3. Sống & Chia Sẻ Lời Chúa

BÌNH MINH CỦA MỘT THỜI ĐẠI MỚI: NƯỚC TRỜI ĐÃ ĐẾN GẦN

"Từ lúc đó, Đức Giêsu bắt đầu rao giảng…"(Mt 4,17)

Sợi chỉ đỏ :

- Bài đọc 1 : lời tiên tri của Isaia "Dân đang lần bước giữa tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng ; đám người sống lầm than trong vùng bóng tối nay được thấy ánh sáng bừng lên chiếu rọi"

- Đáp ca : "Chúa là nguồn ánh sáng, là Đấng cứu độ tôi, tôi sợ gì ai nữa".

- Tin Mừng : Đức Giêsu thực hiện lời tiên tri của Isaia. Ngài đến miền Galilê, một miền có rất đông lương dân, bắt đầu rao giảng rằng "Hãy sám hối, vì triều đại Thiên Chúa đã đến gần". Ngài cũng bắt đầu tuyển chọn môn đệ để cùng Ngài đi loan truyền tin vui ấy.

I. DẪN VÀO THÁNH LỄ

Các kitô hữu đầu tiên đã cảm thấy rất hạnh phúc vì được gia nhập gia đình Giáo Hội. Mỗi ngày Chúa nhựt, họ họp nhau lại trong tâm tình kính mến Chúa và yêu thương nhau. Gương đoàn kết yêu thương của họ đã thu hút thêm rất nhiều người xin gia nhập Giáo Hội.

Hôm nay, chúng ta cũng họp nhau lại như cộng đoàn kitô hữu đầu tiên ấy. Nhưng có lẽ chúng ta không cảm thấy hạnh phúc bằng họ, vì chúng ta không mến Chúa bằng họ, không thương nhau bằng họ. Xin Đức Giêsu, Đấng đã tập họp chúng ta, ban thêm tình yêu trong lòng chúng ta.

Đặc biệt tuần này là tuần lễ Giáo Hội cầu nguyện cho sự hợp nhất các kitô hữu. Chúng ta tha thiết nài xin Chúa cho những người cùng tin một Chúa Kitô biết đoàn kết yêu thương nhau hơn.

II. GỢI Ý SÁM HỐI

- Chúng ta hãy xin Chúa tha thứ vì những chia rẽ, đố kị, ganh ghét trong cộng đoàn họ đạo chúng ta.

- Chúng ta hãy xin Chúa tha thứ vì cuộc sống của chúng ta chưa thực sự là ánh sáng trước mặt muôn dân.

- Chúng ta hãy xin Chúa tha thứ vì chưa quan tâm mang ánh sáng Tin Mừng đến cho lương dân.

III. LỜI CHÚA

1. Bài đọc 1 : Is 8,23--9,3

Bối cảnh lịch sử : năm 721, đế quốc Assyria chiếm miền Bắc xứ Palestina (vương quốc Israel, về sau được gọi là miền Galilê, trong đoạn Tin Mừng này nó được gọi là "đất Dabulon và Néptali"). Assyria bắt thành phần ưu tú của xứ này đi lưu đày và đem nhiều dân ngoại từ các xứ khác đến lập cư ở xứ này, vì thế Galilê lại được gọi là vùng đất của lương dân, là vùng đất tối tăm.

Nhưng ngôn sứ Isaia đã tiên báo rằng sẽ tới ngày Ánh sáng sẽ bừng lên ở miền đất đó, và đám dân lầm than trong bóng tối ấy sẽ được ánh sáng chiếu rọi.

2. Đáp ca : Tv 26

Ý chính của Tv này là ánh sáng hy vọng loé lên từ cảnh khốn cùng : cho dù khốn khổ có nặng nề đến đâu, thử thách có khắc nghiệt thế nào, thì vẫn có một điều chắc chắn, đó là : Thiên Chúa vẫn là ánh sáng và ơn cứu độ. Đó chính là niềm hy vọng của mọi tín hữu khiến họ luôn đứng vững : "Chúa là nguồn ánh sáng và Đấng cứu độ tôi. Tôi sợ gì ai nữa".

3. Tin Mừng : Mt 4,12-23

Đoạn Tin Mừng này đánh dấu kết thúc sứ mạng của Gioan Tẩy giả và bắt đầu sứ mạng của Đức Giêsu. Đức Giêsu bắt đầu sứ mạng tại Galilê, một miền đất vốn được coi là tối tăm, là đất của lương dân. Chính tại miền đất này, Đức Giêsu tuyên bố "Hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần". Như thế, Đức Giêsu thực hiện lời tiên tri của Isaia.

Đức Giêsu cũng kêu gọi 4 môn đệ đầu tiên (Phêrô, Anrê, Giacôbê và Gioan) để cùng Ngài rao giảng Tin Mừng Nước Trời.

4. Bài Thánh Thư : 1 Cr 1,10-13.17

Sau khi mở đầu bức thư bằng những lời chào hỏi (đoạn được trích đọc Chúa nhựt trước), Phaolô đi ngay vào tệ nạn thứ nhất của tín hữu Côrintô là sự chia rẽ nhau.

- Tín hữu Côrintô đã chia ra thành 4 nhóm, mỗi nhóm dựa vào một thừa sai và chống lại các nhóm kia : nhóm theo Phaolô, nhóm theo Apollô, nhóm theo Phêrô (Kêpha) và nhóm theo Đức Kitô.

- Phaolô lập luận để cho thấy việc chia bè phái như thế là sai : tất cả đều thuộc về Đức Kitô, mà Đức Kitô không thể bị chia năm xẻ bảy như thế. Và Phaolô kêu gọi họ hãy hòa thuận, một lòng một ý với nhau.

IV. GỢI Ý GIẢNG

1. Cuộc phiêu lưu vĩ đại từ một vùng đất bị khinh khi

Đối với dân thủ đô, Galilê chỉ là tỉnh lẻ. Đối với người mộ đạo sùng tín, miền Bắc thật đáng ngờ vực. Đó là miền hầu như thuộc ngoại bang, nơi hội tụ dân ngoại. Một dân cư pha tạp, nông dân và ngư dân có giọng nói nặng chịch vốn là đề tài phong phú cho các câu chuyện diễu cợt hằng ngày…

Trong khi những tín đồ chính thống ở kinh đô nghiền ngẫm sự khinh khi, chiêm ngưỡng sự siêu việt của mình, chế diễu và tránh xa những người bị loại trừ ở phía Bắc, thì Đức Messia, Cứu Chúa, ánh sáng muôn dân, tới cư ngụ tại Capharnaum, bên bờ hồ. Xa khỏi kinh đô vĩnh hằng, khỏi thói ngạo mạn, tự tôn, và sự mù quáng của họ….

Chính trên bờ hồ chứ không phải trên các bậc cấp của đền thờ, giữa đám ngư phủ bận rộn chứ không phải nơi những vị tư tế chuyên lo phụng tự mà Đức Giêsu sẽ chọn các môn đệ của Người. Đúng là một nước cờ ngược lại mọi logic.

Chính những người ít khả năng nhất, ít được chuẩn bị nhất lại là những người đầu tiên nhận được ánh sáng và đi theo Đấng là "đường, sự thật và sự sống".

Ngay tức khắc, thành phần lao động đơn sơ chất phác nhưng có trái tim nhạy bén đã tin tưởng vào ngôn sứ… Những người tội lỗi bỗng nhiên bị chất vấn, đã cảm thấy ánh sáng mà ngay những kẻ rắc rối khó tính nhất cũng phải nhượng bộ… và họ đã đi theo Người.

