3. Sống & Chia Sẻ Lời Chúa

Chúa lên trời đem hy vọng cho thế giới

Con thuyền không bến

Một chiếc thuyền lênh đênh giữa đại dương bao la, hết ngày này qua ngày khác, hết đêm này lại đêm kia, thuyền cứ trôi nổi bồng bềnh trên sóng nước mà không hướng về một bờ bến nào hoặc không có bến nào để neo đậu… thì số phận con thuyền đó bi đát biết dường nào!

Thế giới hôm nay cũng có lắm mảnh đời có chung số phận như con thuyền không bến này. Người ta sống mà chẳng biết mình sống vì mục đích gì, chết rồi sẽ ra sao… Họ thấy cuộc sống thật vô nghĩa và phi lý… Cuộc đời của họ như thuyền trôi lênh đênh, không mục đích, không định hướng, không tương lai, không hy vọng… Đời họ như những con thuyền không bến!

Khi đề cập đến sự vô nghĩa và phi lý của cuộc đời, người ta không thể nào bỏ qua hai nhân vật hàng đầu trong trường phái triết học hiện sinh, sau đây:

– Thứ nhất, ông Albert Camus, sinh năm 1913 tại Algérie, năm 27 tuổi, đến sống tại Pháp. Ông vừa là triết gia, là nhà văn nổi tiếng, nhà biên kịch trứ danh. Ông cho rằng cuộc sống con người hoàn toàn vô nghĩa và phi lý, vì thế, dù đạt được nhiều thành công trong xã hội, ông vẫn sống trong tuyệt vọng và cho rằng: “Tuyệt vọng là thực tại sâu xa nhất của con người [1]”.

– Thứ hai, ông Jean Paul Chartre, sống cùng thời với Albert Camus, là triết gia hàng đầu trong trường phái triết học hiện sinh, đồng thời cũng là nhà văn nổi tiếng của Pháp trong thế kỷ 20. Theo ông, cuộc sống con người là thừa thãi, vô nghĩa, phi lý, hoàn toàn phi lý…

Khi con người sống không định hướng, sống mà không biết mình sống vì mục đích gì, đời người rồi sẽ đi về đâu, chết rồi sẽ ra sao…  người ta cảm thấy cuộc đời vô nghĩa, phi lý, thừa thãi, không đáng sống… thì bấy giờ, việc tự kết liễu cuộc sống mình là một sự giải thoát. Triết gia Albert Camus cũng nhận định như thế, ông nói: “Chết là sự giải thoát”, giải thoát con người khỏi cuộc sống vô lý, thừa thãi này…

Chính vì thế, có nhiều người trên thế giới đã tự tử và ngay tại những đất nước có nền kinh tế phát triển và giàu mạnh như Hàn Quốc, Nhật Bản… số người tự tử cũng đã lên đến mức báo động.

Sống như thuyền không bến thì bi đát biết bao!

 

Cuộc phục sinh và lên trời của Chúa Giê-su đem lại hy vọng cho thế giới

Chúa Giê-su là Thiên Chúa xuống thế làm người và đã sống trọn vẹn thân phận con người.

Ngài đã đi đến tận cùng của đau khổ khi bị hành hình như một tội đồ gian ác nhất và chịu chết tủi nhục trên thập giá.

Ngài đã cảm nếm sự cô đơn cực độ khi hấp hối trên thập giá lại còn bị người đời ghét bỏ, gièm pha và cảm thấy dường như ngay cả Chúa Cha cũng từ bỏ mình.

Ngài đã đi vào ngõ cụt của đời người khi trở thành một thi hài không còn sự sống và chịu mai táng trong trong mồ.

Thế rồi, nhờ quyền năng Chúa Cha, Ngài đã sống lại và lên trời vinh hiển.

Qua việc phục sinh và lên trời vinh hiển, Chúa Giê-su khai mở cho nhân loại một con đường tiến vào thiên đàng hồng phúc, nơi không còn đau khổ, tang thương, chết chóc nhưng tràn đầy hoan lạc và bình an. Thế là từ đây, đời người không phải như những con thuyền không bến, mà có một bờ bến tuyệt vời là thiên đàng, là chốn hạnh phúc thiên thu vạn đại đang chờ đón họ.

Nhờ sự lên trời vinh hiển, Chúa Giê-su cho thấy cuộc đời rất đáng sống vì những chuỗi ngày ở trần gian là những bậc thang dẫn đưa nhân loại tiến đến quê trời.

 

Hướng lòng về thượng giới

Biến cố Chúa Giê-su lên trời hướng lòng trí chúng ta về quê hương đích thực của mình trên thiên quốc và thúc đẩy chúng ta phấn đấu để đạt tới mục tiêu cao quý này. Thánh Phao-lô trong thư Cô-lô-xê kêu gọi chúng ta: “Anh em đã được trỗi dậy cùng với Đức Ki-tô, thì hãy tìm kiếm những gì thuộc thượng giới, nơi Đức Ki-tô đang ngự bên hữu Thiên Chúa. Anh em hãy hướng lòng trí về những gì thuộc thượng giới, chứ đừng chú tâm vào những gì thuộc hạ giới…” (Col 3,1-2).

