ĐẾN VỚI CHÚA, RỒI ĐEM CHÚA ĐẾN CHO NGƯỜI KHÁC

Trong một thế giới vẫn còn nhiều bạo lực, ích kỷ và lạc hướng, người ta dễ cảm thấy rằng Thiên Chúa đứng xa nỗi khổ của con người. Thật ra, Thiên Chúa luôn chủ động bước vào lịch sử con người và cuộc đời từng người bằng tình yêu cứu độ. Các bài đọc hôm nay cho thấy điều ấy: từ núi Sinai, nơi Thiên Chúa quy tụ dân Ngài; đến miền Galilê, nơi Chúa Giêsu chạnh lòng thương đám đông bơ vơ. Tất cả cùng kể một câu chuyện: Thiên Chúa yêu thương, cứu độ và sai con người đi làm chứng nhân cho tình yêu của Ngài trong trần thế.

  1. Thiên Chúa luôn yêu thương, bảo vệ và chăm sóc dân Ngài

Trong bài đọc thứ nhất, Thiên Chúa nhắc dân Israel nhớ lại hành trình giải thoát khỏi Ai Cập: “Ta đã mang các ngươi như trên cánh chim bằng, mà đem đến với Ta” (Xh 19,4). Đây là một trong những hình ảnh đẹp nhất của Cựu Ước. Cánh chim bằng trong Kinh Thánh tượng trưng cho sức mạnh, sự bảo vệ và tình yêu chăm sóc. Thiên Chúa không nói: “Các ngươi hãy tự mình tìm cách thoát ra khỏi Ai Cập” nhưng Ngài nói: “Ta đã mang các ngươi.”

Đó là kinh nghiệm của mọi tín hữu. Nhìn lại cuộc đời, chúng ta sẽ nhận ra điều mà các thánh luôn xác tín: Thiên Chúa có thể “vẽ những đường thẳng bằng những đường cong.” Có những thất bại trở thành bài học, những đau khổ trở thành cơ hội trưởng thành, những lúc tưởng như gục ngã lại giúp ta khám phá sức mạnh của ân sủng. Bởi vì như thánh Augustinô đã nói: “Thiên Chúa Toàn Năng, và chính Ngài cũng là Đấng vô cùng nhân từ, Ngài sẽ không bao giờ cho phép bất cứ điều ác nào tồn tại trong các công trình của Ngài, nếu Ngài không toàn năng và nhân từ đủ để có thể tạo ra điều tốt đẹp ngay cả từ điều ác.” [1]

Điều quan trọng là Thiên Chúa giải thoát Israel không chỉ để họ được tự do, nhưng để họ thuộc về Ngài: “Các ngươi sẽ là sở hữu riêng của Ta… một dân thánh” (Xh 19,5-6). Vì thế, dân Chúa được tuyển chọn không phải để hưởng đặc quyền ích kỷ, nhưng để sống cho Thiên Chúa và làm chứng cho Ngài. Người Kitô hữu cũng vậy: chúng ta được rửa tội không để tự cho mình đạo đức hơn người khác, nhưng để trở nên dấu chỉ tình yêu Thiên Chúa giữa thế gian.

Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI từng nói: “Trở thành Kitô hữu không phải là kết quả của một lựa chọn đạo đức hay một ý tưởng cao cả, mà là cuộc gặp gỡ với một sự kiện, một con người, mang đến cho cuộc sống một chân trời mới và một hướng đi quyết định” (Thông điệp Deus Caritas Est, số 1). Chính cuộc gặp gỡ ấy biến đổi cuộc đời và trao cho chúng ta một sứ mạng.

  1. Lòng thương xót dẫn tới sứ vụ

Thánh Matthêu kể: “Chúa Giêsu thấy đám đông thì chạnh lòng thương, vì họ lầm than vất vưởng, như bầy chiên không người chăn dắt” (Mt 9,36).

Nếu bài đọc thứ nhất cho thấy Thiên Chúa yêu thương dân Ngài, thì Tin Mừng hôm nay cho thấy trái tim yêu thương ấy nơi Chúa Giêsu. Động từ “động lòng thương” trong nguyên ngữ Hy Lạp ἐσπλαγχνίσθη – esplanchnisthē, bắt nguồn từ danh từ σπλάγχνα – splagchna, nghĩa đen là nội tạng, ruột gan. Đối với người Do Thái và Hy Lạp cổ đại, cảm xúc sâu thẳm nhất của con người không nằm ở trái tim như cách chúng ta nghĩ ngày nay, mà nằm ở “ruột gan”.

