Đồng thời, ta cũng phải tiếp tay với Chúa, phá đi những nấm mộ vây bọc anh chị em chúng ta, để mọi người được sống và sống dồi dào như lòng Chúa mong ước, như định mệnh Chúa dành cho ta, những người con cái Chúa.

GỢI Ý CHIA SẺ

1) Tôi còn bị giam cầm trong những ngôi mộ nào?

2) Tôi còn muốn xây những ngôi mộ nào để chôn vùi anh em?

3) Hôm nay tôi phải làm gì để mở cửa mộ cho tôi và cho anh em?

4) Việc Chúa cho Lagiarô chết bốn ngày sống lại có ảnh hưởng gì trên tôi?

TGM. Giuse Ngô Quang Kiệt

CON ĐƯỜNG THẬP GIÁ: YÊU ĐẾN TẬN CÙNG

Có những khoảnh khắc trong đời, chúng ta buộc phải đối diện với một sự thật rất khó chấp nhận: con người có thể yếu đuối, có thể chọn sai, có thể phản bội. Nhưng cũng chính trong những khoảnh khắc ấy, tình yêu chân thật lại tỏa sáng rõ nhất. Bài Thương Khó theo sách Tin Mừng của thánh Mátthêu trong Chúa Nhật Lễ Lá hôm nay cho chúng ta thấy cả hai điều đó: bóng tối của con người và ánh sáng của Thiên Chúa.

  1. Chúa Giêsu bị những người bạn gần gũi phản bội

Câu chuyện mở đầu bằng một quyết định lạnh lùng: “Tôi nộp ông ấy cho quý vị, thì quý vị muốn cho tôi bao nhiêu?” (Mt 26: 15). Ba mươi đồng bạc, cái giá quá rẻ đối với một tình bạn và nhất là đối với chính Thiên Chúa.

Giuđa không xa lạ, nhưng là người ở rất gần. Điều đáng sợ là: phản bội thường đến từ bên trong. Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI viết: “Sự phản bội của Giuđa vẫn là một bí nhiệm. Chúa Giêsu đối xử với ông như một người bạn (Mt 26: 50); tuy nhiên, trong những lời mời gọi đi theo Ngài trên con đường hạnh phúc, Ngài không ép buộc ý chí của ông hay bảo vệ ông khỏi những cám dỗ của Satan, Ngài tôn trọng sự tự do của con người.” [1] Giuđa là lời cảnh tỉnh rằng ngay cả sự gần gũi với Chúa cũng không tự động cứu chúng ta.

Đức Bênêđictô XVI nói thêm: “Chúa Giêsu phải trải qua thời khắc những người trong vòng bạn bè thân thiết nhất của Ngài không hiểu Ngài và thậm chí bất trung với Ngài…Sự phản bội của Giuđa không phải là sự bội tín cuối cùng mà Chúa Giêsu phải chịu. “Ngay cả người bạn thân thiết của tôi, người mà tôi tin cậy, người đã ăn bánh của tôi, cũng đã phản bội tôi” (Tv 41: 9)…Vào giờ phút này, Chúa Giêsu đã gánh lấy sự phản bội của mọi thời đại và Ngài đã chịu đựng nỗi thống khổ của lịch sử cho đến tận cùng cay đắng.” [2]

Giuđa đặt ra cho ta một câu hỏi: tôi có đang “bán Chúa” mỗi ngày không? Có thể bằng những thỏa hiệp nhỏ, những lần chọn tiền của, tiện nghi, tham vọng riêng, những lần im lặng trước sự thật, như Đức Bênêđictô XVI chỉ ra: “Thực tế, những khả năng làm tha hóa tâm hồn con người quả thật rất nhiều.” Ngài cho thấy: “Cách duy nhất để ngăn chặn điều đó là không nuôi dưỡng một quan điểm cá nhân chủ nghĩa, tự trị về mọi sự, mà trái lại, luôn luôn đứng về phía Chúa Giêsu, chấp nhận quan điểm của Ngài. Chúng ta phải hằng ngày tìm cách xây dựng sự hiệp thông trọn vẹn với Ngài” (đã dẫn trên).