 

Lạy Chúa Giê-su,

Sự phục sinh và lên trời vinh hiển của Chúa đã đem lại cho đời người một hướng đi, đó là tiến về thiên quốc, đã mang lại cho đời sống con người một ý nghĩa cao đẹp, đã khơi lên trong lòng người niềm hy vọng mai đây được vui sống hạnh phúc trên thiên đàng.

Xin cho chúng con hôm nay luôn hướng lòng về thượng giới, cố gắng sống tốt lành thánh thiện để mai sau, được cùng nhau sum họp bên Chúa trên thiên quốc.

 

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà

 

Tin mừng Mát-thêu (28, 16-20)

16Mười một môn đệ đi tới miền Ga-li-lê, đến ngọn núi Đức Giê-su đã truyền cho các ông đến.   17Khi thấy Người, các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi.   18Đức Giê-su đến gần, nói với các ông: “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất.   19Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần,   20dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.”

 

[1] Ý tưởng được trình bày trong tác phẩm: “Kẻ xa lạ” và “Huyền thoại Sisyphe” của Albert Camus

Được sai đi thi hành sứ mệnh

Trong mùa sinh viên ra trường, chúng ta chứng kiến những hình ảnh nhộn nhịp đượm chút lo lắng. Tốt nghiệp sau những năm tháng vất vả học hành, các tân khoa cũng có phần lo âu làm sao kiếm được việc làm tốt. Tâm trạng ấy giúp chúng ta hiểu được hoàn cảnh của các môn đệ Chúa trong ngày Người lên trời về cùng Chúa Cha. Sau ba năm trời được đào tạo dạy dỗ dưới mái trường Giê-su Ki-tô để tiếp tục sứ mệnh rao giảng Tin Mừng của Người, giờ đây các tân khoa là các tông đồ và môn đệ Chúa được Người chính thức sai đi vào cánh đồng truyền giáo. Quả thực Phụng vụ Lời Chúa đã mô tả ngày lễ Chúa lên trời không chỉ là kết thúc cuộc đời trần thế của Chúa, mà cũng là khởi đầu mới cho sứ mệnh của các môn đệ và Giáo hội.

Bài đọc 1 hôm nay (Cv 1, 1-11) trình thuật mầu nhiệm thăng thiên: Đức Giê-su Ki-tô dặn bảo các Tông đồ xong, thì Người được cất lên trời, ngự bên hữu Chúa Cha. Tâm trạng các môn đệ tất nhiên là hoang mang lo sợ, bởi Người Thầy – mà cho đến giờ phút này các ông vẫn còn bán tín bán nghi (“Khi thấy Người, các ông bái lạy, nhưng có mấy ông lại hoài nghi” – Mt 28, 17) – lại một lần nữa nói một cách khó hiểu. Vừa mới nói “Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”, thì ngay lập tức “Người được cất lên ngay trước mắt các ông, và có đám mây quyện lấy Người, khiến các ông không còn thấy Người nữa”. Hiện tượng này khiến các Tông đồ cứ mải miết “đăm đăm nhìn lên trời phía Người đi”.

Tâm lý thông thường của con người là sống bằng và sống với giác quan : Phải nhìn thấy tỏ tường (thị giác), nghe thấy rõ ràng (thính giác), sờ mó cầm nắm được (xúc giác), biết được mặn nhạt (vị giác), ngửi được mùi hương (khứu giác). Do đó, Thầy vừa nói Thầy sẽ ở với mình luôn mãi, thì ngay sau đó Thầy lại đi mất hút, bảo sao khỏi ngỡ ngàng, hụt hẫng, nếu không muốn nói là lo sợ, đau đớn, buồn rầu. Chính vì thế nên các Tông đồ chỉ lo nhìn lên theo bóng Thầy, với tâm trạng vừa hoài nghi, vừa chán nản, chẳng còn tin tưởng vào đâu đựoc nữa. Niềm tin lại một lần nữa bị thử thách, khiến các môn đệ quên mất những điều Thầy vừa truyền dạy. Cũng vì biết rõ con người là thế, nên Thiên Chúa đã phải sai thiên sứ đến cảnh tỉnh: “Hỡi những người Ga-li-lê, sao còn đứng nhìn lên trời? Đức Giê-su, Đấng vừa lìa bỏ các ông và được rước lên trời, cũng sẽ ngự đến y như các ông đã thấy Người lên trời.” (Cv 1, 11).

Sự mâu thuẫn giữa Lời dạy của Đức Giê-su và hiện tượng thăng thiên không chỉ làm các môn đệ thêm bán tín bán nghi (nửa tin nửa ngờ), mà cho đến ngày nay cũng không ít người hoài nghi. Và nếu có tin vào biến cố thăng thiên, thì cũng chỉ coi Lời dạy “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” là lời an ủi suông. Ấy cũng chỉ vì họ đã quên mất một điều là khi suy niệm Lời Chúa trong Thánh Kinh, cần chú ý đến cả hai phương diện: “nghĩa chiểu tự” (nghĩa đen) và “nghĩa thiêng liêng” (nghĩa bóng). Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo (Điều 116-117) đã giải thích rõ: “Nghĩa chiểu tự” còn gọi là “nghĩa văn tự”, đó là nghĩa mà lời Thánh Kinh nêu lên. Tất cả các nghĩa trong Thánh Kinh đều dựa vào nghĩa văn tự… Nhờ sự thống nhất trong ý định của Thiên Chúa, không những bản văn Thánh Kinh, mà cả các thực tại và biến cố được bản văn đề cập đến đều có thể là những tiên trưng (“nghĩa thiêng liêng”).”

