3. Sống & Chia Sẻ Lời Chúa

Ba trong một : Đường, sự Thật, sự Sống

Từ Saigon về Nhatrang đây, có đường bay, đường thủy, đường sắt, đường bộ… Đường bộ là một con lộ rõ ràng, đường sắt là hai thanh ray song song. Còn đường thuỷ, đường hàng không thì không thấy rõ. Nhưng người ta vẫn gọi là đường. Vì thế đường không nhất thiết là con lộ hay thanh ray, mà quan trọng : đường là hướng. Hướng tới. Một con đường không có hướng tới là đường cụt. Nhà văn Nguyễn Công Hoan mô tả cuộc sống không hướng tiến trong tiểu thuyết mang tên Ngõ Cụt.

Vậy khi Đức Giêsu tự xưng mình là Đường, tuyên bố này có ý nghĩa gì ? Và trong bài Tin Mừng hôm nay Ngài chẳng những nói mình là Đường mà còn nói thêm Ngài là sự Thật và là sự Sống nữa. Bộ ba đó liên hệ với nhau ra sao ? Ta được gì khi tin vào lời nói này của Chúa ?

  1. Chúa Giêsu là Đường, nghĩa là gì ?

Ngài là Đường tức là lối mở: Ngài mở ra cho chúng ta một lối thoát.  Và hơn cả lối thoát, Ngài là đường, hướng chúng ta tới Chúa Cha. Nói đổi lời: Đường là trung gian, qua trung gian, ta sẽ gặp Chúa Cha. Ngôn ngữ Việt Nam có kiểu nói rất đẹp: nói đi đường nhưng cũng nói “đi” Đạo, tức theo Đạo: Đạo là đường, và Đạo Kitô tức là Đường Kitô, hay nói đổi lời Đức Kitô là Đường.  Đức Phật chỉ dám nhận mình là người chỉ đường, như ngón tay chỉ mặt trời, chứ không dám tuyên bố mình là đường như Đức Giêsu. Đức Giêsu tuyên bố mình là Đường –và Ngài còn thêm là sự Thật và là sự Sống.

Đi riêng từng điểm : Đường – sự Thật – sự Sống, có lẽ ai cũng hiểu. Nhưng ba điểm đó gắn bó với nhau làm sao thì có lẽ đối với nhiều người chúng ta, không dễ trả lời. Và cũng có lẽ mỗi người trả lời một kiểu. Tôi tìm được lối trả lời khá mạch lạc hợp lý sau đây, xin chia sẻ:

Ba điểm này Chúa nói liền nhau, nên chắc phải tương quan với nhau chứ, và đây là mối tương quan : Chữ xuyên suốt cả ba là Đường. Đức Giêsu là Đường tức là hướng đi ; là sự Thật tức là luật lệ : luật đi đường (đi đúng đường, đi đúng luật) ; là sự Sống tức sức lực của chúng ta : sức đi đường. Một chiếc xe hơi, không có xăng (sự sống) thì không lăn bánh được, không có đường thì cũng chẳng có hướng đi, và đi mà không theo theo luật (sự thật) thì dễ sa xuống hố. Cho dù là đi bằng đường bộ hay đường hàng không thì đường nào cũng có luật lệ của đường đó. Ngay cả hàng không, bay trên trời có vẻ tự do đó, nhưng cũng phải có những hành lang bay theo qui định của nhân viên không lưu. Khi đi không trúng luật sẽ dễ dẫn tới hoạ tai. Hai xe tránh nhau, mà không không theo luật tránh bên phải của Việt Nam mà ở Việt Nam cứ tránh nhau bên trái theo Nhật, Hôngkong là tông ngay lập tức !

Một chỗ khác, Đức Giêsu nói : Ai đi trong sự thật thì sẽ thấy ánh sáng. Ta có thể chuyển : Ai đi đường trúng luật thì sẽ trúng nơi, đi sai hướng sẽ lạc đường. ..

Năm trước có cuộc đua xe đạp cúp Truyền hình có chạy qua Nhatrang :

Có cuộc đua, đường đua nào có không đích tới đâu = đường.

Có đường đua nào mà không có luật lệ tổ chức = sự thật.

Có đường đua nào mà không có hỗ trợ tiếp sức = sự sống.

Đức Giêsu là cả ba, ba trong một, (3 in 1) trong quãng đường chúng ta về với Chúa Cha. Nghĩa là Đức Giêsu là Đường đi, là lối dẫn (sự Thật) và bổ sức (sự Sống). Vì thế tin vào Ngài và đi trong đường lối này là chúng ta an tâm.

  1. Được biết Đức Kitô, chúng ta hơn rất nhiều người. Hơn ở chỗ nào ?

-Sách Tư tưởng của Babylon có ghi câu này : “Con người sinh ra là bước trên một con đường. Đường dài hay ngắn khác nhau tùy người, nhưng cuối cùng vẫn là cái chết chờ đợi mỗi người và mọi người”. Cũng đi trên đường, nhưng đường dẫn tới cái chết là con đường cụt, ngõ cụt. Chúng ta có Đức Kitô, chúng ta không đi vào ngõ cụt. Hơn ở chỗ đó : Lòng các con đừng xao xuyến…

-Rồi chúng ta còn hơn ở chỗ là chúng ta biết rõ ai là vị Cứu Thế, không phải chờ đợi nữa. Một chàng trai Do thái giáo đến dự một buổi lễ của Công giáo. Anh nghe giảng về lời dạy của Đức Kitô, tức Mesia, “Đấng Được Xức Dầu”. Khi đi về, anh hỏi vị giáo trưởng Do-thái của anh : Thưa thày, người Công giáo nói Đức Mesia đã đến thế gian rồi, còn chúng ta thì nói chưa đến, chúng ta còn chờ đợi Ngài đến”. –Đúng vậy con ạ, vị giáo trưởng trả lời. Chúng ta đang chờ Đức Mêsia đến trần gian”. Chàng Do Thái hỏi thêm: “Sau này Đức Mêsia của chúng ta đến, ngài sẽ có gì giống với Đức Kitô của người Công giáo không ?

Chúng ta không biết vị giáo trưởng sẽ trả lời làm sao, nhưng chúng ta biết một điều là chúng ta, người Công giáo không khắc khoải xao xuyến chờ đợi nữa. Đó là điều hơn của chúng ta khi tin vào Chúa Giêsu là Đường, Sự thật và sự Sống.

Có một bà già khi đau biết gần chết cho mời linh mục đến giúp đỡ. Để thử lòng tin của bà, linh mục hỏi : Bà sẽ làm gì nếu sau khi Chúa làm mọi sự cho bà, cuối cùng Chúa để bà hư mất…. Bà trả lời : Thưa cha, Chúa làm gì tùy Chúa muốn, nhưng nếu Chúa để con hư mất thì Chúa bị thiệt nhiều hơn con. Con chỉ mất một linh hồn, còn Chúa sẽ mất danh dự vì Lời của Chúa đã không thực hiện.

Lời của Chúa thì nhiều, nhưng lời : Ta là Đường, là sự Thật là sự Sống . phải là một lời chúng ta bám vào để về với Chúa Cha. Thánh Phaolô một người Do-thái gốc khi đã nhận biết Chúa Kitô (chứ không như những người Do-thái hiện nay đang chờ một Kitô nào khác) đã nói : “Tôi coi mọi sự là thua lỗ, bất lợi cả, trước cái lợi tuyệt vời là được biết Đức Giêsu Kitô Chúa tôi, vì Người tôi sẵn sàng mất tất cả.” Và chúng ta nói thêm với Phaolô : vì chính Ngài là đường, dẫn ta đi đúng lối (sự thật) và nuôi dưỡng chúng ta trên đường đi (sự sống). đi đến cái đích mà mọi người chờ mong : Nhà Cha : nơi còn nhiều chỗ.