  1. Bị phản bội, Chúa Giêsu vẫn trao ban Tình yêu

Nhưng giữa bóng tối ấy, Chúa Giêsu vẫn trao ban: “Anh em cầm lấy mà ăn, đây là mình Thầy…Tất cả anh em hãy uống chén này, vì đây là máu Thầy…” (Mt 26: 26-28). Ngài biết sẽ bị phản bội, nhưng vẫn yêu thương. Đó là điều làm nên khác biệt: Thiên Chúa không rút lại tình yêu.

Thánh Têrêxa Avila (1515-1582) đã cảm nghiệm quá rõ ràng Lòng Chúa Thương Xót của Thiên Chúa, nên ngài nói: “Hãy tin tưởng vào lượng từ bi của Thiên Chúa, lượng từ bi cao cả vượt trên mọi gian ác tội lỗi chúng ta có thể phạm. Với lòng khiêm tốn nhận biết mình, nếu chúng ta muốn nối lại tình bạn thân mật với Ngài, thì Ngài chẳng còn nhớ tội vong ân, cũng chẳng còn nhớ rằng chúng ta đã lạm dụng các hồng ân Ngài đã ban cho chúng ta…lòng Thương Xót của Ngài không bao giờ vơi cạn” (Tự Thuật 19, 15; Tự Thuật 19, 10; 14, 9). [3]

Chúa bẻ mình ra, trao mình đi, ngay cả khi không được thấu hiểu, bị xúc phạm, bị phản bội. Thánh Thể không chỉ là một nghi thức, nhưng là một lối sống: sống yêu thương và trao ban chính mình như Chúa, dù bị hiểu lầm, hay bị tổn thương.

Ở vườn Cây Dầu, trong cơn hấp hối, Chúa Giêsu bày tỏ trọn vẹn nhân tính: “Tâm hồn Thầy buồn đến chết đượcXin đừng theo ý con, mà xin theo ý Cha” (Mt 26: 38- 39). Đây là đỉnh cao của vâng phục, như Đức Bênêđictô XVI nói: “Nếu bạn vâng theo ý muốn của Thiên Chúa, bạn biết rằng dù mọi điều khủng khiếp xảy đến với bạn, bạn sẽ không bao giờ mất đi nơi nương náu cuối cùng…Vì vậy ngay cả khi không một người nào có thể giúp đỡ bạn, bạn vẫn có thể tiếp tục tin tưởng vào Đấng yêu thương bạn” (Chúa Giêsu thành Nadarét). [4]

  1. Con người yếu đuối và con đường hoán cải

Phêrô từng quả quyết: “Dầu có phải chết với Thầy, con cũng không chối Thầy” (Mt 26: 35). Nhưng rồi ông chối ba lần. Tuy nhiên, không lâu sau đó tiếng gà gáy đánh thức lương tâm của ông: “Ông ra ngoài, khóc lóc thảm thiết” (Mt 26: 75).

Khác với Giuđa, Phêrô đã khóc, và chính nước mắt ấy cứu ông. Đó là nước mắt hoán cải, tin tưởng vào lòng xót thương luôn tha thứ của Chúa Giêsu. Bằng cách đó, con đường trở về với Thiên Chúa được mở ra cho Phêrô, và cho tất cả các tội nhân: “Thiên Chúa luôn sẵn sàng thứ tha, Ngài từ bi nhân hậu…” (Nkm 9: 17). Đức Giáo Hoàng Phanxicô nói: “Chúa không bao giờ thấy mệt khi tha thứ cho chúng ta; chỉ có chúng ta thấy mệt khi đi tìm lòng thương xót của Ngài” (Tông huấn Evangelii Gaudium, số 3). Yếu đuối không phải là kết thúc. Điều quan trọng là chúng ta có quay về với Thiên Chúa là Đấng hay tha thứ hay không.

