NGƯỜI CÔNG GIÁO VÀ VIỆC GIẢI THOÁT SINH TỬ
- Details
- Category: 2. Cảm Nghiệm Sống Lời Chúa
Con người dù trong bất cứ thời đại nào cũng đều có mối lo là làm sao cho mình được hạnh phúc. Thế nhưng có nghịch lý này đó là càng lo bao nhiêu thì hạnh phúc càng tránh xa bấy nhiêu. Lý do tuy đơn giản nhưng lại rất mực sâu xa là vì hạnh phúc ở nơi trần gian này chỉ là…ảo ảnh không thật. Làm sao con người có được hạnh phúc đang khi đó chỉ là…ảo ảnh ?
Chính bởi hạnh phúc trần gian chỉ là ảo ảnh thế nên Đức Giê Su Ki Tô mới đưa ra khuyến dụ cho những ai muốn tìm kiếm hạnh phúc chân thật: “ Thế thì chớ lo lắng rằng chúng ta ăn gì ? Uống gì ? Mặc gì ? Vì mọi điều đó các dân ngoại vẫn lo. Song, Cha các ngươi biết các ngươi cần dùng những thứ đó rồi. Nhưng trước hết, hãy lo tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Người thì mọi điều ấy sẽ được thêm cho các ngươi” ( Mt 6, 31 -33 ).
Lời Chúa là lời hằng sống là lời chân thật. Một khi Ngài đã nói: Hãy lo tìm kiếm Nước Thiên Chúa và sự công chính của Người còn mọi điều ấy sẽ được thêm cho thì chắc chắn phải đúng như vậy. Tuy nhiên, vấn đề là chúng ta có tin hay không mà thôi ?
Tin rằng Thiên Chúa là Đấng Cha sẽ ban những nhu cầu cần thiết để cho ta lo tìm kiếm Nước Chúa đó chẳng phải là Đức Cậy của người Công Giáo hay sao ? Dẫu vậy, lòng cậy trông ấy không bao giờ tách biệt khỏi hai nhân đức còn lại là Đức Tin và Đức Mến. Đức Tin là cánh cửa mở vào Đạo nhưng đức tin ấy sẽ chỉ vô ích nếu không có Đức Mến: “ Bây giờ, còn lại 03 điều này: Đức Tin, Hy Vọng và Tình Thương Yêu mà điều trọng hơn hết đó là Tình Thương yêu” ( 1C 13, 13 ).
Nhân đức Thương Yêu sở dĩ quan trọng như thế là vì chính nhân đức ấy khiên cho ta nhận biết Thiên Chúa, Đấng ở nơi mình: “ Hỡi kẻ yêu dấu, chúng ta hãy thương yêu nhau vì sự thương yêu đến từ Thiên Chúa. Hễ ai có lòng thương yêu thì sanh bởi Thiên Chúa và nhận biết Thiên Chúa. Còn ai chẳng có lòng thương yêu thì không thể nhận biết Thiên Chúa vì Thiên Chúa Là Tình Yêu. Sự thương yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta thể hiện qua điều này: Đó là Thiên Chúa đã sai Con Một của Ngài đến thế gian hầu cho chúng ta nhờ Người Con ấy mà được sống” ( 1Ga 4, 7 -9 ).
Nhờ Chúa Giê Su Ki Tô, chúng ta được sống có nghĩa, nhờ Ngài chúng ta được giải thoát khỏi vòng sinh tử, tử sinh để bước vào Cõi Sống Đời Đời là Nước Thiên Đàng ! Người thế gian tưởng sẽ hạnh phúc khi được ăn no, mặc ấm nhưng khi có được điều ấy vẫn chưa cho là đủ, lại còn muốn danh vọng, quyền lực để rồi cuối cùng cái chết ập đến không cách chi tránh khỏi !!!
Cái chết chấm dứt mọi sự, nào áo mão, cân đai nào danh vọng, quyền lực tất cả đều đưa đến kết quả là sự hoại diệt. Mặc dầu tất cả đều hoại diệt nhưng không phải là…hư vô có nghĩa chết không phải là hết mà con người sẽ bị phán xét vì những gì mình đã tạo tác trong cõi đời này theo lẽ nhân quả, báo ứng: “ Ta sẽ tùy công việc của mỗi người trong các ngươi mà báo ứng” ( Kh 2, 22 ).
