3. Sống & Chia Sẻ Lời Chúa

ĐỨC GIÊ-SU PHẢI TRỖI DẬY TỪ CÕI CHẾT

HIỆP SỐNG TIN MỪNG

CN PHỤC SINH ABC

Cv 10,34a.37-43; Cl 3,1-4; Ga 20,1-9

 

I. HỌC LỜI CHÚA

1.TIN MỪNG : Ga 20,1-9

(1) Sáng sớm ngày Thứ Nhất trong tuần, lúc trời còn tối, bà Ma-ri-a Mác-đa-la đi đến mộ, thì thấy tảng đá lăn khỏi mộ. (2) Bà liền chạy về gặp Simon Phê-rô và người môn đệ Đức Giê-su thương mến. bà nói : “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ, và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu ?”. (3) Ông Phê-rô và môn đệ kia liền đi ra mộ. (4) Cả hai người cùng chạy, nhưng môn đệ kia chạy mau hơn ông Phê-rô và đã tới mộ trước. (5) Ông cúi xuống và nhìn thấy những băng vải còn ở đó nhưng không vào. (6) Ông Si-mon Phê-rô theo sau cũng đến nơi. Ông vào thẳng trong mộ, thấy những băng vải để ở đó, (7) và khăn che đầu, khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi. (8) Bấy giờ người môn đệ kia, kẻ đã tới mộ trước, cũng đi vào. Ông đã thấy và đã tin. (9) Thật vậy, trước đó hai ông chưa hiểu rằng : Theo Kinh Thánh,  Đức Giê-su phải trỗi dậy từ cõi chết.

2.Ý CHÍNH :

Gio-an viết Tin Mừng nhằm mục đích “Để anh em tin rằng  Đức Giê-su là Đấng Ki-tô, Con Thiên Chúa, và để anh em tin mà được sự sống nhờ danh Người” (ga 20,31). Riêng đoạn Tin Mừng hôm nay, Gio-an cho thấy Đức Giê-su thực sự đã từ cõi chết sống lại như Người đã báo trước.

3.CHÚ THÍCH :

– C 1 : + Ngày Thứ Nhất trong tuần : Theo Sáng Thế Ký, thì một tuần lễ có bảy ngày. ngày Thứ Nhất là ngày sau ngày Sa-bát và bắt đầu một tuần lễ. Về sau, Giáo Hội dựa vào việc Chúa Phục Sinh hiện ra vào ngày Thứ Nhất, nên gọi là ngày Chúa Nhật hay Ngày Của Chúa. +sáng sớm… lúc trời còn tối : Về thời gian khi các phụ nữ ra thăm mộ, các Tin Mừng có những diễn tả hơi khác nhau : Ở đây Gio-an viết : “Sáng sớm ngày Thứ Nhất trong tuần, lúc trời còn tối” (x. Ga 20,1); Còn Mát-thêu viết : “Sau ngày Sa-bát, khi ngày Thứ Nhất trong tuần vừa ló rạng (x. Mt 28,1); So với Mác-cô : “Sáng tinh sương ngày Thứ Nhất trong tuần, lúc mặt trời hé mọc” (x. Mc 16,2) ; Riêng Lu-ca lại viết : “Ngày Thứ Nhất trong tuần, vừa tảng sáng” (x. Lc 24,1). + Ma-ri-a Mác-đa-la : Mác-đa-la là một thị trấn nằm trên bờ phía tây biển hồ Ghen-nê-xa-rét. Là quê của bà Ma-ri-a. Bà đã từng bị 7 quỷ ám trước khi theo Chúa Giê-su (x. Lc 8,2). Bà là một trong những phụ nữ đầu tiên đã ra thăm mộ Chúa (x. Ga 20,1; Mt 28,1; Lc 24,10). Trước đó, bà đã can đảm đứng gần thập giá (x. Ga 19,25; Mt 27,56) và đã chứng kiến hai môn đệ mai táng Thầy trong mồ (x. Mt 27,61; Mc 15,47).

– C 2 : + Bà liền chạy về gặp ông Si-mon Phê-rô : Câu này nói lên vai trò quan trọng đặc biệt của Phê-rô là người đứng đầu Nhóm Mười Hai. Do đó, Ma-ri-a Mác-đa-la cần phải báo cáo với ông trước tiên về việc xác Thầy biến mất. + Và người môn đệ Đức Giê-su thương mến : Cách nói “môn đệ Đức Giê-su thương mến” là kiểu nói riêng trong Tin Mừng Gio-an. Đây là cách tác giả nói về mình một cách khiêm tốn khi không muốn nhắc đến tên của mình. + Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ và chúng tôi không biết : Khi thấy mồ trống, Ma-ri-a Mác-đa-la không nghĩ đến việc Chúa sống lại như nhiều lần Người đã báo trước, mà bà chỉ theo suy luận tự nhiên để cho rằng ai đó đã đến mang xác Thầy ra khỏi mồ. Từ “Chúng tôi” trong câu này ám chỉ Ma-ri-a không đi ra mộ Chúa một mình mà đi chung với mấy bà khác nữa (x. Mt 28,1).

-C 3-4 : + Ông Phê-rô và môn đệ kia liền đi ra mộ : Khi được các phụ nữ báo tin mộ trống và xác Thầy biến mất, hai môn đệ nòng cốt là Phê-rô và Gio-an liền tức tốc chạy ra mộ để kiểm tra thực hư. điều đó cho thấy lòng nhiệt thành và ý thức trách nhiệm trổi vượt của hai ông. + Môn đệ kia chạy mau hơn ông Phê-rô và đã tới mộ trước : Lý do Gio-an chạy nhanh hơn và đến mộ trước Phê-rô đơn giản là vì ông trẻ hơn nên khỏe và chạy nhanh hơn Phê-rô, và có lẽ cũng vì nôn nóng do yêu mến Thầy nhiều hơn.

– C 5-6 : + Băng vải còn ở đó : Đây là tấm vải lớn bao bọc toàn thân Đức Giê-su. Khăn này theo truyền thuyết còn được lưu giữ tại nhà nguyện thánh Gio-an ở Tu-ri-nô miền Bắc nước Ý. + Nhưng không vào : Gio-an không vào có thể do ông tôn trọng và nhường cho Phê-rô là đàn anh vào trước mình. Nhưng đúng hơn có lẽ do ông cảm thấy bàng hoàng trước sự kiện cửa mồ rộng mở và mải lo suy nghĩ về những tấm khăn để lại, đủ thời gian cho Phê-rô theo sau kịp chạy đến nơi. + Si-mon Phê-rô … vào thẳng trong mộ : Phê-rô tính nóng nảy nên lập tức bước vào trong mộ.

– C 7-9 : + Và khăn che đầu. Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi : Bên trong mộ các khăn liệm xác vẫn còn để lại, khác với trường hợp La-da-rô khi sống lại ra ngoài trong tình trạng “chân tay còn quấn vải, và mặt còn phủ khăn” (Ga 11,43-44). Điều này cho thấy Đức Giê-su không cần ai giúp đỡ khi trỗi dậy ra khỏi mồ. Người đã có thể tự lăn tảng đá che kín mộ ra thì cũng có thể tự tháo gỡ các khăn liệm và khăn che mặt như vậy. Sự kiện khăn còn để lại cho Gio-an thấy Thầy Giê-su đã thực sự sống lại. Vì không kẻ trộm nào lại bỏ công sức và thời gian để làm một việc vô ích là cởi các dây vải ra và xếp gọn để vào một chỗ rồi mới đem xác trần đi cả ! + Ông đã thấy và đã tin : Dấu chỉ ngôi mộ trống và các băng vải liệm xác được xếp gọn lại đã giúp Gio-an suy luận và đạt tới đức tin vào mầu nhiệm Đức Giê-su từ cõi chết sống lại. +Trước đó hai ông chưa hiểu rằng : Theo Kinh Thánh, Đức Giê-su phải trỗi dậy từ cõi chết : Trước khi thấy các dấu chứng vừa nói thì Gio-an và các tông đồ đều không tin Thầy các ông sẽ sống lại, dù Người đã báo trước  ba lần (x. Mt 16,21; 17,23; 20,19). Nhưng khi thấy các dấu chứng như mồ trống, các khăn vải liệm xác, dây băng được cuộn lại riêng một chỗ, thì các ông đã nhớ lại những lời Thánh Kinh được ứng nghiệm nơi Đức Giê-su và tin Người đã thực sự sống lại (x.Tv 16,10; Tv 2,7; Hs 6,2).

4.CÂU HỎI :

1) Tại sao ngày nay người ta gọi ngày Thứ Nhất trong tuần là Chúa Nhật ? 2) Về thời điểm bà Ma-ri-a Mác-đa-la ra thăm mộ Chúa, so sánh bản tường thuật của 4 tác giả Tin Mừng khác nhau thế nào ? 3) Bạn biết gì về thân thế của bà Ma-ri-a Mác-đa-la ? 4) Bà đã báo tin xác Thầy biến mất cho ai ? Tại sao ? 5) Qua câu nói với Phê-rô và Gio-an, bà Ma-ri-a Mác-đa-la có tin việc Thầy Giê-su đã phục sinh hay không ? 6) Hành động chạy nhanh ra mộ của Phê-rô và Gio-an cho thấy tinh thần trách nhiệm của 2 ông thế nào ? 7) Tại sao Gio-an chạy nhanh hơn Phê-rô ? 8)Tại sao ông Gio-an đến mộ trước Phê-rô mà không vào bên trong mộ ngay ? 9) Khi thấy hiện tượng mộ trống, băng vài và khăn che đầu được xếp gọn, hai ông đã tin gì về mầu nhiệm Đức Giê-su sống lại ?

