1. Hôn Nhân & Gia Đình

MỖI NGÀY MỘT CÂU KT - DAILY BIBLE VERSE - EMMANUEL

  •  
    Emmanuel
     
    "What we have seen and heard we proclaim now to you, so that you too may have fellowship with us; for our fellowship is with the Father and with his Son, Jesus Christ." (1 John 1: 3).

    Monday 27th December 2021 is the Feast of St John, Apostle and Evangelist. John wrote the fourth Gospel, three Epistles and the Book of Revelation. John is an eye witness and a faithful and credible witness of the Gospel of Jesus Christ. It is the will of God that we learn the truth of the Gospel from credible witnesses. The Church is the credible witness of the life and teaching of Jesus Christ for over 2000 years.

    St John's writing of his Jesus experience is an eye witness account. He saw. He heard. He touched. He then bore witness.  His witness which is faithful and true have unlocked for us the secrets of the Word of God.

    Our Scripture text for today challenges me to ask: What have I seen today?
    + I have seen the Church gathered for the Eucharist on Christmas Eve to celebrate the Birth of Jesus Christ.
    + I have seen people come up to receive the Eucharist with great reverence.
    + I saw the beautiful Basilica of the Sacred Heart of Jesus, in full worship mode on Christmas Day.
    + I have seen Jesus Christ in the person of the priest at the Altar.

    What have I heard?
    + I have heard the Good News proclaimed from the Altar.
    + I have heard it proclaimed on television, radio and music.

    "This is John, who reclined on the Lord’s breast at supper,
    the blessed Apostle, to whom celestial secrets were revealed
    and who spread the words of life through all the world."  (Entrance Antiphon).

    "Above all, I renew for you the words I uttered for Saint John from the Cross: “Behold your Mother.” Live in her presence. Honour her at every occasion and in every way possible. Every time you show love and devotion to My most holy Mother, you honour the words I spoke from the Cross, and you put them into practice. “Behold your Mother.” She desires nothing more than to look after you, just as if you were her only son. Her attention for you is not divided, nor is it in any way impaired by the attention she gives to the vast multitude of her children through the ages. Trust in her care for you. Pray her Rosary. Honour her as you have been doing."  (IN SINU JESU, Thursday, January 31, 2008).

    Father, we pray that with St John the Evangelist we may share in the hidden wisdom of your eternal Word which You reveal to us at the Eucharistic table. We ask this in the name of Jesus the Lord. Amen.

    Daily Bible Verse @ SeekFirstcommunity.com

    ++++++++++++++++++++++++++++
    "Seek first the kingdom of God and
    his righteousness, all these things
    will be given you  besides."
    (Matthew 6:33)
    ++++++++++++++++++++++++++++
     
     

CẢM NGHIỆM SỐNG LC - TGP SAIGON

  •  TGM NGUYỄN NĂNG
     
     

    Ngày 27 tháng 12: Tình Yêu hỗ trợ cho Niềm Tin (Ga 20,2-8): TÌM GẶP CHÚA THẬT NHANH!

    Tin mừng: Ga 20, 2-8

    Ngày thứ nhất trong tuần, 2 Maria Mađalêna chạy đến gặp Simon Phêrô và môn đệ kia mà Chúa Giêsu yêu, bà nói: “Người ta đã lấy xác Chúa khỏi mộ rồi, chúng tôi không biết họ để đâu”.

    3 Bấy giờ Phêrô ra đi với môn đệ kia đến mộ. 4 Cả hai cùng chạy, nhưng môn đệ kia chạy nhanh hơn Phêrô và đến mộ trước ông. 5 Cúi nhìn vào, người môn đệ đó thấy tấm khăn liệm xác hãy còn, nhưng không vào. 6 Bấy giờ Simon Phêrô theo sau cũng đến, và đi vào trong mộ, thấy khăn liệm xác còn đó, 7 và khăn che mặt để trên phía đầu Người, không để chung với khăn liệm xác, nhưng đã cuốn riêng để vào một chỗ.

    8 Bấy giờ môn đệ đã đến trước cũng vào; ông đã thấy và đã tin.

     

     

    1. Suy niệm (TGM Giuse Nguyễn Năng)

    Sứ điệp: “Phúc cho ai có lòng trong sạch vì họ sẽ đựơc nhìn thấy Thiên Chúa”. Mối phúc ấy hôm nay được thể hiện nơi Thánh Gioan Tông đồ. Thật vậy, nhờ đồng trinh, Thánh Gioan có diễm phúc nhận ra mầu nhiệm Phục Sinh sớm hơn các tông đồ khác.

    Cầu nguyện: Lạy Chúa, khoa học kỹ thuật càng văn minh tiến bộ thì đời sống con người càng dễ bị tục hoá, người ta càng dễ đánh mất sự nhạy bén của thế giới linh thiêng, với những giá trị tâm linh. Đã có một thời người ta đả kích đời sống độc thân và đức đồng trinh. Người ta bảo như thế là đi ngược với bản năng, trái với luật tự nhiên. Người ta bảo như thế là làm cho con tim bị khô héo, làm cho tình cảm bị cằn cỗi, làm cho con người trở nên bất bình thường. Nhưng lạy Chúa, thực tế lại cho con thấy khác hẳn. Thánh Gioan hôm nay là một điển hình. Nhìn sự kiện mồ trống, Thánh Gioan đã đọc ngay được rằng: Chúa đã sống lại. Rồi khi Chúa hiện ra bảo thả lưới bên hữu thuyền thì chính Thánh Gioan cũng là người đầu tiên nhận ra Chúa. Vâng lạy Chúa, đức đồng trinh đã giúp Thánh Gioan mở mắt linh hồn nhìn rõ hơn người khác.