Trong “nghĩa thiêng liêng” lại cần chú ý đến “nghĩa ẩn dụ”, “nghĩa luân lý” và “nghĩa thần bí”: “Cần phải nhớ rằng thời các giáo phụ và thời trung cổ, mọi hình thức chú giải, kể cả hình thức chiểu tự, cũng đều được tiến hành trên căn bản đức tin, mà không nhất thiết phải phân biệt giữa nghĩa chiểu tự và nghĩa thiêng liêng. Về phương diện này, người ta có thể nhắc tới 2 câu thơ trung cổ diễn tả mối tương quan giữa các nghĩa khác nhau của Sách Thánh: “Littera gesta docet, quid credas allegoria, Moralis quid agas, quo tendas anagogia.” (Chữ đen tức “nghĩa văn tự” dạy về biến cố; “nghĩa ẩn dụ” dạy điều phải tin; “nghĩa luân lý” dạy điều phải làm; “nghĩa thần bí” hay “nghĩa thiêng liêng” dạy điều phải vươn tới.” – Giáo lý Hội Thánh Công Giáo, điều 118).

Hãy nhìn lên và cố gắng hiểu việc làm của Thầy (nghĩa chiểu tự: biến cố “thăng thiên”), để từ đó tin vào mầu nhiệm cứu chuộc (“nghĩa ẩn dụ”) qua Lời Chúa: “Anh em đừng xao xuyến! Hãy tin vào Thiên Chúa và tin vào Thầy. Trong nhà Cha Thầy, có nhiều chỗ ở; nếu không, Thầy đã nói với anh em rồi, vì Thầy đi dọn chỗ cho anh em. Nếu Thầy đi dọn chỗ cho anh em, thì Thầy lại đến và đem anh em về với Thầy, để Thầy ở đâu, anh em cũng ở đó. Và Thầy đi đâu, thì anh em biết đường rồi.” (Ga 14, 1-4). Đồng thời, hãy nhìn xuống bản thân mình cùng với anh em mình để mà thực thi sứ vụ do chính Người Thầy Chí Thánh truyền dạy trước khi về trời (“nghĩa luân lý”). Chỉ có như thế mới mong vươn tới cứu cánh Nước Trời (“nghĩa thần bí”) là mục đích cuối cùng của hành trình thực thi sứ vụ một Ki-tô hữu.

Tuy nhiên, cũng rất cần phải ghi nhớ lời dạy “Cần phải vượt quá “chữ viết” của ĐGH Bê-nê-đic-tô XVI trong Tông huấn Lời Chúa (số 28): “Như thế, muốn tái khám phá hành động qua lại giữa các nghĩa khác nhau của Sách Thánh, điều chủ yếu là phải nắm chắc việc bước từ chữ viết qua tinh thần. Đây không phải là một bước tự động, tự phát; đúng hơn, cần phải vượt quá (transcended) chữ viết: “Lời Chúa không bao giờ đơn thuần là một với chữ viết trong bản văn. Muốn nắm được Lời của Người, phải có một sự vượt quá (chữ viết) và một diễn trình tìm hiểu, được hướng dẫn bởi chuyển động bên trong của toàn bộ tác phẩm, và do đó, phải trở thành một diễn trình sống.”  

Nói cách cụ thể, “được hướng dẫn bởi chuyển động bên trong” thì cũng có nghĩa phải cậy nhờ vào Thần Khí Chúa soi sáng, như Người đã từng linh hứng cho các tác giả Kinh Thánh. Như vậy, có thể nói mầu nhiệm thăng thiên nhắc nhở mọi Ki-tô hữu 2 điều:

1- Chúa Giê-su về trời: Chúa về trời vì Ngườii đã từ trời xuống, đó là một cuộc “trở về”. Hơn thế nữa, Người chính là Con Thiên Chúa, là Thiên Chúa thật, là Đấng Tạo Dựng, là Chủ Tể mọi loài thụ tạo, nên việc “trở về trời” của Người là trở về với địa vị Thiên Chúa của Người. Việc về trời của Chúa là một mầu nhiệm, nếu không được mạc khải thì khó lòng làm cho con người bất toàn có thể tin. Vì thế mới có hiện tượng thăng thiên để các môn đệ được thực mục sở thi (trông thấy nhãn tiền). Thực chất thì trời không có địa chỉ rõ ràng, nên Chúa về trời mà vẫn “ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế”. Nói cách khác, khi Đức Giê-su Thiên Chúa về trời thì cũng có nghĩa là Người lại trở về với bản tính Thiên Chúa, không còn bị giới hạn bởi thân xác, không gian, thời gian nữa, mà là cùng lúc Người vẫn kết hợp mật thiết với Ngôi Cha và Ngôi Ba, đồng thời Người tiếp tục hiện diện cách thiêng liêng ở khắp mọi nơi, trong mọi thời đại, nhất là ở ngay trong tâm hồn các tín hữu của Hội Thánh Chúa.