Cuộc phiêu lưu vĩ đại đã khởi đi từ một miền đất bị nguyền rủa. Thế giới mới đã ăn rễ sâu vào vùng đất nhơ uế nhưng cởi mở đón tiếp mọi bất ngờ của Thánh Thần, của Thiên Chúa… (F. Delectos, được trích bởi Fiches dominicales, trang 169-170).

2. Con đường sáng

Cuộc đời chúng ta đầy dẫy bóng tối :

- tối tăm về sự thật : cho dù có nhiều phương tiện truyền thông, Nhưng khó mà biết sự thật.

- tối tăm về tương giao : ngay cả những người sống cạnh nhau cũng chưa hiểu nhau.

- tối tăm do tội lỗi, do mù quáng, do cố chấp hẹp hòi…

- tối tăm do hoàn cảnh bên ngoài nhiều bất công, gian dối, thù hận…

Trong khung cảnh tối tăm ấy, chúng ta hãy nhớ những lời của Đức Giêsu : "Ta là ánh sáng thế gian" (Ga 9,12) ; "Hãy tin vào ánh sáng và các ngươi sẽ trở thành con cái sự sáng" (Ga 12,36).

Nhưng tin vào ánh sáng là gì ? Là tin vào mặc khải của Đức Giêsu, cũng như 4 môn đệ đầu tiên trong bài Tin Mừng hôm nay. Họ đã nghe tiếng gọi của Ngài, đã từ bỏ tất cả để đi theo Ngài. Ngài sẽ giải đáp cho tất cả những băn khoăn thắc mắc của chúng ta ; Ngài sẽ cho ta biết ý nghĩa cuộc đời ta là gì ; Ngài cho chúng ta biết chúng ta có một người Cha trên trời hết lòng yêu thương chúng ta ; Ngài sẽ dạy cho chúng ta biết sống yêu thương như thế nào ; và cuối cùng Ngài sẽ dẫn chúng ta về nhà Cha trên trời.

3. Sự hiệp nhất các kitô hữu

Chúa nhựt hôm nay nằm trong tuần lễ cầu nguyện cho sự hiệp nhất các kitô hữu. Các bài đọc trong Thánh lễ hôm nay cung cấp nhiều chất liệu cho chúng ta suy nghĩ về sự hiệp nhất này :

- Bài đọc 1 : Đức Giêsu là ánh sáng bừng lên giữa thế gian. Ngài muốn soi sáng tất cả mọi người, kể cả các anh em ly khai, những người lạc giáo, những người lương và những người vô thần…

- Bài đọc 2 : Đức Giêsu đã chịu chết vì mọi người và cho mọi người. Nếu các kitô hữu chia rẽ nhau thì chẳng khác gì Đức Giêsu bị chia năm xẻ bảy sao !

- Bài đáp ca : "Điều tôi tìm kiếm khấng xin, là luôn được ở trong nhà Chúa tôi". Tại sao những anh em cùng tin Đức Kitô lại không sống hòa thuận với nhau trong cùng một ngôi nhà của Chúa ?

- Bài Tin Mừng : "Hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần". Tất cả mọi người, dù là công giáo hay tin lành, chính thống v.v. đều phải sám hối về những tội lỗi của mình để có thể được vào Nước Chúa.

4. Chuyện minh họa : "Dân ngồi trong tối tăm đã thấy ánh sáng huy hoàng"

a/ Làm phép nhà

Một bà kia mời Linh mục đến làm phép nhà mình. Bà hướng dẫn Cha đi rảy nước thánh mọi nơi trong nhà : phòng khách, phòng ngủ, nhà bếp, phòng ăn… Cha thấy chỗ nào cũng sạch sẽ và ngăn nắp. Cho nên chỗ nào Cha cũng rảy nước thánh, kể cả cầu thang. Ngay cả hai con mèo đang nằm ngủ trên một bậc thang cũng được Cha rảy nước thánh, khiến nó giật mình thức dậy kêu meo meo và chạy vội đi nơi khác, và mọi người hiện diện phải phì cười.

Sau khi làm phép xong mọi nơi ở nhà trên thì đến hầm kho. Bà chủ nhà chần chừ không muốn dẫn Cha xuống. Vị Linh mục hỏi :

- Sao thế ?

- Dưới đó dơ lắm.

- Càng dơ thì càng phải làm phép chứ.

- Nhưng nó lộn xộn lắm.

- Càng lộn xộn càng phải làm phép.

- Và nó tối tăm lắm.

- Cho nên phải mang ánh sáng đến cho nó.

Lời bàn : Con người chúng ta cũng giống như một gian nhà. Những nơi mình muốn che dấu nhất chính là những nơi tối tăm xấu xa nhất. Nhưng đó cũng là những nơi cần mang ánh sáng tới nhất.

b/ Mang ánh sáng đến chỗ tối tăm

Một ngày kia Mẹ Têrêsa Calcutta đến Melbourne, Australia. Mẹ đi thăm một người nghèo không ai biết đến. Ông sống trong một căn phòng rất tồi tệ, đồ đạc dơ bẩn ngổn ngang. Phòng không có cửa sổ mà cũng chẳng có lấy một bóng đèn.

Mẹ Têrêsa bắt tay vào thu dọn đồ đạc. Ông gắt lên : "Cứ để yên mọi thứ cho tôi". Nhưng Mẹ cứ tiếp tục. Sau khi mọi thứ đã ngăn nắp, Mẹ Têrêxa tìm thấy một chiếc đèn trong một góc phòng. Đèn bám đầy bụi, chứng tỏ lâu lắm rồi không ai đụng đến. Mẹ lau chùi sạch sẽ rồi hỏi :

- Sao lâu nay ông không thắp đèn lên ?

- Thắp làm chi. Có ai đến thăm tôi đâu. Tôi đâu cần thấy mặt ai.

- Thế ông có hứa sẽ thắp đèn lên khi một nữ tu của tôi đến thăm ông không ?

- Vâng, nếu tôi nghe có tiếng ai đến thì tôi sẽ thắp đèn lên.

Từ đó, mỗi ngày, hai nữ tu của Mẹ Têrêxa đều đến thăm ông và giúp đỡ ông. Một hôm ông nói với một trong hai nữ tu ấy :

- Bây giờ tự tôi đã biết thu dọn phòng tôi rồi. Nhưng xin làm ơn về nói với nữ tu đầu tiên rằng ngọn đèn mà Bà đã thắp lên đến nay vẫn sáng.

V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI

CT : Anh chị em thân mến

Đức Giêsu là ánh sáng trần gian. Ai theo Người sẽ không phải đi trong bòng tối, nhưng sẽ nhận được ánh sáng đem lại sự sống. Với quyết tâm sống như con cái sự sáng, chúng ta cùng dâng lời cầu xin.

1. Đức Kitô đã dùng các tông đồ làm nền móng xây dựng Hội Thánh / và đã làm cho Hội Thánh lan rộng khắp hoàn cầu / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho các Giám mục / Linh mục / phó tế / biết chu toàn sứ mạng Chúa trao cho / là nhiệt thành và khôn ngoan lãnh đạo dân Chúa.

2. Từ hai ngàn năm nay / có biết bao kitô hữu đã nhiệt tình đáp lại lời mời gọi của Đức Kitô / hăng say rao giảng Tin Mừng cứu độ / xả thân phục vụ những kẻ bần cùng đói rách / cũng như những người bất hạnh nhất trong xã hội / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho những anh chị em ấy / luôn giữ được niềm phấn khởi lúc ban đầu.