Ước chi Đức Kitô là Đường đi, và Luật đi đường là Luật Yêu Thương của Phúc Âm (tức là sự Thật), và của ăn đi đường là Mình Thánh Chúa (là sự Sống) mà chúng ta sẽ lãnh nhận trong thánh lễ, bộ ba đó làm chúng ta an tâm : vì chúng ta vững tin vào Ngài.

Anphong Nguyễn Công Minh, ofm

ĐỂ NÊN MỤC TỬ NHÂN LÀNH NOI GƯƠNG ĐỨC GIÊ-SU

HIỆP SỐNG TIN MỪNG

CHÚA NHẬT 4 PHỤC SINH A

Cv 2,14a.36-41 ; 1 Pr 2,20b-25 ; Ga 10,1-10

  1. HỌC LỜI CHÚA
  2. TIN MỪNG: Ga 10,1-10

(1) “Thật, tôi bảo thật các ông: Ai không đi qua cửa mà vào ràn chiên, nhưng trèo qua lối khác mà vào, người ấy là kẻ trộm, kẻ cướp. (2) Còn ai đi qua cửa mà vào, người ấy là mục tử. (3) Người giữ cửa mở cho anh ta vào, và chiên nghe tiếng của anh, anh gọi tên từng con, rồi dẫn chúng ra. (4) Khi đã cho chiên ra hết, anh ta đi trước và chiên đi theo sau, vì chúng nhận biết tiếng của anh. (5) Chúng sẽ không theo người lạ, nhưng sẽ chạy trốn, vì chúng không nhận biết tiếng người lạ. (6) Đức Giê-su kể cho họ nghe dụ ngôn đó. Nhưng họ không hiểu những điều Người nói với họ. (7) Vậy, Đức Giê-su lại nói: “Thật, tôi bảo thật các ông: Tôi là cửa cho chiên ra vào. (8) Mọi kẻ đến trước tôi đều là trộm cướp, nhưng chiên đã không nghe họ. (9) Tôi là cửa. Ai qua tôi mà vào thì sẽ được cứu. Người ấy sẽ ra vào và gặp được đồng cỏ. (10) Kẻ trộm chỉ đến để ăn trộm, giết hại và phá hủy. Phần tôi, tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào.

  1. Ý CHÍNH:

Bài Tin Mừng hôm nay giới thiệu Đức Giê-su vừa là mục tử vừa là cửa chuồng chiên:

- LÀ MỤC TỬ THẬT SỰ CỦA DÂN ÍT-RA-EN: Vì Người đi qua cửa chính mà vào chuồng chiên và được người giữ cửa là Gio-an Tẩy Giả giới thiệu. Do đó, Người được đàn chiên là dân chúng nghe theo. Còn các đầu mục Do thái chỉ là người lạ, nên chiên chạy trốn và không đi theo họ.

- LÀ CỬA CHO CHIÊN RA VÀO: Các luật sĩ và Biệt phát không tin Đức Giê-su và không được Thiên Chúa ủy nhiệm coi sóc đàn chiên. Họ leo rào mà vào chuồng nên chỉ là hạng trộm cướp. Kẻ trộm đến chỉ để giết hại và phá huỷ đàn chiên. Còn Đức Giê-su đến để đem lại cho chiên sự an toàn, tự do, lương thực và sự sống dồi dào.

  1. CHÚ THÍCH:

- C 1-3: + Ràn chiên: hay chuồng chiên, là hình ảnh quen thuộc của dân Do thái vốn là một dân du mục. Ở đây ràn chiên là hình ảnh ám chỉ Giáo hội là Nước Trời hay Nước Thiên Chúa. + Cửa vào: Mỗi chuồng chiên chỉ có một cửa chính để chiên ra vào. Ai muốn được công nhận là mục tử đích thực của Chúa phải qua cửa chính là Đức Giê-su mà vào Hội Thánh. Họ phải được Người tuyển chọn và trao sứ mệnh chăn chiên. Còn kẻ trèo qua lối khác mà vào, như các kinh sư hay Pha-ri-sêu, thì chỉ là mục tử giả hiệu hay hạng trộm cướp. + Người giữ cửa mở cho anh ta vào: Đức Giê-su chính là Mục tử đích thực, vì Người đã được người giữ cửa là Gio-an Tẩy Giả làm chứng là “Đấng được Thiên Chúa tuyển chọn” (Ga 1,31-34). + Và chiên nghe tiếng của anh: Đàn chiên chỉ nhận biết và nghe theo một chủ chăn duy nhất, như các Tông đồ đã nghe lời và đi theo một mình Đức Giê-su (x. Ga 1,35-51). + Anh gọi tên từng con rồi dẫn chúng ra: Trong ràn có nhiều đàn chiên. Ban chiều, mỗi mục tử sẽ đưa đàn chiên vào ràn, rồi đến sáng sẽ lại đến dẫn đàn chiên ấy ra khỏi chuồng để dẫn đến đồng cỏ cho chúng ăn cỏ uống nước. Đây là kiểu nói cường điệu. Thực ra các mục tử chỉ đặt tên và gọi tên một con chiên đầu đàn thôi và các con khác sẽ theo sau con chiên đầu đàn này ra ngoài. Ở đây Đức Giê-su nhấn mạnh tinh thần trách nhiệm của Người là vị Mục tử tốt lành, khác với các Pha-ri-sêu và kinh sư là những kẻ chăn thuê vô trách nhiệm.

- C 4-6: + Anh ta đi trước và chiên đi theo sau: Câu này nhắc đến sứ mệnh Mục tử của Đức Giê-su: Khi đã kéo Môn đệ ra khỏi thế gian (x. Ga 15,19). Người đi tiên phong dẫn họ tới đồng cỏ non là Hội Thánh. Chiên sẽ nhận biết tiếng nói và chỉ đi theo Mục tử Giê-su, vì Người luôn nói Lời của Thiên Chúa cho họ (x. Ga 14,10). + Chúng sẽ không theo người lạ,..: Người lạ là những kẻ không do Thiên Chúa sai đến, nhưng đã leo rào mà vào. Người lạ ám chỉ các đầu mục dân Do thái đương thời. Vì họ không phải là mục tử đích thực, nên chiên đã không đi theo họ mà trái lại chúng còn lẩn trốn họ nữa.

- C 7-8: + Tôi là cửa cho chiên ra vào: Vì thính giả không hiểu ý nghĩa dụ ngôn, nên Đức Giê-su phải giải thích rõ ràng: Người chính là cửa chuồng chiên tức là cửa ngõ để vào Nước Trời, mà ai muốn vào Nước Trời ấy đều phải tin Người. + Mọi kẻ đến trước tôi đều là trộm cướp, nhưng chiên đã không nghe họ: Mọi kẻ đến trước ở đây không nhằm chỉ các ngôn sứ Cựu Ước, mà chỉ nhắm tới những kẻ không được Thiên Chúa sai như các pha-ri-sêu và kinh sư Do thái (x. Mt 23,1-8). Họ bị Đức Giê-su quở trách là bọn đạo đức giả, cản đường người khác gia nhập Nước Trời, có lòng tham lam, ăn ở bất công, dẫn dường đui mù và đã từng giết hại nhiều vị ngôn sứ chân chính (x. Mt 23,13-32).

- C 9-10: + Tôi là cửa. Ai qua tôi mà vào thì sẽ được cứu: Đức Giê-su là con đường người ta phải đi ngang qua để được vào Nước Trời. Tương tự như câu: “Thầy là đường…Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy” (Ga 14,6). + Người ấy sẽ ra vào: Ra vào nghĩa là được tự do đi lại. + Gặp được đồng cỏ: Trong Đức Giê-su, các tín hữu sẽ được cứu khỏi làm nô lệ cho tội lỗi và ma quỷ. Họ sẽ được hưởng tự do đích thực (x. Ga 8,31-36). Nhờ Đức Giê-su, họ sẽ tìm được của nuôi thân là Nước hằng sống và Bánh trường sinh (x. Ga 4,14 ; 6,35). + Kẻ trộm chỉ đến để ăn trộm, giết hại và phá hủy: Kẻ trộm ám chỉ các đầu mục Do thái, vì không được Thiên Chúa sai đến, nhưng họ đã leo rào mà vào chuồng chiên. Họ chỉ đi tìm lợi ích cho bản thân hơn là lợi ích của đàn chiên (x. Mt 23,4-7). + Tôi đến cho chiên được sống và sống dồi dào: Nhờ có lương thực là Lời Chúa và Thánh Thể, mà đức tin của các tín hữu sẽ trở nên vững mạnh và có được sự sống đời đời.