II. SỐNG LỜI CHÚA

1.LỜI CHÚA : Ông đã thấy và đã tin (Ga 20,8).

2.CÂU CHUYỆN :

1) VỀ SỨ VỤ RAO GIẢNG TIN MỪNG PHỤC SINH :

Sau khi chịu chết trên thập giá, Đức Giê-su đã sống lại và vào trong vinh quang. Tuy vậy, trên tay chân và cạnh sườn Người vẫn còn mang những dấu tích đau thương từ những cây đinh nhọn và lưỡi đòng đâm thâu. Một vị thiên thần đã lên tiếng hỏi Đức Giê-su rằng : “Chắc Chúa đã phải chịu muôn vàn đau khổ nhục nhã do loài người dưới thế gây ra ?” Người đáp : “Đúng vậy !” Thiên thần hỏi tiếp : “Có phải tất cả con cái loài người đều biết Chúa đã chịu đau khổ và chịu chết để đền thay các tội lỗi của họ không ?” Chúa trả lời : “Chưa đâu, mới chỉ có một số ít người nhận biết mà thôi”. Thiên thần lại nói : “Thế thì Chúa đã làm gì để họ nhận biết ơn cứu độ đó ?”  Chúa đáp : “Ta lại đi loan báo Tin Vui cho những người khác, đến khi nào tất cả mọi người trên địa đầu đều được nghe Tin Mừng cứu độ ấy mới thôi”. Vị thiên thần đã hiểu rõ tính bốc đồng của loài người và nghi ngờ họ nên hỏi tiếp: “Giả như Phê-rô, Gio-an và các Tông đồ quên thi hành sứ mệnh rao giảng đó thì sao ? Nếu các tín hữu các thế hệ sau này có lúc nào đó gặp phải những bách hại chống đối của kẻ gian ác mà chán nản buông xuôi thì sao ? Chúa có lập thêm một chương trình cứu độ nào khác nữa thôi ?” Chúa Giê-su trả lời: “Ta sẽ không bao giờ lập ra thêm một chương trình cứu độ nào khác nữa ! Ta đã biết trước tính khí con cái loài người thường nhát đảm sợ sệt và bất định, nên đã thổi hơi ban sức mạnh Thần Khí của Ta cho họ, để giúp họ thi hành sứ mệnh, và Ta hoàn toàn tin tưởng họ sẽ chu toàn được sứ mệnh đó”.

2) ĐƯỢC PHỤC SINH NHỜ SỐNG THEO LỜI CHÚA DẠY :

Cuốn phim “Chiếc cầu sông Quai” diễn tả câu chuyện phục sinh tại một trại tù như sau:

Vào thời đệ nhị thế chiến, những người lính đồng minh bị quân đội Nhật bắt làm tù binh, được đem tới vùng biên giới Miến Điện và Thái Lan để xây dựng tuyến đường sắt vận chuyển vũ khí. Cuộc sống ở đây thật khắc nghiệt. Họ bị cưỡng bức lao động dưới cái nóng như đổ lửa, có khi lên tới những 49 độ. Họ bị đối xử một cách tàn thệ. Chính cuộc sống khắc khổ này đã làm cho họ trở nên những con người độc ác. Họ cư xử với nhau bằng luật rừng « Mạnh được yếu thua », trộm cắp, nghi ngờ và làm tay sai chỉ điểm nhau cho bọn lính cai tù.

Thế rồi một điều khó tin đã xảy ra: Có hai tù nhân nọ, đã tổ chức cho những bạn tù của mình thành một nhóm học hỏi Lời Chúa. Và nhờ sự học hỏi này, mà Lời Chúa bắt đầu thấm vào tâm hồn họ, để rồi chính họ khám phá ra Đức Ki-tô đang sống giữa họ. Ngài hiểu và cảm thông với nỗi đau của họ, bởi vì Ngài cũng đã từng sống vất vả, đã từng chịu cảnh đói khát mệt mỏi, đã từng bị môn đệ phản bội và đã từng bị bọn lính Rô-ma đánh đòn... Từ đó, tất cả những lời Đức Giê-su nói và những việc Ngài làm đều mang một ý nghĩa mới và trở nên sống động đối với các tù nhân. Họ không còn nghĩ mình là nạn nhân của một cuộc chiến dã man. Họ không còn chỉ điểm và trộm cắp của nhau, nhưng đối xử với nhau bằng tình thương yêu và nhất là họ bắt đầu cầu nguyện cho nhau.

Từ đó, trong trại tù thỉnh thoảng có những tiếng hát vui tươi thay cho sự thinh lặng căng thẳng, giống như sự khác biệt giữa cái chết và sự phục sinh. Nói cách khác, sự biến đổi xảy ra trong trại tù chính là một lễ phục sinh, là một phép lạ làm cho họ tin tưởng lẫn nhau thay vì nghi ngờ nhau. Làm cho họ biết chia sẻ với nhau thay vì trộm cắp. Làm cho họ biết giúp đỡ nhau thay vì tìm cách chỉ điểm làm hại lẫn nhau.

3) TÌNH YÊU MẠNH HƠN SỰ CHẾT :

Một cuốn phim mang tựa đề “Thế Giới Trong Tăm Tối” diễn tả câu truyện về một nhà khảo cổ danh tiếng tổ chức một cuộc khai quật khoa học ở Giê-ru-sa-lem.

Ngọn đồi Gôn-gô-tha được cẩn thận đào bới, kể cả những phiến đá và các hang động của một nghĩa trang bên cạnh cũng được thăm dò khám xét kỹ lưỡng. Vì theo Tin Mừng Thánh Gio-an, xác của Chúa Giê-su được chôn cất trong một phần mộ gần nơi Ngài bị án tử hình Thập giá. Sau bao công khó đào bới khám xét, một ngày kia nhà khảo cổ tuyên bố : “Tôi đã tìm được xác ông Giê-su”. Rồi ông tổ chức một cuộc họp báo rầm rộ, quy tụ hàng trăm ký giả và nhiếp ảnh viên để trình bày kết quả mỹ mãn của bao ngày tháng đào bới khảo cứu vất vả. Ông đã trưng dẫn trước mặt mọi người một xác người đã khô đét, nhưng còn có thể nhận ra là tay chân của xác người này bị đâm thủng, cạnh sườn bị đâm thâu và cả những dấu chứng tỏ thân xác ấy bị nhuốm máu qua những vết in trên tấm khăn liệm xác.

Cuốn phim quay lại cảnh mọi người im lặng theo dõi bài thuyết trình của nhà khảo cố. Tình cờ có một phụ nữ phát biểu lớn tiếng : “Đây là sự thật hiển nhiên. Ông ta bị đóng đinh, đã chết và đã được táng xác” và nhà khảo cổ tiếp lời : “Vâng, đúng thế, bị đóng đinh, chết và được an táng. Nhưng làm gì có chuyện Phục Sinh, bởi vì xác ông ta vẫn còn nằm đây”.

Tiếp đến, cuốn phim diễn tả hậu quả của cuộc tìm được xác ông Giê-su :

Không ai còn mừng lễ Phục Sinh nữa.

Một linh mục tắt đèn Nhà Chầu, cất Mình Thánh Chúa và đóng cửa nhà thờ.

Chuông các thánh đường im tiếng.

Các nữ tu cởi khăn trùm đầu.

Thánh giá tại nhiều nơi bị hạ xuống.

Đèn bên những ngôi mộ bị dập tắt.

Thế giới chìm đắm trong màn đêm u tối dày đặc.

Cuốn phim kết thúc với cảnh chính nhà khảo cổ đang hấp hối. Trước khi trút hơi thở cuối cùng, ông ta đã thú nhận : “Tôi đã đánh lừa thế giới. Chính tôi đã làm giả xác của ông Giê-su và bí mật đặt vào trong mộ mấy năm trước khi khởi sự cuộc đào bới tìm kiếm này”.

Sau lời tuyên bố đó là cảnh hàng ngàn người tuôn đến ngôi mộ thánh ở Giê-ru-sa-lem như chúng ta chứng kiến hàng năm trong Tuần Thánh. Những ngọn nến được thắp lên và các tín hữu mang những ngọn nến được thắp sáng, ngọn nến của niềm hy vọng đi khắp nơi soi sáng con đường tăm tối. Chuông các nhà thờ ngân vang như báo tin Chúa Giê-su đã Phục Sinh : Tình yêu mạnh hơn tội lỗi. Sự sống mạnh hơn cái chết.