3. Chúa Giêsu kêu gọi / "Anh em phải sám hối vì Triều đại Thiên Chúa đã đến gần" / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho mọi tín hữu hiểu rằng / sám hối là việc phải làm thường xuyên suốt cả cuộc đời / nếu muốn được hiệp thông với Thiên Chúa / vì mang lấy thân phận con cháu Ađam / con người rất dễ phạm tội mà khó làm việc lành.

4. Thánh Phaolô viết / "Anh em hãy nhất trí với nhau trong lời ăn tiếng nói / và đừng để có sự chia rẽ giữa anh em / nhưng hãy sống hòa thuận / một lòng một ý với nhau" / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta / biết luôn cố gắng thực hiện trọn vẹn lời khuyên tha thiết của Thánh Phaolô tông đồ.

CT : Lạy Chúa, chúng con cảm tạ Chúa đã gọi chúng con làm môn đệ Chúa. Xin ban ơn giúp chúng con luôn sống xứng đáng với tình thương hải hà của Chúa. Chúng con cầu xin…

VI. TRONG THÁNH LỄ

- Kinh Tiền Tụng : Nên dùng Kinh Tiền Tụng Chúa nhựt thường niên I, vì có nói tới Giáo Hội, Nước Trời ở trần gian.

- Trước kinh Lạy Cha : Chúng ta hãy đọc kinh Lạy Cha trong tâm tình hiệp nhất với Đức Giêsu và với tất cả những kitô hữu khác cùng một niềm tin vào Ngài.

VII. GIẢI TÁN

Anh chị em đã được ánh sáng Đức Giêsu soi sáng, anh chị em hãy cố gắng sống như con cái sự sáng, và cùng Đức Giêsu xây dựng Nước Thiên Chúa ở trần gian này.

 

Hãy hối cải, vì nước Trời đã gần đến

Bước vào Chúa nhật thứ III thường niên, chúng ta thấy Chúa Giêsu sau khi chịu phép rửa tại sông Giorđan, được Gioan giới thiệu cho mọi người biết Người là : "Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian " (Ga 1, 29). Điều các ngôn sứ đã báo trước nay được thực hiện : "Tại Galilêa các dân tộc và dân chúng thấy một ánh sáng vĩ đại" (Is 9, 1-4  (Hr 8, 23b - 9, 3). Ánh sáng vĩ đại ấy là ai nếu không phải là Chúa Giêsu. Thật thế, Chúa Giêsu xuất hiện giữa dân chúng, như ánh bình minh rạng ngời buổi sáng, xua tan bóng tối đêm đen. Dân chúng thấy Ngài như thấy ánh sáng huy hoàng… xuất hiện cho người ngồi trong bóng tối sự chết (x.Mt 12, 16), ánh sáng ấy nay tỏ rạng công khai khi rao giảng : "Hãy hối cải, vì nước Trời đã gần đến" (Mt 12, 17).

Ánh sáng ấy là Chúa Giêsu

Matthêu giải thích, Chúa Giêsu "rời bỏ thành Nadarét, đến ở miền duyên hải, thành Capharnaum, giáp ranh đất Giabulon và Nepthali". Với địa danh chính xác như thế, nhưng mục đích của tác giả không phải là cung cấp cho chúng ta những chỉ dẫn du lịch. Ý tưởng thần học của Matthêu được giải thích ngay : "Để ứng nghiệm lời đã phán bởi miệng tiên tri Isaia" (Bài đọc I).

Ứng nghiệm điều gì? Giabulon và Nepthali là hai vùng thuộc miền Bắc lúc ấy đang bị sát nhập vào vương quốc Asyri. Thật là hổ người khi nhớ lại quá thất bại và bị đuổi ra ngoài. Tuy nhiên, vị tiên tri với niềm tin vững mạnh đã tuyên bố : "Dân ngồi trong tối tăm đã thấy ánh sáng huy hoàng". Nói cách khác, Isaia muốn khơi lên niềm hy vọng nơi những người tin cậy Chúa, Đấng giải thoát họ, nên ông không ngần ngại nói về ơn cứu rỗi. Đó là sức mạnh của Lời Chúa, Lời thực hiện những gì đã tuyên bố, Isaia gợi lên niềm vui đến từ đức tin : "Dân chúng vui mừng trước nhan Chúa như nhà nông vui mừng trong mùa gặt". Thánh Vịnh một lần nữa vang lời động viên : "Tôi tin rằng tôi sẽ được nhìn xem những ơn lành của Chúa trong cõi nhân sinh. Hãy chờ đợi Chúa, hãy sống can trường, hãy phấn khởi tâm hồn và chờ đợi Chúa". Niềm tin này khiến chúng ta vui mừng vì lời hứa của Thiên Chúa được thực hiện : "Chúa là sự sáng và là Đấng cứu độ tôi ". Sự sáng ấy nay cụ thể hóa nơi con người Đức Giêsu Kitô, thánh Matthêu xác định : Chúa Giêsu lui về Galilêa. Người rời bỏ thành Nadarét, đến ở miền duyên hải, thành Capharnaum, giáp ranh đất Giabulon và Nepthali, để ứng nghiệm lời đã phán bởi miệng tiên tri Isaia rằng: "Hỡi đất Giabulon và đất Nepthali, đường dọc theo biển, bên kia sông Giođan, Galilêa của ngoại bang! Dân ngồi trong tối tăm đã thấy ánh sáng huy hoàng; ánh sáng đã xuất hiện cho người ngồi trong bóng sự chết".

Bước theo Chúa Giêsu cần phải hối cải

Ánh bình minh đã ló rạng, từ trên cao chiếu soi dân ngồi trong bóng tối là chính Chúa Giêsu Kitô. Ai bước vào trong ánh sáng ấy cần phải : "Hối cải" nghĩa là đi từ bóng tối ra ánh sáng, từ tội lỗi sang đời sống là con cái Chúa, từ tuyệt vọng đến hy vọng, từ chán nản đến vui mừng. Và Chúa muốn ánh sáng ấy chiếu soi mọi người; nên Chúa đã chọn các môn đệ như những người phụ tá.

Khi Chúa Giêsu gọi các môn đệ của mình "Hối cải". Thánh Phaolô nhắc nhở chúng ta rằng, dù thuộc về Phaolô, Phêrô hay Apôlô cũng chỉ có một Đức Kitô. Mọi con mắt phải hướng về Ngài, chính Ngài cứu chuộc chúng ta. Vì thế, khi gọi các môn đệ, là để các ông trở nên những chứng nhân của Tin Mừng, nên thánh Phaolô có thể nói : "Đức Kitô không sai tôi đi rửa tội, mà là đi rao giảng Tin Mừng, không phải bằng lời nói khôn khéo, kẻo thập giá của Đức Kitô ra hư không". Phaolô được chọn, để loan báo một Đấng Cứu Thế bị đóng đinh cho thế gian.

Ngày nay Chúa cũng mời gọi chúng ta mang vào thế giới sứ điệp sự thật và tình thương của Ngài. Chúng ta hãy sẵn sàng tham gia vào sứ mạng này và nhất là cầu nguyện xin Chúa đừng để những chia rẽ và tranh chấp giữa các tín hữu Kitô làm lu mờ khả năng chiếu tỏa của Tin Mừng.

Hối cải để hiệp nhất

Lời Chúa mời gọi chúng ta : "Hãy hối cải, vì nước Trời đã gần đến", vẫn luôn có tính chất thời sự của Tin Mừng. Sự quyết tâm hoán cải, trở về cùng Chúa Kitô là con đường dẫn đưa Giáo Hội đến sự hiệp thông hữu hình trọn vẹn vào thời kỳ Thiên Chúa thiết định. Các cuộc gặp gỡ đại kết trong thời gian gần đây gia tăng trên thế giới là một dấu chỉ chứng tỏ điều đó.