Vì thế, khi Tin Mừng nói Chúa Giêsu “động lòng thương”, nghĩa là ruột gan của Chúa Giêsu quặn thắt lại, lòng dạ Ngài bị động chạm đến, cả con người Ngài rung động và cảm nhận sâu sắc những nỗi đau khổ của con người. Ngài cảm nhận nỗi đau của người khác, không phải là sự thương hại ngoài miệng, nhưng là cảm giác đau xót, co thắt, thấu cảm những nỗi đau khổ của con người như nỗi đau của chính Ngài, và bị thôi thúc phải hành động để cứu giúp. Qua Chúa Giêsu, lòng thương xót vô biên của Thiên Chúa chuyển thành hành động: “Rồi Chúa Giêsu gọi mười hai môn đệ lại, để ban cho các ông quyền trên các thần ô uế, để các ông trừ chúng và chữa hết các bệnh hoạn tật nguyền” (Mt 10, 1).

Ngày nay, nếu Chúa Giêsu bước vào thành phố, làng mạc, khu xóm của chúng ta, có lẽ Ngài cũng sẽ nhìn thấy rất nhiều “con chiên không người chăn”. Đó là người trẻ mất phương hướng giữa vô vàn lựa chọn. Đó là người lao động kiệt sức vì gánh nặng cơm áo. Đó là những gia đình đổ vỡ. Đó là những cụ già cô đơn. Đó là những người đang sống bên ngoài ánh sáng Tin Mừng.

Chúa Giêsu không chỉ thương cảm. Ngài hành động. Ngài nói với các môn đệ: “Lúa chín đầy đồng, mà thợ gặt lại ít. Vậy anh em hãy xin chủ mùa gặt sai thợ ra gặt lúa về” (Mt 9,37-38). Vấn đề của thế giới hôm nay không phải là thiếu tiền của hay các phương tiện để cứu giúp những người đau khổ, nhưng thiếu người có thiện chí sẵn sàng bước tới để chữa lành những đau khổ ấy.

  1. Chúa mời gọi những con người bình thường

Sau lời mời gọi cầu nguyện, Chúa Giêsu lập tức chọn mười hai tông đồ. Danh sách ấy thật đặc biệt. Có ngư phủ, có người thu thuế, có người nóng nảy, có người nhút nhát, có cả người sẽ phản bội. Không ai đạt yêu cầu, nếu cứ theo tiêu chuẩn tuyển chọn nhân sự của người đời. Nhưng chính họ được chọn. Điều đó mang lại niềm hy vọng lớn lao cho chúng ta, là những người không hoàn hảo.

Thiên Chúa không yêu cầu chúng ta hoàn hảo. Ngài sẽ làm cho những người Ngài gọi nên hoàn thiện dần dần. Thánh Têrêsa Calcutta từng nói: “Chúa không đòi hỏi tôi phải thành công. Chúa đòi hỏi tôi phải trung thành.” [2] Nhiều người nghĩ mình không đủ khả năng phục vụ Chúa vì thiếu kiến thức, thiếu thời gian nhưng lại nhiều yếu đuối. Nhưng nhìn vào nhóm Mười Hai, người ta thấy rằng điều Chúa cần trước hết không phải là tài năng nhưng là một tấm lòng mở ra, đáp lại mong ước xót thương của Ngài. Người biết tín thác vào Chúa, dù yếu đuối nhưng không tin vào sức riêng của mình, vẫn có thể làm nên những điều kỳ diệu.

Cứ nghe nói tới thánh Gioan Vianney là người ta lại nghĩ ngay tới một sinh viên thần học dốt nhất thế giới. Gioan Vianney gặp rất nhiều khó khăn trong việc học tiếng Latinh, triết học và thần học. Học dốt, thua các bạn đến độ có những lúc cảm thấy tủi với thầy, nhục với bạn. Tiêu chuẩn xét duyệt cho thầy Vianney chịu chức linh mục chỉ là những tiêu chuẩn dành cho một giáo dân bình thường: thầy có lòng đạo, biết lần chuỗi và kính mến Đức Trinh Nữ.