Chết không phải…là hết và cũng chính vì lẽ chết không phải là hết ấy thế nên nhân loại mới có văn chương, thơ phú, nghệ thuật và tôn giáo. Ngược lại, nếu chết là…hết chuyện thì chẳng cần đến những thứ ấy làm gì ? Bởi vì chết không phải…là hết thế nên mới có văn chương, thơ phú đủ loại và sở dĩ nó có giá trị vì đã đụng chạm đến vấn đề cốt lõi, thâm sâu của con người: Chết có phải là hết hay còn và cái còn lại ấy là gì ?:
“ Ta còn để lại gì không ?
Kìa non đá lở, nọ sông cát bồi
Lang thang từ độ luân hồi
U minh nẻo trước, xa xôi dặm về”
( Vũ Hoàng Chương – Nguyện Cầu )
Hỏi để trả lời. Hỏi “ Ta còn để lại gì không ? Có nghĩa sau khi chết…vẫn còn chứ không phải là hết. Thế nhưng nếu không hết thì cái hồn ấy sẽ đi về đâu ? Mặc dù đặt câu hỏi nhưng với văn chương thì không có câu trả lời hay nói đúng hơn, đành phải…đánh trống lảng:
“ Hỡi Thượng Đế, tôi cúi đầu trả lại
Linh hồn tôi, đã một kiếp đi hoang
Sầu đã chín, xin Người thôi hãy hái
Nhận tôi đi, dầu Địa Ngục, Thiên Đàng”
( Huy Cận – Lửa Thiêng ).
Cái kiểu nói: “ Nhận tôi đi, dầu Địa Ngục, Thiên Đường” đó là…nói liều nói lĩnh. Dù cho nhìn nhận có Địa Ngục có Thiên Đường đấy nhưng lại tảng lờ coi như không có. Thật ra thái độ này không riêng chỉ có ở nơi một số văn nhân, thi sĩ nhưng cũng là của không ít những người mệnh danh Công Giáo hiện nay ?
Thật sự thì người Công Giáo không chối bỏ sự hiện hữu của Thiên Đàng của Hỏa Ngục. Thế nhưng không chối bỏ mà cũng không nhìn nhận thì kể cũng như…không. Tại sao ? Bởi vì nếu thực lòng tin có hai nơi ấy như Giáo Lý Công Giáo dạy thì một đàng cần phải có lòng ước ao ( Hân Thưởng ) và làm cách nào để được về nơi chốn phúc lạc đời đời ấy. Một đàng cần phải trừ bỏ tội lỗi để tránh cho xa ( Yểm Ly ) cái nơi chốn khốn cực đời đời !
Để có thể có được lòng ước ao Thiên Đàng và tránh xa Hỏa Ngục thì trước hết cần có lòng tin về sự hiện hữu của hai nơi chốn ấy. Người đời không tin sự hiện hữu của hai nơi ấy là điều không có chi khó hiểu. Thế nhưng với người Công Giáo mà cũng chẳng tin hoặc tin cách mù mờ thì cái gọi là Sống Đạo của họ chẳng những chỉ là một thứ hình thức vô bổ mà còn đáng bị Chúa đoán phạt. Tại sao ? Bởi vì người…có đạo tức là người có Con Đường để đi và Con Đường ấy chính là Đức Giê Su Ki Tô: “ Ta là đường là sự thật và là sự sống. Không ai đến được với Cha mà không qua Thầy” ( Ga 14, 6 ).
Đức Ki Tô là con đường duy nhất đến với Đấng Cha và Đấng ấy lại không ở đâu xa mỗi người “ Đạo ở gần ngươi và ở trong lòng ngươi tức là Đạo Đức Tin mà chúng tôi rao giảng đây. Vậy nếu miệng ngươi thừa nhận Đức Giê Su là Đấng Cứu Chuộc và lòng ngươi tin Thiên Chúa đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại thì ngươi sẽ được cứu. Vì bởi lấy lòng tin mà được nên công chính và bởi lấy miệng thừa nhận mà được cứu rỗi” ( Rm 10, 8 -10 ).