2- Phải làm sao để được về trời với Chúa:  “Chúa về trời”, đó cũng chính là ước mơ, là hoài bão của con người muốn được tồn tại trên nơi vĩnh hằng, xa khỏi thế giới vật chất đầy cạm bẫy chông gai. Con đường về trời của mỗi người cũng chính là con đường “làm chứng nhân” mà chính Chúa đã thực hiện và mời gọi mỗi người ”Phải nhân danh Người mà rao giảng cho muôn dân, bắt đầu từ Giê-ru-sa-lem cho đến tận cùng trái đất. Và chính anh em là chứng nhân về những điều nầy.” (Lc 24, 47-48). Chỉ đến khi người Ki-tô hữu thi hành sứ vụ chứng nhân đến độ thực sự “trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Ki-tô” (Pl 3, 10), thì “phần thưởng dành cho anh em ở trên trời thật lớn lao” (Mt 5, 12).

Tóm lại, khi nhìn theo bóng Người Thầy được cất lên trời, các môn đệ tiên khởi mang một tâm trạng hoang mang lo lắng, nhưng được thiên sứ nhắc nhở, thì các ngài đã hiểu ra mọi sự. Nhờ thế, các ngài đã mau mắn thực hành Lời Chúa dạy: “Thầy đã được trao toàn quyền trên trời dưới đất. Vậy anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ, làm phép rửa cho họ nhân danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, dạy bảo họ tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em. Và đây, Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế.” (Mt 28, 18-20). Và kết quả thật mỹ mãn: Giáo hội với 12 vị Tông Đồ tiên khởi (đã chọn Mat-thi-a thay cho Giu-đa It-ca-ri-ốt) đã thành lập được nhiều Giáo đoàn (với “khoảng ba ngàn người theo đạo” – Cv 2, 41) trong một thời gian ngắn và cho đến ngày nay thì đã hiện diện trên khắp thế giới.

Người Ki-tô hữu hôm nay hãy hân hoan “đứng thẳng và ngẩng đầu lên” (Lc 21, 28) để nhớ lại việc Đức Giê-su Ki-tô thăng thiên và chiêm ngưỡng Người trong vinh quang Thiên Chúa. Đồng thời làm theo lời Thánh Phao-lô Tông đồ trong thư gửi tín hữu Ê-phê-sô: “Tôi cầu xin Chúa Cha vinh hiển là Thiên Chúa của Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta, ban cho anh em thần khí khôn ngoan để mạc khải cho anh em nhận biết Người. Xin Người soi lòng mở trí cho anh em thấy rõ, đâu là niềm hy vọng anh em đã nhận được, nhờ ơn Người kêu gọi, đâu là gia nghiệp vinh quang phong phú anh em được chia sẻ cùng dân thánh, đâu là quyền lực vô cùng lớn lao Người đã thi thố cho chúng ta là những tín hữu. Đó chính là sức mạnh toàn năng đầy hiệu lực, mà Người đã biểu dương nơi Đức Ki-tô, khi làm cho Đức Ki-tô trỗi dậy từ cõi chết, và đặt ngự bên hữu Người trên trời.” (Ep 1, 17-20).

Xin hãy nhìn lên và cầu nguyện để hiểu được mầu nhiệm thăng thiên, và hãy nhìn xuống để sống Lời Chúa cách cụ thể với mục đích tối hậu là chiếm hữu và giúp anh em cùng chiếm hữu Nước Trời. Ôi ! “Lạy Thiên Chúa toàn năng hằng hữu, xin cho cộng đoàn chúng con biết hoan hỷ vui mừng mà dâng lời cảm tạ, vì hôm nay, Con Một Chúa đã lên trời vinh hiển. Là Thủ Lãnh, Người đã đi trước mở đường dẫn chúng con vào Nước Chúa khiến chúng con là những chi thể của Người nắm chắc phần hy vọng sẽ cùng Người hưởng phúc vinh quang. Người là Thiên Chúa hằng sống và hiển trị cùng Chúa, hiệp nhất với Chúa Thánh Thần đến muôn thuở muôn đời. Amen.” (Lời nguyện nhập lễ lễ Thăng Thiên).

 

JM. Lam Thy ĐVD.  

KHÔNG THUỘC ĐẤT, NHƯNG THUỘC TRỜI

Thứ Bảy Tuần 6 Phục Sinh A

“Chúa Cha yêu mến anh em, vì anh em đã yêu mến Thầy!”.

“Hãy nhắm tới trời cao, và cả đất thấp sẽ được ban thêm; nhưng nếu chỉ nhắm tới đất thấp, con người sẽ đánh mất cả hai!” – C. S. Lewis.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay giục giã chúng ta nhắm tới trời cao; đồng thời, mặc khải một sự thật đảo lộn mọi thước đo: trong Chúa Giêsu, chúng ta ‘không thuộc đất, nhưng thuộc trời’.