  1. Thinh lặng và nghịch lý của Thập Giá

Trước cáo buộc, “Chúa Giêsu vẫn làm thinh” (Mt 26: 63). Trước Philatô, “Chúa Giêsu không trả lời” (Mt 27: 14). Đó không phải là yếu đuối, nhưng là sức mạnh của sự thật. Isaia đã tiên báo: “Tôi đã không che mặt khi bị mắng nhiếc phỉ nhổ” (Is 50: 6-7)

Chúng ta thường muốn chống trả khi bị hiểu lầm, nhưng Chúa chọn con đường thinh lặng. Đám đông hét lên: “Đóng đinh nó vào thập giá!” (Mt 27: 22). Thay vì chọn Chúa, họ đã chọn Baraba, một tên tội phạm. Điều đó vẫn lặp lại hôm nay: con người chọn điều dễ dàng thay vì điều đúng đắn.

Chúa Giêsu bị sỉ nhục, đánh đòn, đội mão gai. Và trên thập giá, Ngài kêu lên: “Lạy Thiên Chúa… sao Ngài bỏ rơi con?” (Mt 27: 46). Đây là tiếng kêu cô đơn nhất trong mọi nỗi cô đơn. Nỗi đau lớn nhất là cảm giác bị bỏ rơi. Nhưng chính nơi đó, tình yêu chiến thắng: Thánh Phaolô viết: “Ngài lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự. Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Ngài và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu” (Pl 2: 8-9).

Thập giá của Chúa Giêsu không phải là thất bại, nhưng là tình yêu tự hiến, là con đường mở ra dẫn đến Thiên Chúa: “Bức màn trướng trong Đền Thờ xé ra làm hai” (Mt 27: 51), bởi chính trên Thập giá, Ngài tỏ lộ mình là Thiên Chúa: “Viên đại đội trưởng và những người cùng ông canh giữ Chúa Giêsu đều rất đỗi sợ hãi và nói: Quả thật ông này là Con Thiên Chúa” (Mt 27: 54)

  1. Lời mời gọi chọn lựa trước Thập Giá

Cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu không chỉ là chuyện quá khứ, nhưng là tấm gương soi cho mỗi người hôm nay. Khi ta thỏa hiệp với điều sai, ta là Giuđa: “Tìm dịp thuận tiện để nộp Chúa” (Mt 26: 16). Khi ta sợ hãi, ta là Phêrô: “Tôi không biết cô nói gì!.. Tôi không biết người ấy … Tôi thề là không biết người ấy” (Mt 26: 69-74). Điều quan trọng là có biết ăn năn và quay về không: “Ông Phêrô sực nhớ lời Chúa Giêsu đã nói: Gà chưa kịp gáy thì anh đã chối Thầy ba lần. Ông ra ngoài, khóc lóc thảm thiết” (Mt 26: 75). Khi ta chạy theo đám đông, ta là những người hô: “Đóng đinh nó vào thập giá!” (Mt 27: 22-23). Khi ta im lặng trước bất công, ta là Philatô: “Lấy nước rửa tay trước mặt đám đông” (Mt 27: 24). Đức Phanxicô cảnh báo: “Chúng ta không nhạy cảm đối với tiếng kêu của người khác, làm cho chúng ta sống trong những bong bóng xà bông, đẹp nhưng chẳng là gì cả, đó là ảo tưởng về sự phù dù, tạm bợ, dẫn tới sự dửng dưng đối với tha nhân, đưa tới sự hoàn cầu hóa thái độ dửng dưng” (Đài Vatican, 08-07-2013).

Nhưng Tin Mừng cũng mở ra con đường khác: Trung thành như các phụ nữ: “Có nhiều người phụ nữ đứng nhìn từ đàng xa. Các bà này đã theo Chúa Giêsu từ Galilê để giúp đỡ Ngài” (Mt 27: 55-56). Can đảm như Giuse Arimathê: “Đến gặp ông Philatô để xin thi hài Chúa Giêsu” (Mt 27: 58). Nhận ra Chúa như viên đại đội trưởng: “Quả thật ông này là Con Thiên Chúa” (Mt 27: 54)