Đạo Công Giáo là Đạo Đức Tin và tin ở đây có nghĩa là tin Chúa Giê Su đã phục sinh về Trời ngự bên hữu Chúa Cha Hằng Hữu. Tin Chúa Ki Tô Phục Sinh là đức tin căn bản của người Công Giáo. Thế nhưng để có được lòng tin chân thật ấy thì nhất thiết cần qua trung gian của Đức Maria, Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội. Hội viên Legio Mariae có một phương châm hành động tuyệt vời về sự trung gian ấy đó là “Par Mariam Ad Jesum”. Theo tôi, đức tin của người Công Giáo hiện nay có phần hờ hững và thiếu sót đó là vì đã không có lòng cậy nhờ Đức Maria, Đấng Trung Gian Các Ơn ?
Qua trung gian Đức Maria, chúng ta tin, nhận Chúa Giê Su là Đấng Cứu Độ mình. Đức tin ấy vừa dễ dàng lại vừa bảo đảm nhất không bao giờ có thể bị lạc hay rối đạo. Trái lại thì….Tuy nhiên phải làm cách sao, bằng phương thế nào để được lòng cậy trông nơi Đức Mẹ nếu không tích cực thực hiện 03 mệnh lệnh của Ngài ? Tôn sùng Trái Tim Vẹn Sạch Mẹ - Siêng năng Lần Chuỗi Mân Côi và Cải Thiện Đời Sống. Thật ra 03 Mệnh Lệnh Phatima ấy có một sự liên kết chặt chẽ với nhau không thể tách rời. Có tôn sùng Trái Tim Vẹn Sạch Mẹ thì mới siêng năng Lần Chuỗi Mân Côi và chỉ với sự siêng năng ấy chúng ta mới có thể cải thiện được đời sống mình !
Tại sao siêng năng Lần Chuỗi Mân Côi lại cải thiện được đời sống mình ? Đó là vì Kinh Mân Côi của Đức Mẹ là một thứ Tâm Pháp có mục đích để nghe được Tiếng Chúa ở nơi mình ! Về việc…nghe ấy Chúa Giê Su nói với cô chị Matta khi nàng phàn nàn với Chúa rằng cô em Maria không chịu phụ giúp mình trong việc nấu nướng: “ Matta, con lo lắng và bối rối về nhiều điều quá. Nhưng có một điều cần yếu mà thôi. Maria đã chọn phần tốt nhất là phần không ai có thể đoạt lấy của nàng được” ( Lc 10, 41 -42 ).
Lý do Nghe Tiếng Chúa là điều cần yếu bởi vì chính cái nghe ấy đem lại sự giải thoát thực sự cho con người ! Người đời vì u mê nên chỉ muốn nghe những gì đem lại sự thỏa thích mà không biết rằng chính cái nghe ấy có ảnh hưởng đến nỗi khổ, niềm đau của mình. Nghe một bài Vọng Cổ bi ai kể lể về sự chia ly, tình duyên lỡ làng, lập tức ta sẽ mang tâm trạng ủ ê, buồn rười rượi. Trái lại nghe một khúc quân hành rộn rã bỗng thấy lòng mình phấn khởi, tươi vui….
Chẳng những việc nghe ảnh hưởng đến tâm trạng buồn hay vui nó còn đem đến sự trói buộc hay giải thoát cho con người. Ý nghĩa của việc cải thiện đời sống như lời Đức Mẹ truyền dạy đó chẳng qua là làm sao để chuyển hóa cách nghe chứ chẳng phải điều chi khác. Thay vì nghe Tiếng Thế Gian thì nay Nghe Tiếng Chúa. Toàn bộ Kinh Mân Côi là Lời Chúa là lời đem lại sự giải thoát lớn lao: “ Vì Lời Chúa là lời hằng sống, linh động sắc bén hơn mọi gươm hai lưỡi, đâm thấu đến nỗi chia hồn linh, khớp tủy. Biện biệt tư tưởng và ý định của lòng người” ( Dt 4, 12 ).