3. SUY NIỆM :

Bằng lối văn súc tích và hàm chứa những tư tưởng sâu sắc, Tin Mừng Gio-an đã mô tả cuộc hành trình đức tin và đức mến của ba nhân vật quan trọng trong Tin Mừng Phục Sinh hôm nay như sau :

1) CHÍNH LÒNG MẾN ĐÃ THÚC BÁCH MA-RI-A MÁC-ĐA-LA ĐI TÌM CHÚA :

Niềm vui Phục Sinh khởi đầu bằng việc bà Ma-ri-a Mác-đa-la đi thăm mộ ngay từ sáng tinh sương ngày Thứ Nhất trong tuần. Bà hốt hoảng khi thấy tảng đá che cửa mộ đã bị lăn sang một bên và xác Thầy trong mộ biến mất. Cũng như chính lòng mến đã làm cho bà thêm can đảm đứng dưới chân thập giá (x. Ga 19,25), và ở lại chứng kiến việc 2 môn đệ an táng Thầy trước đó (x. Mt 27,61), thì giờ đây lòng mến đó lại thôi thúc bà cùng mấy bà khác đem theo dầu thơm ra mộ để ướp xác Thầy theo phong tục Do thái (x. Mc 16,2). Khi thấy mộ trống, Ma-ri-a hốt hoảng chạy về báo tin cho hai môn đệ Phê-rô và Gio-an (x. Ga 20,2). Theo bà suy nghĩ thì ai đó đã đến lấy mất xác Thầy và bà không biết họ đã để Thầy ở đâu (x. Ga 20,13.15). Ma-ri-a không hề nghĩ rằng Thầy đã phục sinh, mà bà chỉ mong sao tìm lại được xác Thầy để mang về chôn lại trong mộ mà thôi. Sau khi Phê-rô và Gio-an chạy ra mộ rồi trở về, thì một lần nữa, do lòng mến thôi thúc, Ma-ri-a lại quay ra mộ mà than khóc. Trong lần ra mộ thứ hai này, bà đã trở thành người đầu tiên gặp được Chúa Phục Sinh hiện ra. Người còn trao cho bà sứ vụ đi loan báo Tin Mừng Phục Sinh cho các tông đồ như sau : “Hãy đi gặp anh em Thầy và bảo họ rằng : Thầy lên cùng Cha của Thầy, cũng là Cha của anh em, lên cùng Thiên Chúa của Thầy, cũng là Thiên Chúa của anh em” (Ga 20,17).

2) CHÍNH LÒNG MẾN ĐÃ GIÚP GIO-AN NHẬN BIẾT CHÚA PHỤC SINH :

Gio-an là một trong bốn môn đệ được Thầy kêu gọi đầu tiên (x Mt 4,21). Là một trong ba môn đệ được chứng kiến Thầy biến hình (x Mt 17,1) và cũng là người môn đệ được Thầy yêu mến nhất (x Ga 13,23). Tình yêu đối với Thầy đã thôi thúc ông, làm cho ông trở thành người can đảm hơn cả: Không bỏ chạy như các môn đệ khác, nhưng âm thầm theo dõi các sự kiện xảy ra từ lúc Thầy bị bắt đến khi bị xét xử giữa hai tòa án đạo và đời; Can đảm đứng dưới chân thập giá để chứng kiến giờ phút cuối cùng của Thầy và được Thầy trăn trối Đức Ma-ri-a làm Mẹ của mình và đón Mẹ về nhà mà phụng dưỡng thay cho Thầy (x Ga 19,27). Cũng do tình yêu thôi thúc mà Gio-an đã trở thành người môn đệ đầu tiên trong Nhóm Mười Hai nhận ra Chúa Phục Sinh tại biển hồ Ti-bê-ri-a (x Ga 21,7). Cũng chính tình yêu ấy đã thúc bách Gio-an chạy nhanh hơn 0và đạt đến đức tin trước Phê-rô (x Ga 20,8).

3) CHÍNH LÒNG MẾN LÀM PHÊ-RÔ ĐƯỢC TRAO QUYỀN CHĂN CHIÊN :

Phê-rô là một trong bốn môn đệ đã theo Đức Giê-su trước hết (x. Mt 4,18-20). Ông đã tình nguyện bỏ hết mọi sự mà đi theo Thầy (x. Mt 19,27-29; Lc 18,28-30). Ông luôn được xếp đứng đầu danh sách Nhóm Mười Hai (x Mt 10,2). Ông còn là một trong ba môn đệ được nhìn thấy Thầy biến hình trên núi cao (x Mt 17,1), được chứng kiến phép lạ Người cho bé gái mới chết sống lại (x Lc 8,51), được ở gần Đức Giê-su khi Người hấp hối trong vườn Ghết-sê-ma-ni (x Mt 26,37). Trong thời gian rao giảng Tin Mừng,  Đức Giê-su thường đến ở trọ tại nhà ông Si-mon Phê-rô tại thành Ca-phác-na-um (x Mc 1,29). Có lần Phê-rô đại diện anh em tuyên xưng đức tin “Thầy chính là Đức Ki-tô, Con Thiên Chúa hằng sống” (Mt 16,16). Nhờ đức tin đó, Phê-rô đã được khen có phúc, và được Thầy hứa sẽ xây Hội Thánh trên nền tảng đức tin vào Đức Giê-su vững chắc như đá của ông. Người cũng trao quyền cầm buộc và tháo cởi cho ông (x Mt 16,17-19). Ông còn được  trao sứ mệnh củng cố đức tin cho anh em sau khi trở lại (x. Lc 22,31-32). Dù còn nhiều khuyết điểm như: bị Thầy nặng lời quở trách vì dám khuyên Thầy đừng chấp nhận con đường thập giá (x Mt 16,22-23), hoặc có lúc ông đã bị Thầy trách kém lòng tin (x Mt 14,31) hay trách khi ông không muốn cho Thầy rửa chân (x Ga 13,6-8). Phê-rô còn bị trách khi quá tự tin vào sức riêng của mình (x Mt 26,33-35). Nhất là ông đã tỏ ra hèn nhát chối Thầy ba lần, dù đã được Thầy cảnh báo trước đó (x Mt 26,69-75).

Nhưng bù lại Phê-rô đã có lòng yêu mến Thầy hơn ai hết. Lòng mến của ông thể hiện qua thái độ dứt khoát từ bỏ nghề chài lưới và chấp nhận theo Thầy làm nghề chài lưới các linh hồn (x Mt 4,18-20). Ông cũng thường được Đức Giê-su hỏi ý kiến như: Thầy trò có nên nộp thuế Đền thờ không ? (x Mt 17,24-27). Có lần ông hỏi ý Đức Giê-su về số lần phải tha thứ cho anh em (x Mt 18,21). Ông cũng đại diện anh em để tuyên xưng đức tin và thề quyết trung thành với Thầy đến cùng (x Ga 6,68-69). Ông can đảm rút gươm chém đứt tai tên đầy tớ của thượng tế khi chúng đến bắt Thầy (x Ga 18,10). Ông không chạy trốn như các ông khác mà đi theo Gio-an theo dõi diễn tiến tòa án xét xử Thầy (x Ga 18,15). Trong Tin Mừng hôm nay, khi nghe các phụ nữ báo tin xác Thầy bị mất, Phê-rô cùng Gio-an chạy ra mộ để kiểm chứng thực hư. Trước sự kiện mồ trống, các khăn vải liệm xác vẫn còn, Phê-rô đã tin Thầy sống lại chứ không bị kẻ trộm lấy xác (x Ga 20,8-9). Sau đó ông còn được Chúa Phục Sinh hiện ra trước anh em Nhóm Mười Một (x Lc 24,34; 1 Cr 15,5). Khi được Gio-an mách bảo Người mặc áo trắng đứng trên bờ hồ là Thầy, Phê-rô vội khoác áo vào rồi nhảy xuống biển bơi vào bờ để mau được gặp Thầy (x Ga 21,7). Ông cũng tuyên xưng lòng mến ba lần và được Thầy trao cho sứ vụ chăn dắt chiên con chiên mẹ và chăn dắt cả đàn chiên là Hội Thánh (x Ga 21,15-17). Ông còn chứng tỏ lòng mến tột cùng khi sẵn sàng chịu chết để làm chứng cho thầy (x Ga 21,18-19).

4) THỰC HÀNH ĐỨC TIN VÀ ĐỨC MẾN HÔM NAY :

Chính lòng mến Chúa đã làm cho Ma-ri-a Mác-đa-la ăn năn sám hối tội lỗi, ra thăm mộ đầu tiên và đã được Chúa Phục Sinh hiện ra trao cho sứ vụ loan Tin Mừng cho các tông đồ. Cũng chính lòng mến Thầy của Gio-an đã làm cho ông nhận ra Thầy trước anh em và thấy được ý nghĩa của những sự kiện dẫn đến mầu nhiệm Phục Sinh của Chúa Giê-su. Lòng mến  cũng làm cho ông Phê-rô luôn gắn bó mật thiết với Thầy, hy sinh mọi sự để đi theo làm môn đệ của Thầy. Dù có lúc yếu đuối sa ngã phạm tội, nhưng ông đã sớm hồi tâm sám hối trở về và được Thầy tín nhiệm đặt làm Đá Tảng đức tin, có nhiệm vụ củng cố đức tin cho các anh em (x Lc 22,32), và còn được Chúa Phục Sinh trao quyền chăn dắt đoàn chiên Hội Thánh.

Đối với các tín hữu chúng ta, lòng mến rất cần để ta khỏi bị thất vọng hay hốt hoảng khi gặp đau khổ thất bại trên đường đời. Cuộc sống chúng ta nhiều lúc giống như một ngôi mộ trống rỗng, khi những gì chúng ta yêu quý nhất hoặc những người thân yêu nhất của mình không còn, chúng ta thường chạy đôn chạy đáo đi tìm người chết trong nước mắt đau thương như Ma-ria Mác-đa-la xưa (x Ga 20,11.13). Nhưng cái chết đã không giam hãm được sự sống: Sự sống đã trỗi dậy từ cõi chết; Ánh sáng đã bừng lên từ bóng tối tử thần;Tình yêu đã chiến thắng hận thù và Tin Mừng Phục Sinh của Chúa Ki-tô sẽ được Hội Thánh loan báo đi khắp thế gian như lệnh Người truyền trước khi lên trời (x Mt 28,19).