Trước giờ Kinh Truyền Tin trưa Chúa nhật 23/1/2011, Đức nguyên Giáo hoàng Bênêđictô XVI đưa ra lời kêu gọi sau đây : "Ngày nay cũng vậy, để trở thành dấu chỉ và phương thế kết hiệp sâu xa với Thiên Chúa trong thế giới, các tín hữu Kitô chúng ta phải xây dựng cuộc sống trên 4 cột trụ, đó là: cuộc sống trên nền tảng đức tin của các Tông Ðồ được chuyển lại trong Truyền Thống sinh động của Giáo Hội, tình hiệp thông huynh đệ, Thánh Thể và kinh nguyện. Có thế, Giáo Hội mới được kết hiệp bền vững với Chúa Kitô và chu toàn sứ mạng của mình, dù có những chia rẽ như thánh Phaolô Tông Ðồ nói đến : "Hỡi anh em, tôi khuyên nhủ anh em tất cả hãy đồng tâm hiệp ý trong lời nói, để không có sự chia rẽ nơi anh em, nhưng hãy kết hiệp trọn vẹn trong tư tưởng và cảm thức" (1 Cr 1,10). Thực ra Thánh Tông Đồ đã biết trong cộng đoàn Kitô ở Côrintô, đã nảy sinh những bất thuận và chia rẽ; vì vậy, ngài nghiêm nghị viết thêm rằng: "Phải chăng Chúa Kitô bị chia rẽ sao?" (1,13). Ngài quả quyết mọi chia rẽ trong Giáo hội là làm xúc phạm đến Chúa Kitô, Thủ Lãnh duy nhất và là Chúa, chúng ta luôn luôn có thể tái hiệp nhất, nhờ sức mạnh vô tận của ơn thánh Chúa.

Theo giáo huấn của thánh Phaolô, chúng ta được mời gọi loại bỏ gương mù chia rẽ nơi chúng ta để mang sứ điệp của Chúa Kitô Phục Sinh cho tất cả mọi người. Chúng ta hãy cầu nguyện xin Chúa cho sớm đến ngày Giáo Hội được hoàn toàn hiệp nhất. Amen. 

Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ

Chúa Giêsu là ai?

"Đây là Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian" (Ga 1,29)

Sợi chỉ đỏ :

- Bài đọc I : Đấng Messia là Người Tôi Tớ của Thiên Chúa.

- Đáp ca : Đấng Messia đến để thực thi ý Thiên Chúa.

- Tin Mừng : Bắt đầu sứ vụ công khai của Chúa Giêsu. Gioan Tẩy giả giới thiệu : "Chính Ngài là Con Thiên Chúa."

I. DẪN VÀO THÁNH LỄ

Từ hôm nay bắt đầu mùa thường niên : Phụng vụ muốn dẫn chúng ta từng bước đồng hành với Chúa Giêsu. Việc đầu tiên là phải biết Đấng mà mình đồng hành là ai.

Xin Chúa cho chúng ta biết Ngài, yêu mến Ngài và gắn bó đi theo Ngài trọn cuộc hành trình dương thế của chúng ta.

II. GỢI Ý SÁM HỐI

- Tuy là môn đệ của Chúa Giêsu, nhưng chúng ta chưa cố gắng tìm hiểu để biết rõ Ngài.

- Chúng ta chưa "yêu mến Chúa trên hết mọi sự."

- Chúng ta thường đi theo đường lối của riêng mình chứ không đồng hành với Chúa trên con đường của Chúa.

III. LỜI CHÚA

1. Bài đọc 1 : Is 49,3.5-6

Ngôn sứ Isaia hình dung Đấng Messia là Người Tôi Tớ của Thiên Chúa. Đoạn trích này thuộc bài thứ hai trong 4 bài ca về Người Tôi Tớ :

- Người Tôi Tớ của Thiên Chúa được giao sứ mạng "quy tụ dân Israel trước mắt Thiên Chúa".

- Người Tôi Tớ của Thiên Chúa còn là "ánh sáng của các dân tộc", làm cho "ơn cứu độ của Thiên Chúa tràn lan khắp địa cầu".

Tất cả những nét Isaia mô tả Người Tôi Tớ đều được thực hiện nơi Chúa Giêsu.

2. Đáp ca : Tv 39

Tv này bày tỏ tâm tình của người tín hữu đối với Thiên Chúa : cậy trông nơi Thiên Chúa, hân hoan hát mừng ca tụng Ngài, và nhất là luôn thực thi thánh ý của Ngài.

Không ai ngoài Chúa Giêsu có những tâm tình hoàn hảo ấy.

3. Tin Mừng : Ga 1,29-34

Theo bố cục của Tin Mừng thứ tư, đây là lần đầu tiên Đức Giêsu xuất hiện trước dân chúng. Vì dân chúng chưa biết Đức Giêsu, nên Gioan Tẩy giả giới thiệu Ngài, bằng hai kiểu nói :

- Đức Giêsu là "Con Chiên Thiên Chúa" : Trong lễ nghi Đền tội của Do thái giáo, tội nhân đem một con chiên lên Đền thờ, úp tay mình xuống con chiên tỏ ý trút hết tội mình lên nó ; tiếp theo, tư tế sẽ giết con chiên. Nó chịu chết để đền tội thay cho tội nhân. Bao nhiêu tội lỗi của tội nhân đều được tẩy xóa. Ngay từ buổi đầu gặp Chúa Giêsu, Gioan Tẩy giả đã biết Ngài sẽ chịu chết để chuộc tội cho nhân loại, nên ông giới thiệu "Đây là Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian".

- Đức Giêsu là "Con Thiên Chúa" : Nhờ ơn soi sáng đặc biệt của Chúa Thánh Thần trong biến cố làm phép rửa cho Đức Giêsu, Gioan Tẩy giả còn được biết Đức Giêsu là Con Thiên Chúa. Thực ra, trong lịch sử, các vua Israel cũng xưng mình là con của Thiên Chúa. Nhưng đó chỉ là một cách nói, ngụ ý họ được Thiên Chúa nhận làm con nuôi, nghĩa tử. Riêng đối với Đức Giêsu, Gioan Tẩy giả giới thiệu Ngài là con ruột của Thiên Chúa và cũng chính vì thế cho nên Đức Giêsu sẽ làm phép rửa trong Chúa Thánh Thần.

4. Bài đọc 2 (chủ đề phụ) : 1 Cr 1,1-3

* Từ Chúa nhựt II đến Chúa nhựt VIII, bài đọc II đều trích từ thư 1 Côrintô. (Xin hãy đọc bài giới thiệu tổng quát về Thư 1 Côrintô ngay sau bài này)

Côrintô là một thành phố cảng với những nét đặc trưng là : dân cư hỗn tạp (nhiều sắc dân khắp nơi đến làm ăn), đời sống kinh tế và trí thức tương đối khá, nhưng không đoàn kết, xã hội có nhiều tệ đoan. Chính dân Côrintô đã đuổi Phaolô ra khỏi thành phố này.

Khi ở Êphêxô, Phaolô nghe nhiều tin tức không tốt về giáo đoàn này, nên ông viết bức thư này cho họ nhằm củng cố một số điểm giáo lý và sửa sai một số tệ nạn.