Những ai có kinh nghiệm trong việc thực hành Kinh Mân Côi đều biết trở ngại lớn nhất đó là sự chia lòng chia trí nhưng với trở ngại ấy chúng ta mới thấy được công hiệu của Lời Chúa được ví như gươm hai lưỡi sắc bén có thể biện biệt được tư tưởng và ý định của lòng người…
Khi thực hành Kinh Mân Côi tức đang trong thời TU mà chia lòng chia trí ( Phân Tâm ) thì biết ngay đó là chia trí và dừng sự chia trí ấy lại, đây chính là TU là chuyển hóa tư tưởng. Nhà Thiền gọi dừng sự chia trí ấy là “ Biết Vọng liền buông “ Bất úy tham sân khởi. Duy khủng tự giác trì” ( Không sợ lòng tham, lòng sân khởi. Chỉ sợ biết chậm ).
Cuộc đời con người phần lớn phải gánh chịu những nỗi bất hạnh, khổ đau là vì đã chấp chứa ở nơi mình những tư tưởng tham lam, sân hận, si mê mà không hề hay biết. Giờ đây, để thoát khỏi những nỗi khổ đau, bất hạnh ấy thì duy chỉ có cách làm sao để chuyển hóa những ác tưởng ấy thành thiện tưởng mà thôi…..
Đức Giê Su Ki Tô, Đấng đến để giải thoát những ai đang khổ đau vì bị trói buộc bởi tội lỗi: “ Hãy học để hiểu nghĩa lời này: Ta muốn sự thương xót chứ không muốn sinh tế. Vì Ta đến không phải để kêu gọi kẻ công chính, bèn là kẻ có tội” ( Mt 9, 10 ). Chúa cứu kẻ có tội nhưng với điều kiện là kẻ ấy phải biết ăn năn, sám hối, quyết tâm chừa cải tội lỗi mình…
Việc ăn năn, sám hối để trở lại của kẻ có tội là hạnh phúc lớn của người ấy đồng thời cũng là nỗi vui của cả Thiên Đàng: “ Quả thật, Ta nói cùng các ngươi: Cũng vậy, ở trên trời sẽ vui mừng cho một tội nhân biết ăn năn trở lại hơn là chín mươi chín kẻ công chính không ăn năn kia” ( Lc 15, 7 ).
Có khổ mới mong thoát khổ. Cũng vậy, có bị giam hãm, tù đầy mới mong được tự do. Hơn bao giờ hết, nhân loại hiện nay đang bị giam nhốt trong một thứ ngục tù tuy vô hình nhưng hiểm nguy như chưa từng có đó là tội lỗi hay nói đúng hơn là hầu như đã không còn có ý thức chi về tội. Một khi đã không còn có ý thức về tội thì làm sao có thể có được lòng ăn năn chừa tội ? Trước tình thế cực kỳ nguy nan ấy, Chúa Giê Su nói với chị Josefa Menandez ( 1890 – 1923 ) một nữ tu Dòng Trái Tim Chúa Giê Su: “ Đã nhiều lần Cha báo cho con hay: Một ngày nào đó, mọi sự dường như sụp đổ và công nghiệp của Cha như đã tiêu tan nhưng hôm nay Cha bảo với con rằng Ánh Sáng sẽ đến mãnh liệt” ( TĐ của Chúa Giê Su cho thế giới ).
Chúa nói: Ánh Sáng sẽ đến mãnh liệt để ám chỉ cho Ngày Chúa đến lần thứ hai như một vị Quan Án Chí Công ( Nhật Ký thánh Faustina ). Trong ngày trọng đại ấy những ai biết kiên tâm cầu nguyện sẽ được cứu thoát: “ Vì ngươi đã giữ đạo của sự nhẫn nại Ta cũng sẽ giữ ngươi khỏi giờ thử thách là giờ sắp đến trong khắp thiên hạ” ( Kh 3, 10 )./.
Phùng Văn Hóa