4.THẢO LUẬN :

Khi gặp phải những hoàn cảnh đau thương trái ý, bạn cần làm gì để không chán nản thất vọng, nhưng luôn đặt trọn niềm tín thác vào Chúa, hy vọng Người sẽ kíp thời giải cứu và giúp bạn mau trỗi dậy ?

5.LỜI CẦU :

LẠY CHÚA GIÊ-SU PHỤC SINH. Sự phục sinh của Chúa vừa là lời mời gọi, lại vừa lôi cuốn chúng con hướng tâm hồn lên cao để nhận ra giá trị tương đối của sắc đẹp, tiền bạc, danh vọng, chức quyền trần gian… hầu noi gương các thánh : chúng con sẵn sàng hy sinh tất cả vì tình yêu Chúa và dám sống chết cho tình yêu ấy, để quyết dấn thân đi khắp nơi rao giảng Tin Mừng, sẵn sàng đón nhận những đau khổ thua thiệt… vì xác tín rằng : “Chính khi hiến thân là khi được nhận lãnh. Chính lúc quên mình là lúc gặp lại bản thân. Chính khi thứ tha là khi được tha thứ. Chính lúc chết đi là khi vui sống muôn đời”.- AMEN.

LM ĐAN VINH –  HHTM

Phục Sinh

(Tđcv 10, 34a. 37-43; Col 3, 1-4; Ga 20, 1-9).

Chúng ta đang bước đi trong niềm tin sống đạo. Chúa Giêsu sống lại từ cõi chết là niềm hy vọng tuyệt đối cho những ai tin. Niềm tin của chúng ta dựa vào lời dạy của Chúa Giêsu, niềm tin của Giáo Hội và của các nhân chứng. Sự kiện mồ trống là dấu chỉ đầu tiên cho chúng ta nhận biết là xác của Chúa không còn ở trong mồ. Maria báo tin cho các môn đệ, Phêrô cùng Gioan chạy ra mộ, các ông cũng thấy ngôi mộ trống và khi bước vào trong chỉ thấy khăn liệm và băng vải. Các ông nghiệm ra được những lời Kinh Thánh đã báo trước về Đức Giêsu. Niềm tin vào Chúa Kitô Phục Sinh đem lại cho các ông sự phấn chấn và vui mừng.

Tông đồ Gioan mục kích sự việc đã xảy ra, ông thấy và ông tin. Chính Gioan đã viết sách Phúc âm kể lại câu truyện này. Gioan là tông đồ trẻ và được Chúa Giêsu đặc biệt ưu ái. Ông đã được hiện diện trong những biến cố quan trọng và ở sát gần bên Chúa, như khi Chúa cho con gái ông Giairô sống lại, Chúa biến hình trên núi, giây phút buồn sầu trong vườn Cây Dầu và trên thập giá, Chúa đã trao Mẹ của Ngài cho thánh Gioan phụ dưỡng. Gioan là tông đồ duy nhất không lãnh triều thiên tử đạo, nhưng đã trung thành cho tới cùng đường và giữ vững đức tin. Ngài là nhân chứng sống động cho tới tuổi già chuyên lo truyền đạt chân lý phúc âm.

Các môn đệ không chỉ chứng kiến cảnh ngôi mộ trống nhưng đã được nhìn xem, đụng chạm, đàm đạo và ăn uống với Chúa Kitô Phục Sinh. Tác giả sách Tông Đồ Công Vụ viết: Nhưng ngày thứ ba, Thiên Chúa đã cho người sống lại và hiện ra không phải với toàn dân, mà là với chúng tôi là nhân chứng Thiên Chúa đã tuyển chọn trước, chính chúng tôi đã ăn uống với Người, sau khi Người từ cõi chết sống lại (Tđcv 10, 40). Như sau một chiến trận hoang tàn, có kẻ phản bội, có người chối Chúa, một số bỏ chạy và và một số khác ẩn mình trốn tránh khỏi tai mắt thiên hạ vì sợ người Do-thái. Tâm hồn của các môn đệ dĩ nhiên có nhiều hoang mang lo lắng và buồn đau. Nay con tim đã vui trở lại. Nhưng niềm vui hoàn toàn khác biệt, niềm vui của hy vọng vào cuộc sống trường sinh bất diệt.

Các tông đồ bắt tay vào sứ mệnh làm nhân chứng cho Chúa Kitô Phục Sinh. Những lời giảng dạy của Chúa Giêsu bắt đầu thấm nhuần và được áp dụng cụ thể vào cuộc sống. Các ngài không còn đi tìm vinh quang giả tạo của thế trần, nhưng đã thấu triệt ý nghĩa của cuộc hành đạo. Tất cả các môn đệ can đảm xả thân và mỗi người ra đi một hướng để rao giảng Tin Mừng phục sinh cho mọi dân mọi nước. Rao giảng Chúa Kitô Phục Sinh là trung tâm điểm của tất cả Tin Mừng. Sự sống lại của Chúa Kitô là niềm hy vọng vào sự sống và sự sống lại đời đời. Chúa Kitô trở thành trung gian giữa Chúa Cha và vũ trụ muôn loài. Ngài là Thiên Chúa thật và là người thật. Đấng xóa tội trần gian.

Hằng năm, Giáo Hội Mẹ mời gọi chúng ta cử hành các biến cố tưởng niệm cuộc đời của Chúa Kitô, để chúng ta được hun đúc niềm tin và tiến bước trên con đường trọn lành. Mùa Chay đã qua và Mùa Phục Sinh bắt đầu. Ngó nhìn lại những tháng ngày qua, đôi khi chúng ta quá thờ ơ và dửng dưng với những lời mời gọi ăn năn sám hối trở về cùng Chúa. Đôi khi chúng ta mải mê thế sự, lo lắng tất bật làm ăn và kiếm sống. Biết rằng đang phải sống giữa một xã hội xô bồ, tranh dành và hưởng thụ, nhưng chúng ta cũng chẳng có thể làm cho ngày dài thêm hay đời trẻ trung trở lại. Đừng để lỡ cơ hội tìm về nguồn sự sống để hiểu biết về ý nghĩa của những sự cao siêu trên trời, nơi Đức Kitô đang ngự bên hữu Thiên Chúa Cha.

Tự vấn, Chúa Kitô phục sinh có mang lại niềm vui cho tâm hồn chúng ta hay không? Sự kiện Chúa Kitô chịu chết và sống lại có ý nghĩa gì không? Chúng ta đang cố công vun đắp cho sự sống này, nhưng đừng quên niềm hy vọng sự sống vĩnh cửu đời sau. Cuộc lữ hành trần thế của chúng ta phải hướng tới cùng đích. Chúa Kitô là ánh sáng và sự sống. Hãy gắn kết chặt chẽ với Chúa Kitô là nguồn sự sống. Chúa Giêsu nói rằng không có Thầy, chúng con không thể làm gì được. Có Chúa, chúng con sẽ có tất cả. Hãy dục lòng tin, cậy và mến, để chúng ta biết phó thác cuộc đời trong sự quan phòng của Chúa.

Lạy Chúa, Chúa đã phục sinh từ cõi chết. Alleluia. Chúa Kitô là hoa qủa đầu mùa của những kẻ yên giấc, xin cho chúng con biết đặt niềm tin yêu và hy vọng vào sự phục sinh của Chúa, hầu chúng con cũng sẽ được tham dự vào sự sống vĩnh cửu ngày sau.

Lm. Giuse Trần Việt Hùng

Tam Nhật Thánh Năm A

THỨ NĂM TUẦN THÁNH.

VƯỢT QUA

(Xh 12, 1-8.11-14; 1Cor 11, 23-26; Ga 13, 1-15). 

Hằng năm các tín hữu đạo Do-thái tưởng niệm lễ Vượt Qua một cách rất long trọng. Thiên Chúa đã cứu cha ông họ ra khỏi cảnh làm nô lệ nơi xứ Ai-cập. Trước khi ra đi, người Do-thái đã ăn bữa tiệc Vượt Qua với thịt chiên nướng, rau đắng và bánh không men. Chúng ta không thể tưởng tượng được biến cố lịch sử vĩ đại này. Đã có khoảng 600 ngàn người, không kể trẻ em đã rời Ai-cập để tiến vào miền Đất Hứa. Họ ra đi một cách vội vã và khẩn cấp cùng với đoàn súc vật.  Đã có hơn 430 năm lập nghiệp tại xứ người, cuộc sống và giang san của họ cũng đã ổn định. Chắc chắn họ cũng đã sở hữu đất đai, ruộng vườn, nhà cửa và chợ búa xóm làng. Vâng lệnh Chúa, họ đã phải từ bỏ mọi gắn bó với cuộc sống qua nhiều đời. Một hy sinh vô cùng lớn lao.