    Khi nhìn lại hơn 2000 năm lịch sử Kitô giáo, con nhìn thấy biết bao đóng góp của những người đồng trinh. Nhờ đức đồng trinh, tâm hồn tự do hơn, dễ dàng tận hiến cho Chúa và các linh hồn hơn. Con cầu nguyện cho Giáo hội có nhiều người biết quý trọng bậc độc thân và đức trinh khiết. Con cầu nguyện cho xứ đạo con có nhiều người được ơn gọi sống đời tận hiến để phục vụ Chúa và các linh hồn.

    Con cầu nguyện cho gia đình con dù sống giữa các mối liên hệ gia đình, dù sống giữa thế giới văn minh vật chất hưởng thụ, vẫn biết sống trong trắng, để nhờ đó nhận ra sự hiện diện của Chúa và vươn lên tới những giá trị tâm linh cao cả. Amen.

    Ghi nhớ: “Môn đệ kia chạy nhanh hơn Phêrô và đến mộ trước ông”.

     
    Kính chuyển:
    Hồng
     

HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH -

  •  
    HAPPY Nguyen
     
    CHUYỆN VUI VỢ CHỒNG
     
     

     Chuyện vui Vợ Chồng

     

     

    Đàn ông và Đàn bà là cả hai thế giới khác biệt nhau. Họ khác nhau về thể chất, về tinh thần, về cách suy nghĩ, cũng như về cách hành sự trong cuộc sống. Bởi những nguyên nhân này mà thường xảy ra biết bao nhiêu là chuyện hục hặc, hiểu lầm lẫn nhau, cơm không lành canh không ngọt, khắc khẩu, ảnh hưởng không nhỏ đến hạnh phúc gia đình…

    Bài gõ này được phỏng theo tác phẩm nổi tiếng đã đạt số bán kỷ lục 8 triệu cuốn : Why Men Don’t Listen & Women Can’t Read Maps (*) by Barbara and Allan Pease, Broadway Books, New York.
    Ở đây tác giả không có chủ đích đánh giá hay phán xét sự tốt xấu của các hành động ở phía người đàn ông cũng như ở phía người đàn bà. Tất cả các điều nêu ra dưới đây là kết quả nghiên cứu và nhận xét của giới y khoa và của các nhà tâm lý học Tây phương.
    Đúng hay sai đều do bạn đọc tự mình phê phán lấy…

           NTC

    Đàn ông và đàn bà khác nhau về nhiều mặt : về thể chất, về tinh thần, về cách suy nghĩ cũng như đôi khi về cách giải quyết một vấn đề ! Họ thường tuân theo những quy luật khác nhau… Đấy là chưa nói đến cá tánh bẩm sinh của từng cá nhân. Ngoài ra, tôn giáo, giáo dục gia đình và kinh nghiệm sống cũng chi phối phần nào cách suy nghĩ và hành động của họ.

    Mỗi khi người đàn ông vào washroom, là họ có một mục đích rõ rệt và nhất định rồi.

    Tại nhà hàng, đàn bà không những xem washroom là một nơi để giải quyết một nhu cầu của cơ thể mà nó còn là một nơi hẹn hò, để các bà tâm sự to nhỏ tám với nhau về đủ thứ chuyện và dĩ nhiên cũng là nơi chốn để làm duyên, để tô lại môi son, thêm chút má hồng và chải lại mái tóc…

    Bạn có để ý không ? Giữa buổi tiệc, các bà có lệ là thường rủ nhau đi washroom cùng một lúc. Ngược lại, các ông nếu cần đi thì chỉ tự động đi có một mình mà thôi…

    Lúc xem TV, đến phần quảng cáo thương mại các ông thường bóp cái tầm xa (remote control) lia lịa để đổi đài, ngược lại các bà thì nhẫn nại hơn và vẫn tiếp tục xem phần quảng cáo một cách bình thản…

    Các bà thường phàn nàn các ông sao làm biếng kéo nắp toilet xuống quá mỗi khi tè xong, còn các ông thì càu nhàu tại sao các bà sao không chịu giở nắp lên khi các bà xong việc cho người ta nhờ một tí…

    Các bà thường hay tỉ mỉ từng ly từng chút, chi tiết quá trời nên thường trách các ông sao quá bừa bãi.

    Đàn ông thường phải mất rất nhiều thời giờ để tìm được hai chiếc vớ cùng màu bỏ lộn xộn không thứ tự trong ngăn tủ, nhưng ngược lại các CDs của họ đều được xấp xếp rất ư là có thứ tự trên bàn.

    Đàn ông phải mất cả buổi mới tìm ra xâu chìa khóa xe bị thất lạc, trong khi đàn bà tìm ra ngay chỉ trong một thời gian rất ngắn…

    Đàn bà thường không thấy ánh đèn phụt lên ngay trước mặt báo hiệu xe sắp hết xăng, nhưng họ thấy ngay chiếc vớ bẩn vất bừa bãi trong góc kẹt phòng…

    Các ông thường trách các bà về cách lái xe, còn các bà thì không hiểu tại sao các ông lại rất thích đậu xe kiểu song song (parallel parking) bằng cách vừa nhìn kính chiếu hậu vừa lui vô chỗ đậu hẹp bé tí.                                        

     

    Đàn ông có khiếu xác định vị trí trong không gian, họ đọc bản đồ rất nhanh và tìm ra hướng Bắc rất dễ dàng. Nhờ năng khiếu này mà thuở tạo thiên lập điạ, người đàn ông mới có thể đi săn thú trong rừng để nuôi sống gia đình. Đàn bà nếu có xem bản đồ họ thường xem ngược ngạo.