Đoạn này chỉ là những lời chào đầu thư Thánh Phaolô gởi đến các tín hữu Côrintô. Tuy vậy nó cũng xác định rõ tư cách của người viết thư và những người nhận thư :

- Người viết thư (Phaolô) là kẻ được Thiên Chúa kêu gọi làm tông đồ của Đức Giêsu Kitô.

- Những người nhận thư (tín hữu Côrintô) là những kẻ được kêu gọi nên thánh và được thánh hóa trong Chúa Giêsu Kitô.

IV. GỢI Ý GIẢNG

1. Độc hành hay đồng hành

Khi phải làm một chuyến hành trình dài, người ta cần có bạn đồng hành, để có bạn đường mà chia vui xẻ buồn, nói chuyện với nhau, và giúp đỡ nhau. Hai môn đệ hành trình Emmau nhờ đi chung với nhau nên đã san sẻ cho nhau nỗi buồn nặng trĩu sau những biến cố đau thương xảy ra tại Giêrusalem. Họ lại có được một bạn đồng hành nữa là Đức Giêsu phục sinh. Chính Người Bạn đồng hành này đã xóa tan mọi sầu lo của họ và làm cho niềm tin của họ sống lại.

Đời người trên dương thế là một cuộc hành trình dài thăm thẳm, không biết bao giờ mới xong, cũng không chắc sẽ đi đến đích hay không. Vậy mà có nhiều người cứ mãi độc hành : một mình tìm đường, một mình đi, một mình xoay trở trước những khó khăn… Thật là phiêu lưu !

Mùa thường niên của năm Phụng vụ cũng là một cuộc hành trình, nhưng không phải độc hành, mà là đồng hành với Chúa Giêsu : chúng ta cùng với Ngài đi qua những chặng đường từ Nadarét đến Galilê để tới Giêrusalem ; từ gian khổ đến vinh quang ; từ chết đến sống lại. Có Ngài cùng đi với chúng ta, chúng ta không sợ lạc đường. Cùng đi với Ngài, cho dù nhiều lúc gặp khó khăn, chắc chắn chúng ta sẽ tới đích. Chúa Giêsu đồng hành với chúng ta nghĩa là Ngài sẽ vui khi chúng ta vui, Ngài sẽ buồn khi chúng ta buồn ; chúng ta đồng hành với Chúa Giêsu cũng có nghĩa là ta sẽ được vui niềm vui của Ngài và buồn với nỗi buồn của Ngài. Đời ta không cô độc, buồn tẻ…

Tuy chỉ là "mùa thường niên" không có những lễ trọng, nhưng nếu chúng ta sống mùa này như một người đồng hành với Chúa, cuộc đời chúng ta chắc chắn sẽ rất có ý nghĩa.

2. Người Con và Người Tôi Tớ

Lời Chúa hôm nay cho chúng ta thấy Chúa Giêsu với hai nét tương phản nhau : Ngài là Người Con yêu quý của Thiên Chúa cao sang, và Ngài là Người Tôi Tớ khiêm tốn thấp hèn.

Thực ra hai nét trên không đối chọi nhau mà làm nổi bật nhau và soi sáng cho nhau : Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa cao sang do cách Ngài sống như một Người Tôi Tớ ; và Ngài là Người Tôi Tớ tuyệt hảo bởi vì Ngài là Con Thiên Chúa cao sang.

Nhìn Chúa Giêsu, chúng ta rút ra được một triết lý sống : sống cao thượng trong hoàn cảnh tầm thường ; và sống hoàn cảnh tầm thường với tâm hồn cao thượng.

Cùng sống với Chúa Giêsu qua những biến cố mỗi tuần trong Mùa thường niên này, chúng ta có thể thực hiện được triết lý sống tuyệt vời ấy.

3. Con Chiên gánh tội trần gian

Thời Cựu Ước, trong ngày lễ Đền tội, người do thái bắt một con chiên đem đến cho Tư tế. Vị Tư Tế đọc một danh sách các thứ tội của dân và kêu gọi mọi người sám hối. Sau đó Tư Tế đặt tay trên đầu con dê, ngụ ý trút hết danh sách tội ấy lên đầu nó, rồi đuổi nó vào sa mạc. Con chiên ấy được gọi là con chiên gánh tội.

Khi Thánh Gioan Tẩy giả giới thiệu Đức Giêsu là "Con Chiên Thiên Chúa, Đấng gánh tội trần gian", phải chăng Thánh Gioan cũng có ý rằng Đức Giêsu đã gánh lấy tất cả tội lỗi chúng ta nên từ nay loài người không còn tội gì nữa ? Đơn giản và dễ dàng thế sao ?

Quả thực Đức Giêsu đã gánh lấy tội trần gian. Việc này có nghĩa là nhờ Ngài mà tội lỗi chúng ta được tha thứ. Nhưng điều này không có nghĩa là chúng ta không phải làm gì cả.

Cần phân biệt rõ giữa tội lỗi và thân phận tội lỗi. Đức Giêsu gánh lấy và tha thứ tội lỗi chúng ta, như con chiên đã mang tội lỗi dân do thái vào sa mạc. Nhưng thân phận tội lỗi của chúng ta vẫn còn. Và Đức Giêsu muốn giúp chúng ta cải thiện thân phận ấy, dĩ nhiên là với sự hợp tác của chúng ta.

- Ngài giúp chúng ta thế nào ? Bằng cách đến với chúng ta, sống gần chúng ta, gieo vào mảnh đất tâm hồn chúng ta hạt giống sự tốt lành và thánh thiện của Ngài.

- Chúng ta hợp tác thế nào ? Bằng cách tiếp nhận Ngài, sống với Ngài và để cho những hạt giống ấy lớn lên trong lòng mình.

Sự tha thứ của Chúa và bí tích Giải tội không phải là một thứ phù phép, mà là một trợ lực, một hạt giống.

4. "Ngài cao trọng hơn tôi"

Ngày xưa một vì vua bảo một ông quan : "Khanh hãy đi khắp đất nước tìm về cho trẫm một người tốt". Ông quan này tính tình hung dữ, gian dối và không có bạn. Sau một thời gian đi tìm, ông trở về triều, tâu : "Thần đã đi khắp nơi, gặp hết mọi người. Nhưng chẳng tìm được người nào tốt cả. Ai cũng hung dữ, gian dối và không có bạn".

Nhà vua sai một quan khác : "Khanh hãy đi khắp đất nước tìm về cho trẫm một người xấu". Ông này có lòng nhân từ, quảng đại và được mọi người thương mến. Sau một thời gian đi tìm, ông cũng trở về triều và tâu : "Hạ thần không thể chu toàn sứ mạng mà Bệ Hạ giao phó. Hạ thần đã gặp nhiều người gian lận, trộm cắp, tham lam… Nhưng chẳng có người nào thực sự xấu cả. Dù họ đã làm những điều ấy, nhưng trong thâm tâm ai cũng tốt"

Câu chuyện trên muốn nói rằng ta có khuynh hướng nhìn người khác không theo lòng họ mà theo lòng ta.

Thánh Gioan Tẩy giả thì không thế. Nếu như mọi người thì Gioan sẽ coi thường Đức Giêsu, bởi Ngài đến sau ông ; chẳng những thế ông còn coi Ngài là đối thủ của ông, bởi Ngài đang lấn dần ảnh hưởng của ông. Nhưng Gioan đã nghe theo sự soi sáng của Chúa Thánh Thần nên đã hiểu đúng về Đức Giêsu và đã nhiệt tình giới thiệu Ngài cho mọi người : "Ngài đến sau tôi nhưng có trước tôi vì Ngài cao trọng hơn tôi".