  1. CÂU HỎI:

1) Ràn chiên nghĩa là gì và là hình ảnh ám chỉ điều gì? Cửa vào ám chỉ ai? 2) Đức Giê-su là Mục Tử thực sự của đoàn chiên vì đã được Gio-an Tẩy Giả là người giữ cửa làm chứng như thế nào? 3) Đàn chiên chỉ nhận biết tiếng nói và đi theo ai? Phải chăng mọi con chiên đều được đặt tên và mỗi buổi sáng người mục tử phải gọi tên từng con chiên để dẫn chúng ra khỏi chuồng? 4) Ý nghĩa của câu: anh ta đi trước và chiên đi theo sau… là gì? 5) Tại sao đàn chiên không nghe theo người lạ? Người lạ nói đây ám chỉ những ai? 6) Những kẻ đến trước được liệt vào hạng trộm cướp nói đây ám chỉ ai? Tại sao? 7) Đức Giê-su tự nhận mình là cửa chuồng chiên mà ai muốn vào chuồng chiên phải đi qua, giống như nơi khác Người đã tự ví mình là gì? 8) Kẻ trộm đầu mục Do thái khác với vị Mục Tử tốt lành là Đức Giê-su thế nào?

  1. SỐNG LỜI CHÚA
  2. LÒI CHÚA: “Tôi là cửa. Ai qua tôi mà vào thì sẽ được cứu. Người ấy sẽ ra vào và gặp được đồng cỏ” (Ga 10,9)
  3. CÂU CHUYỆN:

1) ĐỨC GIO-AN PHAO-LÔ II – HÌNH ẢNH MỤC TỬ NHÂN LÀNH :

Ngày 27/04/2014, Đức Thánh Cha Gio-anPhaolô II đã được Giáo hội tôn phong lên bậc hiển thánh. Người là một người môn đệ đã hoạ lại rõ nét hình ảnh mục tử của Thầy Chí Thánh Giê-su. Một vị mục tử luôn làm việc : Cho dù tuổi đã cao lại thêm nhiều bệnh tật, thế mà ngài vẫn luôn hiện diện bên đàn chiên, vẫn lên tiếng gọi đàn chiên, vẫn là chỗ dựa vững chắc và an toàn cho đàn chiên. Đến nỗi khi ngài qua đời, Đức tổng Giám mục Lê-ô-nar-do San-dri, thứ trưởng Ngoại giao của Toà Thánh đã nói với toàn thể thế giới rằng: “Hôm nay, chúng tôi trở thành những đứa con mồ côi”.

Tại sao người ta lại tỏ lòng thương tiếc một cụ già như thế? Có phải người ta ngưỡng mộ Ngài vì ngài nhiều tiền, nhiều quyền thế không? Thưa không phải thế. Người ta thương tiếc ngài như một mục tử đã sống hết mình vì đàn chiên. Một mục tử canh giữ hoà bình không chỉ cho đàn chiên mà cho hàng tỉ người trên khắp hành tinh này. Người mục tử với 26 năm chăn dắt đàn chiên của Chúa đã không ngừng bảo vệ quyền sống của con người, nhất là của các thai nhi. Người mục tử đã không ngừng đi đến tận cùng thế giới để gieo rắc an bình, công bình, tha thứ và yêu thương. Người mục tử đã đi đến cùng đường để quy tụ đàn chiên, để tìm kiếm các con chiên lạc đưa về một mối và cuối đời, trong những tiếng nấc hoà trộn với hơi thở bị ngắt quãng, ngài đã nói với đàn chiên đang canh thức cầu nguyện cho ngài trong giờ lâm chung rằng: “Ta đã đi tìm kiếm các con. Và bây giờ các con đã đến với Ta. Ta xin cám ơn các con”.

2) TINH THẦN MỤC TỬ CỦA MỘT BÀ MẸ:

Trong cuốn tự thuật, DIM-MY CÁC-NÂY (Jimmy Cagney) một nam diễn viên nổi tiếng ở HÔ-LI-GÚT (Hollywood) đã thuật lại câu chuyện cảm động về bà mẹ của ông. Câu chuyện xảy ra vào thời thơ ấu của Các-nây khi mẹ ông nằm thoi thóp chờ chết. Chung quanh giường có bốn anh em trai và một cô em gái út duy nhất. Vì bị tai biến mạch máu não, nên bà mẹ của Các-nây không thể nói thành tiếng. Sau khi bà cố lần lượt hôn năm đứa con, bà liền giơ cánh tay phải còn cử động được lên. Dim-my kể lại những gì đã xảy ra như sau “Mẹ tôi dùng ngón tay phải chỉ vào anh con trai trưởng rồi lại chỉ vào ngón tay trỏ của bàn tay trái bị tê liệt của bà, rồi bà lần lượt chỉ vào từng người trong mấy anh em chúng tôi, mỗi người được tượng trưng bằng một trong bốn ngón tay trái. Riêng ngón cái thì bà chỉ vào đứa em gái út Din-ni (Jeannie) mới ba tuổi. Bà cầm ngón cái ấy để vào giữa lòng bàn tay và ép bốn ngón tay kia lên ngón cái ấy. Cuối cùng bà dùng bàn tay phải vỗ nhẹ lên nắm đấm của bàn tay trái”. Dim-my nhận xét rằng cử chỉ của mẹ ông lúc đó thật tuyệt vời. Năm anh em hiện diện đều hiểu được ý nghĩa mà bà muốn diễn tả: Bốn anh em trai phải thay bà để che chở và giúp đỡ cho cô em gái út bé nhỏ sau khi bà qua đời. Đó là một cử chỉ đầy ý nghĩa mà không lời nói nào có thể diễn tả hay hơn được. Cử chỉ ấy của bà đã để lại ấn tượng mạnh mẽ không bao giờ phai mờ trong tâm khảm của anh em chúng tôi, khiến chúng tôi luôn giữ lời trăn trối của bà”.

3) ĐỨC TÍNH HY SINH CỦA NGƯỜI MỤC TỬ :

Có hai vợ chồng trẻ làm nghề đốn củi vào mùa nước lũ. Chiều tối, khi trở về họ đặt củi trên chiếc thuyền lan mong manh, nhỏ bé để xuôi theo dòng nước quay về nhà. Thình lình một dòng lũ từ những sườn núi ồ ạt tuôn xuống dòng sông, tạo thành một dòng xoáy mỗi lúc một mạnh khiến chiếc thuyền lan nhỏ bé của họ bị bể vỡ tan tành. Người chồng cố níu kéo vợ khỏi bị nước lũ cuốn trôi. Nhưng dòng nước xoáy mỗi phút giây qua đi lại trở nên mạnh mẽ hơn. Sức lực của anh chồng xem ra mỗi lúc đuối dần khi phải một mình bơi sải vừa để thoát thân lại vừa phải cứu vợ. Người vợ thấy sức chịu đựng của chồng đã sắp cạn kiệt, nên đã buông tay ra để mặc cho dòng nước lũ cuốn đi. Chị chỉ kịp gào thét trong cơn mưa giông và nước lũ: "Anh phải sống để nuôi dạy đàn con anh nhé !".

4) MỤC TỬ CÓ SỨC MẠNH BIẾN ĐỔI SỐ PHẬN ĐỜI NGƯỜI:

Dương Ân Điển là đứa bé bị bỏ rơi, người ta nhặt được nó ở một quầy bán thịt, trong cái chợ nghèo vùng núi miền Nam, đảo Đài Loan. Câu chuyện thương tâm này xảy ra năm 1974, ấy là lúc vừa lọt lòng, em đã không có hai cánh tay, chân phải thẳng đơ không thể co duỗi.