    Lỡ có lạc đường, thì các bà thường mau mau ngừng xe lại trạm xăng để hỏi thăm, còn các ông thì ít chịu làm như vậy để khỏi quê và bị chê là mình quá yếu, quá dở.H
    Các ông thường ráng chạy loanh quanh cả tiếng đồng hồ để tìm đường, miệng thì lẩm bẩm : “Hình như tui có thấy chỗ này rồi”...



    Đàn bà thường có thị giác ngoại biên rộng lớn (wider peripheral vision), đàn ông thì có thị giác hẹp hơn nhưng lại thấy rất xa (narrow tunnel vision). Bởi vậy, nếu có lái xe đường xa, người ta khuyên nên để đàn bà lái xe lúc ban ngày sáng tỏ, còn đàn ông thì nên lái xe lúc về đêm tăm tối vì họ có thể nhận thấy các xe khác từ xa ở phía trước lẫn phía sau…

    Đàn bà xem việc đi chợ, đi shopping hay đi window shopping là một cái thú tiêu khiển, một cách để giảm stress mặc dù không cần phải mua một món hàng nào cả.

    Ngoại trừ mấy năm đầu vừa mới cưới vợ, đàn ông thường tò tò theo chân bà xã cho bả vui lòng và hãnh diện với thiên hạ, nhưng lần lần vài năm sau thì các ông rất ngại cái món này lắm, nó vừa mỏi cẳng, vừa bực mình và nó cũng vừa mất công mất thời giờ quá đi thôi.

    Có thể nói, hầu như các ông xồn xồn ngại cái món bị bắt buộc phải đi tò tò lòng vòng theo vợ trong mấy cái thương xá lắm…

    Trong các tiệm bán thời trang cũng như trong các thương xá người ta thường thấy có băng có ghế cho các ông ngồi chờ các bà.

    Đàn ông nếu có muốn mua một món gì thì họ đã biết họ thích cái gì rồi, cho nên đi thẳng vào tiệm mà mua một cái rụp khỏi phải mất công lê bước hết tiệm này đến tiệm khác.


    Đàn bà rất tinh ý, và có lẽ có giác quan thứ 6 gì đó. Người Đàn bà có khiếu bắt mạch, và hiểu rất dễ dàng ý nghĩa của các sự thay đổi trên nét mặt người đàn ông.
    Các ông đừng có mong dối gạt các bà được đâu. Nếu có muốn nói dối thì hãy dùng telephone, viết thơ, hoặc gởi email thì có thể dễ thành công hơn là phải chạm mặt thẳng với các bà.

    Đàn ông không có cái khiếu này như ở đàn bà… Đàn bà cũng rất thính tai hơn đàn ông. Nửa đêm, nếu cháu bé khóc oẹ oẹ ở phòng bên cạnh thì thường là các bà hay liền. Nước lavabo nhểu lỏn tỏn thì các bà biết liền, còn các ông thường ngủ khò mà thôi.

    Não của Đàn ông chỉ program để làm mỗi lần một việc mà thôi. Họ chỉ sử dụng có một bán cầu não (thường là phía trái) để suy nghĩ. Mỗi khi ngừng xe lại để đọc bản đồ là họ cần phải vặn nhỏ cái radio xuống rồi mới có thể đọc được.

    Đang xem TV mà bà xã hỏi thì có ông nào nghe đâu. Bởi vậy lúc các ông xã đang lái xe các bà xã đừng nên nói đừng nên hỏi gì hết có thể nguy hiểm đó !
    Ngược lại ở đàn bà, mỗi khi suy nghĩ họ thường sử dụng cả hai bán cầu não phía trái và phía phải, và nhờ vậy các bà có thể dễ dàng làm được nhiều việc cùng một lúc.

    Đàn bà có thể vừa đọc sách và vừa nghe radio hoặc vừa làm bếp nấu nướng vừa nói điện thoại.

    Các bạn có để ý không, trong các siêu thị ở quày trả tiền thường các cô thu ngân viên, mắt vừa nhìn các món hàng, tay thì bấm máy lia lịa, đôi khi vừa làm vừa trả lời khách hàng hoặc vừa viết và vừa nói điện thoại kẹp nơi cổ.

    Nếu được hỏi thình lình phía nào là tay phải, phía nào là tay trái, các bà thường hay lộn nếu họ không nhìn vào chiếc nhẫn đeo trên tay. Các ông thường phàn nàn các bà là miệng thì biểu người ta quẹo trái nhưng trong đầu họ thật sự muốn mình quẹo mặt.

    Đàn ông thán phục đàn bà về cách bắt chuyện giữa đám đông hay trong các buổi tiệc. Mặc dù toàn là khách lạ nhưng các bà vẫn có cách trau đổi với nhau về đủ thứ chuyện, người này khen qua người kia khen lại, nói đẩy đưa quên thôi…

    Các bà cho rằng các ông thường hay lạnh nhạt về tình cảm, ít thố lộ tâm sự và có vẻ kín đáo e dè trước đám đông. Các bà nghĩ rằng đàn bà có nhiều tình cảm hơn đàn ông, còn các ông thì cho rằng bọn họ cũng rất tình cảm nhưng ít bộc lộ ra ngoài.