Isaia nhắc lại cách chọn lựa đầy lòng trung tín của Người Tôi Trung, cũng cần phải là cách chọn lựa của mỗi môn đệ Chúa Kitô: “Tôi đã không che mặt khi bị mắng nhiếc phỉ nhổ. Có Chúa là Chúa Thượng phù trợ tôi, vì thế, tôi đã không hổ thẹn, vì thế, tôi trơ mặt ra như đá” (Is 50: 6-7). Thánh Phaolô tóm tắt sự chọn lựa trung tín của Người Tôi Tớ Đau Khổ: “Ngài lại còn hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự” (Pl 2: 8)

Đức Giáo hoàng Gioan Phaolô II nói: “Chính nhờ Thánh Giá của mình, Chúa Kitô đánh vào tận gốc rễ của cái ác, được gieo trồng trong lịch sử loài người và trong tâm hồn con người. Chính nhờ Thánh Giá của mình, Ngài phải hoàn thành công trình cứu rỗi. Công trình này, trong kế hoạch của Tình Yêu vĩnh cửu, mang tính chất cứu chuộc” (Tông thư Salvifici Doloris, số 16).

Thập giá không phải là dấu chấm hết, mà là dấu chấm than của tình yêu: “Chúa Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là tội nhân” (Rm 5: 8). Vì thế, thập giá đặt ra một chọn lựa.

Câu hỏi cuối cùng là: tôi sẽ đáp lại tình yêu ấy thế nào? Bởi vì theo Chúa Kitô là bước vào con đường thập giá, dẫn đến những hy sinh, từ bỏ chính mình, và cuối cùng là cái chết, nhưng lại là con đường dẫn đến sự sống đích thực muôn đời. Điều an ủi lớn lao nhất là chúng ta không đi một mình. Chúa Kitô đã đi trước và vẫn còn đang đi cùng mỗi người chúng ta. Thập giá không phải là kết thúc. Thập giá là khởi đầu của hy vọng như Đức Bênêđictô XVI viết: “Hy vọng cao cả, thật sự vững vàng của con người, ngay cả trong mọi nỗi tuyệt vọng, chỉ có thể là Thiên Chúa, một vị Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta và tiếp tục yêu thương chúng ta đến cùng, cho đến khi mọi sự đã hoàn tất” (Spe Salvi, số 27).

Phêrô Phạm Văn Trung

[1] https://www.catholicculture.org/culture/library/view.cfm?recnum=724 5

[2] https://loc.ignatius.com/jesus-of-nazareth/excerpts.htm#:~:text=John%20does%20not%20offer%20any,His%20remorse%20turns%20into%20despair

[3] https://ocdvietnam.org/2020/04/15/long-chua-thuong-xot-theo-kinh-nghiem-cua-thanh-terexa-avila/ 

[4] https://ewtn.co.uk/article-10-quotes-from-pope-benedict-xvi-on-the-beauty-of-love-and-suffering/   

 

TỪ VỰC THẲM CÁI CHẾT ĐẾN ÁNH SÁNG PHỤC SINH

Trong hành trình Phụng vụ, đặc biệt là những ngày tiến gần đến mầu nhiệm Vượt Qua, Giáo hội đặt chúng ta đối diện với thực tại trần trụi nhất của thân phận con người: cái chết. Nhưng đồng thời, qua các bài đọc từ Kinh Thánh hôm nay, chúng ta được dẫn đưa vào một mặc khải chấn động: Thiên Chúa của chúng ta không phải là Thiên Chúa của kẻ chết, mà là Thiên Chúa của kẻ sống.