Với lòng khiêm tốn, kiên trì cầu nguyện và tín thác nơi Chúa, thầy Gioan Vianney đã trở thành linh mục, rồi được sai đến giáo xứ Ars nhỏ bé heo hút, một giáo xứ gần như nguội lạnh đức tin. Cha Gioan Vianney không dựa vào khả năng riêng nhưng dựa vào đời sống cầu nguyện liên lỉ và tình yêu phó thác nơi Chúa. Không chỉ giáo dân xứ Ars, mà nhiều khách đến xứ Ars, thấy một linh mục gầy ốm, xanh xao, hãm mình phạt xác, thức khuya dậy sớm, miệt mài với việc giải tội. Hơn ba mươi năm, cha Gioan Vianney đã ngồi tòa hơn 172.000 giờ với khoảng hơn 100.000 người đã xưng tội với cha, và làm hồi sinh đức tin của biết bao người. Gioan Vianney học dốt thế nhưng lại là một người làm lay chuyển không chỉ giáo xứ Ars, mà cả nước Pháp, không chỉ chinh phục được giới bình dân mà cả Lacordaire (1802-1861), vị linh Mục thuyết giảng nổi tiếng người Pháp thành công vượt trội tại Nhà Thờ Chính Tòa Đức Bà Paris trong hai Mùa Chay liên tiếp 1835 và 1836, rất có công trong việc chấn chỉnh Tỉnh dòng Đa Minh tại Pháp. Cuộc đời của thánh Gioan Vianney cho thấy Thiên Chúa không cần những con người hoàn hảo, nhưng cần những tâm hồn sẵn sàng để Thiên Chúa hành động. Những ai biết cậy dựa vào Chúa có thể làm được những điều vượt xa khả năng của mình. [3]

  1. Nhận nhưng không, thì trao ban nhưng không

Toàn bộ đời sống Kitô hữu được tóm gọn trong câu: “Các con đã lãnh nhận nhưng không, thì hãy cho nhưng không” (Mt 10,8). Đây là một trong những câu Tin Mừng đẹp nhất.

Chúng ta đã nhận lãnh biết bao điều nhưng không: sự sống, gia đình, đức tin, ơn cứu độ, tình yêu, sự tha thứ. Không ai mua được những điều ấy. Tất cả đều là hồng ân. Vì thế, người Kitô hữu không thể sống khép kín. Ai đã nhận được tình yêu thì phải trao ban tình yêu. Ai đã được tha thứ thì phải biết tha thứ. Ai đã được nâng đỡ thì phải biết nâng đỡ người khác.

Nhưng điều gì cho chúng ta sức mạnh để yêu thương như thế? Thánh Phaolô trả lời: “Chúa Kitô đã chết vì chúng ta, ngay khi chúng ta còn là những người tội lỗi” (Rm 5,8). Thiên Chúa yêu chúng ta không phải vì chúng ta xứng đáng, nhưng vì Ngài yêu trước và yêu đến cùng. Thập giá là bằng chứng lớn lao nhất của tình yêu ấy: một tình yêu dám hy sinh và có sức biến kẻ thù thành bạn hữu. Nếu Thiên Chúa đã tha thứ và hòa giải chúng ta với Ngài, thì chúng ta cũng được mời gọi đem yêu thương và hòa giải đến cho người khác, ngay trong gia đình, nơi làm việc, trường học, khu xóm và trên mạng xã hội hôm nay, nơi có biết bao người đang cần được yêu thương và cảm thông.

Một lần, các nữ tu của Mẹ Têrêsa Calcutta cứu một người hấp hối bị bỏ rơi bên đường. Các nữ tu mang ông về chăm sóc. Trước khi qua đời, ông nói: “Tôi đã sống như một con vật ngoài đường phố, nhưng tôi chết như một người được yêu thương.” Đó chính là Tin Mừng: chúng ta có thể giúp một người cảm nhận được tình yêu Thiên Chúa qua bàn tay chăm sóc của chính chúng ta. Thế giới hôm nay không chỉ cần những người nói về Thiên Chúa, mà còn cần những người làm cho người khác cảm nhận được rằng Thiên Chúa vẫn đang yêu thương họ.

Xin Chúa ban cho mỗi người chúng con biết mở mắt nhìn thấy những con người ấy chung quanh mình, biết mở lòng để cảm được nỗi đau của họ, và biết mở đôi tay nâng đỡ để trở thành khí cụ thương xót của Chúa.

Phêrô Phạm Văn Trung

[1] https://sjvlaydivision.org/greater-good/

[2] https://www.catholicmom.com/articles/lessons-from-saint-teresa-of-calcutta-on-her-feast-day

[3] https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/linh-dao-cua-thanh-gioan-maria-vianney-42431