Thế mà 25 năm sau, đứa bé tàn tật bất hạnh ấy đã trở thành nhà danh họa tài ba, chuyên vẽ tranh bằng chân và miệng. Cô đã tổ chức nhiều cuộc triển lãm ở Mỹ và Nhật, và là thành viên của Hiệp Hội quốc tế những người vẽ tranh bằng chân và miệng.

Cuộc đời co thay đổi nhanh chóng như thế, thành công rực rỡ như thế, cũng là nhờ mục sư Dương Húc và vợ ông là Lâm Phương Anh nhận nuôi. Đặc biệt là ông Tưởng Kinh Quốc đã cho cô đi giải phẫu chỉnh hình cột sống, nắn chân phải, sửa đường làm cầu cho cô dễ dàng đi tới trường. Ông đã nói với cô: “Cháu không có tay, nhưng còn chân, và có thể làm được rất nhiều việc”. Chính tình thương, sự chăm sóc, và lời động viên của ông Tưởng Kinh Quốc đã thay đổi số phận của một con người.

“Chiên của tôi thì nghe tiếng tôi; tôi biết chúng và chúng theo tôi” (Ga 10, 27). Thiên Chúa là chủ chiên nhân lành, Người yêu thương mỗi người chúng ta bằng một tình yêu cá biệt, cho dù chúng ta có què quặt đui mù, có xấu xa đốn mạt đến đâu, mỗi người chúng ta đều có chỗ đứng độc nhất vô nhị trong tình yêu bao bọc của Chúa; mỗi người chúng ta đều có vị trí đặc biệt trong trái tim yêu thương của Người. Tấm lòng quảng đại yêu thương của ông Tưởng Kinh Quốc dành cho cô bé tàn tật Dương Ân Điển chỉ là hình bóng tình yêu thương vô bờ của Thiên Chúa đối với chúng ta, những con chiên của Người.

5) ĐỨC GIÊ-SU LÀ CỬA BẢO VỆ ĐÀN CHIÊN:

George Smith kể lại một loại chuồng chiên khi đi du lịch ở Đông phương : Bấy giờ ông cùng đi với một người chăn chiên. Thấy một chiếc chuồng ông liền hỏi người chăn chiên:

- Đó có phải là chuồng chiên không ?

Người ấy đáp :

- Dạ, phải.

Rồi Geoge nói :

- Tôi thấy chỉ có một lối đi vào.

Giơ tay chỉ khoảng trống ở hàng rào, người ấy đáp :

- Vâng, ở đàng kia là cái cửa.

Ông Geoge rất ngạc nhiên bảo :

- Nhưng ở đó đâu có cửa ?

Người chăn chiên đáp :

- Dạ, tôi là cửa.

Geoge chợt nhớ câu truyện trong Tin Mừng Gio-an nên tiếp tục hỏi người chăn chiên :

- Anh muốn nói gì khi bảo chính anh là cái cửa ?

Người chăn chiên giải thích :

- Chiên vào chuồng xong, tôi đến nằm ngay ngưỡng cửa, và sẽ không có con chiên nào có thể đi ra hoặc con chó sói nào có thể đi vào chuồng nếu không nhảy qua người tôi.

  1. SUY NIỆM:

Chúa nhật IV Phục Sinh được gọi là Chúa nhật lễ Chúa Chiên lành. Tin Mừng Gio-an đề cập đến hình ảnh quen thuộc của vùng Trung Đông: các mục tử, cửa chuồng chiên:

1) TÔI LÀ MỤC TỬ NHÂN LÀNH (Ga 10,7):

- Mục tử là người vào chuồng chiên ngang qua cửa chính, chứ không lén lút leo rào mà vào chuồng (x. Ga 10,1-2). Người giữ cửa quen biết mục tử nên sẵn sàng mở cửa, và chiên cũng quen biết mục tử quen với giọng nói của anh, nên dễ dàng phân biệt anh với người lạ hay kẻ trộm (x. Ga 10,3-5). Mục tử nhân lành yêu thương chiên, biết tên và âu yếm gọi từng con chiên trong đoàn ra ngoài. Mục tử sẽ đi trước dẫn đường, các con chiên sẽ yên tâm theo sau, vì chúng biết đang đi theo ai và người chủ chiên sẽ dẫn chúng đi đâu. Hầu như có một sự hiểu biết cảm thông và gần gũi giữa đoàn chiên và người mục tử.

- Trong lịch sử dân Ít-ra-en, các vua chúa và đại tư tế được gọi là mục tử. Danh hiệu Mục Tử Nhân Lành thường được dành riêng để gọi Đức Chúa. Qua trung gian ông Mô-sê, Đức Chúa đã dẫn đưa con dân Ít-ra-en vượt qua Biển Đỏ, qua sa mạc 40 năm để về miền Đất Hứa dành cho tổ phụ Áp-ra-ham và con cháu đến muôn đời. Đức Chúa như người mục tử đã gắn liền số phận với đàn chiên là dân Ít-ra-en. Hình ảnh mục tử đó chỉ được rõ nét nơi Đức Giê-su trong thời Tân Ước sau này. Hôm nay, Đức Giê-su tuyên bố Người là Mục Tử nhân lành. Khác với các đầu mục Do thái là bọn người chăn thuê. Chúng chỉ biết lợi dụng đàn chiên để tìm tư lợi, Mục Tử nhân lành Giê-su yêu thương đàn chiên, hiểu biết từng con, luôn phục vụ đàn chiên và sẵn sàng thí mạng sống bảo vệ đàn chiên khỏi bị sói dữ cắn xé. Đáp lại, con chiên cần nghe tiếng chủ chiên, yêu mến và vâng lời chủ chiên. Đức Giê-su tóm lại sứ mệnh mục tử của Người như sau: “Kẻ trộm đến chỉ để ăn trộm, giết hại và phá hủy. Phần Tôi, Tôi đến để cho chiên được sống và sống dồi dào” (Ga 10,10).

2) TÔI LÀ CỨA CHUỒNG CHIÊN (Ga 10,9) :

Sau khi đã tự mô tả là một người mục tử nhân lành, Đức Giê-su lại nhận mình là cửa chuồng chiên. Hôm nay Đức Giê-su tuyên bố: « Tôi là cửa cho chiên ra vào… Tôi là cửa. Ai qua tôi mà vào thì sẽ được cứu. Người ấy sẽ ra vào và gặp được đồng cỏ » (Ga 10,7.9)Đức Giê-su chính là mục tử chăn dắt đoàn chiên là các tín hữu. Khác với kẻ trộm chỉ đến để ăn trộm, giết hại và phá hủy, Đức Giê-su đến để cho chiên được sống, và sống dồi dào (x. Ga 10,10).

- Cửa chuồng chiên là lối cho chiên ra vào chuồng để được bảo vệ an toàn và được sống dồi dào. Chỉ người nào đi qua Cửa chuồng chiên Giê-su tức là Hội Thánh thì người ấy mới là mục tử thực sự của Thiên Chúa và mới được hưởng ơn cứu độ của Ngài ban cho (x. Ga 10,9). Thánh Gio-an Kim Khẩu nói: “Khi Đức Giê-su đưa chúng ta đến với Chúa Cha, Người nhận mình là Cửa. Khi Người săn sóc dưỡng nuôi ta, Người nhận mình là Mục Tử”. Cửa Giê-su cũng giúp phân biệt mục tử giả và thật : Mục tử giả sẽ không dám đi ngang qua Cửa Giê-su để vào chuồng chiên. Chớ gì Hội Thánh có nhiều mục tử thực sự của Chúa Giê-su, có tình yêu thương thể hiện qua lối sống gần gũi « có mùi chiên », biết tên từng con chiên và mang lại cho chiên của ăn thiêng liêng là Lời Chúa và Thánh Thể đem lại sự sống dồi dào.

3) NGUYÊN NHÂN THIẾU ƠN THIÊN TRIỆU TRONG CÁC NƯỚC TÂN TIẾN ?