5. Được kêu gọi nên thánh

Trong thư gởi tín hữu Côrintô, Thánh Phaolô định nghĩa tín hữu là "những người được kêu gọi nên thánh".

Nhưng "thánh" là gì ? Theo thần học, chỉ có một mình Thiên Chúa là "thánh" (Kinh Sáng Danh : "Chỉ có Chúa là Đấng Thánh"). Theo Thánh Kinh, những ai và những gì thuộc về Thiên Chúa cũng được gọi là "thánh", chẳng hạn Đền thánh, Luật thánh, thánh nhân… ; việc dâng hiến một người hoặc một vật cho Chúa được gọi là thánh hiến.

Vậy tín hữu là những người được kêu gọi nên thánh có nghĩa là tín hữu được mời gọi ngày càng thuộc về Chúa hơn, ngày càng giống Chúa hơn.

Nhưng làm thế nào để được như vậy ? Cách tốt nhất là thường xuyên ở bên Chúa, nhìn vào Chúa và noi gương Chúa. Đó là điều mà phụng vụ các ngày chúa nhựt quanh năm muốn giúp chúng ta.

V. LỜI NGUYỆN CHO MỌI NGƯỜI

CT : Anh chị em thân mến

Thiên Chúa đã yêu thương thế gian đến nỗi đã ban Con Một Người là Đức Giêsu Kitô nhập thế làm người, chịu chết trên Thập giá để xóa tội lỗi trần gian. Chúng ta cùng cảm tạ Chúa và dâng lời cầu xin.

1- Chúa đã đặt Hội Thánh làm dấu chỉ ơn cứu độ cho muôn dân / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho Hội Thánh luôn trung thành với sứ mạng của mình.

2- Cánh đồng truyền giáo này nay thật bát ngát bao la / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho mọi thành phấn dân Chúa / ý thức được trách nhiệm rao giảng Tin Mừng của mình / và dùng chính đời sống theo Tám mối phúc thật / để giới thiệu Chúa cho những ai chưa nhận biết Người.

3- Sống an bình và hạnh phúc / là ước mơ tha thiết của mỗi người đang hiện diện trên trái đất này / Chúng ta hiệp lời cầu xin Chúa ban cho thế giới hôm nay được hòa bình và thịnh vượng / để điều mà môi người chân thành ước mơ / có thể sớm trở thành hiện thực.

4- Như Thánh Gioan tẩy giả / mỗi kitô hữu đều có bổn phận phải giới thiệu Chúa cho người khác / Chúng ta hiệp lời cầu xin cho cộng đoàn giáo xứ chúng ta hiểu rằng / giới thiệu Chúa bằng đời sống bác ái yêu thương và phục vụ hết lòng / là cách tốt nhất để giúp người khác nhận biết Chúa.

CT : Lạy Chúa là Cha nhân hậu, chúng con cảm tạ Chúa vì biết bao ơn lành Chúa đã thương ban cho chúng con trong cuộc sống. Xin cho chúng con chỉ tin tưởng cậy trông và phó thác cuộc đời chúng con trong bàn tay quan phòng kỳ diệu của Chúa mà thôi. Chúng con cầu xin…

VI. TRONG THÁNH LỄ

- Trước kinh Lạy Cha : Chúa Giêsu là Con duy nhất của Thiên Chúa. Nhưng Ngài đã thương chia sẻ quyền làm con ấy cho chúng ta nữa. Giờ đây, chúng ta hãy cùng với Chúa Giêsu dâng lên Thiên Chúa là Cha những tâm tình con thảo của chúng ta.

- Trước Rước lễ : Đức Giêsu hôm qua, hôm nay và mãi mãi vẫn là một. Ngày xưa Thánh Gioan Tẩy giả giới thiệu Đức Giêsu thế nào, thì hôm nay Giáo Hội cũng giới thiệu Đức Giêsu cho chúng ta như thế : "Đây Chiên Thiên Chúa, đây Đấng xóa tội trần gian…"

VII. GIẢI TÁN

Trong Thánh Lễ này, anh chị em đã biết Chúa Giêsu là ai, đã được cảm nghiệm tình yêu thương của Ngài. Lễ đã xong, giờ đây anh chị em hãy đồng hành với Ngài trên những bước đường của cuộc sống.

---------------------------------------------------

Bài đọc thêm 1

THƯ I CÔRINTÔ

A. GIÁO ĐOÀN CÔRINTÔ

1. Thành phố Côrintô đã bị một viên tướng Rôma tên là L. Mumium phá hủy vào năm 146 trước công nguyên. Một thế kỷ sau nó được xây dựng lại bởi lệnh hoàng đế Jules César và trở thành một thuộc địa của đế quốc Rôma. Chẳng bao lâu sau nó thành thủ phủ của tỉnh Achaie của đế quốc.

2. Côrintô cũng là một hải cảng lớn với một nền thương mại phồn thịnh. Vì nằm trên tuyến đường nối hai miền Đông Tây, nên việc giao thông cũng tấp nập. Dân số thời ấy khoảng 600 ngàn, trong số đó 2/3 là nô lệ. Về tín ngưỡng, dân Côrintô thờ nhiều thần. Luân lý rất suy đồi, nạn dâm ô tràn lan (x. Rm 1,26-32).

3. Phaolô đến Côrintô lần đầu tiên trong chuyến du hành truyền giáo thứ hai. Ông đã lưu lại đây 18 tháng từ mùa đông năm 50 đến mùa hè năm 52. Ban đầu ông cũng hành nghề dệt lều và rao giảng trong hội đường do thái vào những ngày hưu lễ. Khi có Sila và Timôtêô đến tiếp thì ông hoàn toàn lo rao giảng. Nhiều người đã tin theo và Phaolô lập được một giáo đoàn mà đa số là người lương trở lại, phần đông thuộc giới hạ lưu nghèo khổ. Những tín hữu này rất hăng say sống đạo nhưng đầu óc còn thấm nhiễm tâm thức lương dân. Sau đó dân Côrintô đã đuổi Phaolô đi. Sau khi ông ra đi ít lâu, có một nhà trí thức do thái ở Alexandria tên là Apollo đến nối tiếp sứ mạng rao giảng Tin Mừng cho dân Côrintô và thu được rất nhiều kết quả (x 1Cr 1,26-28 11,21-22). Sau đó lại có thêm Thánh Phêrô đến nữa.

B. THƯ 1 CÔRINTÔ

1. Hoàn cảnh và mục đích

Năm 56, Phaolô đang ở Êphêxô thì được nhiều tin tức không tốt đẹp về giáo đoàn Côrintô : nạn bè phái, thói kiện cáo nhau trước tòa án lương dân, tội dâm ô v.v. Ngoài ra, nhiều tín hữu cũng có những thắc mắc về lương tâm và phụng vụ. Phaolô đã gởi Timôtêô đến đấy để dò la tình hình. Sau khi Timôtêô trở về báo cáo thì Phaolô viết bức thư này để sửa dạy những thói xấu và giải đáp những thắc mắc của tín hữu Côrintô.