Với Gioan, cứu độ không chỉ là được tha thứ, nhưng là được đón nhận vào chính sự sống của Thiên Chúa. Vì thế, con người có thể sống giữa thế gian mà không còn hoàn toàn “ek tou kosmou” – thuộc về thế gian. Có lẽ, con người sẽ đau khổ nhất khi không còn biết linh hồn mình thuộc về ai. “Chúa Cha yêu mến anh em” không đơn thuần là một cảm xúc, nhưng là một mặc khải về căn tính: trong Đức Kitô, con người được dự phần vào tương quan yêu thương thiên linh, để từ đó, sống giữa đất thấp mà vẫn mang một quê hương trời cao. “Được cuốn vào mạng lưới yêu thương ấy, chúng ta được dự phần vào chính sự sống của Thiên Chúa Ba Ngôi!” – Henri de Lubac.

“Thuộc trời” không kéo con người ra khỏi thế gian, nhưng làm họ sống giữa nó theo một cách khác. Họ làm việc, yêu thương, xây dựng và đau khổ như mọi người; nhưng không còn lấy những gì chóng qua làm nền tảng tối hậu cho đời mình. Sống khác biệt chính là cách Kitô hữu thuộc về trời cao. Vì thế, có thể sống giữa một thế giới đầy bất an, Kitô hữu không tuyệt vọng; sống giữa những hấp dẫn của quyền lực hay danh vọng, họ không để mình bị nuốt chửng. Từ chối tầm thường là một hình thái của tôn thờ. Bởi họ biết, quê hương sâu xa nhất của mình ‘không thuộc đất, nhưng thuộc trời’. Vì sau cùng, tự do nhất là khi không còn gì để mất cho thế gian!

Sự thật ấy kéo họ lại gần nhau. Apollô, dù thông thạo Kinh Thánh, vẫn cần Aquila và Priscilla để hiểu con đường Đức Kitô cách đầy đủ – bài đọc một. Trong Hội Thánh sơ khai, không ai tự đủ; mỗi người vừa cho vừa nhận. Chính trong sự bổ trợ ấy, Hội Thánh trở thành dấu chỉ của một nhân loại mới, nơi con người không còn sống theo logic hơn thua của “thế gian”, nhưng theo logic hiệp thông của những người con Chúa. Để từ đó, mọi người nhận ra: “Thiên Chúa là Vua toàn cõi địa cầu!” – Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Đức Kitô chính là nơi căn tính “thuộc trời” ấy được tỏ lộ trọn vẹn nhất. Sống giữa thế gian, nhưng Ngài không để thế gian định nghĩa. Nơi Ngài – niềm vui, nước mắt, tình bạn, phản bội và cái chết – mọi sự luôn quy hướng về Cha. Vì thế, thuộc về trời không có nghĩa là chúng ta khước từ trần thế, nhưng là sống giữa trần thế với một tự do nội tâm mà thế gian không thể ban cũng không thể lấy. Đất thấp chỉ giữ được bàn chân, không giữ được linh hồn. “Toàn bộ cuộc sống Kitô hữu xoay quanh mầu nhiệm Ba Ngôi! Vậy hãy giữ đời mình ở ‘một cung bậc và một cung điệu tầm cao’, xứng với phẩm giá của những con người ‘không thuộc đất, nhưng thuộc trời!’” – Phanxicô.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, giữa bao điều hơn thua chóng qua của đất, cho con biết sống xứng với quê hương vĩnh cửu mà Chúa đã đặt vào linh hồn con!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

CHÚA LÊN TRỜI, CHÚNG TA LÊN ĐƯỜNG

Có những cuộc chia tay làm người ta hụt hẫng. Một người cha lên đường xa nhà, một người mẹ tiễn con vào đời, một người thân nhắm mắt lìa đời… Tâm hồn con người thường sợ mất mát và xa cách. Vì thế, khi nghe nói đến biến cố Chúa Giêsu “lên trời”, nhiều người dễ nghĩ rằng Ngài đã rời bỏ nhân loại. Nhưng Tin Mừng Lễ Thăng Thiên lại cho thấy điều ngược lại: Chúa Giêsu ra đi để hiện diện gần hơn, sâu sắc hơn và mạnh mẽ hơn trong cuộc đời chúng ta.

  1. Chúa lên trời là khởi đầu của một sự hiện diện mới

Tin Mừng theo thánh Matthêu Tông đồ kết thúc bằng lời hứa an ủi của Chúa Phục Sinh: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20). Chính lúc “ra đi”, Chúa lại khẳng định Ngài vẫn ở cùng chúng ta. Điều đó cho thấy Thăng Thiên không phải là kết thúc, nhưng là khởi đầu của một sự hiện diện mới qua Chúa Thánh Thần, qua Lời Chúa, qua các Bí tích và Hội Thánh.

Sách Công vụ kể rằng trước khi lên trời, Chúa Giêsu nói: “Anh em sẽ nhận được sức mạnh của Thánh Thần… và sẽ là chứng nhân của Thầy” (Cv 1,8). Chúa không để các môn đệ cô độc, nhưng ban cho họ sức mạnh thiêng liêng để tiếp tục sứ mạng.

Năng lượng mặt trời có thể là một hình ảnh dễ hiểu. Mặt trời là nguồn năng lượng không bao giờ cạn kiệt, luôn chiếu sáng và nuôi dưỡng sự sống. Cũng thế, Chúa Thánh Thần là nguồn năng lượng thiêng liêng của người Kitô hữu. Không có Chúa Thánh Thần, đời sống đức tin sẽ khô cứng, mệt mỏi và dễ thất vọng. Nhưng khi để Chúa Thánh Thần hoạt động, con người trở nên mạnh mẽ, quảng đại và đầy hy vọng.