Chúa Giêsu rất trung thành với các truyền thống tôn giáo, hằng năm Chúa đều trở về Giêrusalem ăn mừng lễ Vượt Qua. Để chu toàn sứ mệnh cứu rỗi nhân loại, Chúa Giêsu không dừng lại ở việc tưởng niệm lễ Vượt Qua của người Do-thái. Chúa đã dẫn dắt lịch sử ơn cứu độ tới một lễ Vượt Qua trong giao ước mới. Giao ước tình yêu bằng giá máu của chính Ngài. Chúa Giêsu đã về tham dự lễ Vượt Qua cuối cùng tại Giêrusalem. Chúa hiểu rõ về sứ mệnh phải hoàn tất. Chúa Giêsu đã tỉ mỉ chuẩn bị tinh thần và dậy dỗ các tông đồ trong cách thế phục vụ và mục vụ. Một cử chỉ vô cùng ấn tượng là Chúa Giêsu lấy nước và cúi xuống rửa chân cho từng môn đệ. Ngài đã tự hạ tới cùng để thi hành công việc của các đầy tớ. Bài học khiêm nhường này là nền tảng của các nhân đức trong việc phục vụ anh chị em.

Rửa chân cho nhau có nghĩa là phục vụ lẫn nhau, tha thứ cho nhau và yêu thương nhau. Đã dám cúi xuống rửa chân thì không còn phân biệt bàn chân dơ hay sạch, bàn chân người lạ hay quen và bàn chân của người thân hay kẻ thù, bài học của Chúa qua đỗi thẳm sâu. Chúa đã rửa chân cho tất cả các tông đồ. Ngài đã chuẩn bị tâm hồn các tông đồ để sẵn sàng lãnh nhận mầu nhiệm tình yêu hiến dâng. Chúng ta biết rằng thánh Phaolô không được tham dự các nghi lễ này cùng với các tông đồ trong bữa Tiệc Ly. Phaolô cũng không học từ các tông đồ, nhưng được chính Chúa Kitô phục sinh mạc khải cho.

Cốt lõi của Giao Ước mới là hiến lễ của Chúa Kitô trên thập giá. Liên kiết giữa Bí tích Thánh Thể và Hy lễ hiến dâng là một. Mừng lễ Vượt Qua mới, Chúa Giêsu đã không dùng máu chiên bò tanh hôi, nhưng chính Máu Châu Báu của Ngài làm lễ dâng. Bí tích Tình Yêu được hoàn tất trên thánh giá. Thân xác của Chúa bị nộp, bị đánh tan nát bầm dập, bị gai nhọn đâm thấu và đinh đóng rách nát thị da. Máu Tân Ước là giá máu của những vết thương đòn đánh và lưỡi đòng đâm thấu trái tim. Thịt Máu của Chúa trở thành lễ dâng vô giá, có thể xóa sạch hết mọi tội nhơ. Chúa Kitô chỉ cần dâng hiến một lần là đủ. Trong tất cả các thánh đường Công Giáo, trước bàn thờ tế lễ luôn có tượng chịu nạn, Chúa Giêsu chịu đóng đinh trên thánh giá. Nhắc nhở chúng ta rằng hy tế hiến dâng lên Chúa Cha là Con xin vâng ý Cha mọi đàng. Chúa Kitô muốn hy tế được tiếp tục là dấu chỉ của tình yêu hiến dâng: Các con hãy làm việc nầy mà nhớ đến Ta. Chúng ta tưởng nhớ đến việc Chúa đã chịu đau khổ, chịu chết và sống lại để cứu độ trần gian.

Lạy Chúa, chúng con bước vào Tam Nhật Thánh, cao điểm của tất cả các Nghi thức Phụng Vụ, xin cho chúng con được tham dự tích cực vào đời sống ân sủng mà Chúa đã trao ban cho Giáo Hội. Chúng con tưởng nhớ biến cố Chúa đã chịu đau khổ, chịu chết và sống lại để cứu độ chúng con.

THỨ SÁU TUẦN THÁNH. 

TỪ TRẦN

(Is 52, 13-53, 12; Dt 4, 14-16. 5, 7-9; Ga 18, 1-19, 42).

Bầu khí ngày Thứ Sáu Tuần Thánh nơi các thánh đường thật vắng lặng. Hôm nay, ngày duy nhất trong năm phụng vụ, không có cử hành thánh lễ. Chỉ có phần Nghi thức Phụng vụ Lời Chúa, Suy tôn hôn kính Thánh Giá và Rước lễ. Giáo Hội mời gọi các tín hữu dành thời gian suy gẫm về sự thương khó của Chúa Giêsu và ăn chay kiêng thịt. Trong phần Phụng vụ Lời Chúa chiều nay, chúng ta nghe bài ca thứ tư về người Tôi Trung của tiên tri Isaia. Đây là hình bóng của Chúa Giêsu trong ngày chịu thương khó. Chúa Kitô đã mặc thấy thân phận của người tôi tớ và hoàn tất mọi lời các tiên tri đã loan báo.

Người Tôi Trung đã trải nghiệm mọi khổ đau của con người, để nhờ đó mà gánh lấy tội ác của chúng ta. Người ta coi người như kẻ bị Thiên Chúa đánh phạt, ruồng bỏ như kẻ phong cùi và bị nhuốc hổ. Người tôi trung không làm điều chi bất chính, nhưng đã chịu mọi sự xỉ nhục và thương tích để mọi người được chữa lànhNhờ sự đau khổ và sự chết, người tôi tớ trung thành đã hoán cải và mở đường cứu rỗi đem nhiều người trở về cùng Thiên Chúa Cha. Tiên tri Isaia đã tiên báo mọi chi tiết diễn tiến trong cuộc khổ nạn mà người tôi tớ Chúa sẽ phải chịu. Qua khổ ải, người tôi trung sẽ được vinh thăng tấn phát và cao cả tuyệt vời.

Chỉ vỏn vẹn trong ba năm, Chúa Giêsu đã đi rảo khắp vùng từ Galilêa, qua Samaria và Juđêa để rao truyền chân lý tin mừng. Chúa giảng đạo một cách công khai cho dân chúng khắp vùng. Chúa Giêsu có đời sống thanh bạch, rao giảng sự thật và làm các phép lạ công khai. Có nhiều người muốn bắt bẻ về cách hành xử và lời giảng của Chúa, nhưng Chúa đã đáp lại một cách rất khôn ngoan và chân thành. Tuy nhiên, não trạng của các nhà lãnh đạo tôn giáo không dễ đổi thay, nên đã gây nhiều cớ cho sự xúc phạm. Tâm trí của nhiều người bị che khuất, nên không thể nhận ra được sứ mệnh cứu thế thực sự của Chúa Kitô.

Cả hệ thống chính quyền và tôn giáo tìm cớ để kết án tử hình Chúa Giêsu. Bài thương khó của thánh Gioan có rất nhiều chi tiết về cuộc hành khổ Chúa. Chúa Giêsu trả lời một cách rất khẳng khái rõ ràng về sứ mệnh của Ngài. Nước của tôi không thuộc về thế gian này. Chúa đến để làm chứng cho sự thật. Sự thật của Tin mừng cứu độ. Chúa xuống trần để mở đường dẫn đưa con người vào chung hưởng hạnh phúc viên mãn, vì Chúa là đường, là sự thật và là sự sống. Có nghĩa là Chúa muốn giúp chúng ta tìm ra con đường giải thoát, con đường sự thật, sống trong bình an và hoan lạc cả đời này lẫn đời sau.

Làm sao chúng ta nhận biết đâu là chân lý? Chúa Giêsu nhắc nhở rằng ai thuộc về chân lý thì nghe Chúa: Hễ có thì phải nói có, không thì phải nói không. Thêm thắt điều gì là do ác quỷ (Mt 5, 37). Chúng ta đang sống trong một thế giới bát nháo, vàng thau lẫn lộn và khó phân biệt phải trái, đúng sai hoặc tốt xấu. Trào lưu xã hội đẩy đưa con người vào những thị hiếu choáng ngợp hấp dẫn. Việc gì cũng có thể làm. Với khoa học kỹ thuật công nghiệp tiến bộ ngoài sức tưởng tượng, người ta có thể tạo hình, ghép cảnh, ngụy ngôn, cắt xén sửa đổi thông tin, truyền thông bất cập, thông tin một chiều và nhiều hình thức ngụy trang khác. Chúng ta phải hết sức cẩn thận phân tích và kiểm chứng khi tìm đọc các tin tức trên sách vở, báo chí và các trang mạng. Đôi khi chúng ta lại thích chạy theo các tin tức giật gân, tin nóng và tin vịt mà không để tâm đến Tin Mừng của Chúa. Chúa Giêsu đến trong thế gian để làm chứng cho sự thật và chỉ có sự thật mới giải thoát chúng ta.

Chân lý là từ trên ban xuống. Chúa Thánh Thần là Thần Chân Lý. Làm nhân chứng cho sự thật là làm nhân chứng cho Chúa. Sự thật thì sáng tỏ và đơn sơ. Lời Chúa là lời sự thật. Chúng ta hãy đọc, tìm hiểu, suy gẫm và đem lời Chúa ra thực hành trong cuộc sống. Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, Đấng vô tội. Chúa đã thắng vượt tất cả những thử thách, cạm bẫy và mưu mô của con người. Chúa Giêsu đã sống trọn vẹn bản tính của Thiên Chúa và loài người. Con người của Chúa đã trải qua mọi sự đau khổ cùng cực nhất của kiếp người. Chúng ta hãy chạy đến với trái tim đầy lòng thương xót của Chúa. Chúa sẽ đón nhận mọi tâm tư cần thố lộ tâm tình và sự cảm thông nâng đỡ.