2. Bố cục

- Lời chào                              01,01-03

- Lời tạ ơn                              01,04-09

- Sửa dạy những thói xấu :

. Nạn bè phái                                    01,10--04,21

. 1 trường hợp loạn luân     05,01-13

. Kiện cáo nhau                    06,01-11

. Tội dâm ô                           06,12-20

- Giải đáp những thắc mắc :

. Về hôn nhân và đồng trinh          07,01-40

. Vấn đề ăn đồ cúng            08,01--11,01

- Bàn về cộng đoàn phụng tự

và các đoàn sủng                 11,02--14,40

- Bàn về việc kẻ chết sống lại        ch 15

- Kết                                       16,01-18

- Lời chào                              16,19-24

3. Nhận định chung về thư 1 Cr

- Thư này rất thực tế, cho ta thấy rõ bề mặt và bề trái của giáo đoàn : không phải cái gì cũng tốt đẹp êm xuôi, nhưng nhiều vấn đề nội bộ rất phức tạp, nhiều khi rất đau lòng. Nó cũng cho thấy những uẩn khúc trong tâm hồn của người chịu trách nhiệm về giáo đoàn : ưu tư, dằn vật, khổ đau nhưng trong hoàn cảnh nào cũng chan chứa tình thương.

- Nhờ thực tế như thế, thư này tương đối dễ hiểu. Mặc dù đề cập đến những vấn đề riêng tư của một giáo đoàn, nhưng qua đó chúng ta cũng rút ra được nhiều tư tưởng có giá trị chung cho mọi nơi và mọi thời.

 

Gp. Cần Thơ

LỜI MỜI GỌI CỦA CHÚA GIÊSU VANG LÊN GIỮA ĐỜI THƯỜNG

Hãy theo Ta.” Ba từ ngắn ngủi ấy, vang lên trên bờ Biển Galilê năm xưa, đã làm thay đổi lịch sử nhân loại. Và điều đáng ngạc nhiên hơn: ba từ ấy vẫn đang vang lên hôm nay, giữa đời sống rất đỗi bình thường của chúng ta.

Tin Mừng theo thánh Mátthêu mở đầu sứ vụ công khai của Chúa Giêsu bằng một lời rao giảng vừa đơn sơ vừa quyết liệt: “Anh em hãy sám hối, vì Nước Trời đã đến gần” (Mt 4: 17). Ngài nói với các ông Simon và Anrê, cũng như hai ông Gioan và Giacôbê: “Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá” (Mt 4: 19).

Không phải là một bài diễn văn dài, không phải là một bài giáo lý hệ thống phức tạp. Chỉ là một lời mời gọi: hãy sám hối, hãy tin tưởng và hãy bước theo. Nhưng chính từ lời mời gọi ấy, một cuộc đổi đời tâm linh đã khởi sự.

  1. Thiên Chúa bước vào thời gian của con người

Mùa Phụng vụ Thường niên mà chúng ta đang sống nghe có vẻ…rất “ ngày thường”. Không còn ánh đèn Giáng Sinh, cũng chưa có tiếng Alleluia Phục Sinh rộn ràng. Chỉ là màu xanh lá cây, màu của tăng trưởng âm thầm, kiên trì.

Nhưng chính trong cái “ngày thường” ấy, một chân lý sâu xa được mạc khải: Thiên Chúa không chỉ hành động trong những khoảnh khắc phi thường, mà Ngài bước vào đời sống thường ngày của con người.

Chúa Giêsu không bắt đầu sứ vụ tại Giêrusalem, không ở Đền Thờ, không giữa giới lãnh đạo tôn giáo. Ngài đến Galilê, vùng đất bị coi thường, nơi dân chúng sống bằng lao động tay chân, nơi nhịp sống xoay quanh biển, lưới và con cá.

Nước Trời đã đến gần” không phải là một thời điểm trừu tượng. Đó là khoảnh khắc Thiên Chúa quyết định đến gần con người đến mức có thể chạm vào, nghe thấy, và bước theo.

Và điều ấy vẫn đang tiếp diễn. “Nước Trời đã đến gần” không chỉ trong một ngày hay một mùa nào đó trong lịch phụng vụ. “Nước Trời đã đến gần” là bất cứ lúc nào con người mở lòng ra cho Thiên Chúa.

  1. Lời rao giảng khẩn thiết: hoán cải và tin

Chúa Giêsu không nói: “Hãy cải thiện bản thân trước đã, rồi hãy đến với Ta.” Ngài nói: “Anh em hãy sám hối.”

Hoán cải không chỉ là từ bỏ tội lỗi bề ngoài. Hoán cải là thay đổi hướng đi của đời mình, là quay lại để nhìn cuộc sống bằng ánh mắt của Thiên Chúa. Chúng ta thường nghĩ mình không cần hoán cải nhiều, vì vẫn sống đạo, vẫn đi lễ, vẫn cầu nguyện. Nhưng Tin Mừng nhắc chúng ta rằng: hoán cải là một hành trình mỗi ngày, không phải một biến cố đã xong.

Tin cũng không chỉ là chấp nhận một mệnh đề đúng sai. Tin là dám phó thác đời mình cho một Đấng mà ta chưa hoàn toàn hiểu hết, giống như các môn đệ đầu tiên. Không phải ngẫu nhiên mà tác giả thư Do Thái viết: “Không có đức tin, thì không thể làm đẹp lòng Thiên Chúa” (Dt 11: 6).

Đức tin luôn đi kèm với sự bấp bênh. Ngay cả Tôma, người đã sống ba năm bên Chúa Giêsu, vẫn có lúc nghi ngờ. Nhưng Chúa Giêsu không loại bỏ ông. Ngài đến và cho ông chạm vào vết thương của Ngài.

Điều Chúa tìm kiếm không phải là một đức tin đã hoàn hảo, nhưng là một con tim dám tin ngay cả khi còn run sợ.

  1. “Hãy theo Ta” là lời mời gọi giữa công việc dang dở

Chúa Giêsu gặp Simon và Anrê khi họ đang thả lưới. Ngài gặp Giacôbê và Gioan khi họ đang vá lưới cùng cha mình. Không có dấu hiệu chuẩn bị, không có thời gian suy tính. Và điều đáng kinh ngạc là: “Lập tức hai ông bỏ chài lưới mà đi theo Ngài” (Mt 4: 20).

Chúng ta có thể tự hỏi: tại sao các ông lại có thể làm như vậy?

Bởi vì khi Chúa mời gọi, thì ân sủng của Ngài đã đi trước. Lời mời gọi ấy không chỉ vang lên bên ngoài, mà chạm đến tận sâu thẳm lòng họ.

Ngày nay, Chúa cũng gọi chúng ta giữa những lúc chúng ta đang bận bịu với những “tấm lưới” của riêng mình: công việc, gia đình, trách nhiệm, thói quen, vùng an toàn.

Chúa không khinh thường những điều ấy. Nhưng Ngài hỏi: “Con có sẵn sàng đặt Ta lên trên tất cả không?”

Theo Chúa không nhất thiết là bỏ nghề, nhưng là để cho Ngài định hướng lại mọi sự trong đời mình.

  1. Được biến đổi, không phải tự mình nên hoàn hảo

Chúa Giêsu không nói: “Hãy theo Ta vì các ngươi xứng đáng.” Ngài nói: “Các anh hãy theo tôi, tôi sẽ làm cho các anh thành những kẻ lưới người như lưới cá” (Mt 4: 19).

Chính Chúa là Đấng hành động. Ngài không đợi chúng ta hoàn hảo rồi mới kêu mời cộng tác, mà Ngài dùng chính sự yếu đuối của chúng ta để làm nên điều lớn lao. Phêrô từng chối Thầy ba lần. Nhưng khi đức tin của ông được đặt đúng chỗ và được Thánh Thần nâng đỡ, ông đã làm thay đổi thế giới.