  1. Tiếng kêu từ nỗi đau và mầu nhiệm của sự trì hoãn

Mở đầu đoạn Tin Mừng, chúng ta bắt gặp một lời cầu khẩn vừa tha thiết, vừa đầy tin tưởng: “Thưa Thầy, người Thầy thương mến đang bị đau nặng” (Ga 11: 3). Hai chị em Mácta và Maria không đưa ra một lời yêu cầu cụ thể nào; họ chỉ trình bày nỗi đau trước nhan Chúa. Thánh Augustinô giải thích: “Họ không nói: xin hãy đến chữa lành; họ không dám nói điều đó, mà chỉ nói: Kìa, người mà Ngài yêu thương đang bị bệnh. Như thể muốn nói: Chỉ cần Ngài biết điều đó là đủ, Ngài không phải là người yêu thương rồi bỏ rơi người mình yêu thương.” [1] Đây là đỉnh cao của lời cầu nguyện: tin tưởng đặt nỗi khổ đau vào lòng thương xót của Đấng mình yêu mến. Có điều, phản ứng của Chúa Giêsu thật khó hiểu: “Ngài còn lưu lại thêm hai ngày tại nơi đang ở” (Ga 11: 6). Tại sao Ngài lại trì hoãn khi người bạn thân đang hấp hối? Chính Chúa Giêsu cho thấy lý do: “Chúa Giêsu bảo: Bệnh này không đến nỗi chết đâu, nhưng là dịp để bày tỏ vinh quang của Thiên Chúa: qua cơn bệnh này, Con Thiên Chúa được tôn vinh” (Ga 11: 4).

Đức Giáo Hoàng Phanxicô giải thích thêm rằng: “Chúa Giêsu có thể làm cho người bạn Ladarô tránh được cái chết, nhưng Ngài muốn chia sẻ nỗi đau của chúng ta trước sự mất mát những người thân yêu, và trên hết, Ngài muốn chứng tỏ quyền năng của Thiên Chúa trên sự chết” (Kinh Truyền tin, ngày 29 tháng 3 năm 2020). Sự trì hoãn của Chúa không phải là sự thờ ơ, mà là để chuẩn bị cho một vinh quang lớn hơn. Chúa dường như chậm trễ, nhưng Ngài không bao giờ lỡ hẹn. Ngài trì hoãn việc cứu chữa hồi sinh, bởi vì Ngài muốn chúng ta tin vào quyền năng chiến thắng cái chết của Ngài hơn là chỉ tin vào khả năng chữa bệnh.

Sự trì hoãn này nhắc nhở chúng ta rằng, trong cuộc sống, có những lúc Thiên Chúa dường như im lặng trước nỗi đau của chúng ta. Nhưng chính trong sự im lặng đó, Ngài đang dọn đường cho một phép lạ lớn lao hơn: không chỉ là giải thoát chúng ta khỏi đau khổ, mà là đưa chúng ta vượt qua cái chết để đến với sự sống đời đời, cùng “Con Thiên Chúa được tôn vinh” (Ga 11: 4).

Nỗi tuyệt vọng của chị em Mácta cũng chính là nỗi tuyệt vọng của dân Israel trong cảnh lưu đày, được ngôn sứ Êdêkien mô tả qua hình ảnh những bộ xương khô. Khi mọi hy vọng dường như đã lụi tàn, lời Thiên Chúa vang lên như một luồng sấm sét: “Hỡi dân Ta, này chính Ta mở huyệt cho các ngươi, Ta sẽ đưa các ngươi lên khỏi huyệt và đem các ngươi về đất Israel” (Ed 37: 12).