Đó là điều đã xảy ra nơi các tông đồ. Trước biến cố Phục Sinh và Thăng Thiên, họ sợ hãi, đóng kín cửa, thậm chí bỏ chạy. Phêrô đã chối Thầy ba lần. Thế nhưng sau khi nhận lãnh Thánh Thần, họ trở thành những chứng nhân can đảm, dám hiến mạng sống cho Tin Mừng. Chính sự hiện diện của Chúa Giêsu, một cách mới mẻ qua Chúa Thánh Thần, đã biến đổi các tông đồ.

Thánh Augustinô đã viết một câu rất đẹp: “Người đã lên trời, nhưng vẫn không rời bỏ chúng ta” (Sermon 263). Chúa Kitô ở bên hữu Chúa Cha nhưng vẫn hiện diện trong Thánh lễ, trong lời cầu nguyện và những hy sinh âm thầm của người tín hữu. Ngài cũng hiện diện nơi những người nghèo khổ, đau bệnh và bị bỏ rơi.

Lễ Thăng Thiên cũng cho chúng ta thấy phẩm giá cao quý của con người. Trong Chùa Giêsu, nhân tính được đưa vào chính sự sống của Thiên Chúa. Không chỉ linh hồn, nhưng chính thân xác phục sinh của Chúa Kitô được tôn vinh. Điều đó có nghĩa là cuộc đời con người không phải là một hành trình vô nghĩa kết thúc trong hư vô, vì chúng ta được dựng nên cho cõi trời cao vĩnh cửu.

Thánh Phaolô cầu nguyện: “Xin Người soi sáng con mắt tâm hồn anh em, để anh em thấy đâu là niềm hy vọng anh em đã nhận được” (Ep 1,18). Người Kitô hữu sống giữa thế gian nhưng không bị nhấn chìm bởi tuyệt vọng, không kết thúc tan nát trong nấm mồ, nhưng đích điểm cuối cùng là vinh quang phục sinh.

  1. Giáo Hội sinh ra để loan báo Tin Mừng

Lời cuối cùng của Chúa Giêsu trước khi Thăng Thiên không phải là một lời than thở, cũng không phải là một lời trách móc, nhưng là một lệnh truyền: “Anh em hãy đi và làm cho muôn dân trở thành môn đệ” (Mt 28,19).

“Hãy đi”, đó là nhịp đập con tim của Giáo Hội. Đức tin Kitô giáo không phải là một kho báu để khóa kín trong nhà thờ hay trong trái tim cá nhân. Đức tin luôn thúc đẩy con người bước ra, gặp gỡ và chia sẻ. Một Kitô hữu chỉ sống cho riêng mình sẽ dần đánh mất sức sống Tin Mừng.

Khi danh họa Leonardo da Vinci đang thực hiện một bức tranh lớn, ông bất ngờ dừng lại và giao cho học trò hoàn thành phần còn lại. Người học trò run sợ vì cảm thấy mình không xứng đáng. Nhưng da Vinci nói: “Điều thầy đã làm chẳng đủ để truyền cảm hứng cho con sao?” Đó cũng là điều Chúa Giêsu làm với chúng ta. Ngài đã bắt đầu công trình cứu độ bằng cuộc đời, lời giảng dạy, tình yêu và thập giá của Ngài. Rồi Ngài trao phần còn lại cho các môn đệ tiếp tục. Chúng ta là những người được mời gọi “hoàn thành bức tranh”.

Một câu chuyện khác kể rằng sau khi Chúa Giêsu về trời, các thiên thần hỏi: “Ai sẽ tiếp tục công việc của Chúa dưới đất?” Chúa trả lời: “Những người theo Ta.” Các thiên thần ngạc nhiên: “Cả những người đã bỏ chạy và chối bỏ Chúa sao?” Chúa đáp: “Ta không có kế hoạch nào khác.” Câu trả lời ấy vừa khiến người ta xúc động vừa nhắc nhớ trách nhiệm lớn lao của người môn đệ. Chúa đặt niềm tin nơi những con người yếu đuối như chúng ta. Giáo Hội tồn tại suốt hai ngàn năm không nhờ sức mạnh nhân loại, nhưng vì Chúa vẫn hoạt động qua những con người bất toàn.

Loan báo Tin Mừng không chỉ bằng lời nói. Phaolô VI từng nói: “Con người thời nay thích nghe các chứng nhân hơn là các thầy dạy” (Evangelii Nuntiandi, số 41). Người ta có thể quên một bài giảng, nhưng khó quên một đời sống yêu thương chân thành: một người mẹ hy sinh cho con, một người trẻ sống trung thực, một linh mục âm thầm thăm bệnh nhân, hay một người nghèo vẫn giữ lòng tin nơi Chúa. Đó là những chứng tá Tin Mừng sống động.