  1. a) Hiện nay nhiều nơi trên thế giới nhất là tại các nước Âu Mỹ, đang thiếu trầm trọng ơn gọi linh mục tu sĩ. Nhiều nhà thờ không có linh mục nên phải đóng cửa hoặc bán đi để trả nợ. Cũng có nhiều dòng tu bị giải thể vì không còn lớp tu sĩ trẻ kế thừa.
  2. b) Hiện tượng thiếu ơn gọi linh mục tu sĩ thường do mấy nguyên nhân như sau:

- Một là vì các đôi vợ chồng trẻ do thói ích kỷ nên không muốn sinh nhiều con, để dành tiền bạc và thời gian phục bụ cho các nhu cầu riêng của mình.

- Hai là các người trẻ hôm nay luôn chịu ảnh hưởng của lối sống thực dụng và hưởng thụ: chỉ biết tìm thỏa mãn các đam mê nhục dục thấp hèn, các nhu cầu ích kỷ bản thân… và mất đi cảm thức đức tin.

- Nhưng nguyên nhân quan trọng nhất có lẽ là do người lớn đã không nhiệt tâm cổ võ cho ơn thiên triệu và không quảng đại hiến dâng con mình cho Chúa và Hội Thánh.

- Mỗi Giáo xứ phải trở thành vườn ươm trồng ơn thiên triệu: Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II trong sứ điệp về ơn gọi năm 1996 đã nhắc đến việc cần phải làm là tạo một môi trường thuận lợi cho hạt giống ơn gọi dễ phát triển là các giáo xứ. Ngài nói như sau: “Phải làm sao để mỗi giáo xứ trở thành một cộng đoàn lắng nghe Lời Chúa, cộng đoàn cầu nguyện, hăng say làm việc tông đồ và luôn quan tâm phục vụ những người nghèo khổ. Giới trẻ hôm nay vẫn không thiếu những tâm hồn quảng đại, không thiếu những người trẻ muốn sống cuộc đời lý tưởng và có ý nghĩa. Họ cần được Hội Thánh hướng dẫn để gặp được Đức Giê-su, để nghe lời Người và theo làm môn đệ của Người, sẵn sàng chia sẻ sứ mệnh cứu độ của Người. Giới trẻ hôm nay cũng cần được nghe những tiếng kêu than của bao người đói khát chân lý hay đang cần được công lý bảo vệ. Hội Thánh phải giúp giới trẻ cảm nhận được bổn phận lớn lao là xây dựng thế giới này trở thành một ngôi nhà của tình thương và hạnh phúc. Giới trẻ cũng cần có những người thầy, người bạn dám sống niềm tin giữa muôn trở lực khó khăn, và luôn đứng vững trước sức mạnh của các cám dỗ muốn thỏa mãn các đam mê bất chính”.

4) LÀM GÌ ĐỂ GIÚP HỘI THÁNH THÊM NHIỀU LINH MỤC TU SĨ ?

  1. a) Hỗ trợ của các bậc cha mẹ trong gia đình: Hiện nay sở dĩ thiếu ơn gọi một phần cũng là do lỗi của chúng ta chưa thiết tha cầu xin Thiên Chúa sai thêm thợ gặt đến, chưa quyết tâm trở thành chứng nhân của Chúa, chưa quảng đại dâng con và khuyến khích chúng quảng đại phục vụ Chúa và Hội Thánh trong bậc tu trì.
  2. b) Vai trò của gương sáng: Đức Giáo hoàng Phan-xi-cô đã nói về các mục tử trong Hội Thánh như sau: “Giám Mục không phải là Giám Mục cho bản thân ngài, mà là cho dân. Cũng vậy, Linh Mục không phải là Linh Mục cho bản thân ngài, mà là cho dân: để phục vụ, nuôi dưỡng, chăm sóc dân là đoàn chiên của ngài…” Đức Giáo Hoàng đòi hỏi linh mục như sau : “Tôi yêu cầu anh em hãy là những mục tử mang nặng mùi con chiên của mình.” Hiện nay trong giáo xứ của chúng ta, vẫn còn nhiều người chưa biết Chúa, hoặc đã biết Chúa nhưng chối bỏ đức tin, cố tình loại Chúa ra khỏi cuộc đời mình… Các cha xứ phải đi tìm kiếm họ để an ủi, chữa lành và giúp họ trở về với Chúa.
  3. c) Gây ý thức về tầm quan trọng và nhiệm vụ ươm trồng ơn thiên triệu : Mỗi người chúng ta cần cầu nguyện cho mình sống đúng vai trò là linh mục, là quý chức giúp việc, là chồng vợ, cha mẹ và con cái trong gia đình.
  4. d) Quảng đại đóng góp tinh thần vật chất cho chủng viện : Các gia đình, hội đoàn, giáo xứ… hãy quảng đại để tích cực cộng tác với Hội Thánh ươm trồng ơn thiên triệu và có thêm nhiều linh mục tu sĩ hiến thân chăm sóc đàn chiên và loan báo Tin Mừng cho an hem lương dân chưa nhận biết Chúa, vì « lúa chín đầy đồng mà thiếu thợ gặt ».

THẢO LUẬN:

Theo bạn mục tử tốt như lòng Chúa mong ước hôm nay cần có những phẩm chất nào : khôn ngoan, đạo đức, có bằng cấp cao, thông thạo ngoại ngữ, đàn hay hát giỏi, giảng hấp dẫn, nhiệt tình tông đồ, sống đơn giản, dấn thân hy sinh, chu toàn bổn phận, thái độ khiêm tốn, hiền hòa, vui vẻ, tiết độ, trung thực, vị tha, đúng đắn trong giao tiếp, quan tâm đến giới trẻ, có lòng thương xót ? Tại sao ?

NGUYỆN CẦU:

LẠY CHÚA GIÊ-SU. Xin ban cho chúng con những linh mục biết quảng đại, hy sinh trong đời phụng sự Chúa và phục vụ tha nhân. Xin ban cho chúng con những linh mục có trái tim biết yêu thương bằng tình yêu của Chúa, một trái tim mở rộng để sẵn sàng đón nhận hết mọi người, nhất là những người đau khổ và bị bỏ rơi. Xin ban cho chúng con những linh mục có đức tin vững mạnh, luôn sống kết hiệp mật thiết với Chúa, để giúp chúng con gặp được chính Chúa. Xin ban cho chúng con những linh mục biết chăm chỉ rao giảng Lời Chúa, có sức làm nóng lên đức tin yếu kém và làm bùng cháy ngọn lửa yêu thương trong lòng chúng con, giúp chúng con thêm đức tin để nhìn thấy Chúa trong mọi người. Cuối cùng xin Chúa ban cho chúng con những linh mục là những vị chủ chăn tốt lành noi gương Chúa xưa, đến để cho chiên “được sống và sống dồi dào”.

X) HIỆP CÙNG MẸ MA-RI-A.- Đ) XIN CHÚA NHẬM LỜI CHÚNG CON

LM ĐAN VINH -  HHTM

CÓ MỤC TỬ, CÓ SỰ SỐNG

Trong Phụng vụ Mùa Phục Sinh, sứ điệp về Chúa Kitô Phục Sinh không chỉ dừng lại ở việc Ngài chiến thắng cái chết, mà còn mở rộng ra mối tương quan thiết thân giữa Ngài và nhân loại. Các bài đọc Kinh Thánh hôm nay cho thấy hành trình đi đến ơn cứu độ: từ lời Thánh Phêrô mời gọi sám hối, nhờ sự hy sinh tự hiến của “Con Chiên bị sát tế”, đến với Chúa Giêsu là “Cửa” và là “Mục Tử” dẫn đưa đoàn chiên vào đồng cỏ sự sống.

  1. Sám hối là cửa ngõ bước vào Nước Trời

Sách Tông đồ Công vụ đưa chúng ta trở lại buổi bình minh của Giáo hội. Thánh Phêrô, sau khi lãnh nhận Chúa Thánh Thần, đã đứng lên dõng dạc tuyên bố một sự thật chấn động: “Chúa Giêsu mà anh em đã treo trên thập giá, Thiên Chúa đã đặt Ngài làm Chúa và làm Đấng Kitô” (Cv 2: 36).