Đây không chỉ là lời hứa về việc hồi hương theo nghĩa địa lý, mà là một mặc khải về quyền năng sáng tạo lại của Thiên Chúa. Ngài không chỉ an ủi người đang sống, Ngài còn có quyền năng trên cả nấm mồ. Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô diễn giải: “Cái chết giống như một bức tường, ngăn cản chúng ta nhìn thấy những gì sau nó; nhưng cõi lòng chúng ta vẫn vươn ra ngoài bức tường này và mặc dù chúng ta không thể hiểu được những gì nó che giấu, chúng ta vẫn suy nghĩ về nó và tưởng tượng về nó, thể hiện bằng những biểu tượng khát vọng về sự vĩnh cửu của chúng ta. Khát vọng của con người được chôn cất cùng với tổ tiên mình chính là nỗi khát khao về một “quê hương” chào đón chúng ta sau khi kết thúc cuộc sống trần thế” (Kinh Truyền tin, 10 tháng 4 năm 2011). Lời của Êdêkien loan báo một cuộc tạo dựng mới. Khi Thiên Chúa nói Ngài sẽ đặt Thần Khí vào con người, Ngài đang hứa hẹn một sự biến đổi tận căn, nơi cái chết không còn là dấu chấm hết, mà là ngưỡng cửa của sự phục sinh thần linh. Đức Bênêđíctô tiếp tục: “Chúa Giêsu nói với Mácta: “Ta là sự sống lại và sự sống; ai tin Ta, dù chết, cũng sẽ sống” (Ga 11: 25-26). Đây chính là sự mới mẻ đích thực, tràn đầy và vượt qua mọi ranh giới! Chúa Kitô phá đổ bức tường của sự chết và trong Ngài ngự trọn vẹn sự đầy đủ của Thiên Chúa, là sự sống, sự sống đời đời. Vì vậy, sự chết không có quyền lực trên Ngài và sự phục sinh của Ladarô là dấu hiệu cho thấy quyền năng trọn vẹn của Ngài trên sự chết thể xác, mà trước mặt Thiên Chúa, giống như giấc ngủ (Ga 11:11)” (đã dẫn trên).

Chính sự liên kết này giữa Êdêkien và Tin Mừng Gioan cho thấy Chúa Giêsu chính là Đấng thực hiện lời hứa của Thiên Chúa. Ngài đến không phải để nói về sự sống lại như một lý thuyết xa vời, nhưng để hiện thực hóa quyền năng đó ngay tại cửa mồ Bêtania.

  1. “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống”

Cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và Mácta là một trong những đoạn văn thần học quan trọng nhất của Kitô giáo. Khi Mácta nói về sự sống lại trong “ngày sau hết” như truyền thống vẫn tin, Chúa Giêsu đã kéo tương lai đó vào hiện tại: “Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống. Ai tin vào Thầy, thì dù đã chết, cũng sẽ được sống. Ai sống và tin vào Thầy, sẽ không bao giờ phải chết” (Ga 11: 25-26). Câu nói này thay đổi hoàn toàn quan niệm của nhân loại về sự sống và cái chết. Với Chúa Giêsu, cái chết thể lý chỉ là một giấc ngủ: “Ladarô, bạn của chúng ta, đang yên giấc; tuy vậy, Thầy đi đánh thức anh ấy đây” (Ga 11: 11). Sự sống thực sự không nằm ở hơi thở sinh học, mà nằm ở sự hiệp thông với Ngài.

Lời chất vấn của Chúa dành cho Mácta: “Chị có tin thế không?” (Ga 11: 26) cũng là lời chất vấn dành cho mỗi chúng ta hôm nay. Tin vào Chúa không phải là tin vào một phép lạ nhất thời, mà là tin rằng cuộc đời mình nằm trong tay Đấng chiến thắng tử thần.

Có một chi tiết cực kỳ cảm động và đầy ý nghĩa nhân văn trong bản văn: “Chúa Giêsu liền khóc” (Ga 11: 35). Đây là một câu ngắn trong Kinh Thánh, nhưng lại chứa đựng mầu nhiệm sâu thẳm nhất về tình yêu Thiên Chúa. Tại sao Ngài khóc khi biết mình sắp cho Ladarô sống lại? Ngài khóc vì tình bạn: Ngài thực sự yêu mến gia đình này. Ngài chia sẻ trọn vẹn nỗi đau của con người. Ngài khóc vì hậu quả của tội lỗi: Cái chết vốn không nằm trong kế hoạch ban đầu của Thiên Chúa. Nhìn thấy sự tàn phá của cái chết đối với phẩm giá con người, Thiên Chúa đã thổn thức.

Đức Giáo hoàng Phanxicô nhấn mạnh: “Thiên Chúa của chúng ta là một Thiên Chúa gần gũi. Ngài không đứng trên cao nhìn xuống để ban ơn, nhưng Ngài bước xuống, đi vào nghĩa trang của cuộc đời chúng ta, và khóc cùng chúng ta trước những nấm mồ của hy vọng bị tan vỡ” (Bài giảng tại Nhà trọ Thánh Marta, tháng 3, 2017).