    Tuy nhiều lúc thấy người đàn ông im lặng nhưng thật sự chính lúc đó họ nói một cách âm thầm cho chính họ! đàn ông không thích ai cho mình ý kiến nầy nọ.

    Sự ít nói của người đàn ông có thể được người đàn bà hiểu lầm là mình không còn được thương nữa.

    Đối với chuyện múa lân trên giường, các bà thường trách các ông thiếu sự lãng mạn, sao chỉ muốn vụ đó một cách nhanh chóng, nhào vô là làm liền để các ông có thể hạ hỏa gấp rút rồi sau đó thì lăn ra ngủ khò quên cả người ta nằm bên cạnh, còn các ông đôi khi trách các bà hơi thụ động và thiếu sáng kiến…

    Nói tóm lại, theo Allan Pease thì.... "men want to have sex but women want to make love".

    Đàn ông thường trách đàn bà thường hay nói nhiều và cũng thường hay so sánh quá.
    Nói chuyện mới đã đành đi, đàng này chuyện cũ đã nói nhiều lần rồi các bà vẫn có thể hâm nóng lại và đem ra nói nữa.

    Ở người đàn bà, các dữ kiện, tín hiệu, thông tin bên ngoài được cất giữ trong não của họ một cách khá lộn xộn. Cách duy nhất để các bà đem vấn đề ra ngoài là phải nói nó ra và nhìn nhận nó.
    Bởi vậy đàn bà nói nhiều hơn đàn ông là lẽ thường. Các bà cần nói ra để bớt căng thẳng tinh thần, để làm giảm stress. Các ông phải ráng nghe mà thôi và đừng bao giờ đề nghị một giải pháp nào hết cho vấn đề mà các bà tuôn ra. Các bà chỉ cần có người ngồi nghe chớ không phải các bà muốn tìm cách giải quyết vấn đề đâu.

    Ở đàn bà, việc nói chuyện và tâm sự là cách duy nhất để họ làm bạn với nhau. Tuy cả ngày đã đi shopping với bà bạn, mà khi vừa về đến nhà các bà cũng còn chuyện để nói với nhau qua điện thoại cả tiếng đồng hồ nữa.

    Các ông mỗi khi cần nói chuyện là họ đi thẳng vào vấn đề. Ở người đàn ông các tín hiệu thông tin bên ngoài được cất giữ riêng rẽ trong những ngăn riêng biệt trong não. Cuối ngày các ông đem nó ra ngoài rất dễ dàng để giải quyết.

    Việc nói nhiều của các bà thường làm các ông bực mình không ít, nhưng đó là dấu hiệu tốt có nghĩa là các bà còn thương, còn quan tâm đến các ông, cần người chia sẻ các vui buồn khổ cực trong cuộc sống vợ chồng.

    Trường hợp các bà im lặng, thì các ông phải đề phòng là có điều chẳng lành sắp xảy ra đó, còn tệ hơn nữa là các bà phớt tỉnh ăn glê, không thèm đếm xỉa đá động gì đến các ông và xem các ông như nơ pa không có, đó là dấu hiệu sắp rã hùn rồi đố tránh khỏi !

    Tóm lại dù Đông hay Tây, dù xưa hay nay, Đàn bà vẫn là đàn bà còn đàn ông vẫn là đàn ông.
    Muốn sống hạnh phúc thì cả hai vợ chồng cần nên noi theo những lời vàng ngọc sau đây :
                                                            Chồng giận thì vợ bớt lời.
                                                            Cơm sôi bớt lửa chẳng đời nào khê.
                                                            Râu tôm nấu với ruột bầu,
                                                            Chồng chan vợ húp, gật đầu khen ngon.

    Chồng gương mẫu… lẹ lên ông già.

    Kính vợ đắc thọ, 

    Sợ vợ sống lâu, 

    Nể vợ bớt ưu sầu, 

    Để vợ lên đầu là trường sinh bất tử... 

    Đánh vợ nhừ tử, là đại nghịch bất đạo. 

    Vợ hỏi mà nói xạo, là trời đất bất dung. 

    Chê vợ lung tung, là ngậm máu phun người. 

    Gặp vợ mà không cười, là có mắt không tròng.

     

     
    Nguyễn Thượng Chánh, DVM

    Montreal

     

     

     