Phản ứng của đám đông là chìa khóa cho sự biến đổi: “Họ đau đớn trong lòng” (Cv 2: 37). Trong tiếng Hy Lạp, từ κατανυσσομαι - katanyssomai diễn tả một nỗi đau như bị “đâm thấu” vào tim, một nỗi buồn thống hối lành thánh, xúc động sâu xa trước tình thương của Thiên Chúa. Đây không phải là nỗi buồn ủy mị, mà là sự bừng tỉnh của lương tâm trước chân lý.

Khi người ta hỏi: “Thưa các ông, chúng tôi phải làm gì?” (Cv 2: 37), câu trả lời của Phêrô rất dứt khoát: “Anh em hãy sám hối, và mỗi người hãy chịu phép rửa nhân danh Chúa Giêsu Kitô, để được ơn tha tội; và anh em sẽ nhận được ân huệ là Thánh Thần” (Cv 2: 38). Để vào được “đoàn chiên” của Thiên Chúa, con người không thể kiêu ngạo trèo qua tường, mà phải khiêm hạ đi qua cửa hẹp thừa nhận lỗi lầm của mình.

Lời kêu gọi “Anh em hãy tránh xa thế hệ gian tà này để được cứu độ” (Cv 2: 40) của Phêrô không mang nghĩa cô lập thế gian, nhưng là sự tách biệt khỏi lối sống khước từ Thiên Chúa. Ba ngàn người gia nhập đạo ngày hôm ấy là minh chứng cho sức mạnh của hồng ân khi con người dám mở lòng đón nhận tiếng gọi của Vị Mục Tử qua lời giảng của các Tông đồ.

  1. Bước theo Chúa Kitô

Thánh Phêrô trong thư thứ nhất đi sâu vào mầu nhiệm khổ nạn của Chúa Kitô, cái giá để mở ra cánh cửa sự sống. Thánh Phêrô mời gọi chúng ta: “Chúa Kitô đã chịu đau khổ vì anh em,để lại một gương mẫu cho anh em dõi bước theo Ngài” (1 Pr 2: 21). Mục tử nhân lành không chỉ đứng xa ra lệnh, nhưng đi trước. Bước chân của Ngài thấm máu. Mục tử đã trở thành con chiên, Đấng vô tội đã gánh lấy tội để chiên được sống. Trong bài ca Người Tôi Trung, ngôn sứ Isaia đã nói: “Ngài đã thí mạng mình không màng cái chết, và đã bị liệt hang những kẻ ngỗ nghịch, là đã mang lấy tội lỗi nhiều người, và đứng ra bầu chữa cho những kẻ ngỗ nghịch” (Is 53: 12). Thánh Phêrô khẳng định lại lời ngôn sứ: “Vì Ngài phải mang những vết thương mà anh em đã được chữa lành” (1 Pr 2: 24). Đây là lời an ủi lớn lao cho những ai đang chịu đau khổ.

Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã viết về ý nghĩa của đau khổ: “Chúa Kitô đã biến đau khổ thành nền tảng vững chắc nhất của điều thiện cuối cùng, đó là điều thiện của ơn cứu độ đời đời. Qua sự đau khổ trên thập giá, Chúa Kitô đã chạm đến tận gốc rễ của sự ác, của tội lỗi và sự chết. Ngài đã chiến thắng kẻ chủ mưu của sự ác, là Satan, và sự nổi loạn dai dẳng của hắn chống lại Đấng Tạo Hóa. Đối với người anh chị em đang đau khổ, Chúa Kitô tiết lộ và dần dần hé lộ những chân trời của Nước Thiên Chúa: những chân trời của một thế giới được hoán cải cho Đấng Tạo Hóa, một thế giới không còn tội lỗi, một thế giới được xây dựng trên sức mạnh cứu rỗi của tình yêu” (Thông điệp Salvifici Doloris, số 26).

  1. Chúa Giêsu là cửa và mục tử

Đỉnh cao của mạc khải về tương quan giữa mục tử và chiên được Chúa Giêsu diễn tả qua hai hình ảnh đan xen: Cửa và Mục Tử.

Tại sao Chúa Giêsu lại tự ví mình là cánh cửa? Trong bối cảnh Trung Đông xưa, các chuồng chiên ngoài trời thường không có cánh cửa gỗ. Vị mục tử sẽ nằm ngay lối ra vào. Chính thân thể ông là cánh cửa. Không một con chiên nào ra hay vào mà không đi qua người ông, và không một kẻ thù nào xâm nhập được mà không chạm đến thân xác ông.

Ai đi qua Chúa Kitô không phải là đi vào sự giam cầm, mà là bước vào sự tự do đích thực của con cái Thiên Chúa: “Tôi là cửa. Ai qua tôi mà vào thì sẽ được cứu. Người ấy sẽ ra vào và gặp được đồng cỏ” (Ga 10: 9). Người ấy sẽ được bảo vệ vì Chúa Giêsu là lằn ranh bảo vệ chúng ta trước những “kẻ trộm”, nghĩa là các tư tưởng sai lạc, những cám dỗ phù phiếm.

Thánh Tôma Aquinô kêu mời: “Hãy chú ý: không ai khác là cửa ngoài Chúa Kitô… Chắc chắn thật thích hợp khi Chúa Kitô là một mục tử, vì cũng như đàn chiên được người chăn chiên dẫn dắt và nuôi dưỡng, thì các tín hữu cũng được Chúa Kitô nuôi dưỡng bằng thức ăn thiêng liêng, bằng chính thân thể và máu của NgàiHãy bám chặt vào Chúa Kitô nếu muốn được an toàn. Các con sẽ không thể lạc lối vì Ngài là con đường.” [1]

Giữa hàng tỷ người trên thế giới, Vị Mục Tử không nhìn chúng ta như một khối đám đông vô danh. Ngài gọi “tên từng con” (Ga 10: 3). Đây là khía cạnh cá vị nhất của đức tin. Trong Kinh Thánh, cái tên đại diện cho bản chất và định mệnh của một con người. Việc Chúa gọi tên có nghĩa là Ngài thấu hiểu mọi nỗi đau, mọi khao khát và mọi yếu đuối của chúng ta. “Chúa yêu thương mỗi người chúng ta như thể chỉ có một mình chúng ta.” [2]

Giữa một thế giới đầy rẫy những tạp âm và những lời hứa hẹn huyễn hoặc của “kẻ trộm”, làm sao để nhận ra tiếng Chúa? Chúa Giêsu chỉ cách: “Chiên đi theo sau, vì chúng nhận biết tiếng của anh” (Ga 10: 4). Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã gợi ý: “Người chăn chiên tốt lắng nghe đàn chiên, hướng dẫn đàn chiên, chăm sóc đàn chiên. Và đàn chiên biết cách phân biệt giữa những người chăn chiên này, chúng không nhầm lẫn. Đàn chiên phó thác mình cho người chăn chiên tốt, phó thác mình cho Chúa Giêsu. Chỉ có người mục tử nào giống Chúa Giêsu mới có thể giành được lòng tin của đàn chiên, bởi vì Ngài là cửa…​​Ngài hiền lành. Một trong những dấu hiệu của Người Chăn Chiên Tốt là sự hiền lành. Người Chăn Chiên Tốt là người hiền lành. Một mục tử không hiền lành thì không phải là một mục tử tốt…Thêm vào đó, một người chăn chiên tốt lành thì dịu dàng; ông ấy có sự dịu dàng gần gũi, biết từng con chiên một, gọi tên từng con, và chăm sóc chúng như thể đó là con duy nhất của mình, đến nỗi khi trở về nhà mệt mỏi sau một ngày làm việc, mà nhận ra có một con bị mất, ông lại ra ngoài tìm kiếm và cõng nó về nhà trên vai. Đây là một người chăn chiên tốt lành, đây là Chúa Giêsu, đây là Đấng đồng hành cùng chúng ta trên con đường đời” (Bài giảng tại Nhà trọ Thánh Mátta ngày 03/05/2020).