  1. “Ladarô, hãy ra khỏi mồ!”

Đỉnh điểm của trình thuật là lệnh truyền đầy quyền năng tại cửa mộ. Trước đó, Chúa Giêsu yêu cầu: “Đem phiến đá này đi” (Ga 11: 39). Mácta ngăn cản vì xác đã nặng mùi. Đây là biểu tượng của sự tuyệt vọng hoàn toàn, của sự thối rữa không thể cứu vãn. Nhưng Chúa Giêsu khẳng định: “Nếu chị tin, chị sẽ được thấy vinh quang của Thiên Chúa” (Ga 11: 40).

Lời kêu gọi “Anh Ladarô, hãy ra khỏi mồ!” (Ga 11: 43) không chỉ dành cho một người đã chết 4 ngày, mà còn là tiếng gọi vang dội qua mọi thời đại dành cho những tâm hồn đang chết trong tội lỗi, trong bất an, trong ganh ghét, hận thù, tuyệt vọng.

Thánh Grêgôriô Cả đã đưa ra một diễn giải thiêng liêng tuyệt vời về sự kiện này: “Cái chết của Ladarô là một loại chết đau đớn, và được coi như một thói quen gian ác. Bởi vì sa vào tội lỗi là một chuyện, hình thành thói quen phạm tội lại là chuyện khác. Người nào sa vào tội lỗi , và ngay lập tức chịu sửa phạt, sẽ nhanh chóng được phục hồi sự sống; vì người đó chưa bị vướng mắc vào thói quen, người đó chưa được chôn cất trong mộ. Nhưng kẻ nào đã quen với tội lỗi thì bị chôn vùi, và người ta thường nói đúng về hắn rằng hắn hôi thối; vì tính cách của hắn, giống như một mùi hôi kinh khủng, bắt đầu mang tiếng xấu nhất. Tất cả những kẻ quen với tội ác, sa đọa về đạo đức đều như vậy…Chúa Giêsu có thể làm cho một người đã chết bốn ngày và đang phân hủy sống lại… đó là quyền năng của Chúa chứ không phải sức mạnh của người chết.” [2] Ladarô nằm trong mồ bốn ngày tượng trưng cho những người lún sâu trong thói quen tội lỗi đến mức linh hồn họ bắt đầu nặng mùi trước nhan Thiên Chúa. Tuy nhiên, tiếng gọi của Chúa Kitô có sức mạnh phá tan xiềng xích của thói quen đó. Ra khỏi mồ nghĩa là thú nhận tội lỗi và bước ra ánh sáng của lòng thương xót.

Sau khi Ladarô ra khỏi mồ, Chúa Giêsu nói: “Cởi khăn và vải cho anh ấy, rồi để anh ấy đi” (Ga 11: 44). Đây là vai trò của Giáo hội: giúp những người đã được Chúa cứu sống được giải thoát hoàn toàn khỏi những tàn tích của quá khứ, của tội lỗi và của nỗi sợ hãi.

Thánh Phaolô, trong bài đọc thứ hai, cung cấp cho chúng ta cái nhìn thần học về cách thức sự sống lại này hoạt động trong chúng ta ngay lúc này, qua Thần Khí: “Nếu Thần Khí ngự trong anh em, Thần Khí của Đấng đã làm cho Chúa Giêsu sống lại từ cõi chết, thì Đấng đã làm cho Chúa Giêsu sống lại từ cõi chết, cũng sẽ dùng Thần Khí của Ngài đang ngự trong anh em, mà làm cho thân xác của anh em được sự sống mới” (Rm 8: 11).

Sự phục sinh của Ladarô chỉ là một sự hồi sinh vì anh ấy sẽ lại phải chết. Nhưng sự phục sinh mà Thánh Phaolô nói tới là sự tham dự vào Sự Sống của Đấng Phục Sinh, một sự sống không bao giờ tàn lụi. Thánh Augustinô khẳng định: “Vinh quang của Thiên Chúa nằm ở chỗ những ai dù đã bốc mùi hôi thối và chết bốn ngày nhưng nay được sống lại” (đã dẫn).