CAC BÀI ĐỘC GIẢ GỞI TỚI -

  •  
    Chi Tran

     
    Sự ra đời của Chúa Jesus và truyền thống tặng quà Giáng Sinh
    Trải qua nhiều ngàn năm lịch sử, người Do Thái đã nếm trải biết bao thăng trầm, khi thì vinh quang rực rỡ, lúc lại nhục nhằn lao khổ. Nhưng mỗi khi lầm than, từ trong lòng dân tộc ấy lại sinh xuất một vị cứu tinh…
    Hơn 2000 năm trước, xứ Judea của người Do Thái nằm dưới sự cai trị của một vị tiểu vương tên là Herod đệ nhất hay Herod Cả. Herod Cả chịu trách nhiệm trước hoàng đế Augustus của La Mã, nghĩa là người Do Thái giờ đây thuộc sự cai trị của chính quyền La Mã.
    Và thế là, người Do Thái trong muôn vàn đau khổ của những người bị ngoại bang áp bức, vẫn một lòng ngóng trông Đấng Cứu Độ sẽ đến giải thoát cho mình. Ngài là vị vua chân chính của người Do Thái, là Đức Christ (Ki Tô) – Đấng Cứu Thế – Đấng được xức dầu của Thiên Chúa, như lời các ngôn sứ xa xưa đã từng nhắc đến.
    Lúc ấy ở thành Nazareth, tại một vùng đất ven hồ gọi là Galilea phía bắc tỉnh Judea có một trinh nữ tên là Mary, bà đã đính hôn với một người thợ mộc tên là Joseph. Cả hai người đều là dòng dõi của vua David, vị vua vĩ đại của người Do Thái, cũng là hậu duệ của tổ phụ Abraham.
    Bỗng một hôm, trước mặt Mary xuất hiện một vị khách đến từ hư không, ngài tự xưng mình là thiên sứ Gabriel. Ngài nói: “Đừng sợ, Mary. Bà là người được ân phúc hơn mọi người nữ. Vì vậy, bà sẽ được ban cho một đứa con trai tên Jesus. Ngài sẽ cao cả và được gọi là Con của Đấng Tối Cao. Thiên Chúa sẽ cho ngài ngai vàng của David tổ tiên ngài. Ngài sẽ trị vì nhà của Israel tới muôn đời và vương quốc của ngài sẽ vô tận”.
    Mary hết sức bối rối vì ngày hôn lễ của bà với Joseph vẫn còn rất xa và ông ấy chỉ là một thợ mộc, làm sao con họ có thể trở thành một vị vua của dân Do Thái. Nhưng thiên sứ Gabriel nói với bà rằng: người con trai bà sinh ra sẽ là con Thiên Chúa. Và với Thiên Chúa thì không gì là không thể được. Nghe vậy, Mary tin tưởng và sẵn lòng để mọi việc xảy ra theo ý của Thiên Chúa.
    Mary đã kể hết mọi chuyện cho Joseph, chồng chưa cưới của bà, lúc đó bà cũng bắt đầu mang thai dù bà vẫn là trinh nữ và chưa thành hôn. Joseph là một người tốt và công chính, ông hết sức băn khoăn và đã tính đến chuyện rút lui khỏi mối quan hệ với Mary. Nhưng đang khi ông ngẫm nghĩ về việc ấy, thì trong một giấc mộng, Thiên sứ của Thiên Chúa hiện đến với ông và phán rằng: “Hỡi Joseph, con cháu David, ngươi chớ ngại mà tiếp nhận Mary, vợ của ngươi; vì thai ở trong nàng là bởi thánh linh. Nàng sẽ sinh một trai, ngươi hãy gọi tên Ngài là Jesus; vì Ngài sẽ cứu dân của Ngài ra khỏi những tội lỗi của họ. [Jesus có nghĩa là: Đấng Tự Hữu Hằng Hữu Là Đấng Cứu Rỗi].”
    Joseph tỉnh dậy, đã xóa sạch những lo ngại, ông tươi tỉnh và chẳng bao lâu ông thành hôn với Mary. Họ sống chung tại Nazareth. Nhưng trước sau, Mary vẫn là một cô gái đồng trinh.
    Một ngày, hai vợ chồng Joseph và Mary phải lên đường về bản quán Bethlehem như bao nhiêu người Do Thái khác do hoàng đế La Mã Augustus đã ra lệnh họ phải ghi tên mình vào danh sách đóng thuế của tổ tiên. Mary sắp đến kỳ sinh nở, do vậy chuyến đi có khoảng cách 110 km từ Nazareth tới Bethlehem đối với họ trở nên hết sức khó nhọc. Vậy mà Mary không có lấy một lời phàn nàn. Đến nơi thì các quán trọ đã trở nên chật ních, chẳng ai thèm ngó ngàng tới cảnh ngộ của hai vợ chồng sản phụ Mary.
    Do vậy, Joseph đã phải đưa vợ mình vào nghỉ ở một chuồng gia súc. Ông kiếm một cái máng gỗ đựng thức ăn của súc vật, chùi thật sạch và lót cỏ khô vào đó để biến nó thành một cái nôi cho Jesus. Và Đức Chúa Jesus đã ra đời như thế.
    Khi Đức Chúa Jesus ra đời, cả thị trấn đang say giấc nồng. Đêm ấy thật yên ả và lại sáng sủa, bầu trời không mây, rải rác có những vì sao chiếu ánh sáng huyền ảo xuống những đàn súc vật đang say ngủ tại Bethlehem. Trên đồng cỏ chỉ có những người chăn cừu là còn thức. Bỗng có một ánh sáng chói lòa và mỹ diệu tỏa khắp bầu trời, một Thiên sứ xuất hiện phía trên họ trong vinh quang rực rỡ và cao giọng phán bảo cho những mục tử đang run rẩy quỳ xuống:
    “Chớ sợ! Này đây, ta mang tới cho anh em tin mừng trọng đại, cũng là tin mừng cho muôn dân. Hôm nay, trong thành David, đã ra đời cho mọi người Đấng Cứu Độ, Ngài là Chúa Christ. Và đây là dấu hiệu tỏ ra cho anh em: anh em sẽ tìm thấy một hài nhi mình quấn tã lót, nằm trong máng cỏ”.