Có một phụ nữ nói với nhà truyền giáo rằng bà muốn rao giảng Tin Mừng nhưng phải chăm sóc mười hai người con. Ông đáp: “Chúa đã ban cho bà một cánh đồng truyền giáo ngay trong nhà.” Thật vậy, gia đình và những tương quan hằng ngày luôn là nơi đầu tiên để sống sứ mạng Kitô hữu. Không chỉ linh mục hay tu sĩ, mọi Kitô hữu đều được mời gọi làm chứng cho Chúa từ ngày lãnh Bí tích Rửa tội. Nhiều khi một nụ cười cảm thông, một lời tha thứ hay một việc bác ái âm thầm còn chạm đến lòng người hơn cả những bài diễn thuyết dài.

  1. Chúa Thăng Thiên trao cho chúng ta một sứ mạng và một niềm hy vọng

Sau khi Chúa Giêsu lên trời, các môn đệ “trở về Giêrusalem, lòng đầy hoan hỷ” (Lc 24,52). Điều này thật khác thường. Thông thường chia tay sẽ buồn bã, nhưng các ông lại vui mừng. Vì sao? Vì họ hiểu rằng Chúa không bỏ họ mồ côi. Ngài đang mở ra một tương lai mới.

Lễ Thăng Thiên nhắc chúng ta rằng cuộc đời không khép lại ở những thất bại, đau khổ hay cái chết. Đích điểm cuối cùng là được hiệp thông với Thiên Chúa. Có người hỏi một thanh niên:

– Sau khi học xong, bạn muốn làm gì? – Tôi muốn có việc làm.

– Rồi sao nữa? – Tôi muốn kiếm nhiều tiền.

– Rồi sao nữa? – Tôi muốn xây nhà, lập gia đình, nghỉ hưu…

– Và sau đó? Người thanh niên im lặng.

Con người hôm nay thường biết mình muốn gì trong tương lai gần, nhưng lại quên câu hỏi quan trọng nhất: “Tôi sống để làm gì?” Lễ Thăng Thiên nâng ánh mắt chúng ta vượt lên những lo toan thường ngày, không phải để trốn đời nhưng để sống với một hướng đi rõ ràng. Người có hy vọng sẽ không dễ gục ngã trước thử thách. Thánh Gioan Kim Khẩu nói: “Không gì mạnh hơn một người đặt hy vọng nơi Thiên Chúa.” Chính niềm hy vọng ấy đã nâng đỡ biết bao Kitô hữu giữa đau khổ và thử thách.

Trong những năm dịch bệnh, người ta đã thấy nhiều hình ảnh đẹp: các nữ tu chăm sóc bệnh nhân, các linh mục mang Mình Thánh Chúa vào khu cách ly, những người trẻ chia sẻ thực phẩm cho người nghèo. Họ phục vụ không vì danh tiếng, nhưng vì tin rằng Chúa hiện diện nơi những con người đau khổ.

Đó là sức mạnh của Chúa Thăng Thiên đang hoạt động giữa trần gian. Thánh Augustinô viết: “Khi Người ở trên trời, Người vẫn ở với chúng ta.” (Sermon 263). Người Kitô hữu sống giữa đời nhưng trái tim hướng về quê trời, nên càng biết yêu thương hơn. Lễ Thăng Thiên cũng nhắc rằng Chúa Giêsu luôn cầu bầu cho chúng ta: Ngài “hằng sống để chuyển cầu cho họ” (Dt 7,25). Vì thế, giữa những lúc đức tin lung lay hay tương lai mù mịt, chúng ta vẫn có thể hy vọng, vì Chúa Kitô đang dẫn lịch sử và cuộc đời chúng ta đến một kết thúc tốt đẹp hơn ta tưởng.

  1. Hoàn thành công trình Chúa để lại

Nhạc sĩ Ý Giacomo Puccini đã qua đời khi đang viết dở vở opera nổi tiếng Turandot. Trước lúc mất, ông dặn các học trò hãy hoàn thành tác phẩm. Trong buổi công diễn đầu tiên, nhạc trưởng Toscanini, học trò của Puccini, dừng lại ở đoạn cuối cùng mà  Puccini ngưng viết, quay xuống khán giả và nói trong nước mắt: “Thầy của chúng tôi  đã ngừng viết ở đây và đã qua đời.” Rồi ông cầm đũa chỉ huy lên và nói tiếp: “Nhưng các học trò của thầy đã hoàn thành công việc của thầy.”

Đó là hình ảnh đẹp cho sứ mạng của Hội Thánh sau biến cố Thăng Thiên. Chúa Giêsu đã hoàn tất công trình cứu độ, nhưng Ngài muốn chúng ta tiếp tục đem tình yêu và ơn cứu độ ấy đến cho thế giới. Ngài muốn đôi tay chúng ta biết chữa lành, đôi chân chúng ta biết tìm kiếm người lạc lối, và trái tim chúng ta biết yêu thương như Ngài đã yêu. Nhiều người nghĩ phục vụ Chúa là làm việc lớn lao, nhưng Tin Mừng thường được xây dựng từ những điều nhỏ bé: một lời an ủi, một hy sinh âm thầm, một cử chỉ tha thứ. Têrêsa Calcutta từng nói: “Ai cũng có thể làm việc nhỏ với tình yêu lớn.” Chính những điều nhỏ bé ấy làm cho Chúa Kitô tiếp tục hiện diện giữa đời.