Điều này nhắc chúng ta rằng: Thiên Chúa không đòi hỏi chúng ta phải mạnh mẽ, chỉ cần chúng ta sẵn sàng. “Này chính Ta là Chúa, Thiên Chúa của mọi phàm nhân, đối với Ta, hỏi có điều gì là không thể làm được chăng?” (Gr 32: 27)

Đối với Thiên Chúa, không có hoàn cảnh nào quá rắc rối, không có tâm hồn nào quá khô cằn, nếu chúng ta dám mở lòng cho Ngài.

Chúng ta không từ chối Chúa cách công khai, nhưng vẫn còn đó những rào cản vô hình trong lòng chúng ta. Rất nhiều lần, chúng ta trì hoãn.

– Để mai rồi hoán cải

– Để ổn định hơn rồi dấn thân

– Để bớt bận rộn hơn rồi cầu nguyện

Nhưng Tin Mừng luôn nói về cuộc sống thường ngày. Những rào cản lớn nhất thường không phải là tội lỗi nặng, mà là sự thoải mái, thói quen, và đủ mọi thứ làm tâm hồn chúng ta phân tán.

Chúng ta có thể dâng hiến vật chất, công việc, thời gian… nhưng luôn ưu tiên giữ lại cho mình lối sống qui về cái tôi vị kỷ riêng mình. Trong khi điều Chúa mong muốn nhất chính là con tim trọn vẹn. Chúng ta có dám nói: “Lạy Chúa, chúng con dâng hiến cõi lòng mình…”

  1. Đức tin nuôi dưỡng đời sống cầu nguyện

Cầu nguyện không phải là công cụ để chúng ta đạt được điều mình muốn. Cầu nguyện là đặt mình trước mặt Thiên Chúa với trọn niềm tin.

Khi đức tin gia tăng, lời cầu nguyện trở nên sâu sắc hơn, không phải vì chúng ta nói hay hơn, mà vì chúng ta tin tưởng vào Chúa hơn. Ngay cả khi còn nghi ngờ, hãy đem sự nghi ngờ ấy đến với Chúa. Chính nơi đó, Ngài gặp gỡ chúng ta. Cũng như bên bờ Galilê năm xưa, hôm nay Chúa Giêsu đang đứng rất gần chúng ta. Không ồn ào, không áp đặt. Chỉ là một lời mời: “Hãy theo Ta” (Mt 4: 19).

Không phải ngày mai. Không phải khi mọi sự đã hoàn hảo. Ngay bây giờ. “Hôm nay” là khoảnh khắc không được để trôi qua.

Lạy Chúa Giêsu, giữa những nhịp sống thường ngày, xin cho con nhận ra tiếng Ngài đang gọi. Xin kéo con vào “thời điểm viên mãn” của Ngài, ngay hôm nay, ngay lúc này. Xin cho con một con tim biết ăn năn, một đức tin dám phó thác, và một sự tự do để bước theo Ngài không do dự, không sợ hãi. Con tin rằng không có gì là quá khó đối với Ngài. Con tin cậy nơi Ngài. Amen.

Phêrô Phạm Văn Trung

CHIÊN THIÊN CHÚA

CHÚA NHẬT 2 THƯỜNG NIÊN A

(Is 49, 3. 5-6; 1 Cr 1, 1-3; Ga 1, 29-34). 

Chúng ta vừa kết thúc phụng vụ Mùa Giáng Sinh. Bầu khí khu thánh đường trở lại vẻ lặng lẽ và bình thường trong khí trời tuyết lạnh. Giờ đây, chúng ta bắt đầu tiếp tục suy gẫm về sứ mệnh công khai của Chúa Giêsu. Khai mở một triều đại mới của Nước Trời. Chúa Giêsu đã hiện diện đồng hành với Dân Người. Chúng ta cần học hiểu về ý nghĩa thần học của con chiên. Chúa Giêsu được ví như cửa chuồng chiên, người chăn chiên tốt lành và chủ chiên. Chủ chiên đi trước và đàn chiên bước theo sau. Trong Cựu Ước hình ảnh quen thuộc của những con chiên tinh tuyền bị hiến tế, con chiên gánh tội, con chiên hiền lành bị xén lông và bị giết để lấy máu chiên đuợc bôi trên cửa, rảy trên dân chúng và thịt chiên nướng làm của ăn. 

Tiên tri Isaia đã tiên báo nhiều điều về Đấng sẽ ban ơn cứu độ. Ngài là ánh sáng và nguồn qui tụ mọi con dân về một mối. Khoảng 600 năm trước Chúa Giêsu, Isaia đã có những thị kiến ngưỡng vọng về một tương lai huy hoàng. Thiên Chúa sẽ qui tụ mọi con cái đang tản mác khắp nơi về một nguồn sống. Ơn cứu độ sẽ lan tràn khắp chốn và vinh quang của Thiên Chúa sẽ được chiếu tỏa khắp mọi nơi: Chúa đã phán cùng tôi: "Hỡi Israel, ngươi là tôi tớ Ta, vì Ta được vinh danh nơi ngươi" (Is 49, 3). 

Gioan Tẩy Giả là vị tiên tri sau cùng nối kết giữa Cựu Ước và Tân ước. Chương trình cứu độ được thể hiện qua dòng dõi của một Dân tộc mà Chúa đã chọn. Trải qua thời gian, cho dù dân chúng có ngỗ nghịch, ương ngạnh và từ bỏ Chúa, Thiên Chúa vẫn tín trung giữ lời đã giao ước với các cha ông. Gioan được sai đến như vị tiên hô để chứng dám và giới thiệu cho toàn dân về Đấng Cứu Thế. Gioan đã chu toàn sứ mệnh tiền hô và chuẩn bị lòng dân đón Chúa. Ông đã được nhìn xem tận mắt và chứng kiến Đấng đến sau ông và chính ông không xứng đáng cúi xuống cởi giây giầy cho Ngài. 

Gioan kêu gọi mọi người hãy chuẩn bị đường lối của Chúa cho ngay thẳng. Có nhiều người đã chạy đến với Gioan xin lãnh nhận phép rửa sám hối. Một số người thật lòng sám hối ăn năn và sửa đổi đời sống. Tuy thời gian không dài nhưng ông Gioan Tẩy giả đã hoàn thành được sứ mệnh của người dọn đường. Ông đã xác tín một điều mà muôn dân đợi trông: Tôi đã thấy và tôi làm chứng: chính Ngài là Con Thiên Chúa" (Ga 1, 34).

Chúa Giêsu Kitô đã đến và rao giảng tin mừng Nước Trời. Trong thời gian ngắn ngủi, Chúa Giêsu đã hoàn tất mọi lời do miệng các tiên tri đã phán dậy. Ngài đã hiến thân mình như con chiên hiền lành bị đem đi giết. Chính Ngài đã hiến dâng mình để cứu độ và giải thoát con người khỏi tội lỗi, sự tối tăm và sự dữ. Ngài đã chiến thắng tử thần, đã sống lại từ cõi chết và lên trời ngự bên hữu Chúa Cha. Danh thánh của Ngài được truyền rao qua mọi thế hệ. Chỉ có Chúa Giêsu là Đấng Thánh, chỉ có Chúa là Chúa và là Đấng Cứu Độ trần gian.

Lạy Chúa, chúng con tuyên xưng: Lạy Chiên Thiên Chúa, Đấng xóa tội trần gian xin thương xót chúng con. Chúa Chiên Lành đã yêu thương ẵm vác trên vai những con chiên bị thương tích và đưa dẫn chiên lạc lối trở về. Xin cho chúng con biết dõi theo lối bước của Chúa đến đồng cỏ xanh tươi, có nguồn suối mát và chúng con sẽ được nghỉ ngơi an bình.

Lm. Giuse Trần Việt Hùng.

Subcategories