    Ánh sáng từ Trời tuôn xuống càng rực rỡ hơn và đột nhiên xuất hiện những sinh mệnh siêu phàm với hào quang chiếu rọi khắp nơi. Họ cùng cất cao tiếng hát ca ngợi Thiên Chúa:
    “Vinh quang Thiên Chúa trên trời cao thẳm, và dưới đất bình an thiện chí cho loài người Chúa thương”.
    Rồi toàn bộ khung cảnh thù thắng ấy dần dần biến mất để lại các mục tử trong lòng hết sức chấn động, ngẩn ngơ. Họ bảo nhau cùng tới Bethlehem và tìm thấy Chúa hài đồng trên máng cỏ trong một chuồng gia súc. Họ kể lại cho Mary và Joseph mọi sự họ đã gặp trên cánh đồng. Ra về, lòng họ vẫn còn náo nức, gặp ai họ cũng kể về sự lạ họ đã thấy đêm đó. Đồng thời các mục tử khi về lại với bầy cừu của mình họ cũng hết sức vinh danh và ca ngợi Thiên Chúa đã gửi tới cho họ Đấng Cứu Độ, tức Đức Chúa Christ.
    Còn Mary thì giữ kín trong lòng mọi sự bà biết, bà nghe và thấy. Vào ngày thứ tám sau khi đứa trẻ ra đời, hai vợ chồng Mary và Joseph đưa cậu bé đi làm lễ thánh hóa và đặt tên cho cậu là Jesus, cái tên có ý nghĩa “cứu độ”.
    Khi Jesus ra đời ở Bethlehem xứ Judea thì ở phương Đông, có ba nhà thông thái biết xem chiêm tinh đã nhìn thấy một ngôi sao mới rực rỡ xuất hiện trên bầu trời, vạch một đường sáng qua vòm trời hướng tới vương quốc Judea và mất dạng khỏi tầm nhìn.
    Vốn là các nhà thông thái, họ biết ngôi sao ấy liên quan đến lời tiên tri được lưu truyền trong dân tộc Do Thái từ những ngày xa xưa về sự xuất hiện của một vị vua mới và vĩ đại của người Do Thái sẽ cứu rỗi dân tộc này.
    Thế rồi, họ chất lên lưng lạc đà các quà tặng cho hài nhi ấy và khởi hành một chuyến hành trình dài. Vì Jerusalem là kinh đô thiêng liêng của người Do Thái, nên các nhà thông thái đã đi tới đó, hy vọng tìm thấy Đức Vua Do Thái mới ở một cung điện nào đó tại Jerusalem. Nhưng không có ai như thế cả.
    Tuy vậy, tin đồn về chuyến viếng thăm nhà vua Do Thái mới của ba vị thông thái đã đến tai Herod Cả khiến ông ta hết sức lo lắng cho vương quyền của mình. Ông ta triệu tập các tư tế và kinh sư, những người ghi chép và diễn giải lời dạy của tiền nhân. Họ cho ông ta biết rằng Đức Christ, vị vua mới của Israel sẽ ra đời tại Bethlehem vùng Judea theo lời của các ngôn sứ xưa kia.
    Sau đó, Herod kín đáo gọi ba nhà thông thái đến. Herod hỏi họ về thời điểm xuất hiện ngôi sao trên bầu trời phương Đông. Họ cho ông ta biết. Nhưng đến câu hỏi ranh ma tiếp theo của vua Herod: “Hiện giờ ngôi sao ấy ở đâu?” thì họ thành thực trả lời là họ không biết.
    “Vậy hãy đi Bethlehem, vì theo lời các kinh sư thì có thể tìm thấy hài nhi ở đó. Nhưng khi các ngài tìm thấy hài nhi thì hãy quay lại đây cho ta biết để ta cũng đi bái lạy”. Herod nói.
    Khi các nhà thông thái tới Bethlehem họ vui mừng thấy ngôi sao lúc trước lại xuất hiện đằng trước họ. Và khi nó dừng lại trên một ngôi nhà đơn sơ thì họ bước vào ngôi nhà ấy. Họ hết sức vui mừng thấy cậu bé đang nằm trên tay Mary và bên cạnh là người thợ mộc Joseph. Ba nhà thông thái đã quỳ xuống thật thấp bái lạy Đức Chúa hài đồng vì họ biết sau này cậu không chỉ là Vua mà còn là một Đấng Cứu Thế. Họ mở túi xách và rương hòm để biếu Jesus các tặng phẩm quý giá tương xứng với một đế vương: vàng tiêu biểu cho sự giàu sang trần thế; nhũ hương và mộc dược tiêu biểu cho lễ vật hiến dâng Thiên Chúa trên trời và còn rất nhiều các phẩm vật quý giá khác nữa.
    Ba nhà thông thái đã quỳ xuống thật thấp bái lạy Đức Chúa hài đồng. (Ảnh: thesacredpage.com)
    Sau đó, các nhà thông thái nghĩ đến việc quay trở lại Jerusalem để báo với vua Herod về nơi có thể tìm thấy hài nhi phi thường này. Nhưng đêm đó, mỗi người mơ thấy một giấc mộng như nhau. Trong giấc mộng đó, Thiên sứ của Thiên Chúa cảnh báo họ đừng báo cho Herod biết tin này. Do đó, họ rời Bethlehem và đi một đường vòng, tránh Jerusalem, để về lại xứ sở của mình.
    Các nhà thông thái lên đường chưa bao lâu thì Thiên sứ cũng báo mộng cho Joseph. Thiên sứ nói: “Hãy thức dậy, hãy mang hài nhi và mẹ ngài trốn sang Ai Cập vì vua Herod sắp tìm đến giết ngài”.
    Joseph lập tức tỉnh dậy và mang Mary và Jesus rời đi Ai Cập đêm ấy.
    Còn Herod chờ mãi không thấy ba nhà thông thái quay lại. Sau cùng ông nghe nói họ đã về lại xứ sở của họ mà không đến gặp ông. Herod nổi giận lôi đình và cảm thấy lời phán truyền của các ngôn sứ có thể ứng nghiệm. Để loại trừ nguy cơ bị thay thế bởi vị vua mới, ông ta ra lệnh cho quân lính tìm và giết sạch những bé trai dưới hai tuổi tại Bethlehem.