Sứ mạng của Chúa Giêsu là “để cho chiên được sống và sống dồi dào” (Ga 10: 10). Satan, tội lỗi, sự ích kỷ như “kẻ trộm” đến để phá hủy, còn Chúa đến để ban sự sống dồi dào. Dồi dào - περισσός trong tiếng Hy Lạp không có nghĩa là “nhiều về số lượng” mà là “dư đầy về chất lượng”, là sự quảng đại vô hạn của Thiên Chúa đối với con người, đem lại cho con người một ý nghĩa tối hậu trong đời sống, một niềm hy vọng không thể bị dập tắt bởi cái chết, được thông phần vào bản tính vinh quang của Thiên Chúa nhờ ân sủng. “Thật vậy, vinh quang của Thiên Chúa là con người sống, và sự sống của con người là được nhìn thấy Thiên Chúa. Nếu sự mạc khải của Thiên Chúa qua công trình tạo dựng đã đem đến sự sống cho mọi loài trên trái đất, thì việc Ngôi Lời biểu lộ Chúa Cha lại càng đem lại sự sống gấp bội cho những ai thấy Thiên Chúa” (GLHTCG, số 294).

Sự sống dồi dào ấy hôm nay được trao ban nhờ các Bí tích của Giáo hội qua các vị lãnh đạo Chúa đã đặt làm mục tử, nhất là Tại bàn tiệc Thánh Thể, Vị Mục Tử không chỉ dẫn chúng ta đến đồng cỏ xanh tươi, mà chính Ngài trở thành Đồng Cỏ, thành Lương Thực cho chúng ta: “Lạy Chúa là Mục Tử hằng hữu, Chúa không bỏ rơi đoàn chiên Chúa, nhưng nhờ các Thánh Tông Ðồ, Chúa luôn che chở, giữ gìn để đoàn chiên được hướng dẫn nhờ các vị lãnh đạo Chúa đã đặt làm mục tử nhân danh Con Chúa coi sóc đoàn chiên” (Kinh Tiền Tụng các Tông Ðồ I).

Sứ điệp Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta dành thời gian thinh lặng để lắng nghe và phân định tiếng Chúa qua Kinh Thánh và các biến cố trong đời; tin tưởng và phó thác cuộc đời cho Đấng “canh giữ linh hồn” mình, như tác giả thánh vịnh tin tưởng kêu lên: “Chúa là mục tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn gì. Trong đồng cỏ xanh tươi, Người cho tôi nằm nghỉ. Ngài đưa tôi tới dòng nước trong lành và bổ sức cho tôi. Ngài dẫn tôi trên đường ngay nẻo chính vì danh dự của Ngài. Lạy Chúa, dầu qua lũng âm u con sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng. Côn trượng Ngài bảo vệ, con vững dạ an tâm” (Tv 23: 1- 4)); luôn sẵn sàng sám hối quay trở về như những người Do Thái năm xưa khi nhận ra mình đã đi lạc.

Mỗi Kitô hữu, tùy theo ơn gọi của mình, là cha mẹ trong gia đình, là người lãnh đạo cộng đoàn, thầy cô giáo..., đều được mời gọi phản chiếu hình ảnh Mục Tử Nhân Lành: biết tên, biết hoàn cảnh và yêu thương những người được giao phó cho mình, sẵn sàng hy sinh cái tôi ích kỷ để người khác được sống, không vào ràn chiên bằng quyền lực leo tường hay áp đặt ý riêng.

Tin Mừng Chúa Nhật Chúa Chiên Lành khẳng định tình yêu vô biên của Thiên Chúa: chúng ta không cô độc, nhưng được cứu chuộc bằng chính giá máu Chúa Kitô. Ngài là cánh cửa đón nhận tội nhân và là Mục Tử dẫn lối từ cái chết đến sự sống phục sinh. Nguyện cho chúng ta khi nghe tiếng Chúa gọi, biết sẵn sàng đáp lời và can đảm bước qua “Cửa Kitô” để tận hưởng đồng cỏ sự sống cùng dòng nước ân sủng bình an.

Lạy Chúa Giêsu, Mục Tử Nhân Lành, xin hãy dẫn dắt chúng con. Xin cho chúng con nhạy bén trước tiếng Chúa và can đảm theo bước chân Chúa trên con đường tự hiến, để cùng với Ngài, chúng con đạt tới bàn tiệc vĩnh cửu trên trời. Amen.

 

Phêrô Phạm Văn Trung

[1] https://www.catholicace.com/christ-the-son/#good-shepherd

[2]  https://www.saintaug.nsw.edu.au/our-college/mission-values/our-patron-saint-augustine/saint-augustine-quotes

MỤC TỬ

(Tđcv 2, 14a, 36-41; 1Petr 2, 20b-25; Ga 10, 1-10).

Chúa Kitô đã sống lại và khởi đầu một hành trình mới. Chúa Giêsu đã hoàn tất sứ mệnh xuống thế làm người, rao giảng Tin mừng cứu độ, chịu mọi sự khốn khó cho đến chết, chết trên thập giá và đã sống lại hiển vinh. Chương trình cứu chuộc của Thiên Chúa tiếp tục ban phát ân sủng cho mọi người ở mọi thời. Thời gian chuẩn bị đã mãn và hồng ân cứu rỗi gần kề, mỗi người hãy mở rộng tâm hồn đón nhận ơn cứu độ bằng cách ăn năn sám hối và chịu phép rửa. Suốt dọc lịch sử ơn cứu độ, dân Chúa luôn được các tiên tri, các ngôn sứ và các thầy dậy nhắc nhở hãy sám hối, hãy trở về cùng Thiên Chúa và tránh xa đường gian tà tội lỗi. Khi Chúa Kitô bắt đầu ra rao giảng Tin Mừng đã mời gọi mọi người hãy ăn năn sám hối vì Nước trời đã gần đến.

Nước trời đã đến và đang hiện diện giữa chúng ta. Chúa Kitô, Đấng Cứu Thế đã đến. Cửa Nước trời đã mở. Ai muốn vào Nước trời thì phải đi qua cửa hẹp. Chúa Kitô là cửa và là Mục tử tốt lành. Chúa Giêsu nói: Còn ai qua cửa mà vào, thì là kẻ chăn chiên (Ga 10, 2). Chúa Kitô là Đấng Trung Gian của vạn vật và là Đấng Cứu Chuộc loài người. Chúa Giêsu giới thiệu cho chúng ta một lối ngõ vào Nước trời. Ngài là nguồn mạch ban sự sống. Chúng ta không có Danh nào khác, ngoài danh Đức Kitô chịu đóng đinh. Nước trời được ví như kho tàng châu báu chôn giấu trong thửa ruộng, nước trời giống như người đi gieo hạt giống nơi cánh đồng và nước trời cũng giống như hạt cải bé tí đã trở thành cây lớn…Chúa Giêsu đã mở cửa Nước trời đón nhận mọi người có lòng thành muốn chung hưởng hạnh phúc muôn đời.

Chúng ta biết có rất nhiều con đường và nhiều cửa dẫn chúng ta vào Nước trời. Nhưng đâu là con đường chính thật? Chúa Giêsu phán: Ta là đường, là sự thật và là sự sống (Ga 14,6). Chúa là mục tử tốt lành. Qua Chúa Giêsu, chúng ta sẽ tìm được của nuôi thân và thỏa khát trong nguồn suối mát. Ngài biết nhu cầu tâm linh của từng con chiên. Chúng ta hãy chạy đến với lòng thương xót của Chúa. Chúa sẽ nâng đỡ bổ sức cho. Có rất nhiều người cũng đang nỗ lực tìm kiếm Chúa trong những hoàn cảnh và môi trường sống khác nhau. Có những người chưa bao giờ được nghe nói về Thiên Chúa hoặc chưa bao giờ được nghe Tin Mừng cứu độ. Có nhiều người vẫn cố gắng đi tìm chân lý sự sống nhưng chưa được giác ngộ.