  1. Bài học cho chúng ta hôm nay: Hãy lăn tảng đá đi!

Suy niệm về cái chết và sự phục sinh của Ladarô, chúng ta được mời gọi nhìn vào những ngôi mộ trong cuộc đời mình. Đó có thể là một mối quan hệ đã chết từ lâu. Đó có thể là một đức tin đã nguội lạnh, có thể do nỗi thất vọng vì những thất bại chồng chất trong đời, nhưng nặng mùi cái chết tâm linh.

Chúa Giêsu vẫn đứng đó, thổn thức vì nỗi đau của chúng ta, nhưng Ngài cũng yêu cầu chúng ta một điều: “Đem phiến đá này đi” (Ga 11: 39). Thiên Chúa không làm thay chúng ta những gì chúng ta có thể làm. Lăn tảng đá của sự cứng lòng, của sự kiêu ngạo, của nỗi sợ hãi là phần việc của chúng ta. Khi chúng ta dám mở lòng mình ra, tiếng gọi phục sinh của Ngài mới có thể thấu chạm đến cõi lòng chúng ta.

Hành trình từ Bêtania đến đồi Canvê và cuối cùng là ngôi mộ trống vào sáng Chúa Nhật Phục Sinh là một lộ trình duy nhất. Ladarô là dấu chỉ dọn đường cho chính sự Phục sinh của Chúa Giêsu. Hôm nay, giữa một thế giới đầy dẫy những văn hóa cái chết, chúng ta được mời gọi trở thành những Ladarô mới: những người đã nghe tiếng Chúa, đã ra khỏi mồ, đã được cởi bỏ những băng vải của sợ hãi để bước đi trong tự do của con cái Thiên Chúa.

Đức Giám Mục Bossuet nói: “Điều quan trọng là chúng ta phải suy ngẫm những lời nói và việc làm này để được củng cố chống lại nỗi sợ hãi cái chết, nỗi sợ hãi quá lớn lao trong chúng ta đến nỗi có thể khiến người ta quẫn trí. Chúng ta phải tự chuẩn bị cho mình chống lại nỗi sợ hãi này, bằng cách suy ngẫm những lời hứa trong Tin Mừng và gắn bó với đức tin sống động của mình vào chân lý rằng Chúa Giêsu đã chiến thắng cái chết. Ngài đã làm điều đó trong trường hợp một cô gái trẻ vẫn còn nằm trên giường, con trai của một góa phụ được khiêng trên cáng, và trong trường hợp của Ladarô. Ba người được Ngài hồi sinh này vẫn là người phàm. Điều còn lại Ngài làm là chiến thắng chính sự chết. Chính nơi bản thân mà Ngài giành được chiến thắng hoàn hảo. Sau khi bị giết chết, Ngài sống lại, không bao giờ chết nữa, và không hề trải qua sự hư nát, như Thánh vịnh đã hát: “Chúa sẽ không để Đấng thánh của Chúa thấy sự hư nát” (Tv 15:10). Điều được thực hiện với Đầu sẽ được hoàn thành nơi các chi thể. Sự bất tử đã được Chúa Giêsu Kitô bảo đảm cho chúng ta.” [3]

Lạy Chúa Giêsu, Đấng là Sự Sống lại và là Sự Sống. Xin hãy đến bên ngôi mộ của lòng dạ con, nơi con đang bị chôn trong những những ham muốn, những thói hư tật xấu và tội lỗi. Xin hãy gọi tên con như Chúa đã gọi Ladarô, để con được hồi sinh trong Thần Khí, được sống một đời sống mới công chính và tràn đầy hy vọng. Amen.

Phêrô Phạm Văn Trung

[1] https://www.ecatholic2000.com/catena/untitled-99.shtml#:~:text=11:1%E2%80%935,man%2C%20than%20to%20revive%20him

[2] https://www.newadvent.org/fathers/1701049.htm 

[3] https://catholicexchange.com/the-raising-of-lazarus-assures-us-of-eternity/

Subcategories