    Thế là một cuộc tắm máu những đứa trẻ đã diễn ra sau mệnh lệnh của nhà vua bạo tàn. Khắp Bethlehem vang lên những tiếng than khóc đau đớn và ai oán. Một bầu không khí tang tóc bao trùm đất Bethlehem vốn yên bình.
    Trong khi ấy, Đức Chúa Jesus đã an toàn ở đất Ai Cập cùng với cha mẹ ngài, Joseph và Mary.
    Từ Adam đến Noah tới Abraham rồi đến David, tiên tri Elijah, rồi đến Jesus… tộc người Do Thái, hậu duệ của những người được tạo ra bởi Thiên Chúa đã đi từ thiên niên kỷ này đến thiên niên kỷ khác, khi thì vinh quang rực rỡ, lúc lại trong nhục nhằn lao khổ. Nhưng mỗi khi lầm than, từ trong lòng dân tộc ấy lại sinh xuất một vị cứu tinh.
    Khi lụt hồng thủy xảy ra có Noah gây dựng lại giống người Do Thái. Khi Dân Do Thái rên xiết dưới ách cai trị tàn bạo của người Ai Cập, họ có Moses dẫn họ vượt Biển Đỏ trở lại vùng đất hứa của sữa và mật ong. Khi họ bị người Philistine xâm lăng, Samson và David đã cứu họ. Và giờ đây, người Do Thái lại một lần nữa trông chờ vị cứu tinh đã được đề cập tới trong những lời phán truyền xa xưa của các ngôn sứ để cứu rỗi họ.
    Tuy vậy, chẳng ai có thể ngờ rằng Đức Vua mới, Đấng Cứu Độ của người Do Thái, thậm chí là Đấng Cứu Thế của loài người lại có một xuất thân hết sức bình dân. Ngài làm con của một người thợ mộc, một người tốt và công chính, nhưng chẳng có quyền lực hay của cải gì đặng giúp Ngài lên ngôi vua. Ngài không sinh ra trong nhung lụa, nơi cung điện nguy nga mà lại ra đời trong một chuồng gia súc, nằm trên một cái máng ăn của lừa. Khi Ngài được sinh ra, cả nước chẳng nín thở mong chờ, chẳng có các đại thần tung hô vạn tuế. Ngoài cha mẹ Ngài, chỉ có những chú cừu, chú lừa hiền lành chứng kiến mà thôi. Nhưng, đấy là ý của Thiên Chúa mà con người ở cảnh giới tư duy của người thường sẽ không sao hiểu được.
    Đến cả những nhà thông thái phương Đông cũng nghĩ rằng phải tìm Ngài ở cung vàng điện ngọc nơi kinh đô Jerusalem sầm uất. Đó là Đức Vua mới, là Đấng Cứu Độ cơ mà, nào ai nghĩ một vị cứu tinh cao cả của nhân loại lại ra đời ở một nơi bình dị như vậy.
    Ấy cũng là sắp xếp của Thiên Chúa để sau này thử thách những người có đức tin mạnh mẽ, có lòng nhiệt tâm cầu đạo. Nếu họ qua lời tuyên giảng, qua tin mừng mà Chúa Jesus mang tới, qua những việc tốt lành mà Ngài làm cho con người mà họ sẵn lòng tin vào Chúa Jesus, đi theo Ngài bất chấp xuất thân bình dân của Ngài thì họ mới xứng đáng được ban ơn qua Đức Jesus mà vào đến nước Trời của Thiên Chúa.
    Sau này, ngày sinh của Chúa Jesus được người Công Giáo gọi là Lễ Giáng Sinh hay lễ Thiên Chúa Giáng Sinh. Nó còn có những tên gọi khác là Noel, Christmas hay X’mas. Trong tiếng Pháp, Noël là từ viết tắt của Emmanuel nghĩa là “Thiên Chúa ở cùng chúng ta”.
    Chữ Christmas gồm có chữ Christ và Mas. Christ có nghĩa là “Đấng chịu xức dầu”, là tước vị của Đức Chúa Jesus. Chữ Mas là chữ viết tắt của Mass (Thánh lễ). Do vậy, Christmas có nghĩa là ngày lễ của Đấng Christ, tức là ngày lễ Giáng sinh của Đức Jesus.
    Nếu Phật Giáo có ngày 8/4 âm lịch là ngày sinh nhật hay đản sinh của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, thì Cơ Đốc Giáo có đêm 24, ngày 25 là ngày sinh nhật hay ngày Giáng Sinh của Đức Chúa Jesus. Theo lịch Do Thái, thời điểm tính bắt đầu một ngày là lúc hoàng hôn chứ không phải nửa đêm nên Noel thường được mừng từ tối ngày 24/12. Ngày 25/12 được gọi là “Lễ chính ngày”, còn lễ đêm 24/12 gọi là “Lễ Vọng”.
    Và Chúa Jesus, Đức Phật Thích Ca hay các Đại Giác Giả khác, với uy đức và những phẩm chất cao thượng vượt hẳn người thường, các Ngài luôn luôn có một sức thuyết phục bẩm sinh đối với dân chúng. Vì vậy điều này bao giờ cũng là mối lo ngại và ghen tị của các chính quyền thế tục đương đại. Nhưng cuối cùng, những điều mà các Ngài rao truyền là Chính Đạo có sức sống lâu dài, được loài người đón nhận và tôn vinh; trong khi thân xác của các bạo chúa vô minh, vô Đạo đã tan nát từ lâu và tên tuổi của họ bị đời đời nguyền rủa.
    Chúng ta không biết chi tiết tất cả những vật phẩm mà ba nhà thông thái đã mang từ phương Đông xa xôi tới để dâng tặng lên Chúa hài đồng, nhưng từ tích đó mà sau này có tục tặng quà Giáng Sinh trong dân gian, với những món quà hết sức phong phú. Vì ngày Chúa ra đời là ngày mà Ngài mang tin mừng đến với thế gian, rằng con người sẽ được cứu rỗi.
    Trong ngày Lễ Vọng hàng năm, người phương Tây lại hát lên khúc thánh ca “Veni Veni Emmanuel” để cùng sống lại thời khắc đáng mong chờ nhất trong lịch sử: Ngày Chúa hài đồng sắp ra đời:
    Andy
    --------------------------------------
     