Lạy Chúa, chúng con tưởng niệm Chiều Tử Nạn, Chúa đã hoàn tất sứ mệnh nơi trần gian. Xin cho chúng con biết thông phần đau khổ để đền vì tội lỗi của chúng con. Xin cho chúng con biết vác thập giá hằng ngày mà đi theo Chúa cho tới cùng. Lạy Chúa, xin thương xót chúng con.

THỨ BẢY TUẦN THÁNH

CANH THỨC

(Mt 28, 1-10).

Chiều thứ Sáu nơi đỉnh đồi Golgôtha, Chúa Giêsu đã trút hơi thở trên thánh giá. Xác Chúa được hạ xuống, tắm rửa, xức thuốc thơm và được mai táng trong mồ. Gần trong khu vườn có ngôi mộ mới, chưa chôn ai. Xác của Chúa được đặt trong ngôi mộ mới nầy và có tảng đá lấp cửa mồ.

Trong sự thinh lặng của ngày Thứ Bảy Tuần Thánh, Giáo Hội mời gọi chúng ta cùng gẫm suy về những biến cố của cuộc đời Chúa Giêsu. Khởi đầu, Chúa Giêsu được sinh ra trong hang lừa máng cỏ tại Bethlehem. Ít ngày sau, qua mộng báo, cha Giuse và mẹ Maria đã đem Chúa trẻ thơ trốn chạy sang nước Ai-cập khỏi sự lùng giết của vua Hêrôđê. Sau khi vua Herôđê băng hà, gia đình thánh thất đã trở về làng Nazarét, vùng Galilêa để lập nghiệp. Chúa Giêsu đã âm thầm sinh sống và trưởng thành tại miền đất nhỏ bé nầy. Từ miền Nazarét, hằng năm Chúa Giêsu theo cha mẹ trẩy về thành thánh Giêrusalem để mừng lễ Vượt Qua của người Do-thái.

Tam thập như lập, Chúa đã ra rao giảng Tin mừng cứu độ, thực hiện các phép lạ và chọn lựa huấn luyện các môn đệ để tiếp tục sứ mệnh. Vỏn vẹn ba năm trời, Chúa đã rảo khắp các vùng từ Galilêa xuống Giuđêa rao giảng, canh tân và mời gọi mọi người sám hối vì Nước Chúa đã đến gần.

Chúng ta có thể nhìn tổng quát hành trình giảng đạo của Chúa gần quê nhà, chung quanh vùng biển hồ Galilêa: Chúa Giêsu sinh sống bằng nghề mộc tại Nazarét, khởi đầu rao giảng và chịu phép rửa của Gioan tại sông Giođan, biến hình trên núi Tabor, dự tiệc cưới tại Cana và làm phép lạ hóa nước thành rượu, đi dọc bãi biển chọn gọi các môn đệ đầu tiên tại Magdala, giảng trên núi Tám Phúc, dậy dỗ tại Capernaum, làm phép lạ cho sóng biển yên lặng tại Tabgha và phép lạ bánh cá hóa nhiều tại Bethsaida, ngồi trên thuyền giảng đạo gần Chozarin, đi trên mặt nước biển hồ Galilêa, xua trừ quỷ ám khiến đàn heo xô xuống biển tại Gergesa, truyền các tông đồ thả lưới bên phải thuyền, truyền ông Phêro ra câu cá lấy đồng bạc đóng thuế gần Hippos và các tông đồ bứt lúa trên đường đi qua ruộng lúa vào ngày Sabát.

Chúa Giêsu đã hoàn tất những lời tiên báo của các tiên tri. Trong khi đi rao giảng, Chúa Giêsu đã mạc khải về Nước Trời, về Chúa Cha và Chúa Thánh Thần. Mạc khải về chính mình qua lời giảng dậy có uy quyền biến đổi tâm can. Các phép lạ chữa lành các thứ bệnh tật, xua trừ ma quỷ, biến đổi thiên nhiên và cho kẻ chết sống lại. Qua các quyền phép lạ lùng đã chứng minh Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa. Chúa mở cửa Nước Trời đón nhận những ai tin vào Ngài.

Sáng thứ Bảy Tuần Thánh, khung cảnh nhà thờ vắng lặng, gian cung thánh không có hoa nến, nhà tạm bỏ ngỏ và không có cử hành bất cứ nghi thức phụng vụ nào cho đến tối vọng Phục Sinh. Giáo Hội khuyến khích mọi thành phần dân Chúa canh thức trong suy gẫm nguyện cầu. Thực tế cuộc sống đạo hôm nay, hình như ý nghĩa nhiệm mầu của ngày thứ Bảy Tuần Thánh bị phai nhạt dần sự thánh thiêng, bù lại là những tổ chức hình thức bên ngoài ồn ào lấp đầy khoảng trống im lặng. Có nhiều giáo xứ tổ chức rầm rộ mai táng Chúa, rồi hôn chân và rước nả xầm uất như ngày hội. Chúng ta đang đánh mất sự thinh lặng thánh trong khi tưởng niệm Chúa Giêsu còn chôn trong mồ đá.

Vào tối vọng Phục Sinh, Giáo Hội cử hành đại lễ, trang trí hoa đèn lộng lẫy. Trước thánh lễ, có nghi thức làm phép lửa, nến Phục Sinh được thắp lên và đoàn dân Chúa vừa tiến bước vào cung thánh vừa hát: Ánh sáng Chúa Kitô và mọi ngừoi thưa: Tạ ơn Chúa. Linh mục chủ tế sẽ xông hương và hát Mừng Vui Lên (Exultet). Tối nay, phần Phụng vụ lời Chúa dài với các bài đọc trích từ Sách Sáng Thế Ký, Xuất Hành, Sách Các Tiên Tri Isaia, Ezekien, Barúc…đáp ca các Thánh Vịnh và Lời nguyện. Tiếp theo là hát Kinh Vinh Danh trọng thể và chuông nhà thờ vang vọng inh ỏi. Sau khi nghe bài trích thơ của thánh Phaolô, cộng đoàn dân Chúa hát: Alleluia, Alleluia mừng Chúa Phục Sinh. Công bố tin mừng Chúa đã sống lại.

Vọng Phục Sinh là cao điểm nhất trong các cử hành trong năm Phụng Vụ. Giáo Hội khởi đầu một sứ vụ mới trong một niềm tin mới. Niềm tin vào Chúa Kitô Phục Sinh trong một tổ chức tôn giáo mới, đó là Đạo Công Giáo. Đạo mới không còn giữ luật của ngày Sabát, nhưng sống ngày Chúa Nhật là ngày của Chúa.

Lm. Giuse Trần Việt Hùng

TỪ NHỮNG CHIẾC KHĂN LIỆM ĐƯỢC XẾP GỌN

Lịch sử nhân loại được chia làm hai nửa: trước khi và sau khi tảng đá lấp cửa mộ bị lăn ra. Biến cố Phục Sinh không chỉ là một sự kiện “đã qua”, mà là một thực tại đang tiếp diễn, xoay chuyển mọi trật tự của vũ trụ. Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô đã khẳng định: “Sự Phục Sinh của Chúa Giêsu không phải là một sự kiện riêng lẻ mà chúng ta có thể gạt bỏ như một điều gì đó chỉ thuộc về quá khứ, nhưng nó cấu thành một “bước nhảy vọt mang tính tiến hóa” - một cách so sánh, mặc dù dễ bị hiểu sai. Trong sự Phục Sinh của Chúa Giêsu, một khả năng mới đạt được sự hiện hữu của con người, ảnh hưởng đến tất cả mọi người và mở ra một tương lai mới cho nhân loại.” [1]

  1. Bình minh của công trình tạo dựng mới.

Tin Mừng Gioan bắt đầu trình thuật bằng một chi tiết thời gian đầy ngụ ý: “Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, bà Maria Mácđala đi đến mộ, thì thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ” (Ga 20: 1). Trong thần học của Thánh Gioan, bóng tối không chỉ là thời gian vật lý, mà là biểu tượng cho tình trạng của nhân loại trước khi Ánh Sáng Phục Sinh bừng lên. Bà Maria Mácđala đại diện cho nhân loại đang dò dẫm bước đi trong đêm tối thất vọng của cõi chết. Việc bà thấy “thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ” gây nên một cú sốc tâm lý. Phản ứng của bà là phản ứng của một người vẫn còn bị giam hãm trong suy nghĩ trần thế: “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ; và chúng tôi chẳng biết họ để Ngài ở đâu” (Ga 20: 2). Bà chưa nghĩ đến sự phục sinh, bà chỉ nghĩ đến một vụ trộm mộ hoặc sự xúc phạm đến thi hài. Nhưng rồi chính Đấng Phục sinh đã gọi chính tên bà: “Chúa Giêsu gọi bà: Maria!” (Ga 20: 16).

Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã nói về Maria Mađalêna: “Nhiều lần người ta nhắc đến việc Maria Mácđala quay lại…Trong nước mắt, Maria Mácđala nhìn vào bên trong ngôi mộ trước, rồi quay lại: Đấng Phục Sinh không ở bên phía sự chết, mà ở bên phía sự sống. Người ta có thể nhầm Ngài với một trong những người chúng ta gặp mỗi ngày. Rồi, khi nghe thấy tên mình được gọi, Tin Mừng nói rằng Maria Mácđala lại quay lại. Và niềm hy vọng của Maria Mácđala lớn lên như vậy: giờ đây Maria Mácđala nhìn thấy ngôi mộ, nhưng không giống như trước nữa. Bà có thể lau khô nước mắt, vì Bà đã nghe thấy tên mình: chỉ có Thầy mới gọi tên Bà như vậy. Thế giới cũ dường như vẫn còn đó, nhưng nó đã không còn như cũ nữa” (Bài giáo lý, buổi tiếp kiến chung, thứ Bảy, 01/ 02/2025).

Đức Giáo Hoàng nêu ra một câu hỏi cho mọi người: “Khi chúng ta cảm nhận được Chúa Thánh Thần đang tác động trong lòng mình, và cảm nhận được Chúa đang gọi tên mình, liệu chúng ta có biết cách phân biệt giọng nói của Vị Thầy không?” (đdt).

  1. Cuộc chạy đua đến niềm tin

Tại sao thánh sử Gioan lại nhắc đến việc mình đã đến mộ trước Phêrô ba lần? Dĩ nhiên thánh sử không hề có ý định hơn thua đố kỵ nhỏ nhen như đã từng có người nghĩ theo kiểu chủ quan duy cảm. Điều gì sẽ xảy ra nếu trong Giáo hội sơ khai có sự bất đồng dựa trên các truyền thống truyền miệng khác nhau? Một số người khẳng định rằng chính Gioan là người đầu tiên nhìn thấy thi hài Chúa Giêsu bị mất tích. Một số khác lại khẳng định rằng chính Phêrô mới là người đầu tiên nhìn thấy thi thể Chúa Giêsu bị mất tích? Trong trường hợp này, thánh sử Gioan đã xuất hiện và đưa ra lời giải thích cần thiết. Ai là người đầu tiên, Gioan hay Phêrô? Cả hai câu trả lời đều đúng. Gioan là người đến mộ trước. Nhưng Phêrô là người vào trong mộ trước. Sự phục sinh của Chúa Giêsu mới là trọng tâm tuyệt đối của đức tin, là điều cốt lõi của chính Tin Mừng, nếu thiếu điều đó thì mọi thứ đều sụp đổ.

Hơn thế nữa, việc “Cả hai người cùng chạy. Nhưng môn đệ kia chạy mau hơn ông Phêrô và đã tới mộ trước” (Ga 20: 4) là một hình ảnh sống động về Giáo hội. Một bên là Phêrô, đại diện cho phẩm trật và quyền bính; một bên là “người môn đệ kia” (Ga 20: 3) đại diện cho tình yêu và chiêm niệm.

Hans Urs von Balthasar nhận xét rằng Phêrô đại diện cho chức vụ giáo hội, Giáo hoàng. Còn Gioan tượng trưng cho tình yêu thương trong giáo hội. Tình yêu, vì không bị gánh nặng bởi những lo toan của chức vụ, nên tiến bước nhanh hơn. “Tuy nhiên, Tình yêu thương nhường bước cho chức vụ khi nói đến việc kiểm tra ngôi mộ, và do đó Phêrô trở thành người đầu tiên nhìn thấy tấm vải che đầu Chúa Giêsu và xác nhận rằng không có sự trộm cắp nào xảy ra.” Rồi Tình yêu bước vào, “và ông đã thấy và tin.” Von Balthasar nói điều này cho thấy rằng “đức tin vào Chúa Giêsu Phục sinh được chứng minh là đúng đắn bất chấp mọi sự mơ hồ của hoàn cảnh.” [2]

  1. Những dây băng nhỏ và chiếc khăn liệm che đầu

Bằng chứng của sự sống lại được Thánh Gioan mô tả rất kỹ: “Dây băng nhỏ để đó... khăn liệm che đầu…cuộn lại để riêng một chỗ” (Ga 20: 6-7). Đây là những chi tiết cực kỳ quan trọng để bác bỏ giả thuyết trộm xác. Một kẻ trộm xác sẽ không bao giờ mất thời gian để tháo băng vải và cuộn khăn liệm một cách ngăn nắp như vậy.

Thánh Gioan Kim Ngôn giải thích rằng: “Vì nếu có ai đó đã di dời thi thể, thì trước khi làm vậy họ cũng sẽ không cởi bỏ vải liệm; và nếu có ai đó đã đánh cắp thi thể, thì họ cũng sẽ không buồn tháo khăn che đầu ra, cuộn lại và đặt ở một nơi riêng biệt. Gioan đã báo trước cho chúng ta rằng thi thể được chôn cất với rất nhiều mộc dược, kết dính vải liệm vào thi thể chắc chắn không kém gì chì; Khi các bạn nghe nói rằng chiếc khăn che đầu được đặt riêng, các bạn sẽ không thể chấp nhận những người nói rằng Ngài đã bị đánh cắp. Vì một tên trộm sẽ không ngu ngốc đến mức bỏ nhiều công sức vào một việc không cần thiết…Việc đó không phải của một người đang rối loạn hoặc vội vàng, vốn không thể đặt một số ở nơi này, một số ở nơi khác, và cuộn chúng lại với nhau. Từ điều này, chúng ta tin vào sự Phục Sinh.” [3]

Gioan không thấy Chúa Phục Sinh ngay lúc đó bằng mắt trần, nhưng ông thấy “ý nghĩa” của ngôi mộ trống. “Ông thấy và ông tin” (Ga 20: 8). Đức tin bắt đầu từ việc nhận ra những dấu chỉ nhỏ bé nhất của quyền năng Thiên Chúa giữa những đổ nát của cuộc đời.

  1. Căn tính mới của Kitô hữu: sống lại với Chúa Kitô

Nếu Phục Sinh chỉ là chuyện của Chúa Giêsu, thì đó là một phép lạ vĩ đại nhưng xa lạ, nhưng thánh Phaolô khẳng định: “Anh em đã sống lại với Chúa Kitô” (Cl 3: 1).

Ngài kêu gọi: “Anh em hãy tìm những sự trên trời”. Ưu tiên chọn lựa những sự trên trời không có nghĩa là chúng ta chối bỏ thế giới này hoặc sống thiếu trách nhiệm với trần thế. Thánh Ignatius Loyola nói: “Người nào mang Chúa trong lòng thì mang thiên đàng theo mình đến bất cứ nơi đâu”, hoặc như thầy Thomas Winninger nói: “Các vị thánh đã lên Thiên đàng trước khi họ thực sự lên Thiên đàng.” Mẹ Mary Angelica Truyền Tin, Người sáng lập Mạng Lưới Truyền Hình Ngôi Lời Vĩnh Cửu - EWTN, nói: “Bạn không thể lên Thiên đàng nếu vẫn còn lòng thù hận. Hãy tha thứ ngay bây giờ. Hãy thương xót ngay bây giờ. Hãy kiên nhẫn ngay bây giờ. Hãy biết ơn ngay bây giờ. Hãy yêu mến Chúa Giêsu và Mẹ Maria ngay bây giờ. Hãy chấp nhận ý muốn của Chúa ngay bây giờ.” [4]

Những sự dưới đất” mà Phaolô cảnh báo chính là cái tôi ích kỷ, chỉ biết mình, và những đam mê xác thịt làm lu mờ phẩm giá con người. Kitô hữu sống trong thế gian nhưng không thuộc về thế gian. Câu nói mang tính huyền nhiệm nhất của đoạn văn này là: “Sự sống anh em được ẩn giấu với Chúa Kitô trong Thiên Chúa” (Cl 3: 3). Tại sao lại là “ẩn giấu”?

Thánh Gioan Thánh Giá đã viết: “Cần phải biết rằng Thiên Chúa ngự trong mọi linh hồn cách kín đáo và ẩn mình trong bản chất của các linh hồn, nếu không thì các linh hồn sẽ không tồn tại mãi mãi…Chính khi những ham muốn và khoái lạc của bản thân càng ít ngự trị trong linh hồn, thì linh hồn càng sống an tịnh hơn, và như thể đang ở trong chính ngôi nhà của mình, cai quản và điều khiển nó…Đấng Yêu Dấu sống kín đáo với một vòng tay ôm ấp càng gần gũi, thân mật và sâu thẳm hơn, khi linh hồn càng thuần khiết và tách biệt khỏi mọi thứ khác ngoại trừ Thiên Chúa” (Ngọn lửa tình yêu sống động, đoạn 4, số 14) [5]

Đây là nguồn an ủi lớn lao cho những ai đang đau khổ, thất bại hoặc bị thế gian khinh miệt. Giá trị thực sự của người môn đệ Chúa Kitô không nằm ở những gì người khác thấy, mà ở việc họ được “ẩn giấu” trong cung lòng Thiên Chúa.

  1. Sứ vụ của chứng nhân

Trình thuật sách Công vụ Tông đồ cho thấy Sứ mạng công bố Tin Mừng Phục Sinh. Thánh Phêrô, sau khi lãnh nhận Chúa Thánh Thần, đã trở thành một con người hoàn toàn mới. Thánh nhân không còn sợ hãi, nhưng dõng dạc tuyên bố: “Còn chúng tôi đây xin làm chứng về mọi việc Ngài đã làm…Chúng tôi đã được cùng ăn cùng uống với Ngài, sau khi Ngài từ cõi chết sống lại” (Cv 10: 34-43).