Sau khi phục sinh từ cõi chết, Chúa Giêsu đã đích thân gặp gỡ từng môn đệ để qui tụ họ lại. Chúa đã sai họ ra đi làm nhân chứng cho những gì mắt thấy và tai nghe. Thánh Phêrô ý thức vai trò của người thủ lãnh, ngài đã không chùn bước nhưng luôn khuyên dạy và làm gương sáng. Mỗi người có trách nhiệm về chính đời sống mình. Chúa không cứu chuộc chung chung hay một khối đông mà là từng cá nhân. Chúa muốn từng tâm hồn cải đổi và trở về cùng Chúa. Chúng ta tự do trả lẽ về mình trước mặt Chúa. Về vấn đề đời sống tâm linh, chúng ta không thể sống dựa dẫm vào nhân đức hay sự thánh thiện của người khác. Chúa đến kêu gọi và cứu độ từng con người. Mỗi người có sự kết hợp mật thiết riêng tư với Chúa và không ai có thể thay thế.

Theo gương của Chúa Giêsu, mục tử nhân lành, mỗi vị chủ chăn nên học biết sự khao khát và nhu cầu của từng tín hữu. Gần gũi với từng cá nhân trong tình trạng tâm hồn và hoàn cảnh sống của họ. Chúng ta thường có khuynh hướng đối xử theo đàn, theo đoàn và theo nhóm, mà quên đi những nhu cầu thầm kín của mỗi tâm hồn. Khi xưa, Chúa chọn và gọi tên từng tông đồ vào làm vườn nho của Chúa. Ngày nay cũng thế, ơn Chúa ban cho mỗi người một khác, nhưng đều mưu cầu lợi ích chung cho toàn Giáo Hội. Mỗi cá nhân được mời gọi để thể hiện chức năng và khả năng riêng biệt để góp phần chung trong các sinh hoạt của Nhiệm Thể Chúa Kitô. Chúng ta chỉ có một vị thủ lãnh là Chúa Kitô Phục Sinh. Nhìn lên thập giá Chúa để cùng suy niệm và sống sứ mệnh đã được trao ban.

Thánh Phêrô đã chứng kiến cuộc khổ nạn của Thầy Chí Thánh từ đầu cho tới khi kết thúc. Chúa Kitô phó thác mọi sự trong tay Chúa Cha. Người chịu đựng mọi nhục hình mà không hề than van và kêu trách. Người đã đi qua tất cả mọi chặng đường khổ đau dưới thế, nếm đủ mọi khổ cực cay đắng và đã hiến thân trọn vẹn để chuộc lại sự sống cho loài người. Chúa tiếp tục hiện diện giữa loài người để mong cầu sinh ích cho mọi tâm hồn. Lời Tin Mừng của Chúa có thể bị chế diễu, bị tẩy chay và chống đối, nhưng Chúa Kitô vẫn kiên nhẫn chờ đợi sự thay lòng đổi dạ của mỗi tâm hồn. Quí giá biết bao khi có một tâm hồn tội lỗi biết quay trở về đường ngay nẻo chính.

Lạy Chúa, Chúa là Mục Tử Nhân Lành, xin chữa lành và tẩy sạch mọi vết nhơ trong tâm hồn chúng con. Xin dẫn đưa chúng con vào nguồn sống đích thực để cùng được chung hưởng hạnh phúc trường sinh bất diệt.

Lm. Giuse Trần Việt Hùng.

VẮNG MẶT, KHÔNG VẮNG HOẠT ĐỘNG

Thứ Bảy Tuần 3 Phục Sinh A

“Các tông đồ đi rao giảng khắp nơi, có Chúa cùng hoạt động với các ông”.

“Đứng trên đỉnh đồi, tôi nhìn thung lũng này đến thung lũng khác; từ ánh nắng đến sương mù, từ bóng tối của đêm. Bước theo Ngài trên đường đời quanh co, bằng niềm tin nhiều hơn bằng thị giác… Tôi an lòng về một sự hiện diện liên lỉ!” - William Cowper.

Kính thưa Anh Chị em,

Lời Chúa hôm nay cho thấy: trên đường đời quanh co của các môn đệ, Đức Kitô không còn hiện diện như trước; nhưng trong đó, một cách hiện diện khác được tỏ lộ - âm thầm, nhưng sâu xa hơn: Ngài ‘vắng mặt, không vắng hoạt động’.

Các môn đệ được sai đi trong một hoàn cảnh chưa từng có: không còn Thầy trước mắt, không còn dấu chỉ hữu hình, chỉ còn một lệnh truyền. Thế nhưng, họ vẫn ra đi. Không phải như thể Ngài đang ở đó, nhưng vì Ngài đang hiện diện theo một cách khác. Điều làm nên khác biệt không nằm ở họ, nhưng ở nơi Đấng tuy không còn thấy, nhưng vẫn hành động. Chính trong kinh nghiệm ấy, họ nhận ra: sự vắng mặt không phải là mất đi, nhưng là một cách hiện diện. “Thiên Chúa hiện diện trong mọi sự bằng chính quyền năng và hoạt động của Ngài!” - Tôma Aquinô. Vì thế, sự hiện diện của Ngài không bị giới hạn trong hình thức hữu hình, nhưng lan toả trong hoạt động. Khi các môn đệ lên đường, chính Ngài đang lên đường với họ.

Lệnh truyền của Marcô không chỉ vượt quá sức người, nhưng mở ra một thực tại mới: “Hãy đi khắp tứ phương thiên hạ mà loan báo Tin Mừng!”. Như Michael Pakaluk nhận định: họ được mời gọi chỉnh đốn những gì hỏng hóc, tái thiết những gì bị đánh mất, và đưa thế giới trở về trật tự của Thiên Chúa; nhưng chính Ngài mới là Đấng làm điều đó trong họ. Người môn đệ không được sai đi vì đủ khả năng, nhưng vì được ở trong một tương quan, nơi Đấng đang hoạt động tiếp tục công trình của Ngài. Đây không còn là một parousia hữu hình, nhưng là một sự hiện diện được nhận ra trong hành động.

Trong thư của mình, Phêrô nhắc rằng giữa thử thách, Thiên Chúa vẫn đồng hành. Có những lúc không còn thấy Ngài theo cách cũ, nhưng chính khi đó, Ngài lại ở gần hơn. “Chính Thiên Chúa sẽ cho anh em được nên hoàn thiện, vững vàng, mạnh mẽ và kiên cường” - bài đọc một. Không phải họ tự đứng vững, nhưng được nâng đỡ từ bên trong; bởi thế, họ sống trong tâm tình tạ ơn: “Lạy Chúa, tình thương Chúa, đời đời con ca tụng!” - Thánh Vịnh đáp ca.

Anh Chị em,

Đức Kitô không đi vào một nơi chốn, nhưng đi vào trong Cha. Từ tương quan ấy, Ngài không ngừng hoạt động. Vì thế, nếu các môn đệ thấy Ngài vẫn hành động, thì không phải vì Ngài trở lại, nhưng vì Ngài không bao giờ rời khỏi tương quan ấy. Chính ở đó, điều tưởng như vắng mặt lại trở thành một hiện diện sâu xa. Điều này cũng đúng với chúng ta. Ngài không luôn ở trước mắt, nhưng không bao giờ vắng mặt. Chúng ta được mời gọi nhận ra Ngài không trong điều dễ thấy, nhưng trong chính những gì đang diễn ra. “Tìm gặp Thiên Chúa trong mọi sự!” - Ignatiô Loyola.

Chúng ta có thể cầu nguyện,

“Lạy Chúa, giữa những quanh co của đời con, khi không còn thấy rõ, xin cho con vẫn bước theo Ngài bằng đức tin; và an lòng vì Ngài không bao giờ vắng mặt!”, Amen.

Lm. Minh Anh (Tgp. Huế)

Subcategories