     

CẢM NGHIỆM SỐNG LC - TGP SAIGON

  •  
    TGM NGUYỄN NĂNG
     

    Thứ Hai tuần 3 mùa Vọng - Chất vấn về quyền (Mt 21,23-27)

    Tin mừng: Mt 21,23-27

    23Đức Giêsu vào Đền Thờ, và trong khi Người giảng dạy, các thượng tế và kỳ mục trong dân đến gần Người và hỏi: “Ông lấy quyền nào mà làm các điều ấy ? Ai đã cho ông quyền ấy ?”

    24Đức Giêsu đáp: “Còn tôi, tôi chỉ xin hỏi các ông một điều thôi; nếu các ông trả lời được cho tôi, thì tôi cũng sẽ nói cho các ông biết tôi lấy quyền nào mà làm các điều ấy. 25Vậy, phép rửa của ông Gioan do đâu mà có ? Do Trời hay do người ta ?”

    Họ mới nghĩ thầm: “Nếu mình nói: “Do Trời”, thì ông ấy sẽ vặn lại: “Thế sao các ông lại không tin ông ấy ?”

    26Còn nếu mình nói: “Do người ta”, thì mình sợ dân chúng, vì ai nấy đều cho ông Gioan là một ngôn sứ.” 27Họ mới trả lời Đức Giêsu: “Chúng tôi không biết.” Người cũng nói với họ: “Tôi cũng vậy, tôi không nói cho các ông là tôi lấy quyền nào mà làm các điều ấy.”

     

    1. Suy niệm (TGM Giuse Nguyễn Năng)

    Sứ điệp: Đấng Cứu Thế đã đến trong trần gian. Nhưng ta có chấp nhận Ngài hay không là tùy ở ta có khiêm nhường và thành tâm hay không.

    Cầu nguyện: Lạy Chúa Giêsu là Con Thiên Chúa, vì yêu thương nhân loại chúng con, Chúa đã xuống thế làm người. Chúa đã tỏ mình ra qua lời giảng dạy và qua những việc làm đầy uy quyền. Vậy mà các thượng tế và kỳ mục vẫn không nhận ra Chúa. Vì họ đã quá kiêu căng.

    Con cũng lo sợ cho chính con. Con đã để cho lòng của con đầy ắp sự kiêu căng. Con dễ dàng đánh mất sự bén nhạy trước lời ngỏ của Thiên Chúa. Con cũng dễ dàng loay hoay tìm kiếm bảo vệ quyền lợi mình. Con cũng dễ dàng để cho mình rơi vào tình trạng chán ngán và không còn đói khát sự công chính. Con cũng nhận thấy rất rõ khuynh hướng để mình đi trong mê lầm giả trá.

    Chúa đã từ chối không tỏ mình ra cho những vị thượng tế và kỳ mục kiêu căng cố chấp. Xin Chúa tha thứ cho con. Xin Chúa giúp con luôn biết khiêm nhường trong cuộc sống. Xin cho con luôn được ơn biết mở rộng tâm hồn để thành tâm đón nhận chân lý và ân sủng của Chúa.

    Lạy Chúa, con đang sống trong Mùa Vọng, mùa mong chờ Chúa đến. Con không mong chờ Chúa giáng sinh vì Chúa đã giáng sinh rồi. Nhưng con mong chờ Chúa đến lần thứ hai như Chúa đã hứa để hoàn tất quyền làm Chúa trên vũ hoàn. Đang khi đó, Chúa vẫn đến với con qua từng biến cố, qua từng anh em con gặp gỡ, và nhất là trong thánh lễ hằng ngày. Xin Chúa ban cho con luôn nhậy bén và hằng thức tỉnh đợi chờ Chúa đến mỗi ngày. Amen.

    Ghi nhớ: “Phép rửa của Gioan bởi đâu mà có ?” (C. 25)
    Kính chuyển:
    Hồng