Chi tiết “Chúng tôi đã được cùng ăn cùng uống với Ngài, sau khi Ngài từ cõi chết sống lại” (Cv 10: 41) là một lời khẳng định mạnh mẽ chống lại mọi thuyết ngộ đạo - gnosticism cho rằng Chúa Giêsu chỉ hiện ra như một bóng ma. Ăn uống là hành động của một cơ thể sống, thực tế và hữu hình.

Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã nhấn mạnh: “Chứng tá của các Tông đồ không dựa trên một ý tưởng hay một hệ tư tưởng, mà dựa trên một cuộc gặp gỡ. Họ đã chạm vào Ngài, đã ăn cùng Ngài. Phục Sinh là một sự kiện thể lý mang tính cách mạng tâm linh” (Sứ điệp Phục sinh, 2021).

Phêrô kết thúc bài giảng bằng một lời hứa: “Phàm ai tin vào Ngài thì sẽ nhờ danh Ngài mà được ơn tha tội” (Cv 10: 43). Chiến thắng cái chết của Chúa Giêsu đồng thời là chiến thắng tội lỗi. Cái chết là lương bổng của tội lỗi; khi cái chết bị đánh bại, quyền lực của tội lỗi cũng bị bẻ gãy.

Chúng ta hôm nay cần sống mầu nhiệm Vượt Qua giữa đời thường, không sợ bóng tối của “ngày đầu tuần”. Mỗi chúng ta đều có những lúc “trời còn tối” trong cuộc đời: bệnh tật, sự phản bội, sự mất mát người thân. Maria Mađalêna đã dạy chúng ta rằng: ngay cả khi cảm thấy Chúa bị mất đi, hãy cứ tiếp tục tìm kiếm. Chính nơi bóng tối của ngôi mộ, chúng ta sẽ thấy tảng đá đã được lăn ra.

Chúng ta hãy lăn tảng đá của sự thờ ơ. Nhiều khi chúng ta tự nhốt mình trong những ngôi mộ của sự ích kỷ, sự oán giận. Lễ Phục Sinh là lời mời gọi: hãy lăn tảng đá đó đi! Đừng để khăn liệm và dây băng của quá khứ trói buộc chúng ta thêm nữa. Chúa đã phục sinh để chúng ta được tự do.

Chúng ta hãy sống niềm hy vọng phục sinh. Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI đã viết: “Người có hy vọng thì sống khác; người có hy vọng đã được ban tặng một cuộc sống mới” (Thông điệp Spe Salvi, số 2). Sự phục sinh không phải là một sự an ủi hão huyền về thế giới bên kia, nhưng là sức mạnh để chúng ta đương đầu với thế giới này. Vì chúng ta biết rằng, dù “thân xác có phải chết”, thì Thần Khí đang ngự trong chúng ta sẽ làm cho nó được sống lại (Rm 8: 11).

Lễ Phục Sinh không kết thúc ở ngôi mộ trống, nhưng bắt đầu từ chính ngôi mộ đó, trong trái tim của Gioan khi ông “thấy và tin”. Lễ Phục Sinh bắt đầu nơi miệng lưỡi của thánh Phêrô khi ngài rao giảng tại nhà ông Cornêliô. Và lễ Phục Sinh phải bắt đầu trong cuộc đời chúng ta hôm nay, như ĐGH Phanxicô khẳng định: “Đấng chịu đóng đinh trên thập tự giá đã sống lại! Mọi câu hỏi và sự không chắc chắn, sự do dự và nỗi sợ hãi đều tan biến bởi sự mặc khải này. Đấng Phục Sinh ban cho chúng ta sự chắc chắn rằng điều thiện luôn chiến thắng điều ác, sự sống luôn chiến thắng cái chết, và mục đích của chúng ta không phải là ngày càng sa sút, từ đau khổ này đến đau khổ khác, mà là vươn lên cao” (Suy tư Tam Nhật Thánh, 31 tháng 3 năm 2021).

Ước gì niềm vui Phục Sinh biến đổi chúng ta từ những người bị đè nặng bởi những nỗi sợ hãi, đau khổ, điều ác và cái chết u sầu thành những sứ giả của ánh sáng đem lại sự sống đời đời, để trong mọi hoàn cảnh, chúng ta đều có thể hô vang: “Alleluia! Chúa đã sống lại thật rồi!”

 

Phêrô Phạm Văn Trung

 

[1] https://www.spesalviinstitute.com/post/pope-benedict-xvi-s-jesus-of-nazareth-holy-week-from-the-entrance-into-jerusalem-to-the-resurrecti#:~:text=

[2] https://catholicreview.org/resurrections-reality-rooted-in-truth-of-empty-tomb/#:~:text=          

[3] https://www.lectionarycentral.com/easter/ChrysostomGospel.html

[4] https://catholicquotations.com/heaven-and-hell/

[5] https://www.jesus-passion.com/LivingFlameLove.htm  

 

CHƯA RỜI TIỆC, ĐÃ RỜI TÌNH

Thứ Tư Tuần Thánh A

“Rabbi, chẳng lẽ con sao?”.

“Hai tình yêu đã làm nên hai đô thị: yêu mình đến khinh Chúa; và yêu Chúa đến quên mình!” - Augustinô.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay không đặt chúng ta trước một hành động bộc phát, nhưng trước một chuyển động trượt dần của con tim: khi tình yêu bắt đầu đổi hướng! Giuđa ‘chưa rời tiệc’, nhưng ‘đã rời tình’: “Rabbi, chẳng lẽ con sao?”.

Một chi tiết rất kín kẽ nhưng lại thật thâm trầm. Các môn đệ hỏi, “Thưa Ngài, có phải con không?”, còn Giuđa - “Thưa Rabbi, có phải con không?”. Không chỉ khác cách xưng hô, nhưng là một “chuyển trục tương quan”. “Ngài” là “Chúa”, Đấng tôi thuộc về; “Rabbi” chỉ còn là người tôi học hỏi. Khi Chúa không còn là Chúa mà chỉ còn là “Thầy” của tôi, thì sự rạn nứt đã chớm nở - một sự đổi hướng âm thầm, nhưng quyết định. Tội không bắt đầu ở ba mươi đồng bạc, mà bắt đầu ở cách xưng hô. ‘Chưa rời tiệc’, Giuđa ‘đã rời tình!’. “Sự băng hoại bắt đầu từ những điều rất nhỏ!” - Phanxicô.

Chi tiết “chấm chung một đĩa” cũng không phải là một cử chỉ ngẫu nhiên. Văn hoá Do Thái coi đó là dấu chỉ của sự gần gũi, sự thân tình sâu sắc nhất được chia sẻ trong một bàn ăn. Người cùng chấm là người được đón vào vòng thân mật, không còn khoảng cách. Thế mà chính trong dấu chỉ hiệp thông ấy, sự phản bội lại đâm chồi. Nghịch lý ở đây là Giuđa không phản bội từ xa, nhưng từ chính nơi thiết thân nhất; không ở ngoài bàn ăn, nhưng ngay trong cử chỉ yêu thương nhất. Khi hiệp thông bị rạn từ bên trong, thì cả dấu chỉ đẹp nhất cũng có thể trở thành nơi khởi đi của sự đổ vỡ. “Sự băng hoại của điều tốt nhất là điều tồi tệ nhất!” - Tôma Aquinô.

Vậy mà trình thuật không hề ghi một cử chỉ loại trừ nào từ phía Chúa Giêsu. Ngài không rời bàn, vẫn trao bánh, vẫn để Giuđa ở lại đến cùng. Đây không chỉ là bao dung, nhưng còn là một mặc khải: Thiên Chúa không rút lại hiệp thông! Ở đây, nghịch lý được đẩy lên: ở lại bàn không đồng nghĩa với ở lại trong sự hiệp thông. Đã có một khoảng cách vô hình mở ra ngay giữa sự gần gũi hữu hình. Vì thế, điều đáng sợ không phải là rời bàn, nhưng là ở lại bàn mà không còn thuộc về. Gần Chúa - mà lòng đã quá xa - ‘chưa rời tiệc, đã rời tình!’. “Họ có Thiên Chúa trên môi, nhưng không có Ngài trong lòng!” - Gioan Kim Khẩu.

Anh Chị em,

Trong Thánh Thể, Chúa Giêsu đang lập lại điều ấy: trao chính mình, cả khi biết có những trái tim lạnh dần và đang rạn từ bên trong; những chọn lựa quay lưng lạnh lùng. Nhưng Ngài không rút lại bánh, không đóng cửa bàn tiệc - “Hãy cầm lấy mà ăn!”; và câu hỏi ngày nào vẫn vang lên: “Chẳng lẽ con sao?”. Bạn và tôi sẽ thưa “Ngài” hay “Rabbi?”. Không phải để tuyệt vọng, nhưng để nhận ra: phản bội không bắt đầu bằng một hành động lớn, mà bằng một dịch chuyển nhỏ trong tim - khi Giêsu không còn là “Chúa” của tôi nữa! “Đối nghịch của đức tin không phải là nghi ngờ, nhưng là dửng dưng!” - Elie Wiesel.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, xin chữa lành những trượt dần âm thầm làm con xa Chúa; giữa bàn tiệc đời mình, xin đừng để con đổi cách xưng hô mà không hay!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

Subcategories