Trong một thế giới đầy ích kỷ và chia rẽ, con người cần những chứng nhân của hy vọng. Không phải những Kitô hữu hoàn hảo, nhưng là những người biết đứng dậy sau vấp ngã và trung thành giữa đổi thay. Lễ Thăng Thiên không mời gọi chúng ta “đứng nhìn trời”, nhưng thúc giục lên đường: “Sao còn đứng nhìn trời?” (Cv 1,11). Đức tin thật luôn dẫn đến hành động.

Chúa đã lên trời, nhưng công việc loan báo Tin Mừng vẫn tiếp tục qua mỗi chúng ta. Dù yếu đuối và giới hạn, chúng ta vẫn được Chúa trao sứ mạng của Ngài. Vì thế, Lễ Thăng Thiên là lễ của hy vọng và lời hứa: “Thầy ở cùng anh em mọi ngày cho đến tận thế” (Mt 28,20). Và một ngày kia, chúng ta cũng sẽ được ở với Ngài, nơi Ngài đang ở.

Phêrô Phạm Văn Trung

NỖI BUỒN MANG THAI

Thứ Sáu Tuần 6 Phục Sinh A

“Niềm vui của anh em, không ai lấy mất được!”.

Thomas Ice & Robert Dean đặt câu hỏi, “Khi nào chúng ta hành động như Satan?”. Đó là khi con người coi đau khổ như một ngõ cụt thay vì một lối mở; khi nước mắt bị xem là thất bại thay vì là dấu hiệu của một niềm vui đang thành hình.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho thấy, Chúa Giêsu không xem đau khổ như một ngõ cụt, nhưng như một lối mở. Như người phụ nữ đi qua cơn quặn đau để sinh một con người, nỗi buồn của người môn đệ cũng là một ‘nỗi buồn mang thai’.

Gioan mô tả đau khổ như một cuộc chuyển dạ. “Nỗi buồn” – lypē – của người môn đệ không bị phủ nhận; nó được biến đổi từ bên trong, như cơn quặn đau của người mẹ lâm bồn. Vì thế, nước mắt và khổ đau không là hết đường, nhưng là một lối mở, là khúc dạo đầu của một tạo thành mới; nơi đó, ‘nỗi buồn mang thai’ một niềm vui, và nước mắt bắt đầu học cách hát. Bởi có những mất mát âm thầm khiến con người không còn biết phải mở lòng với cuộc đời thế nào nữa. Ấy thế, “Có những mất mát làm đổi thay toàn bộ cấu trúc đời người!” – Judith Viorst.

“Anh em sẽ khóc lóc và than van!”. Chúa Giêsu không phủ nhận nước mắt trong đời sống người môn đệ; Ngài chỉ không cho phép nó trở thành tiếng nói cuối cùng. Trong Tin Mừng Gioan, đau khổ luôn mang một hậu âm; cơn quặn đau của người mẹ không khép lại nơi tiếng khóc, nhưng mở ra nơi sự xuất hiện của một sinh linh mới. Những giọt nước mắt tưởng như đang khép đời mình lại, như khi một tương lai sụp đổ, một tương quan tan vỡ, hay một lời cầu nguyện mãi không được đáp lại. Thật ra, đó chỉ là khúc dạo đầu của một niềm vui không ai lấy mất.

Với Phaolô, lời “Đừng sợ! Cứ nói đi, đừng làm thinh!” – bài đọc một, không chỉ là một trấn an, nhưng là một bảo đảm thần linh. Chúa Phục Sinh không cất khỏi ông chống đối hay hiểm nguy; Ngài chỉ hứa, “Thầy ở với anh!”. Và như thế là đủ. Có những đêm, chỉ một lời “Thầy ở với anh” cũng đủ giữ người môn đệ khỏi gục ngã. Có lúc, điều giữ con người đứng vững không phải lời giải thích, nhưng là cảm thức mình không bị bỏ lại. Vì thế, giữa bách hại và bất an, Phaolô vẫn tiếp tục lên tiếng, vì ông biết lịch sử nằm trong tay Đấng mà Thánh Vịnh đáp ca tung hô: “Thiên Chúa là Vua toàn cõi địa cầu!”.

Anh Chị em,

Đức Kitô là nơi ‘nỗi buồn mang thai’ đạt tới ý nghĩa sâu xa nhất. Thập giá tưởng như khép lại mọi hy vọng, lại trở thành khởi đầu của phục sinh. Trong Ngài, không đau khổ nào còn hoàn toàn vô nghĩa; nước mắt người môn đệ không chỉ biết khóc, nhưng dần học cách hát niềm hy vọng. Có những đêm con người tưởng mình đã mất hết, nhưng cũng chính từ những khoảng tối ấy, Thiên Chúa âm thầm làm nảy mầm một sự sống mới; vì chỉ có bóng tối mới đủ sâu để nảy mầm ánh sáng. “Chỉ người thầy thuốc mang thương tích mới thực sự chữa lành!” – Carl Jung.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, khi nước mắt làm con tưởng mọi lối đi đều tắt, cho con biết, trong Chúa, đau khổ vẫn còn hậu âm hy vọng; và nỗi buồn vẫn có thể thai nghén niềm vui!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

 

Subcategories